intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 phục vụ cho việc thi tuyển sinh vào các trường THPT phần Nghị luận văn học

Chia sẻ: Bobietbo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

16
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là môn Ngữ văn trong trường THCS gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Trong thực tế học sinh luôn coi môn Ngữ văn là môn khó nhất, dài nhất. Theo kết quả điều tra bằng phiếu vào đầu năm học trước nữa , nhiều em chưa thực sự yêu thích môn học ý nghĩa và bổ ích này và càng không thích phần nghị luận văn học. Để học tốt môn này thì đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đã được đề cập bàn luận và thực hiện trong nhiều năm qua, đặc biệt trong mấy năm gần đây, với việc thực hiện giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới thì đổi mới phương pháp dạy học càng được thúc đẩy và phát huy một cách có hiệu quả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 phục vụ cho việc thi tuyển sinh vào các trường THPT phần Nghị luận văn học

  1. MỤC LỤC Phần Nội dung Trang Mục lục 1 Quy ước viết tắt 1 Phần I. Mở 1. Mục đích của đề tài 2 2. Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến 3 đầu 3. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài 4 Chương I: Thực trạng vấn đề mà SK đề cập đến. 5 Chương II: Những giải pháp (biện pháp) mang tính khả Phần II. thi 7 Nội dung Chương III: Kiểm chứng các giải pháp đã triển khai của sáng kiến 24 Phần III. 1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập của SK 25 2. Hiệu quả thiết thực của SK...... 25 Kết luận 3. Kiến nghị. 26 Phần IV. Tài liệu tham khảo 27 Phụ lục QUY ƯỚC VIẾT TẮT 1. THPT : Trung học phổ thông 2. THCS: Trung học cơ sở 3. SGK: Sách giáo khoa 4. SGV: Sách giáo viên 5. SK: Sáng kiến 1
  2. PHẦN I : MỞ ĐẦU 1. Mục đích của sáng kiến: Từ xưa đến nay, Văn học luôn có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển nhân cách của con người, bởi: “Văn học là nhân học”. Trong trường phổ thông, môn Ngữ văn cũng đã được các cấp, các ngành hết qức quan tâm. Nó chiếm thời lượng đáng kể so với các môn học khác. Đó là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội , có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm, nhân cách học sinh. Nó không những tạo tiền đề cho học sinh có kĩ năng nghe- nói- đọc- viết mà còn rèn cho các em có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu giúp các em có năng lực cảm nhận và bình giá văn học. Văn học đồng thời cũng là môn công cụ có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ môn khác. Do vậy học tốt môn Văn sẽ giúp các em khám phá, tiếp nhận các môn khoa học khác một cách tốt hơn. Môn Ngữ văn trong trường THCS gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn. Trong thực tế học sinh luôn coi môn Ngữ văn là môn khó nhất, dài nhất. Theo kết quả điều tra bằng phiếu vào đầu năm học trước nữa , nhiều em chưa thực sự yêu thích môn học ý nghĩa và bổ ích này và càng không thích phần nghị luận văn học. Để học tốt môn này thì đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đã được đề cập bàn luận và thực hiện trong nhiều năm qua, đặc biệt trong mấy năm gần đây, với việc thực hiện giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới thì đổi mới phương pháp dạy học càng được thúc đẩy và phát huy một cách có hiệu quả. Đứng trước tình trạng đó, tôi và nhiều đồng nghiệp khác đã không khỏi băn khoăn. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tìm biện pháp để giúp các em có kĩ năng làm văn nhất là văn nghị luận. Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 phục vụ cho việc thi tuyển sinh vào các trường THPT phần Nghị luận văn học”. Thực tế ở lớp dưới các em đã được học về các kiểu văn bản cụ thể. 2
  3. Chẳng hạn lớp 7 đã học về văn biểu cảm, về văn nghi luận (trong đó có phép lập luận chứng minh và phép lập luận giải thích). Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận, về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Vì thế các tiết dạy- học phần nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ở lớp 9 phải kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước. Sự kế thừa, nâng cao này cần tăng cường hoạt động thực hành của học sinh. Thật ra, trong một bài nghị luận văn học, người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng.....) và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác kĩ năng. Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia. Nhưng thực tế tại trường THCS của chúng tôi thì học sinh còn yếu ở các kĩ năng, thao tác, vì vậy bài văn nghị luận chưa mang tính thuyết phục cao. Do vậy mục đích của bài viết nhằm đưa ra một phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh, để nâng kĩ năng làm văn nghị luận đồng thời dần nâng cao điểm thi vào THPT. 2. Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến : - Tính mới của sáng kiến: rèn cho học sinh kĩ năng học và làm văn nghị luận cần phải đi từ những cái căn bản nhất, phát huy tính tích cực và khả năng sáng tạo của học sinh. - Sáng kiến với các giải pháp ( biện pháp) được trình bày khác, mới so với giải pháp ( biện pháp) cũ trước đây là: Trước đây, các giải pháp đưa ra đã chú ý tới đối tượng học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh. Giáo viên cũng đã chú ý tới rèn kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, kĩ năng viết đoạn và làm bài của học sinh; khi giảng dạy đã có chú ý tới tính tích hợp giữa các phân môn. Tuy nhiên, qua quá trình ôn tập cho học sinh tôi nhận thấy ngoài những giải pháp đã thực hiện trên thì giáo viên cần phải chú ý cả việc rèn cho học sinh kĩ năng trình bày khoa học, ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc và sáng tạo. Trong quá trình học và làm văn nghị luận các em cần kết hợp linh hoạt nhuần nhuyễn, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận 3
  4. xét, đánh giá khái quát, giữa lý lẽ với dẫn chứng, bình vừa là phương pháp tư duy, vừa là kỹ năng làm bài mà giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh. Khi ôn tập kiểu bài nghị luận văn học, giáo viên cũng thực hiện qua 4 bước: Tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn ý, viết văn, sửa lỗi. Có như vậy học sinh mới có kỹ năng làm một bài văn thành thạo. Với các giải pháp mới sẽ phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh, chủ yếu là học sinh hoạt động giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở. - Ưu điểm nổi bật của sáng kiến được áp dụng vào thực tiễn tại đơn vị: Khi tôi vận dụng phương pháp dạy học như vậy trong quá trình dạy và ôn thi đối với học sinh lớp 9 thì tôi nhận thấy các em đã nắm tương đối chắc được phương pháp làm văn nghị luận. Các em đã biết vận dụng lí thuyết vào thực hành điều đó được thể hiện rõ trong các kì thi vào lớp 10 hai năm gần đây đã có những tiến bộ . 3. Đóng góp của sáng kiến để nâng cao chất lượng quản lý, dạy và học: Phần nghị luận văn học được giảng dạy ở học kì II của lớp 9 với thời lượng cho phần giảng dạy lí thuyết không nhiều song yêu cầu về kĩ năng rất cao. Trong khi đó mỗi tác phẩm truyện hoặc đoạn trích hay đoạn thơ, bài thơ lại có cách cảm khác nhau. Để giúp các em có được kĩ năng tốt nhất trong bài viết này căn cứ vào kinh nghiệm cùng với sự hiểu biết của bản thân tôi cố gắng đi tìm một phương pháp hay nhất để giúp các em làm được những bài văn nghị luận có sức thuyết phục người đọc, người nghe, với hy vọng nó sẽ có tác dụng ít nhiều cho sự tìm tòi sáng tạo của đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy phần nghị luận văn học để giúp học sinh thi vào THPT đạt kết quả cao nhất. - Giúp giáo viên nhận thấy việc hướng dẫn học sinh nhận diện đề và phương pháp làm bài văn nghị luận là hợp lý và cần thiết. - Giúp học sinh nhận diện được đề và có phương pháp làm bài văn nghị luận có hiệu quả cao và ngày càng thấy yêu môn học. 4
  5. PHẦN II. NỘI DUNG Chương I THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÀ SÁNG KIẾN ĐỀ CẬP ĐẾN Thứ nhất: Theo đánh giá của nhiều giáo viên có kinh nghiệm khi giảng dạy phần kiến thức này khó khăn lớn nhất từ phía học sinh là tư duy lập luận logic của các em chưa được định hình. Điều này cũng có lý do vì chương trình lớp dưới chủ yếu là văn miêu tả, trần thuật, kể chuyện... nên thói quen của các em vẫn chỉ là tư duy hình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan. Nguyễn Đình Thi đã từng viết: “ Tác phẩm nghệ thuật nào cũng được xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh”. Để cảm nhận được “cái mới mẻ” đó thì học sinh phải cảm thụ được tác phẩm để làm rõ vấn đề. Đấy là điều mà văn nghị luận đòi hỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính logic, tính biện chứng. Từ đó mà sự tiếp nhận kiến thức mới đối với các em rất hạn chế, ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắng đọng kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em. Kiểu bài nghị luận đối với học sinh bậc THCS là kiểu bài khó, với nghị luận văn học lại càng phức tạp hơn. Trong thực tế giảng dạy SGK và SGV hướng dẫn còn chung chung nhiều phần chưa bám sát vào yêu cầu của tiết dạy để làm nổi bật vấn đề, một tiết dạy lượng kiến thức nhiều, giáo viên khó định liệu, lựa chọn kiến thức để truyền tải đến học sinh. Hơn nữa giờ luyện nói lại càng khó hơn, có tiết luyện nói yêu cầu giải quyết 4 đề bài, trong khi đó học sinh lại không thích học văn, trên lớp chưa chịu tập trung học và làm bài khi giáo viên yêu cầu, vì chúng vừa dài vừa trừu tượng, cho nên nhiều tiết dạy tập làm văn học sinh chưa hiểu bản chất của vấn đề. Do đó học ôn thi vào THPT là việc làm cần thiết để rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh. Bên cạnh đó những giờ dạy phụ đạo học sinh ôn tập cho thi vào THPT tất cả đều tuỳ thuộc vào giáo viên dạy, mỗi giáo viên có một cách dạy khác nhau, nhưng cũng đã đảm bảo kiến thức cho học sinh khi thi. Song 5
