intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS

Chia sẻ: Ngoc Hoa Hoa | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:15

0
333
lượt xem
53
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS nhằm mục đích tìm hiểu các phương pháp hướng dẫn, tư vấn học sinh; tìm hiểu những kĩ thuật cơ bản trong việc hướng dẫn và tư vấn; từ đó đưa ra được các yêu cầu đối với giáo viên trong vai trò là người hướng dẫn, tư vấn cho học sinh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn chuyên đề.  Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 ­ 15 tuổi, các em được vào  học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 ­ 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt  và quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ  trẻ con sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau  như: “thời kỳ quá độ“, “tuổi khó bảo“, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị “  Ở tuổi này các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh lí, trong  mối quan hệ  với thầy cô, gia đình, bạn bè…và   vào giai đoạn này  các em rất  muốn chứng tỏ  mình. Khi bị  phê bình hoặc bị  đối xử  không công bằng, các em  lập tức cảm thấy tổn thương, mặc cảm, bế tắc. Nếu không có người tham vấn,   hướng dẫn kịp thời để tháo gỡ, các em dễ tìm đến hướng giải quyết tiêu cực. Nguyên nhân của hiện tượng này có lẻ bởi ngày nay xã hội ngày càng phát triển,  kinh tế, khoa học và kỹ thuật ngày càng đi lên.Học sinh ngày càng có nhiều điều  kiện thuận lợi để  phát triển  bản thân mình  nhưng đồng thời cũng chịu áp lực  tâm lý từ  phía gia đình, nhà trường đối với hoạt động học tập và các hoạt động  khác. Tất cả các áp lực tâm lí nhiều chiều đó có thể tạo ra những khó khăn, rào  cản  ở  nhiều   mức  độ  khác nhau. Những khó khăn, rào cản đó cần phải có  phương pháp và kỹ  thuật nhất định để  vượt qua nó và biến nó trờ  thành động  lực tích cực cho quá trình học tập của các em học sinh trong nhà trường THCS. Bên cạnh vai trò của gia đình, thì trách nhiệm và sự quan tâm của giáo viên đóng  vai trò rất lớn  trong việc phong ng ̀ ưa, phat hiên s ̀ ́ ̣ ớm va gi ̀ ải quyết các vấn đề  nảy sinh trong đời sống tinh thần, tri tuê c ́ ̣ ủa các em. Vì tính cấp thiết đó tôi  quyết định nghiên cứu đề  tài” Phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn, tư vấn cho   học sinh THCS” 2. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các phương pháp hướng dẫn, tư vấn học sinh. Tìm hiểu những kĩ thuật cơ bản trong việc hướng dẫn và tư vấn. Từ  đó đưa ra được các yêu cầu đối với giáo viên trong vai trò là   người hướng dẫn, tư vấn cho HS. 3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh THCS. Giáo viên môn sinh học. 4. Phương pháp nghiên cứu: Tham khảo tài liệu. Phương pháp Quan sát điều tra: tiến hành quan sát và điều ra tâm lí  HS và sự hướng dẫn, tư vấn của giáo viên THCS.
  2. 5. Giả thuyết khoa học: Giáo viên nắm vững được đặc điểm tâm lí của học sinh  Giáo viên nắm được các phương pháp trong việc hướng dẫn và tư  vấn học sinh từ đó hình thành được các kĩ thuật cho bản thân. Học sinh có được niềm vui, hứng thú trong học tập
  3. NỘI DUNG 1) Cơ sở lí luận: Trong vài năm gần đây, các cấp quản lý giáo dục đã bước đầu quan tâm  đến hoạt động tư vấn tâm lý học đường. Trong Điều lệ trường trung học cơ sở,  trường trung học phổ  thông và trường phổ  thông có nhiều cấp học (Ban hành   kèm theo Thông tư  số: 12/2011/TT­BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ  trưởng Bộ  Giáo dục và Đào tạo), tại điều 16 mục 1 có nêu chức danh “cán bộ làm công tác   tư  vấn cho học sinh”, tại điều 31 mục 6 nêu rõ: giáo viên làm công tác tư  vấn  cho học sinh là giáo viên trung học được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ  tư  vấn; có nhiệm vụ  tư  vấn cho cha mẹ  học sinh và học sinh để  giúp các em   vượt qua những khó khăn trong học tập và sinh hoạt. Trong hoạt động này, mỗi   địa phương đang có những bước đi và cách làm khác nhau. Hà Nội và Thành phố  Hồ Chí Minh là hai địa phương đi đầu, các tỉnh thành khác đang trong giai đoạn  thí điểm. Từ  năm học 2009 ­ 2010, UBND Thành phố  Hồ  Chí Minh  đã phê  duyệt cho trường THCS, THPT hạng I được 01 biên chế  giáo viên làm công tác  tư vấn tâm lý học đường.             