CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do-Hạnh phúc
Kính gửi :
- Hội đồng thẩm định Sáng kiến huyện Kim Sơn
- Hội đồng Sáng kiến Phòng GD&ĐT huyện Kim Sơn
Chúng tôi :
TT Họ và Tên Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình đ
chuyên
môn
Tỉ lệ (%)
đóng góp
vào tạo ra
sáng kiến
1Trần Văn Cộng 12/4/1977 TrườngTHCS
Lai Thành
Hiệu
trưởng
Đại Học 20
2Vũ Thành Nam 01/12/1980 TrườngTHCS
Lai Thành
Phó hiệu
trưởng
Đại học 30
3Trương Thị Hằng 20/02/1986 TờngTHCS
Lai Tnh
Giáo viên Đại học 30
4Mã Thị Thêm 12/05/1985 TờngTHCS
Lai Thành
Giáo viên Cao đẳng 20
1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
- Tên sáng kiến:
Giải pháp nâng cao chất lượng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa trường
THCS Lai Thành.
- Lĩnh vực áp dụng:
Áp dụng trong đổi mới phương pháp dạy học đội tuyển học sinh giỏi môn
Địa lí lớp 8 - 9 ở các trường THCS.
2. Nội dung sáng kiến
Trong khuôn khổ của đề i, chúng tôi mạnh dạn trình bày về các phương
pháp bồi dưỡng học sinh giỏi ở bộ môn Địa lí nhằm tìm ra những học sinh năng
lực thực sự đối với việc thi học sinh giỏi, đồng thời giúp các em được phương
pháp học tập một cách tích cực nhất trong quá trình ôn thi học sinh giỏi.
- Nhằm xác định rõ kế hoạch, nhiệm vụ và phương pháp dạy trên lớp của giáo
viên để học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất.
- Xác định được phương pháp ôn luyện đội tuyển cho học sinh, tạo điểm nhấn, sức
vượt cho học sinh khi tham dự đội tuyển HSG môn Địa Lí
3
- Giúp cho bản thân người dạy cũng như đồng nghiệp bổ sung kinh nghiệm dạy học
và ôn luyện bộ môn, góp phần đẩy mạnh phong trào tự học, tự nghiên cứu của giáo
viên các môn xã hội nhất là môn Địa lí.
- Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm từ đồng nghiệp cùng đơn vị cũng
như mong muốn sự đóng góp kinh nghiệm để đồng nghiệp, góp ý kiến nhằm nâng
cao chuyên môn và khả năng tự học, tự đào tạo thực hiện phương châm học thường
xuyên, học suốt đời.
- Khích lệ cổ phong trào học tập của học sinh trong đội tuyển, tạo tiền đề
cho bồi dưỡng các đội tuyển cấp THPT.
2.1. Giải pháp cũ thường làm
2.1.1. Nội dung của giải pháp
Trước đây, việc bồi dưỡng học sinh giỏi chủ yếu theo phương pháp truyền
thống, hoạt động “dạy” trung tâm, giáo viên giữ vai trò người truyền thụ kiến
thức, hoạ trò người thụ động tiếp thu kiến thức theo sự giảng giải của giáo viên.
Cấu trúc một chủ đề ôn luyện là sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết
những việc làm của giáo viên và học sinh theo một trình tự nhất định. Nội dung của
giáo án bồi dưỡng được giáo viên trích dẫn hay giảng giải từ những nội dung gợi ý,
tìm hiểu trong SGK. Người giáo viên tuân thủ SGK một cách cứng nhắc, coi đó
tài liệu tối quan trọng trong quá trình ôn luyện.
Các phương ôn luyện trước đây giáo viên thường áp dụng trong quá
trình bồi dưỡng:
- Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Giáo viên thường sử dụng để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách
chi tiết, dễ hiểu cho hoạc sinh tiếp thu. Đối với học sinh qua nghe giảng giải thì
hiểu được vấn đề. Giáo viên thường sử dụng giửi pháp này khi tiến hành các nội
dung các kiến thức cần nhớ trong bài học.
- Làm việc với sách giáo khoa
Đây là phương pháp giáo viên sử dụng SGK làm tư liệu duy nhất để cho học
sinh ôn tập. Hệ thống câu hỏi, bài tập được lần lượt khai thác, giải quyết theo chủ
định của người viết sách.
- Phương pháp đàm thoại ( vấn đáp).
4
Đây là PP, giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, nhằm gợi mở cho học
sinh sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện
những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích luỹ trong cuộc sống, nhằm
giúp học sinh cunr cố, mở rộng, đào sâu, tổng hợp, hệ thống hoá những tri thức đã
tiếp cận được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá, giúp học sinh tự kiểm tra việc lĩnh
hội tri thức.
- Dạy học đọc chép
Đây cũng phương pháp rất phổ biến đối với một số giáo viên trong quá
trình ôn luyện. Giáo viên đọc cho học sinh chép những nội dung mang tính học
thuộc lòng”. Trong cách này học sinh tiếp thu một cách hoàn toàn thụ động, một
chiều.
- Dạy theo cách “nhồi nhét”.