  6. việc rèn kĩ năng trong các giờ dạy đó lại chưa nhiều. Khi đi thi học sinh thường hay trông chờ vào tài liệu, vào những bài cô đã làm mà chưa biết dựa vào dàn ý, độc lập suy nghĩ để đưa ra những bài làm sâu sắc thực sự là văn của mình. Thứ hai: Thực trạng học sinh hiện nay đa phần rất lười suy nghĩ, lười viết. Bài viết thường rất ngắn, có khi lại viết chưa vào trọng tâm của vấn đề, chỉ nói lan man chưa xác định được yêu cầu của đề bài là gì ? Vì vậy sự cảm thụ văn chương trong học sinh còn hạn chế nhiều, đã vậy chữ viết văn sai chính tả, viết tắt, viết hoa chưa đúng chỗ ( đặc biệt là các em nam) mà bài văn nghị luận văn chương cần trau chuốt về từ ngữ, từ ngữ cần có sức gợi, tả cao, và đây cũng chính là nguyên nhân làm cho điểm thi vào các trường THPT còn thấp. Thứ ba: Khi đi thi đa phần các em chưa biết phân bố thời gian hợp lí. Hầu hết các em dành thời gian cho phần làm văn còn quá ít cho nên các bài thi còn dở dang, chưa nêu cảm nhận, đánh giá hết những nội dung tiêu biểu và nghệ thuật đặc sắc trong đoạn thơ, bài thơ hay trong tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. Thực trạng của vấn đề như đã nêu trên đã có nhiều thày cô quan tâm đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp. Nhưng theo xu thế chung hiện nay học sinh không ham thích học văn. Làm thế nào để các em thấy ngày một yêu thích môn học, yêu thích những tác phẩm văn học đã học và muốn tìm đọc những tác phẩm hay của Việt Nam cũng như của thế giới đó là việc làm của tất cả những thày cô đang giảng dạy môn Văn. 6
  7. Chương II NHỮNG GIẢI PHÁP ( BIỆN PHÁP) MANG TÍNH KHẢ THI 1. Một số vấn đề chung khi giảng dạy phần nghị luận văn học trong chương trình môn ngữ văn lớp 9. Nghị luận văn học thuộc phân môn tập làm văn được giảng dạy trong chương trình tập làm văn học kỳ II. Nghị luận bao gồm 2 kiểu bài chủ yếu: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Trong đó phần nghị luận văn học lại được chia thành 2 dạng bài cụ thể: “ Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích” và “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” . Việc phân chia này dựa theo thể loại và đó cũng là các đối tượng, vấn đề phổ biến quen thuộc nhất mà học sinh thường gặp trong làm văn. Khi giảng dạy kiểu bài này phải phát huy tinh thần đổi mới theo phương châm tích hợp, cụ thể là: Trước hết cần thật sự thấm nhuần tư tưởng chủ đạo, yêu cầu bao quát của việc giảng dạy và học tập văn nghị luận hiện nay, trong đó có nghị luận văn học. Tại sao không gọi như trước đây là giải thích, chứng minh hay phân tích, bình luận, bình giảng văn học? Thực tế, hầu như không có bài văn nào mà từ đầu đến cuối chỉ tuân theo một yêu cầu, vận dụng một thao tác. Đó là các phép lập luận, các thao tác thường được kết hợp, vận dụng khi giải quyết một vấn đề nghị luận. Trong một bài nghị luận văn học, người viết phải kết hợp nhiều thao tác, kỹ năng có khi khó tách bạch một cách rạch ròi, giải thích, chứng minh, phân tích hay bình luận. Vậy là, khi giảng dạy phần nghị luận văn học cần chú ý dến tính tổng hợp của tri thức, kỹ năng. Các tiết dạy học, nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ở lớp 9 phải có sự kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp, kỹ năng đã rèn luyện ở các lớp dưới ( phần nghị luận được dạy từ lớp 7 ). Đó chính là thể hiện của tinh thần tích hợp dọc trong nội bộ phân môn tập làm văn ở chương trình bậc THCS. Giáo viên cần giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kết hợp đồng thời và linh hoạt nhiều phép lập luận ( giải thích, chứng minh, phân tích...) để làm sáng tỏ vấn đề, trình bày một cách thuyết phục, hấp dẫn các ý kiến, nhận định của mình về 7