Theo văn bản số  9971/BGD&ĐT ­ HSSV ngày 28/10/2005 của Bộ  Giáo  dục ­ đào tạo về việc Triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên thì Tư  vấn cho học sinh, sinh viên là phương pháp tác động mang tính định hướng giáo  dục tới những học sinh, sinh viên đang có những khó khăn về  tâm lý, tình cảm,  những bức xúc của lứa tuổi cần được giải đáp, những vướng mắc trong học   tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp, trong tìm kiếm việc làm, cần được người  am hiểu và có trách nhiệm trợ  giúp, hướng dẫn, tư  vấn giải quyết để  chọn   được cách xử lý đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và giúp học  sinh thực hiện được nguyện vọng của mình.  2) Cơ sở thực tiễn:  Trong thời gian qua, một số trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp   đã chủ  động tổ  chức những hoạt động tư  vấn, tìm việc làm cho học sinh, sinh  viên và phần lớn đã hình thành trung tâm (có nơi là nhóm, bộ  phận, câu lạc bộ  hoặc do nhà trường hoặc Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên trường đảm  nhiệm, ...) giúp tư  vấn việc làm cho học sinh, sinh viên. Một số  trường phổ  thông đã tổ chức tham vấn học đường cho học sinh trung học phổ thông, thu hút  đông đảo các em tham gia và có hiệu quả  cao. Hoạt động của bộ  phận tư  vấn  
  4. nói trên đã đáp ứng được một phần nhu cầu bức xúc về  giải đáp những vướng  mắc trong tâm lý, tình cảm của những học sinh tham gia giải quyết được việc  làm cho nhiều sinh viên sau tốt nghiệp và đã trở  thành địa chỉ  đáng tin cậy của   học sinh trước và sau khi tốt nghiệp ra trường.             Theo kinh nghiệm của giáo dục thế  giới, hoạt động tư  vấn tâm lý học   đường cần được bắt đầu ở cấp THCS vì học sinh ở cấp học này ở độ tuổi dậy   thì hay độ tuổi “nổi loạn” có tâm sinh lý phức tạp. Hoạt động hướng dẫn,tư vấn  tâm lý thực sự cần thiết trong mỗi nhà trường, cần được sự quan tâm đúng mức  và kịp thời của các cấp quản lý giáo dục, nhằm cung cấp cho học sinh “liều   thuốc tinh thần”, giúp các em vượt qua những khủng hoảng tâm lý. Hoạt động  này cũng giúp giải quyết những những khó khăn của học đường và của xã hội.  Với yêu cầu này, việc hình thành phương pháp và kĩ năng hướng dẫn, tư  vấn   của giáo viên ở trường phổ thông, đặc biệt ở trường THCS là một nhu cầu bức  thiết của nền giáo dục chúng ta hiện nay. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ A, Phương pháp hướng dẫn, tư vấn. 1, Các khái niệm: 1.1 Tư vấn là gì? Định nghĩa 1: Tư vấn là tiến trình  tương tác giữa người tư vấn và người  được tư  vấn, trong đó người tư  vấn sử  dụng kiến thức, kĩ năng nghề  nghiệp  của mình giúp người được tư  vấn thấu hiểu hoàn cảnh của mình và tự  giải  quyết vấn đề của mình. Có thể tóm tắt khái niệm tư vấn bằng 4 chữ T: Tiến trình, tương tác, thấu   hiểu, tự giải quyết. ­ Tiến trình: Tư vấn cần một khoảng thời gian, có thể không phải chỉ gặp gỡ 1   lần, mà có khi rất nhiều lần mới có kết quả rõ rệt. Tư vấn là tiến trình bởi nó là  một hoạt động có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc. ­ Tương tác: Tư  vấn không phải là người tư  vấn khuyên bảo người được tư  vấn phải làm gì, mà đó là cuộc trao đổi hai chiều. ­ Thấu hiểu: Tư vấn giúp người được tư vấn nhận ra mình là ai, đang ở trong  hoàn cảnh nào, có thế  mạnh, điểm yếu nào, đã sử  dụng những biện pháp nào  cho tình huống của mình, tại sao chưa có kết quả, những cái được và cái mất  khi sử dụng một biện pháp giải quyết nào đó.
