
Phát triển tư duy của học sinh qua một số bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
-----------------
&&
PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH
QUA MỘT SỐ BÀI TOÁN VỀ BỘI CHUNG
VÀ BỘI CHUNG NHỎ NHẤT
MÔN: TOÁN 6
Năm học : 2017 – 2018
1/26
MÃ SKKN

Phát triển tư duy của học sinh qua một số bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài Trang 3
2 Đối tượng nghiên cứu: Trang 5
3 Mục đích nghiên cứu Trang 5
4 Phạm vi nghiên cứu Trang 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu Trang 5
6 Phương pháp nghiên cứu Trang 5
PHẦN II: NỘI DUNG
A Cơ sở lí luận và thực tiễn Trang 6
B Giải pháp và cách thực hiện Trang 9
1 Kiến thức cơ bản Trang 9
2 Các dạng bài tập và cách giải Trang 9
a Hệ thống bài tập đơn giản Trang 9
b Hệ thống bài tập nâng cao Trang 15
C Kết quả sau thực nghiệm Trang 22
PHẦN III: KẾT LUẬN – BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận Trang 24
2 Bài học kinh nghiệm Trang 24
3 Kiến nghị Trang 25
4 Danh mục các tài liệu tham khảo Trang 26
2/26

Phát triển tư duy của học sinh qua một số bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay mục tiêu cơ
bản của nhà trường là đào tạo và xây dựng thế hệ học sinh trở thành những con
người mới phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất đạo đức, năng lực, trí tuệ để
đáp ứng với nhu cầu thực tế hiện nay.
Muốn giải quyết thành công nhiệm vụ quan trọng này, trước hết chúng ta
phải tạo tiền đề vững chắc lâu bền trong phương pháp học tập của học sinh cũng
như phương pháp giảng dạy của giáo viên các bộ môn nói chung và môn Toán
nói riêng.
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật và sự phát
triển mạnh mẽ của đất nước, đòi hỏi ngành giáo dục phải thay đổi tầm nhìn và
phương thức hoạt động là yêu cầu tất yếu, vì sản phẩm của giáo dục là con
người. Nó quyết định vận mệnh tương lai của một đất nước, điều này thể hiện rõ
trong chính sách: “Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu cùng với khoa
học công nghệ là yếu tố quyết định góp phần phát triển khoa học và xã hội”. Do
đó cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam
theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế. Toán học ra đời gắn liền với con người, với
lịch sử phát triển và cuộc sống xã hội loài người nói chung, con người nói riêng.
Nó có lí luận thực tiễn lớn lao và quan trọng như đồng chí: Phạm Văn Đồng đã
nói: “Toán học là môn thể thao của trí tuệ nó giúp chúng ta rèn luyện tính thông
minh và sáng tạo”.
Toán học là một trong những môn khoa học tự nhiên đòi hỏi tính thông
minh và trí tưởng tưởng cao ở mỗi người học. Toán học đã góp phần không nhỏ
trong sự phát triển của các bộ môn khoa học tự nhiên cũng như thúc đẩy các bộ
môn khoa học xã hội phát triển, nó là nền tảng để xây dựng nên các môn khoa
học tự nhiên khác.
Trong giáo dục, môn toán có một vị trí quan trọng. Trong nhà trường phổ
thông Toán học là một môn học cơ bản. Đối với đa số học sinh, toán là một môn
học khó nên trong quá trình học tập của học sinh ở trường phổ thông đòi hỏi phải
có tư duy rất tích cực của học sinh. Trong đời sống hàng ngày thì toán học giúp
con người có được các kĩ năng tính toán, vẽ hình, đọc, vẽ biểu đồ, đo đạc, ước
lượng,... từ đó giúp con người có điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động
lao động sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, học sinh lớp 6 bước đầu làm quen với
3/26