  8. một vấn đề văn học. Hơn nữa, đối tượng nghị luận của phần nghị luận văn học lại chính là các văn bản, tác phẩm văn học mà học sinh đã được học trong phân môn văn học, vì thế khi vận dụng vào làm bài nghị luận văn học, các em cần sử dụng tốt những gì đã nhận thức được khi học phần văn học để làm bài. Ngoài ra, để làm tốt bài nghị luận văn học, học sinh cần hiểu rõ về các biện pháp tu từ, các tín hiệu nghệ thuật mà nhà văn , nhà thơ đã sử dụng trong các tác phẩm văn học. Muốn có được điều này các em phải nắm chắc kiến thức phân môn Tiếng Việt. Đây chính là thể hiện tinh thần tích hợp ngang giữa các phân môn trong bộ môn Ngữ văn. Trong những năm gần đây một phương châm quan trọng trong dạy học mà hầu như ai cũng biết là phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Nhưng từ việc hiểu lý thuyết đến việc thực hành đúng, có hiệu quả thật sự không phải là đơn giản. Cần chống lối học vẹt, nói theo từ cách nghĩ đến cách học, cách làm bài. Các bài nghị luận trong sách giáo khoa luôn yêu cầu học sinh xác định rõ tinh thần, yêu cầu của cụm từ “ trình bày, suy nghĩ về...”, hoặc “ cảm nhận của em về ...”, “ cảm nhận và suy nghĩ về ...” , “ phân tích...” . Nghị luận về một vấn đề, một phương diện nào đó của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần xác định một lập trường để phân tích, lý giải, đánh giá bộc lộ ý kiến chủ quan của mình. Ngay chữ “ phân tích” trong yêu cầu của một đề văn nghị luận cũng cần hiểu cho đúng, cho thấu đáo. Nó không chỉ là một thao tác, một phép lập luận. Không chỉ phân chia vấn đề, đối tượng ra từng bộ phận, khía cạnh để miêu tả, tìm hiểu đặc điểm. Phân tích ở đây còn bao hàm cả sự nhận xét, đánh giá, lý giải... về vấn đề, đối tượng ấy bằng tư tưởng tình cảm của mình. Chẳng hạn trước đề văn nghị luận:” Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Một bài văn làm tốt sẽ không chỉ lần lượt nêu rồi chứng minh từng vẻ đẹp trong phẩm chất của nhân vật Phương Định như: có lí tưởng sống cao đẹp, dũng cảm, kiên cường, không sợ hy sinh, gian khổ, lãng mạn, lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống... Đồng thời với quá trình phân tích từng vẻ đẹp, trình 8
  9. bày từng luận điểm ấy, người viết cần thể hiện sự cảm thụ về các chi tiết nghệ thuật sinh động trong tác phẩm, thể hiện thái độ tình cảm của mình, cần nhận xét đánh giá về cách miêu tả, cách xây dựng nhân vật của nhà văn, cần rút ra những khái quát về ý nghĩa của hình tượng nhân vật. Còn với chữ “ cảm nhận”, “suy nghĩ” thì ngoài kỹ năng phân tích người viết cần chú ý nêu lên ý kiến chủ quan của mình, từ đó liên hệ với cuộc sống xã hội và hành động của bản thân, đặc biệt phải đề cao sự rung cảm của mình khi tìm hiểu tác phẩm. Nói như vậy có nghĩa là bài văn nghị luận văn học cần đề cao cảm thụ, ấn tượng riêng, tính chất cá nhân, cá thể của người viết. Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ vấn đề này để có định hướng làm bài phù hợp với từng đề văn. Bài nghị luận văn học đòi hỏi hệ thống luận điểm mạch lạc, màu sắc cá nhân của các nhận xét, đánh giá, mặt khác bài văn nghị luận văn học cũng yêu cầu tính cụ thể, tính thuyết phục của những luận cứ. Nếu cứ sa đà vào dẫn chứng, phân tích cụ thể mà không nâng lên được tầm khái quát, không đúc kết thành các nhận định thì bài văn sẽ nhạt tính tư tưởng, khó gây ấn tượng. Mặt khác, nếu cứ nhận định, ngợi ca hay phê phán một cách chung chung mà không qua các căn cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn cũng yếu sức thuyết phục dễ trở lên xáo rỗng. Một hiện tượng thường gặp khi nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là học sinh hay sa vào kể lể lan man, ít nhận xét đánh giá cảm thụ, dẫn đến bài viết thiên sang tự sự là chính. Kết hợp linh hoạt nhuần nhuyễn, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát, giữa lý lẽ với dẫn chứng, bình vừa là phương pháp tư duy, vừa là kỹ năng làm baì mà giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh. Sách giáo khoa, đặc biệt là các phần ghi nhớ đã định hướng rõ yêu cầu này, cũng như cách thức thực hiện. Chẳng hạn, khi nghị luận về một tác phẩm truyện, những nhận xét đánh giá phải xuất phát từ chủ đề, từ ý nghĩa cốt truyện, từ tính cách số phận nhân vật, từ đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm. Khi nghị luận về một nhân vật cần phân tích, đánh giá từng phương diện cơ bản của nhân vật được nhà văn phản ánh gắn liền với những chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Chẳng hạn, khi nghị 9