  5. ­  Tự  giải quyết: Tư  vấn không quyết định thay. Trên cơ  sở  thấu hiểu hoàn  cảnh của mình, người được tư vấn phải cân nhắc, lựa chọn biện pháp nào phù  hợp nhất cho bản thân mình. Định nghĩa 2: Tư vấn là một quá trình tác động có định hướng của người   tư  vấn đến người được tư  vấn nhằm đưa ra những gợi mở, định hướng, các  phương án giải quyết khác nhau, trên cơ sở đó người được tư vấn có thể tự tin  lựa chọn phương án, cách giải quyết tình huống phù hợp nhất với bản thân   nhằm giải quyết những khó khăn của nhiệm vụ Định nghĩa 3: Là một quá trình tăng cường việc học liên quan đến sự phát   triển của công việc, sự  nghiệp hoặc chuyên môn. Tư  vấn thường thông qua   kênh giao tiếp không chính thống giữa một người được cho là có kiến thức liên   quan rộng hơn, hiểu biết hơn hoặc có kinh nghiệm hơn (người tư vấn) và một  người được cho là ít kiến thức liên quan hơn, ít hiểu biết hơn hoặc có ít kinh   nghiệm hơn (người được hướng dẫn/tư vấn) 1.2 .Hướng dẫn là gì?  Định nghĩa 1: Chỉ  bảo, dắt dẫn cho biết phương hướng, cách thức tiến  hành một hoạt động nào đó. Định nghĩa 2: Hướng dẫn là quá trình tác động có chủ  định của chủ  thể  đến quá trình phát triển tự nhiên của đối tượng được hướng dẫn/giúp đỡ nhằm  làm cho người đó hiểu, chấp nhận và sử  dụng được những năng lực, khả  năng  và những mối quan tâm của mình trong việc đạt đến các mục tiêu. 1.3  Quan hệ giữa hướng dẫn và tư vấn: Giống nhau: ­ Cung cấp thông tin cho người được hướng dẫn/ tư vấn. ­ Giúp người được tư vấn giải quyết được những vấn đề của mình. Khác nhau: ­  Hướng dẫn:         + Chỉ ra cách làm cụ thể.         + Người được hướng dẫn hoàn toàn tuân theo để đi đến kết quả. ­ Tư vấn:         +  Đưa ra gợi ý, định hướng, phương án.          + Người được tư  vấn tự đưa ra phương án giải quyết. (Không bắt buộc   phải tuân theo nhà tư vấn). 2, Các học thuyết tham vấn:
  6. 2.1, Phương pháp tư vấn dựa trên cách tiếp cận phân tâm học của Sigmund   Freud: Sigmund   Freud (1856­1939),  tên  đầy  đủ   là Sigmund  Schlomo Freud,  là  một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người  Áo. Ông được công nhận là người đặt  nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học, ông đã đề cập đến  những ý tưởng trực tiếp ảnh hướng đến công tác tư vấn. Đó là: ­ Bản năng xung động(cái nó) là phần động lực của chúng ta nhằm làm thỏa  mãn những nhu cầu cơ bản và khuynh hướng. Bản năng xung động là bẩm sinh,  không bị kiềm chế và thuộc về vô thức. ­ Bản  ngã (cái tôi)  là phần nhân cách tạo nên sự  quân bình giữa các nhu   cầu của bản năng xung động và lương tâm của siêu ngã. ­Siêungã (siêu tôi) mang những tính chất của lương tâm, đó là sự hỗn hợp  những ý tưởng do những người quan trọng áp đặt và những ý tưởng dựa trên lý  tưởng. * Mục tiêu: khám phá những xung đột, động cơ, sự tự vệ vô thức của học  sinh (nhấn mạnh vào những kinh nghiệm ấu thơ) thông qua những kỹ thuật như  liên tưởng tự  do, phân tích giấc mơ, diễn giải, chống đối và chuyển d ịch thay  đổi/xây dựng lại nhân cách của học sinh * Cơ  chế  tự  vệ: Khi con người không còn đủ  khả  năng kiểm soát hữu  hiệu một số tình huống của cuộc sống, những cơ chế tự vệ sẽ là những chiến   lược cho phép bản ngã bù trừ sự bất lực của mình một cách vô thức, bằng cách  làm giảm thiểu stress và sự  lo âu kèm theo. Những cơ  chế  tự  vệ  này thực tế  nhằm tạo cho con người những khoái cảm, đôi khi thực tế  nhưng thường là  tưởng tượng, hoặc xa rời thực tế hoặc phủ nhận thực tế, các ý nghĩ và các xung   lực gây lo âu. * Những cơ chế phòng vệ rất hữu ích trong công tác tư vấn gồm: 1. Dồn nén (Cơ  chế  tự  vệ  chủ  chốt, cái tôi  đẩy ý nghĩ cảm xúc, tình cảm   không chấp nhận được ra khỏi ý thức, giữ chúng trong tư thế vô thức). 2. Phản  ứng ngược (Cái tôi chuyển một ý nghĩ, cảm xúc tình cảm nào đó  thành cái ngược lại với ý nghĩ, xúc cảm tình cảm thật). 3. Di chuyển (Cái tôi chuyển những xúc cảm không chấp nhận được thường   là sự  giận dữ  từ  một khách thể/ đối tượng này sang khách thể/đối tượng khác   để thay thế).