Phát triển tư duy của học sinh qua một số bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất
chương trình THCS nên còn nhiều bỡ ngỡ gặp không ít khó khăn. Đặc biệt với
phân môn số học, mặc dù đã được học ở tiểu học, nhưng với những đòi hỏi ở cấp
THCS buộc các em trình bày bài toán phải lôgíc, có cơ sở nên đã khó khăn lại
càng khó khăn hơn. Trong khi đó, đa số các em vận dụng kiến thức tư duy còn
nhiều hạn chế, khả năng suy luận chưa nhiều, khả năng phân tích chưa cao, do
đó việc giải toán của các em gặp nhiều khó khăn. Vì thế ít học sinh giải đúng,
chính xác, gọn và hợp lí.
Mặc khác, trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên mới chỉ dạy cho học
sinh ở mức độ truyền thụ trên tinh thần của sách giáo khoa mà chưa phát triển tư
duy cho học sinh. Đây là vấn đề mà các thầy cô giáo giảng dạy toán 6 và các bậc
phụ huynh đều rất quan tâm, lo lắng. Do đó muốn rèn luyện kĩ năng giải toán
cho học sinh phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học để phân loại chúng và
đưa ra cách giải hợp lí nhất. Vì vậy nhiệm vụ của người thầy giáo không phải là
giải bài tập cho học sinh mà vấn đề đặt ra là người thầy là người định hướng,
hướng dẫn cho học sinh cách tiến hành giải bài toán. Điều đó đòi hỏi mỗi thầy cô
giáo phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp nhất với những đối tượng học
sinh của mình.
Để giúp các em học tập môn Toán có kết quả tốt, giáo viên không chỉ nắm
được kiến thức, mà điều cần thiết là phải biết vận dụng các phương pháp giảng
dạy một cách linh hoạt, truyền thụ kiến thức cho học sinh dễ hiểu nhất.
Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học “phát huy tính chủ động, tích
cực, sáng tạo của học sinh” nên việc tổ chức cho các em tìm tòi cách giải toán là
một yêu cầu tối cần thiết của người thầy.
Trong giảng dạy môn toán, việc giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản
biết khai thác mở rộng kiến thức áp dụng vào giải được nhiều dạng bài tập là
điều hết sức quan trọng. Từ đó giáo viên giúp cho học sinh phát triển tư duy, óc
sáng tạo sự nhanh nhạy khi giải toán ngay từ khi học môn số học 6.
Môn số học 6 là môn học rất quan trọng học sinh nắm được chắc kiến thức
số học sẽ có nền móng tốt để học môn đại số các năm tiếp theo.Qua quá trình
giảng dạy tôi thấy các bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất rất hay, các
dạng bài tập phong phú, đa dạng các bài toán về bội chung và bội chung nhỏ
nhất còn được vận dụng để giải một số dạng toán khác góp phần rất lớn trong
quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Xuất phát từ thực tế và qua những năm giảng dạy toán 6 tôi thấy các bài
toán về bội chung (BC) và bội chung nhỏ nhất (BCNN) là rất quan trọng.Vì kiến
thức ban đầu tìm BC và BCNN rất cần được hiểu rõ bản chất và có kĩ năng thực
sự do kiến thức này xuyên suốt trong cả năm học và các năm tiếp theo có tìm
được BC và BCNN học sinh mới qui đồng được mẫu số và cộng, trừ được phân
4/26

Phát triển tư duy của học sinh qua một số bài toán về bội chung và bội chung nhỏ nhất
số và có kiến thức này học sinh mới quy đồng mẫu thức, cộng trừ phân thức ở
những năm tiếp theo.
Bên cạnh đó tôi còn thấy:
+ Kỹ năng tìm BC và BCNN của các em còn yếu nếu không được rèn luyện
nhiều.
+ Các bài toán về BC và BCNN các em còn mơ màng và không có khả năng
suy luận.
+ Những em không biết tìm BC và BCNN đã không biết làm bài tập và cứ
thế yếu dần.
Vậy để khắc phục những nhược điểm trên và gây cho các em hứng thú giờ
học toán, thông qua giờ học phát triển được trí tuệ rèn luyện được tư duy sáng
tạo về phương pháp, kỹ năng giải toán, để từ đó các em vận dụng vào giải các
bài tập đạt hiệu quả cao nhất. Xuất phát từ lý do trên và sự tâm huyết với các em
học sinh, niềm đam mê dành cho bộ môn toán tôi không ngừng trau dồi kiến
thức, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao tay nghề trong việc soạn giảng bằng những
kinh nghiệm riêng của bản thân và đây cũng là lý do để tôi chọn đề tài này.
2. Đối tượng nghiên cứu:
+ Lớp áp dụng đề tài: Học sinh lớp 6A.
+ Lớp đối chứng( không áp dụng đề tài): Học sinh lớp 6B. Hai lớp này tôi
đang trực tiếp giảng dạy của một trường THCS - Năm học 2017 – 2018.
3 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu nhằm đề ra các phương pháp sư phạm với mục đích: “Phát
triển tư duy học sinh qua một số bài toán về bộ chung và bội chung nhỏ nhất”,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học toán 6 nói riêng và toán THCS nói
chung.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 1 năm 2018.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ làm sáng tỏ một số vấn đề
như sau:
+ Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về kĩ năng giải toán.
+ Đề xuất các phương pháp sư phạm để rèn luyện kĩ năng giải toán cho học
sinh.
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn, lí thuyết.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
5/26