  10. luận về một đoạn thơ, bài thơ cần làm sáng tỏ nội dung, cảm xúc được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu. Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố để có những nhận xét, đánh giá cụ thế xác đáng. Chẳng hạn trước đề bài : Cảm nhận của em về lòng thành kính thiêng liêng đối với Bác qua bài thơ “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, không ít học sinh lúng túng khi xác định yêu cầu và cách tổ chức làm bài. Học sinh phải trả lời được các câu hỏi: Lòng thành kính thiêng liêng đối với Bác trong bài thơ này được diễn tả qua các nhận vật nào? Trong thời gian nào? Ở đâu? Đâu là các chi tiết đặc sắc ( ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ...) thể hiện lòng thành kính ấy? Mình tâm đắc nhất với chi tiết nào? Giá trị nhận thức, ý nghĩa tư tưởng của bài thơ “ Viếng lăng Bác” là gì? Từ việc trả lời đúng các câu hỏi trên lại cần phải xác định rõ, trình bày theo yêu cầu của đề văn như thế nào? Nên kết hợp ra sao? Các thao tác, các phép lập luận được sử dụng là gì?... Như vậy về bản chất của việc dạy và học mảng nghị luận văn học hiện nay vừa đòi hỏi sự thâm nhập , thẩm bình văn bản tác phẩm vừa yêu cầu kỹ năng tổng hợp, khái quát thành một nhận định, đánh giá riêng. 2. Phương pháp giảng dạy và ôn tập mảng nghị luận văn học giúp học sinh thi tuyển vào các trường THPT. 2.1. Giáo viên cần nhắc lại và nhấn mạnh khái niệm nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nắm chắc bản chất của vấn đề từ đó định hướng cho việc làm bài. - Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là trình bày những nhận xét đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. - Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày những nhận xét đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. 2.2. Giáo viên nêu và phân tích rõ những yêu cầu của mỗi kiểu bài: - Yêu cầu của bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: + Những nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phải xuất phát từ ý nghĩa cốt truyện, từ tính cách số phận nhân vật và nghệ thuật của tác 10
  11. phẩm. Người viết phải phát hiện và khái quát được những điều ấy. Về nội dung truyện phản ánh thực tế gì? Qua đó nói lên tư tưởng gì? Tư tưởng ấy có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống? Về nghệ thuật truyện xây dựng những nhân vật nào, ai là nhận vật trung tâm? Cách thức xây dựng nhân vật như thế nào? Truyện có bố cục tình huống ra sao? Ngôn ngữ kể chuyện có gì đặc sắc....? ( Giáo viên minh hoạ bằng tác phẩm cụ thể) + Các nhận xét đánh giá về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phải được trình bày rõ ràng, đúng đắn, lý lẽ, dẫn chứng phải thuyết phục, dẫn chứng được lấy từ văn bản tác phẩm, được đặt trong dấu ngoặc kép. Việc trích dẫn chứng phải tuyệt đối chính xác. + Bài viết phải có bố cục mạch lạc ( bố cục ba phần, trong mỗi phần phải có sự chia tách, các luận điểm phù hợp ), bài văn sinh động gợi cảm, liên kết các ý chặt chẽ, thuyết phục. - Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ: + Bài nghị luận, cần phân tích để làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ được thể hiện qua hình ảnh, giọng điệu, ngôn từ. Về nội dung cần chỉ rõ bài thơ viết về vấn đề gì, đối tượng hay tình cảm nào? Qua đó gửi gắm tư tưởng gì? Chẳng hạn khi phân tích bài thơ “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, cần hiểu rõ bài thơ ghi lại tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ trong lần đầu tiên ra thăm lăng Bác, qua đó cho thấy lòng biết ơn, niềm kính yêu, sự trân trọng, ngưỡng mộ của nhà thơ với Bác kính yêu. Bài thơ đã truyền tình cảm của Viễn Phương tới bạn đọc đó là niềm kính yêu lãnh tụ, sống học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người. + Về nghệ thuật, người viết phải chỉ rõ trong bài thơ đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? (8 biện pháp tu từ về từ, 3 biện pháp tu từ về câu ); ngoài ra, trong bài thơ còn có những tín hiệu nghệ thuật nào? ( hình ảnh, ngôn ngữ, cảm xúc, nhịp điệu, giọng điệu, cách sử dụng từ loại, cách viết, cách sử dụng dấu câu...). Ví dụ khi phân tích bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, ngoài việc chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng như điệp 11
  12. ngữ, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, điệp cấu trúc câu, người viết cần phải chỉ ra được giọng điệu ngang tàn, hóm hỉnh, hồn nhiên, vô tư đầy chất lính, âm điệu chắc khoẻ, hào hùng, cách sử dụng từ phủ định để khẳng định....Từ đó làm nổi bật phẩm chất anh hùng, lòng dũng cảm, niềm lạc quan yêu đời và tâm hồn vô tư, trẻ trung đầy chất lính của những người chiến sỹ lái xe Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước. + Bài viết phải có bố cục mạch lạc, rõ ràng, lời văn sinh động , gợi cảm, thể hiện được sự rung động chân thành của người viết. + Bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ phải có đẫn chứng, lý lẽ phù hợp. Dẫn chứng phải được đặt trong dấu ngoặc kép và đặt giữa dòng nếu trích từ 2 câu thơ trở lên. 2.3. Giáo viên cần nêu rõ bố cục của mỗi kiểu bài. - Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích: * Mở bài: + Giới thiệu tác giả, tác phẩm ( tên thật, bút danh, năm sinh, năm mất- nếu có, quê quán, phong cách sáng tác, sự nghiệp văn chương, hoàn cảnh ra đời và nội dung chính của tác phẩm) + Nêu vấn đề cần nghị luận ( tuỳ theo yêu cầu từng đề bài ) * Thân bài: Lần lượt phân tích từng luận điểm, dùng luận cứ tiêu biểu xác thực để làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ( thông thường khi phân tích truyện tách riêng nội dung, nghệ thuật) Ví dụ: Luận điểm 1: - Dẫn dắt. - Nêu luận điểm - Trích dẫn chứng - Nhận xét, đánh giá, nâng cao, chuyển ý Nếu trong 1 luận điểm có nhiều ý nhỏ thì mỗi ý lại chia tách ra như trên *Kết bài: + Đánh giá khái quát về vấn đề vừa phân tích 12
  13. + Khẳng định giá trị tư tưởng của vấn đề, sức sống của tác phẩm và tài năng của nhà văn. - Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ * Mở bài: + Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn trích ( tương tự phần mở bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ) + Nêu nhận xét, đánh giá bước đầu về đoạn thơ, bài thơ đó * Thân bài: + Lần lượt trình bày những nhận xét đánh giá của mình về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm bằng cách chia tách ra thành các phần, các ý để khai thác + Có thể chia đoạn thơ, bài thơ thành từng câu, từng khổ hay từng đoạn để phân tích ( bố cục ngang). Cũng có thể phân tích theo từng ý thơ, hình ảnh thơ để khai thác ( bố cục dọc). Việc chia tách này tuỳ theo từng bài thơ hoặc yêu cầu của mỗi đề. Ví dụ: Bài thơ “ Đồng chí”, “ Đoàn thuyền đánh cá”, “ Viếng lăng Bác”, “ Ánh trăng”, “ Mùa xuân nho nhỏ” .... nên phân tích theo bố cục ngang. Bài thơ “ Bếp lửa”, “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” nên phân tích theo bố cục dọc. + Có thể tách riêng hoặc kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật, nhưng thông thường với thơ thường kết hợp phân tích cả 2 mặt này. - Trình tự khai thác một khổ thơ, đoạn thơ hay một ý bao gồm: + Dẫn dắt. + Nêu lý lẽ. + Trích thơ. + Diễn giải ( nội dung và nghệ thuật) + Nhận xét đánh giá, bình, nâng cao, chuyển ý 13
  14. * Kết bài: + Khái quát giá trị và sức sống của đoạn thơ, bài thơ hoặc vấn đề vừa phân tích . + Khẳng định thành công của tác phẩm và tài năng của nhà thơ. 2.4. Phương pháp ôn tập: Khi ôn tập kiểu bài nghị luận văn học, giáo viên cũng thực hiện qua 4 bước: Tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn ý, viết văn, sửa lỗi. Có như vậy học sinh mới có kỹ năng làm một bài văn thành thạo. 3. Minh hoạ qua một số bài giảng cụ thể. Đề số 1 : Suy nghĩ về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “ Làng ” của Kim Lân. GV yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài, xác định trọng tâm và phần tìm hiểu đề, tìm ý 1.Tìm hiểu đề, tìm ý : Suy nghĩ về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “ Làng ” của Kim Lân. * Tìm hiểu đề : - Kiểu bài : Nghị luận về một đoạn trích truyện. - Nội dung : Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai. - Kiến thức: Trong tác phẩm “ Làng ” của Kim Lân *Tìm ý : - Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào? - Những biểu hiện về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai ? - Tác giả đã sử dụng những nét nghệ thuật đặc sắc nào để miêu tả về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai ? Những câu trả lời cho phần tìm ý trên sẽ nằm ở phần nào của bài văn nghị luận? Phần thân bài sẽ chứa đựng những câu trả lời đó. 14
  15. 2. Lập dàn ý : Giáo viên lần lượt ra những câu hỏi sau đó hoc sinh trình bày giáo viên ghi nhanh lên bảng a. Mở bài : Những ý cần trình bày cho phần mở bài ? - Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn “Làng” - Giới thiệu nhân vật ông Hai : Nhân vật có tình yêu làng, yêu nước sâu sắc. Là nhân vật điển hình cho người nông dân thời kì kháng chiến chống Pháp. b. Thân bài : Phần thân bài gồm những luận điểm nào? * Suy nghĩ về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai - Ông Hai là người nông dân cần cù, chịu khó: Vì vốn cuộc đời gắn liền với thửa ruộng mảnh vườn, cuộc sống quanh năm vất vả, lam lũ vì thế ở nơi tản cư ông cũng không để cho chân tay ngơi nghỉ, ông đã vỡ ruộng khai hoang, trồng rau, trồng sắn... - Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai là tình cảm đặc biệt của người nông dân thời kháng chiến. + Nhớ về làng, kể về làng, nghe tin tức của làng khi ông ở nơi tản cư. + Theo dõi tin tức kháng chiến. + Tâm trạng đau đớn, tủi hổ khi nghe làng chợ Dầu theo Tây. + Niềm vui khôn siết khi được tin làng cải chính. * Suy nghĩ về những nét nghệ thuật tiêu biểu khi miêu tả về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai - Chọn tình huống bất ngờ, hợp lí -> Tình yêu làng của ông Hai được bộc lộ. - Cách miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc. + Các hình thức trần thuật, đối thoại, độc thoại nội tâm được sử dụng hợp lí c. Kết bài : Đánh giá thành công của tác giả khi xây dựng hình tượng nhân vật ông Hai. 15