  7. 4. Thoái lùi (Cái tôi tìm kiếm sự an toàn của giai đoạn phát triển trước đó khi   phải đối mặt với sự lo âu, căng thẳng). 5.  Phóng chiếu (Cái tôi quy gán những ý nghĩ, xúc cảm tình cảm, lỗi lầm,   vấn đề khó khăn cho người khác). 6. Đồng nhất hóa (Cái tôi tự  nuôi dưỡng bằng cách gắn mình với một ai  khác, một ai đó được đánh giá cao). 7. Thăng hoa (Cái tôi thay thế các ý nghĩ, xúc cảm, tình cảm không chấp nhận  được bằng những ý nghĩ, xúc cảm, tình cảm được xã hội chấp nhận). 8. Hợp lý hóa (Cái tôi thay thế động cơ ít được chấp nhận bằng những động   cơ được chấp nhận nhiều hơn  lý giải một hành vi, ý nghĩ, xúc cảm nào đó). 9. Chối bỏ ( Cái tôi không thừa nhận những lo lắng do thực tại gây ra) * Các kỹ thuật can thiệp: 1. Liên tưởng tự  do: Khuyến khích học sinh tự  do bày tỏ  bất kỳ  những suy   nghĩ và cảm xúc. 2. Phân tích giấc mơ: giáo viên  giải thích ý nghĩa những biểu tượng trong các  giấc mơ của học sinh. Nội dung hiển thị, nội dung che giấu   3. Phân tích và diễn giải sự chuyển dịch: Sự chuyển dịch xảy ra khi học sinh   bắt đầu liên kết với giáo viên  liệu  cách giống như là những mối quan hệ quan  trọng trong cuộc sống của họ   4. Phân tích và diễn giải sự chống đối: Hành vi tự vệ một cách vô thức của  học sinh nhằm gây trở ngại cho tiến trình tư vấn cản trở giáo viên tìm hiểu vấn   đề của học sinh. 5. Diễn giải: giáo viên cố  gắng giải thích những điểm quan trọng bên trong   của ý nghĩ, cảm xúc, ký ức và hành vi của học sinh 2.2, Phương pháp tư vấn dựa trên cách tiếp cận nhân văn ­ hiện sinh: *Mục đích: giúp học sinh trải nghiệm vấn đề  của mình, biết chấp nhận  bản thân, tự  tin, cởi mở, sẵn sàng đương đầu với điều cố  hữu, bảo thủ  sống   thực với bản chất bên trong của mình, tự  quyết định cách thức giải quyết vấn   đề của mình. Nhấn mạnh vào việc hỗ trợ cho tiến trình phát triển của học sinh ­ người  giữ  vai trò chính trong việc xác định tốc độ  và hướng đi của buổi  tư  vấn bằng  cách tạo bầu không khí nâng đỡ cảm xúc Nhiệm vụ của giáo viên là tạo ra môi trường thuận lợi cho phép học sinh 
  8. học cách hành động để đạt đến sự tự khuyến khích và tự hiện thực hóa. Nhiệm  vụ  chính của giáo viên là giúp học sinh gỡ  bỏ  những rào cản tâm lý đang hạn   chế sự bày tỏ  khuynh hướng tích cực vốn có và giúp học sinhlàm sáng tỏ, hiểu  rõ bản thân và chấp nhận tình cảm riêng của mình. 2.3, Phương pháp tư vấn dựa trên cách tiếp cận hành vi: Ứng dụng những nguyên tắc của quá trình học tập vào việc điều khiển   nỗ lực khắc phục những hành vi sai lệch của học sinh.   *Nguyên tắc chung: Hành vi là sản phẩm của quá trình học tập. Những cái  gì có thể học được thì cũng có thể loại bỏ được. * Kỹ thuật 1. Hành vi mẫu: giáo viên xác định những hành vi có thể quan sát được và   yêu cầu học sinh luyện tập có sự  giám sát của giáo viên và sau đó luyện   tập ở nhà. 2. Sử dụng kỹ thuật điều kiện hóa thao tác. Dập tắt những hành vi không  mong muốn bằng cách củng cố tích cực những hành vi mới. 3. Sử dụng các bài tập thư giãn và giảm cảm giác tiêu cực có hệ thống 2.4. Phương pháp tư vấn dựa trên cách tiếp cận thân chủ theo phương pháp   nhận thức: Nhấn mạnh vào việc giúp học sinh nhận ra và thay đổi những ý nghĩ tiêu  cực, niềm tin sai lệch để đi đến thay đổi chúng. Để học sinh thay đổi nhận thức   cho hợp lý,giáo viên tư  vấn phải thiết lập mối quan hệ  nồng  ấm, không phê   phán; thu thập những lỗi nhận thức vô lý của học sinh; phân tích tình huống  ở  các góc độ  khác nhau,giúp học sinh đặt mình vào vị  trí của người khác, nhìn   nhận sự việc từ quan điểm của người khác để có cách nhìn hợp lý hơn về bản   chất của tình huống hay sự  kiện, từ   đó tìm ra giải pháp thay thế; thức tỉnh  những ý nghĩ lạc quan tích cực và thực tế ở học sinh. 3. Quy trình một ca tư vấn.