Đây cũng là hiện tương phổ biến, đặc biệt là đối với những giáo viên không
chủ động xây dựng được kế hoạch ôn luyện, thời gian ôn luyện. Khi sắp đến thời
điểm diễn ra cuộc thi, giáo viên cho học sinh học tăng cường nhồi nhét” càng
nhiều càng tốt để đảm bảo hết nội dung trước khi dự thi.
- Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo.
Với các cách dạy học như trên, học sinh tất nhiên chtiếp thu một cách thụ
động. Tính chất thụ động thể hiện, học sinh thiếu hứng thú, học thuuocj lòng, ghi
nhớ máy móc, mà không biết tìm tòi suy nghĩ sáng tạo.
- Học sinh không biết tự học.
Học sinh học thụ động thi không biết sáng tạo, không nhu cầu tự tìm
hiểu, nghiên cứu, không biết chủ động nghiên cứu tài liệu, tra cứu thông tin trên
internet, không biết trọng tâm , không biết từ các đã biết suy ra cái chưa biết. Chỉ
cần đề thi thay đổi câu hỏi, học sinh sẽ lúng túng không biết cách trả lời.
2.1.2. Nhược điểm của giải pháp cũ
Một số nội dung trong sách giáo khoa đã quá cũ, nhữngsố liệu sử dụng trong
SGK hầu như không được cập nhật. Mặc SGK năm nào cũng được tái bản
nhưng học sinh vẫn phải tiếp cận với những số liệu có từ gần 10 năm trước. Có thể
kể ra một vài ví dụ như SGK Địa lý lớp 9 tái bản tháng 3/2016 vẫn ghi dân số nước
ta 79,7 triệu người trong khi từ năm 2014, dân số nước ta đã đạt ngưỡng 96,6 triệu
người.
Các số liệu của nền kinh tế nước ta trong chương trình Địa lý lớp 9 như nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp... đều từ năm 2002…. Atlat Địa Việt
5
Namthức thời hơn khi cập nhật đến năm 2007. Tức các số liệu đều cập nhật
cách đây trên 10 năm. Khi đưa ra tỉ trọng của các ngành công nghiệp, nông
nghiệp... lại dùng số liệu cách đây hơn 10 năm làm cho học sinh không thấy được
sự thay đổi về cán cân giữa các ngành, trong đó ngành công nghiệp, dịch vụ ngày
một phát triển mạnh mẽ.Tuy nhiên, SGK hàng năm không thể viết lại hoặc sửa
chữa thay vào đó c số liệu phù hợp để in mới. Để giúp giáo viên học sinh
thêm tài liệu, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã biên soạn và xuất bản cuốn “Các
số liệu về kinh tế - xã hội Việt Nam” làm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy
học tập Địa trong nhà trường, đáp ứng thực tiễn giảng dạy. Tuy nhiên số liệu
trong cuốn này cũng mới chỉ cập nhật đến năm 2014, trong khi các đề thi chọn
HSG những năm gần đây đều yêu cầu phân tích dựa trên những số liệu mi hơn.
Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, giáo viên trong quá trình giảng dạy cần phải
cập nhật số liệu, bổ sung thêm những nhận định, đánh giá cho phù hợp. Hằng năm,
trong các lớp tập huấn bồi dưỡng cho giáo viên Địa lí, bên cạnh việc bồi dưỡng
năng lực chuyên môn, phạm, Bộ GD&ĐT đều nhấn mạnh về việc cập nhật này.
Vấn đđịa kinh tế - hội đặc thù riêng luôn luôn thay đổi, giáo viên cần
phải cập nhật thông tin. Đối với giáo viên, khi tham gia bồi dưỡng HSG phần này
bắt buộc phải tham khảo rất nhiều tài liệu từ nhiều phương tiện, phải tự mày mò do
đó mất rất nhiều thơzi gian công sức, tốn kém nhiều tiền bạc.Nhưng không phải
nơi nào cũng đủ điều kiện để cập nhật thông tin, hoặc không thể tiếp cận được
với nguồn cung cấp số liệu chính thống.
Học sinh không chủ động, không biết cách trong việc tra cứu số liệu các
nguồn tài liệu khác hây trên các website chính thống.
Việc sử dụng, kết hợp giữa thuyết khai thác Átlat rất đơn điệu, không
biết cách khai thác hết nội dung thể hiện trên Atlát để đưa vào bài làm.
Việc nhận biết, vẽ các dạng biểu đồ, phân tích bảng số liệu, nhận xét, giải
thích qua các nguồn thông tin còn hạn chế.
2.2. Giải pháp mới cải tiến
Mỗi môn học trong trường THCS những đặc trưng riêng về phương pháp
cũng như kỹ năng làm bài. Qua thực tiễn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9
trường THCS Lai Thành tôi đã rút ra được các bước tiến hành như sau:
2.2.1. Bước 1: Chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi lớp 8, 9
Tuy là bộ mônít được học sinh và phụ huynh quan tâm, song nếu được quyền
chọn lựa như các bộ môn hội khác như: Lịch sử, thì bản thân tôi nhận thấy
việc chọn học sinh yêu thích có năng khiếu học giỏi bộ môn Địa lí dễ dàng hơn. Do
vậy trong quá trình giảng dạy trên lớp giáo viên cần có phương pháp để thu hút học