  16. 3. Viết bài và sửa chữa: Yêu cầu học sinh tập viết từng phần, từng đoạn theo dàn ý, sau đó trình bày trước lớp để giáo viên nhận xét, góp ý, bổ sung. Giáo viên nên động viên các em viết theo nhiều cách mở bài khác nhau, cần động viên khuyến khích những em có mở bài tốt, cần phát huy cho những bài sau Sau khi giáo viên cùng học sinh sửa chữa những đoạn văn giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe hoặc chép một đoạn văn hay làm mẫu để học sinh tham khảo. a. Mở bài: Cách 1: Kim Lân là cây bút sở trường về truyện ngắn và khai thác rất thành công đề tài người nông dân sau cách mạng tháng tám. Kim Lân viết không nhiều nhưng những truyện ngắn của ông thường gây ấn tượng độc đáo, đặc sắc, rất đỗi giản dị, chân chất về con người ở miền quê quan họ. Truyện ngắn “ Làng” là một ví dụ tiêu biểu . Cách 2: Với người nông dân Việt Nam có lẽ không có thứ tình cảm nào tự nhiên hơn tình yêu đất nước. Tình yêu ấy nhẹ nhàng thấm vào máu thịt qua tình cảm dành cho người thân, làng xóm, quê hương. Nó tưởng như xa xôi nhưng lại thật gần gũi, giản dị. Thấu hiểu những điều đó nhà văn Kim Lân đã có một thiên truyện ngắn thật hay viết về tình yêu quê hương đất nước của người nông dân: “ Làng”. Trong truyện ngắn này, ông đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai- một con người giàu lòng yêu làng, yêu nước tha thiết, Cách 3: Kim Lân là nhà văn có vốn sống vô cùng phong phú và sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Các sáng tác của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Văn bản “Làng” đươc sáng tác vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với nhân vật chính là ông Hai, một lão nông hiền lành, yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Cách 4: Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ trên qui mô toàn quốc, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, nông dân một số làng quê đã tản cư ra vùng tự do tham gia kháng chiến. Rời làng quê ra đi họ luôn gắn chặt với làng, vui buồn 16
  17. cùng với làng.Tình cảm đó của người nông dân thể hiện sinh động trong truyện “Làng” của nhà văn Kim Lân . b.Thân bài: Yêu cầu học sinh viết đoạn triển khai luận điểm: Tâm trạng đau đớn, tủi hổ … của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây. Yêu cầu học sinh đọc giáo viên cùng sửa chữa. Ví dụ: Trên đoạn đường trở về, đang trong tâm trạng vui vẻ khi vừa nghe được bao tin thắng trận của quân ta thì một biến cố bất ngờ xảy ra. Ông gặp những người đàn bà tản cư từ Gia Lâm lên, khi gặp họ, ông tưởng mình sẽ nghe được nhiều tin vui hơn nữa nhưng thật bất ngờ, ông Hai nhận được tin cả làng chợ Dầu làm việt gian theo Tây. Cái tin ấy là một tin chết người, nó chẳng những làm mất hết niềm tin, sụp đổ niềm tự hào về làng của ông mà còn khiến ông tủi hổ, nhục nhã vì đã khoe bao điều hay về nó. Vừa nghe như vậy, ông Hai thấy cổ họng mình nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, ông lặng đi tưởng chừng như không thở được. Ông đang ở trong một trạng thái bất ngờ, đột ngột và vô cùng xấu hổ. Ông vờ lảng sang chuyện khác để trốn những người đàn bà kia nhưng lời nói của họ như những nhát dao chém vào người ông đau đớn. Trên đường trở về ông chỉ dám cúi gằm mặt xuống đất không dám ngẩng mặt nhìn ai. Vừa về đến nhà, ông nằm vật ra giường, nước mắt trào ra, ông tức giận chửi bọn Việt gian làng Dầu bán nước nhưng ông lại thấy những lời chửi của mình thật vô lí. Ông kiểm điểm từng người trong óc nhưng không tìm được ai có thể phản bội, họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Nhưng thằng chánh Bệu thì đích thị là người làng ông rồi khiến ông có tâm trạng bối rối, phân vân, nửa tin nửa ngờ. Chỉ bằng một đoạn văn ngắn, tác giả đã cụ thể hoá sững sờ, ngạc nhiên cao độ, nghẹn ngào đau đớn, tức giận khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc. Qua đây, một lần nữa, nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của ông hai trong biến cố này.Cả nhà ông Hai những ngày sau đó, sống trong bầu không khí ảm đảm, nặng nề, đầy lo lắng. Họ nghĩ đến sự ghẻ lạnh, tẩy chay của 17