  9. * Vôùi học sinh: ñeå coù theå ñöa ra ñöôïc caâu hoûi rõ raøng, ñuùng baûn  chaát caàn thöïc hieän theo caùc böôùc sau ñaây: +B1: Phaân tích söï kieän: Böôùc naøy  ñoùng vai troø quan troïng nhaèm  hieåu rõo baûn chaát cuûa tình huoáng, söï kieän maø học sinh ñang ñoái maët. Söï  kieän, tình huoáng ñöôïc xem xeùt, phaân tích kyõ löôõng döôùi nhieàu goùc ñoä  khaùc nhau trong moái lieân heä ña chieàu. +B2: Xaùc ñònh vaán ñeà quan taâm, khoù giaûi quyeát, ra quyeát ñònh:  Ñaây laø giai ñoaïn tìm kieám vaán ñeà caàn hoûi trong söï kieän, tính huoáng ñaõ  phaân tích  ôû böôùc 1. trong moät tình huoáng, söï  kieän coù theå xaùc ñònh  nhieàu hôn 1 vaán ñeà caàn hoûi. +B3: Neâu yeâu caàu caàu ñöôïc tö vaán: Keát quaû cuûa böôùc naøy laø  noäi dung caàn ñöôïc tö vaán göûi tôùi học sinh .Yeâu caàu tö vaán coù theå ñöôïc  caáu truùc thaønh hai phaàn ñoù laø moâ taû hoaøn caûnh vaø caâu hoûi. *Vôi giáo viên:  Ñeå traû lôøi chính xaùc caâu hoûi, ñaùp öùng muïc ñích  cuûa học sinh,giáo viên  caàn tieán haønh traû lôøi caâu hoûi theo caùc böôùc sau  ñaây: +B1: Phaân tích tình huoáng, caâu hoûi caàn tö vaán. Muïc tieâu cuûa böôùc naøy laø laøm rõ ñieàu học sinh muoán hoûi, hieåu  rõ boái caûnh, xuaát hieän caâu hoûi caàn tö vaán, coù 2 khaû naêng xaûy ra:          * N ếu GV đả  hiểu rõ câu hỏi, hoàn cảnh, ñuû thoâng tin ñeå ñöa ra caâu  traû lôøi thì chuyeån sang böôùc 2.           * Neáu giáo viên chöa hieåu caâu hoûi, chöa roõ tình huoáng chöùa ñöïng  caâu hoûi. GV caàn trao ñoåi theâm vôùi học sinh  ñeå laøm roõ hoaëc bieát theâm  thoâng tin laøm caên cöù ñeå ñöa ra caâu traû lôøi toát nhaát.
  10. +B2: Chuaån bò caâu traû lôøi: Noäi dung caâu traû lôøi phaûi ñöôïc chuaån  bò tröôùc. Trong tröôøng hôïp giáo viên vaãn chöa vöõng tin khi traû lôøi, coù theå  tham khaûo theâm yù kieán cuûa ñoàng nghieäp hay nhaø tö vaán khaùc. +B3: Traû lôøi: ñöa ra höôùng daãn hoaëc bieän phaùp ñeå học sinh   aùp  duïng/ tham khaûo ñeå giaûi quyeát vaán ñeà. 3. Tieán trình cuûa moät ca tö vaán: 1: Gaëp gôõ, nieàm nôû ñoùn tieáp, taïo ra söï tin töôûng, côûi môû thaân  thieän ngay töø ban ñaàu. 2: Gôïi hoûi thoâng tin, ñieàu gì laøm học sinh lo laéng? Taïi sao  laïi caàn  ñeán tö vaán? Ñaõ coù nhöõng giaûi phaùp naøo cho hoaøn caûnh baûn thaân, keát  quaû ra sao?Hoc sinhï mong muoán nhaát ñieàu gì khi ñeán vôùi giáo viên tư vấn. 3: Giuùp đỡ ñeå học sinh hieåu roõ hôn hoaøn caûnh cuûa baûn thaân, töø  ñoù cuøng nhau thaûo luaän vaø löïa choïn nhöõng giaûi phaùp phuø hôïp. 4: Giaûi thích cho học sinh hieåu rõ hôn giaûi phaùp maø hoc sinhï ñaõ löïa  choïn, cuõng nhö nhöõng ñieàu caàn löôøng tröôùc khi löïa choïn giaûi phaùp  naøy. 5: Gaëp laïi: Tö vaán khoâng boù heïp trong moät laàn gaëp gôõ, vì vaäy sau  moãi buoåi gaëp gôõ giáo viên caàn toùm taét noäi dung cô baûn ñaõ trao ñoåi,  nhaéc nhở học sinh suy nghó, haønh ñoäng vaø neáu caàn thieát phaûi gaëp laïi thì  caàn daën doø, heïn vôùi hoï ñeå hoï yeân taâm hôn. B,   NHỮNG   KỸ   THUẬT   CƠ   BẢN   TRONG   HƯỚNG   DẪN   TƯ   VẤN   CHO   HỌC SINH.   Để quá trình hướng dẫn và tư vấn đạt kết quả không thể sử dụng riêng lẻ các kỹ  thuật hướng dẫn mà phải có sự  kết hợp khéo léo các kỹ  thuật với nhau, như  kỹ  thuật thấu hiểu kết hợp với kỹ thuật đặt câu hỏi hoặc kỹ  thuật phản hồi kết hợp   với đặt câu hỏi. 1. Kỹ thuật lắng nghe     Lắng nghe tích cực là cách lắng nghe và đáp trả  phù hợp, thể  hiện sự  lắng   nghe, chú ý, quan tâm, thấu hiểu của giáo viên  đến học sinh. Bao gồm : Nhắc   lại, diễn đạt lại, tóm tắt, phản ánh.   Lắng nghe  giúp giáo viên  hiểu được các thông điệp, cảm xúc của học sinh,   quan điểm của học sinh, tăng khả năng hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau. * Tầm quan trọng của lắng nghe: ­ Xây dựng sự tin tưởng và tôn trọng. ­ Tạo môi trường an toàn hỗ trợ cho giải quyết vấn đề. ­ Người nói được giải tỏa cảm xúc.
  11. ­ Giảm căng thẳng ­ Khuyến khích khai thác sâu thông tin.       * Cách thức lắng nghe : ­ Đối diện học sinh: ngồi thẳng hoặc nghiêng người ra phía trước để  thể  hiện sự chú tâm. ­ Duy trì giao tiếp mắt , thể  hiện chúng ta quan tâm đến họ  và điều họ  nói. ­ Cố gắng thấu hiểu cảm xúc của thân chủ đằng sau những thông tin hoặc  suy nghĩ mà thân chủ nói ra.            ­ Đáp trả  phù hợp, có lời (như  gật đầu, nhíu lông mày…) và có lời để  khuyến khích học sinh nói tiếp.       ­ Với đáp trả có lời, tập trung vào vấn đề  then chốt giúp giáo viên  theo dõi   được dòng câu chuyện.       ­  Hạn chế đặt câu hỏi. Nghe nhiều hơn nói. 2. Kỹ năng đặt câu hỏi:  Nên bắt đầu bằng những câu hỏi chung chung nó giúp học sinh kích thíc sự bày tỏ  cảm xúc, suy nghĩ của mình, những câu hỏi cần phải rõ ràng, đơn giản nhưng phải   hướng đến mục đích. Thường sử dụng câu hỏi mở, không có cấu trúc, những câu  hỏi cần phải chứa đựng cảm xúc của học sinh, có dạng như  “tại sao”, “như  thế  nào”, “thế còn”. Tuy nhiên, trong mối quan hệ chưa tốt câu hỏi “thế còn” sẽ gây ra  cảm giác bị tấn công về mặt tinh thần, chỉ sử dụng khi mối quan hệ đã tốt, không   còn sự phồng vệ ban đầu. Có 2 dạng câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở. ­ Câu hỏi mở: đây là dạng câu hỏi được sử  dụng nhiều nhất trong tư vấn để  học  sinh bộc lộ cảm xúc, suy tư của mình. + Tác dụng của câu hỏi mở:  Cho học sinh bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc một cách thoải mái, tự nhiên. Nếu giáo viên biết đặt câu hỏi đúng cách câu hỏi mở  có thể  khai thác đúng mạch  thí họ sẵn sàng nói ra hết những vấn đề đang gặp phải với giáo viên. + Những lưu ý khi đặt câu hỏi: Không đặt câu hỏi dồn dập. Khi đặt câu hỏi nên để phạm vi trả lời rộng. ­ Câu hỏi đóng: Câu hỏi đóng được sử dụng khi:  Khẳng định lại những cái mà ta khai thác được
  12. Tìm ra được các hướng giải quyết vấn đề, lựa chọn một giải pháp. ­ Các đặc trưng của câu hỏi: Câu hỏi mở giúp giáo viên đặt vấn đề khi tư vấn Làm cho việc thư vần cụ thể phong phú hơn. Khai thác cụ thể dẫn chứng về cuộc sống của học sinh. Từ  đầu của câu hỏi quyết định hướng trả  lời của học sinh: “cái gì” khia thác sự  kiện, “như  thế  nào” tranh luận về  tiến trình, cảm xúc hay hậu quả  của một vấn   đề, “tại sao” tìm hiểu nguyên nhân vấn đề. ­ Những lưu ý khi đặt câu hỏi: không nên hỏi dồn dập, hỏi nhiều câu cùng lúc,  dùng quá nhiều câu hỏi “tại sao”. Nên hỏi nhiều câu hỏi mở, hỏi nhiều về cảm xúc   và sử dụng đúng lúc câu hỏi đóng. 3. Kỹ thuật phản hồi:  Phản hồi là việc nói lại bằng từ ngữ của mình, hoặc là nhác lại lời học sinh một  cách cô đọng hoặc làm rõ hơn vấn đề  học sinh đang trình bày và đạt được sự  tán   thành của học sinh. ­ Phản hồi có ý nghĩa: Học sinh cảm thấy rằng mình được lắng nghe, có người  hiểu mình, từ  đó muốn bộc lộ  nhiều hơn, cảm thấy được tôn trọng và thoải mái  hơn để  nói lên vấn đề  của mình. Nhà tư  vấn sẽ  chác chắn được rằng là mình  không hiểu sai, suy diễn sai vấn đề. ­  Có 3 hình thức phản hồi: + Phản hồi cảm xúc tức là đòi hỏi giáo viên phải xác định được học sinh đang thể  hiện loại cảm xúc nào và giáo viên cần mô tả lại cảm xúc đó bằng từ ngữ rõ ràng,   từ đó quan sát những phản ứng của học sinh và thu thập các thông tin. + Phản hồi kinh nghiệm: Các thông ti phản hồi mang tính miêu tả, có liên quan đến  sự quan sát của giáo viên sau đó nói về cảm xúc của học sinh. + Phản hồi nội dung: Là nhắc lại các ý tưởng bằng ngôn ngữ của  người giáo viên   có thể  nhấn mạnh, khơi gợi những điều học sinh vừa nói để  làm rõ ý tưởng đó.  