  18. mọi người và đặc biệt lo lắng khi không biết sẽ phải làm thế nào. Ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề. Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phản bội là ' chuyện ấy'. Ông tuyệt giao với tất cả mọi người , trốn biệt ở nhà, không dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông đi, chỉ vì họ là người làng theo Tây. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng, khó khăn nhất: “ thật là tuyệt đường sinh sống”, đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Trong tình cảnh ấy ông Hai đã nghĩ “ hay là quay về làng” nhưng rồi ông đã dứt khoát “ về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, chịu đầu hàng Tây là cam chịu kiếp sống nô lệ, cô độc” nên ông đã quyết định “ làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Làng ông không còn là làng có đường thôn ngõ xóm đẹp đẽ nữa mà là cái gì đó lớn lao hơn là danh dự , là cái lẽ làm người. Đến đây, tình yêu làng của ông Hai đã hoà quyện vào tình yêu nước. Viết đoạn văn triển khai cho luận điểm : “Suy nghĩ về những nét nghệ thuật tiêu biểu khi miêu tả về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai”. Giáo viên hướng dẫn học sinh viết, yêu cầu học sinh đọc trước lớp sau đó giáo viên sửa chữa cho các em. Ví dụ : Truyện đã xây dựng được những kịch tính, nội tâm nhân vật bộc lộ qua những hành động, suy nghĩ, thái độ, việc làm trở thành hai cốt truyện tâm lí độc đáo. Kịch tính của truyện được phát triển theo tầng bậc từ thấp đến cao. Tác giả đã xây dựng được những tình huống hấp dẫn, xúc động, đẩy chi tiết đến cao trào rồi giải quyết một cách nhẹ nhàng, thoả đáng và có hậu. Tuy vậy nhưng vẫn gây được hứng thú, tạo sự bất ngờ cho người đọc, người nghe. Ngôn ngữ văn chương của Kim Lân đậm đà chất Kinh Bắc, có những chỗ, những lúc chất liệu địa phương đã được sử dụng trong giao tiếp, ứng xử của nhân vật rất khéo léo. Qua đó ta thấy được bút pháp nghệ thuật sáng tạo của Kim Lân trong việc khai thác đời sống nội tâm nhân vật. 18
  19. Viết phần kết bài c. Kết bài : Truyện ngắn “Làng” đã thể hiện một cách chân thực, sinh động tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân trong những năm kháng chiến chống Pháp. Nó góp thêm cho văn học yêu nước một tiếng nói riêng rất thú vị, rất đặc trưng. Cùng một tác phẩm giáo viên hướng dẫn học sinh lập ra những dạng đề khác nhau. Hướng dẫn học sinh khái quát ở từng dạng đề cần tập trung vào vấn đề gì, rồi yêu cầu học sinh về nhà viết, sau đó giáo viên sẽ kiểm tra ở các giờ học tiếp theo. Khi kiểm tra giáo viên cần sửa chữa cụ thể cho học sinh. Ví dụ : Dạng đề thứ hai : Phân tích truyện ngắn “Làng” của Kim Lân Dạng đề thứ ba : Phân tích diễn diến cốt truyện“ Làng”của Kim Lân. Dạng đề thứ tư : Cảm nhận của em sau khi học xong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân. Đề số 2: Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”của Thanh Hải. 1.Tìm hiểu đề, tìm ý: Cho học sinh đọc kỹ đề văn, gạch chân các từ ngữ quan trọng trong đề: Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”của Thanh Hải Phần tìm ý chỉ cần thực hiện lướt qua vì học sinh đã được tìm hiểu kỹ trong giờ giảng văn, giáo viên chỉ cần chú ý nhấn mạnh từ “ suy nghĩ” để định hướng cách làm bài cho học sinh. 2. Lập dàn ý: Cho học sinh tự lập dàn ý ra vở nháp và trực tiếp trình bày trên bảng sau đó giáo viên cùng học sinh nhận xét từng bài làm, cùng nhau đưa ra dàn ý chuẩn mực. a. Mở bài: - Khái quát chung về tác giả và bài thơ. 19
  20. - Những xúc cảm của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm “một mùa xuân nho nhỏ” dâng hiến cho cuộc đời b. Thân bài: *Mùa xuân của thiên nhiên - Bức tranh mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, gợi cảm, tràn đầy sức sống, tươi vui rộn rã qua các hình ảnh thơ đẹp: Bông hoa tím biếc, dòng sông xanh, âm thanh của tiếng chim chiền chiện - Nghệ thuật: + Từ ngữ gợi cảm, gợi tả. + Đảo cấu trúc câu. + Sử dụng màu sắc, âm thanh… + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác trong câu thơ: “Từng giọt long lanh rơi. Tôi đưa tay tôi hứng”. -> Cảm xúc : say sưa, ngây ngất của nhà thơ trước cảnh đất trời vào xuân * Mùa xuân của đất nước - Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu. - Hình ảnh biểu tượng: người cầm súng, người ra đồng -> hai nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng đất nước. - Hình ảnh ẩn dụ: lộc non ( chồi non, lá non, sức sống của mùa xuân, thành quả hạnh phúc) trong câu thơ: “ Lộc giắt đầy trên lưng. Lộc trải dài nương mạ” - Nghệ thuật. + Nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao. + Hình ảnh so sánh, nhân hoá đẹp: “Đất nước như vì sao - Cứ đi lên phía trước” -> ngợi ca vẻ đẹp đất nước tráng lệ, trường tồn, thể hiện niềm tin sáng ngời của nhà thơ về đất nước. * Tâm niệm của nhà thơ. 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2