Tóm tắt thông tin phải đầy đủ, không bỏ sót sự kiện. ­ Các yêu cầu khi đưa ra phản hồi: Phải dựa trên hành vi chứ không phải nhận định   về con người, dùng mô tả hơn là phán đoán, phản hồi một cách đặc thù hơn là khái  quát, phản hồi mang tính chia sẻ  ý tưởng và thông tin sẽ  tốt hơn nhiều so với   khuyên nhủ, phán xét, khuyến nghị. Khi đã phản hồi là cả hai mặt tích cực lẫn tiêu  cực, phản hồi chỉ tốt khi tạo ra được khong khí quan tâm, nâng đỡ, phản hồi phải  liên hệ  với “cái gì”, “như thế nào” chứ không nhằm giải thích “tại sao” 4. Kỹ thuật thấu hiểu.
  13.  Thấu hiểu là việc hiểu những điều mà người được tư vấn đang trải nghiệm bằng   cả khối óc và trái tim. Nhà tư vấn cần biết được rằng sự hiểu biết ở đây là có giới hạn. Hiểu đơn giản là  sự  nắm bắt một cách rõ ràng những điều người cần tư vấn đang trải nghiệm. Và   không nhất thiết  là nhà tư  vấn là người hiểu biết tất cả  mọi chuyện và là người  hiểu biết hơn người cần tư vấn. Nhưng trong quá trình tư vấn nhà tư vấn và người   được tư vấn phải thông đạt cho nhau những ý tưởng, cảm xúc cao nhất. Vì vậy sự  hiểu biết về  người cần tư  vấn là một quá trình chia sẻ. Điều quan trọng nhất là  nhà tư vấn cần hiểu được những điều người được tư vấn đang nói liên quan tới ý  nghĩa đặc biệt nào đó trong kinh nghiệm sống của người được tư  vấn để  nhà tư  vấn  cần nắm bắt được và diễn tả ý nghĩa đó một cách dễ hiểu nhất để cả hai bên  cùng sang tỏ. Hiểu không đơn thuần là nắm rõ các sự  kiện trong cuộc sống, các  mối quan hệ xã hội của người cần tư vấn mà chính tâm tư, thái độ của người cần  tư  vấn xuất phát từ  sự  kiện đó mới là quan trọng. Cái chính là họ  nhận thức như  thế nào tới sự kiện đó. ­ Nhà tư vấn chỉ thay đổi cách nhìn thái độ  của người tư vấn chứ không thể thay  đổi được sư kiện đó. ­ Việc mà nhà tư vấn hiểu được đối tượng của mình thì việc tháo bỏ mặt nạ, tự  do, thoải mái trong việc chia sẻ và giải quyết vấn đề.  5. Kỹ thuật thông đạt.   Là kỹ thuật cơ bản nhà hướng dấn cần phát triển để  có hiểu biết thông suốt về  đối tượng học sinh của mình đang cố gắng bộc lộ cho thầy cô hiểu về  tâm trạng,  cảm xúc, sự kiện của mình. Khi học sinh đang nói về  các vấn đề  của mình thường bị  lẫn lộn, không  có tính  logic do vậy khi học sinh ngừng nói thì thấy cô (người hướng dấn) phải nhanh   chóng đưa ra quyết định mình sẽ  đáp  ứng những cái gì sự  kiện hay cảm xúc liên  quan tới nhân vật nào. Trong việc thông đạt nhà tư vấn cần lưu ý tới việc sử dụng  từ tránh những từ liên quan tới việc đánh giá nhân cách học sinh. Cách thông đạt có   thể hỏi cảm nhận của học sinh về sự việc đó. Nguồn gốc của sự thông đạt chính  là king nghiệm của giáo viên, nó giúp giáo viên biết cần thông đạt những gì. Tuy  nhiên đối với những giáo viên mới làm công tác tư vấn sẽ không tránh khỏi những  sai lầm: khi giáo viên nói về  những sự kiện của mình thường vô tình tạo cho học   sinh cảm giác về  sự  thất bại của chính người tư  vấn nên làm sao có thể  giúp đỡ  mình, và khi người tư  vấn nói về  các vấn đè của mình thì trọng tâm sẽ  bị  dịch   chuyển, nó cũng có thể tạo ra cho đối tượng học sinh thái độ phòng vệ vì nghĩ rằng  vấn đề của mình sẽ bị đưa ra cho người khác bàn tán.   
  14. Một giáo viên tư  vấn thành thục thể  hiện sự thông đạt ở  việc hiểu và chấp nhận   học sinh của mình.Kỹ  thuật thông đạt thể  hiện  ở  nhà tư  vấn qua lắng nghe, suy   nghĩ, đáp ứng, đó là phản ứng tự động 6. Kỹ thuật phản ánh cảm xúc.   Phản ánh cảm xúc khi học sinh đến với ta, trong tư  vấn thường xuyên phải có  phản ánh cảm xúc để  thể  hiện sự  thông cảm với học sinh khi gặp những vấn đề  khó xử. ­ Những chú ý để có những phản ánh cảm xúc tốt: + Xác định tốt những ngôn ngữ bằng lời của học sinh. + Nhớ được ngôn ngữ ki học sinh trình bày để  nắm được cảm xúc của đối tượng   qua ngôn ngữ. ­ Tác dụng của phản ánh cảm xúc: + Làm cho học sinh khẳng định lại cảm xúc của mình. + Khơi lại những vấn đề cần khai thác. + Giúp giáo viên nắm rỗ được cảm giác của học sinh để công tác tư vấn phát triển  tốt. 7. Kỹ thuật tóm lược.  Mục đích: giúp giáo viên cô đọng lại ý  kiến, suy nghĩ của học sinh. Đây là công   việc cần thiết. GIúp học sinh nhìn lại mình rõ hơn. Hỗ trợ học sinh sắp đặt thú tự  các vấn đề cần giải quyết. Kỹ thuật này được sử dụng khi: Bắt đầu cuộc tư  vấn. Làm rõ nội dung đang diễn ra trong quá trình tư  vấn: tóm   lược, sắp xếp thứ tự nhu cầu, vấn đề giải quyết. Mang lại sự liền mạch trong quá  trình tư vấn khi chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác.  8. Kỹ thuật kể chuyện:   Ñoâi khi thoâng qua moät caâu chuyeän cuûa ngöôøi khaùc, hay do giáo viên  “saùng taùc”, học sinh ruùt ra ñöôïc nhöõng baøi hoïc cho baûn thaân moät caùch  töï nhieân, khoâng caàn goø boù, miễn cưỡng. Nhöng choïn löïa chuyeän vaø cach  keå caàn heát söùc kheùo leùo, traùnh ñeå hoïc sinh nghó GV laø moät ngöôøi  “hay ñöa chuyeän”. C, Yêu cầu đối với giáo viên THCS trong vai trò người hướng  dẫn, tư vấn cho học sinh.    1. Yêu cầu đối với người giáo viên trong vai trò hướng dẫn, tư vấn. ­ Nắm vững về lĩnh vực cần tư vấn. ­ Tôn trọng sở thích và tin tưởng vào khả năng của đồng nghiệp/ học sinh.
  15. ­ Biết lắng nghe, chia sẻ thân thiện, thương yêu con người. ­ Kiên trì, khách quan. ­ Chân thật, tế nhị, khéo léo. ­ Công bằng, không vụ lợi. ­ Khoan dung, độ lượng.  2Nguyên tắc của giáo viên trong hướng dẫn, tư vấn. Để quá trình tư vấn đạt kết quả cao, người hướng dẫn là giáo viên cấn phải  nắm rõ những nguyên tắc sau: ­ Kín đáo, riêng tư. ­ Bí mật nội dung cuộc tư vấn. ­ Không phê phán, phán xét đạo đức. ­ Cung cấp thông tin cần và đủ. ­ Tôn trọng sự tự quyết của học sinh. ­ Ngôn ngữ phù hợp với trình độ học vấn, văn hóa của người  được tư vấn (học sinh), không dùng ngôn ngữ hàn lâm hay thô bạo. ­ Không hứa hẹn quá nhiều làm mất đi tính độc lập, tự chủ, tự  quyết của người được tư vấn. 3. Những giới hạn của giáo viên trong hướng dẫn, tư vấn Trong vai trò người hướng dẫn, tư vấn, người giáo viên trường THCS cần tôn  trọng các nguyên tắc xử thế cơ bản để đảm bảo hiệu quả của hoạt động hướng  dẫn, tư  vấn. Các nguyên tắc này là: tin tưởng, kiên nhẫn, tự  nguyện và khách   quan. ­ Giáo viên trường THCS không phải là người đã hiểu biết sâu sắc tất cả  các   lĩnh vực. Vì vậy, người giáo viên cần biết giới hạn của mình trong hướng dẫn,  tư vấn cho đồng nghiệp và học sinh. ­ Nếu giới hạn của bạn là hướng dẫn, tư vấn về chuyên môn (cho đồng nghiệp)   và học tập (cho học sinh) thì hãy dừng lại ở phạm vi đó, đừng lan man sang lĩnh  vực hướng dẫn, tư vấn khác mà bạn không am hiểu.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản