A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lí luận
Một trong những đặc điểm bản của thời đại ngày nay cuộc cách
mạng khoa học công nghệ 4.0 đang phát triển như bão đã dẫn đến sự bùng
nổ thông tin. Tình hình đó đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng đổi mới,
hiện đại hoá nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại về các lĩnh
vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, nhằm cung cấp cho học sinh
những khối lượng kiến thức mới được cập nhật để họ thể thích nghi với cuộc
sống và có cơ sở để tiếp tục học tập.
Với phương pháp dạy học đổi mới đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều
đặc biệt với những bài có đồ dùng dạy học: mẫu vật, hình, tranh ảnh đòi hỏi
học sinh phải tự nghiên cứu thảo luận nhóm để rút ra kiến thức mới rồi trình
bày, nhóm khác nhận xét bổ sung. Nếu giáo viên thường xuyên sdụng thì tạo
cho các em một thói quen học tập, làm việc thì sẽ dễ dàng hơn, nhưng ở đây hầu
như một sgiáo viên ít sử dụng thường xuyên, hoặc chỉ sử dụng qua loa, chiếu
lệ. Điều đó nhiều do, một trong những do đó là: nhiều bài dạy đòi hỏi
phải có thiết bị, đồ dùng tự làm (làm bổ sung), kinh phí, học sinh học thụ động...
lẽ đó quá trình dạy học bậc trung học đang tồn tại mâu thuẫn giữa
một bên khối lượng tri thức đã được đổi mới tăng lên, phức tạp hơn với một
bên thời hạn học tập không thể tăng lên được. Để giải quyết mâu thuẫn đó
phải đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của
người học. Bản chất của hướng đó khơi dậy phát huy năng lực tìm tòi độc
lập, sáng tạo của người học thông qua việc tạo điều kiện cho học sinh phát triển
và giải quyết vấn đề. Nhờ vậy mà học sinh nắm vững tri thức và nắm vững được
phương pháp học tập.
Để đạt được mục tiêu đó, hiện nay việc đổi mới chương trình phương
pháp sử dụng đồ dung dạy học các trường phổ thông đã đang được quan
tâm rất lớn, với phương pháp học như vậy, vị thế của người giáo viên trong quá
trình dạy học hiện nay trường phổ thông “… trước hết không phải người
cung cấp thông tin người hướng dẫn đắc lực cho học sinh tự mình học
tập. Họ nhường việc cung cấp tri thức cho sách vở, tài liệu cuộc sống, để
thay vào đó, họ phải đóng vai trò người hỗ trợ cho kinh nghiệm học tập của bản
thân học sinh ”
Nhằm giúp học sinh tả hoặc trình bày được hình thái cấu tạo, vị trí
mỗi cơ quan, mỗi phần của một sinh vật thông qua mẫu vật, mô hình hoặc tranh
ảnh trước các bạn cùng trang lứa cũng như trước mọi người. giáo viên dạy
môn Sinh học tôi rất quan tâm đến vấn đề này. Chính vì lẽ đó tôi chọn đề tài“Tự
làm đồ dùng dạy học để áp dụng vào dạy Sinh học ở trường THCS
2. Cơ sở thực tiễn
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy vẫn còn 1 số học sinh chưa phát
huy tính tích cực chủ động, chưa phát huy được hết năng lực của từng học sinh,
giữa học sinh thụ động và năng động vẫn còn khoảng cách rất xa.
1/12
Trước những yêu cầu đó đòi hỏi mỗi người giáo viên cần phải trách
nhiệm đối với từng học sinh, phải tìm ra được phưong pháp giảng dạy phù hợp
với từng đối tượng học sinh giúp học sinh phát huy được hết năng lực của bản
thân tạo điều kiện cho các em được hội đ thể hiện được năng lực của
mình trước tập thể và trong các hoạt động của nhóm học tập.
Qua nhiều năm giảng dạy môn sinh học cấp THCS từ lớp 6 đến lớp 9,
tôi có những nhận xét như sau:
Học sinh đã phát huy tích ch cực của mình. Tuy nhiên tính tích cực chưa
thể hiện đồng bộ đối với học sinh trong lớp học. Điều này do việc học chuẩn
bị bài nhà cùng với việc nghiên cứu tranh ảnh thiết bị dạy học của học sinh
chưa chu đáo, học sinh trả lời câu hỏi còn dựa vào tóm tắt của sách giáo khoa.
Họat động thảo luận nhóm, họat động duy trên đồ, hình, tranh ảnh
chưa đảm bảo tính trật tự, nghiêm túc, khoa học phần lớn chỉ những học
sinh giỏi mới chịu khó tìm hiểu nghiên cứu Nhìn chung chưa phát huy được
khả năng tư duy logic của học sinh.
Trong chương trình Sinh học THCS một trong những kiến thức quan
trọng của bộ môn là phát huy kỹ năng mô tả hoặc trình bày hình thái cấu tạo của
một cơ thể sinh vật thông qua mẫu vật hoặc tranh ảnh. Đây là nội dung chính mà
đề tài cần đ cặp đến. Thực tế giảng dạy tại đơn vị, tôi nhận thấy một số em
chưa phát huy hết tiềm năng của mình là do những nguyên nhân cơ bản sau:
+ Giáo viên chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng – thiết bị dạy học.
+ Khả năng đầu tư thiết kế đổi mới tự làm đồ dùng dạy học còn hạn chế.
+ Chưa hiểu được thật chính xác đổi mới tự làm đồ dùng dạy học thiết
bị dạy học như thế nào nên còn e ngại sợ tốn kinh phí, thời gian đầu tư.
+ Học sinh chưa nắm vững phương pháp quan sát, phân tích, so sánh từ
các đồ dùng dạy học để rút ra kiến thức.
Để khắc phục những nhực điểm trên, tôi xin lựa chọn đề tàiTự làm đồ
dùng dạy học đ áp dụng vào dạy Sinh học ở trường THCS” nhằm góp phần
vào việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giúp bản thân giáo viên tìm hiểu sâu hơn về bài dạy, tận dụng nguyên liệu
sẵn để bài giảng thêm sinh động nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn sinh
học .
Giúp học sinh hứng thú với môn học khơi dậy lòng đam học tập, xây
dựng cho bản thân các em động cơ, thái độ học tập đúng đắn về lâu dài. Đặc biệt
còn giúp các tự tìm i sáng tạo để tạo ra sản phẩm nhằm tạo nguồn học sinh
tham gia vào các cuộc thi “ khoa học kĩ thuật” các cấp.
III. THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Thời gian nghiên cứu
- Từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 05 năm 2021
2. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 8A, 8B trường THCS năm học 2019-2020
2/12
- Học sinh lớp 8A, 8B trường THCS năm học 2020- 2021
3. Phạm vi nghiên cứu
Đồ dùng dạy học để áp dụng vào dạy Sinh học lớp 8 ở trường THCS
IV. SỐ LIỆU KHẢO SÁT TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Tôi đã thực hiện khảo sát vào đầu các năm học bằng nh thức vấn đáp
kiểm tra thành tích học tập của các em.
1. Điều tra kết quả học tập:
1.1. Kết quả học tập đầu năm học 2019-2020
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
8A 33 7 21,2 12 36,4 14 42,4 0
8B 30 5 16,7 11 36,7 13 43,3 13,3
1.2. Kết quả học tập đầu năm học 2020-2021
Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số
lượng
Tỉ lệ
%
8A 40 8 20 13 32,5 19 47,5 0
8B 38 5 13,2 12 31,6 20 52,6 12,6
2. Điều tra sự hứng thú học tập bộ môn sinh học khi có đồ dùng dạy học tự
làm
2.1. Đầu năm học 2019-2020
Lớp Sĩ số Số học sinh
tham gia
điều tra.
Số học sinh
yêu thích
môn học.
Số học sinh
không
thích môn
học
Số học sinh
chưa hiểu
hết ý nghĩa
môn học
8A 33 33 17 10 6
8B 30 30 16 11 3
2.2. Đầu năm học 2020- 2021
Lớp Sĩ số Số học sinh
tham gia
điều tra.
Số học sinh
yêu thích
môn học
Số học sinh
không
thích môn
học
Số học sinh
chưa hiểu
hết ý nghĩa
môn học
8A 40 40 21 11 8
8B 38 38 17 15 6
3/12
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. THỰC TRẠNG VIỆC T LÀM ĐỒ DÙNG DẠY HỌC TRONG DẠY
HỌC SINH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.
1. Thuận lợi
- Giáo viên tích cực, chủ động học hỏi thêm nhiều kiến thức trên các kênh
thông tin để thể duy, sáng tạo làm nhiều đồ dùng dạy nhằm nâng cao chất
lượng giờ dạy.
- Nguyên liệu làm đồ dùng đơn giản, dễ tìm trong thực tiễn, kinh phí ít
2. Khó khăn
- Phương tiện, đồ dùng dạy học không đầy đủ cho mỗi tiết học, chỉ một số bài
có mẫu vật, mô hình hay tranh ảnh.
- Do giáo viên không thường xuyên gọi các em lên bảng trình bày trước lớp.
- Học sinh thường lười nhác không tìm hiểu bài mới hay soạn bài trước nhà,
còn nhút nhát chưa mạnh dạn.
- Phụ huynh chưa thật sự tạo điều kiện quan tâm đến việc học tập của con,
em mình.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Khái niệm về đồ dùng – thiết bị dạy học:
Đồ dùng thiết bị dạy học những hình ảnh, dụng cụ, đồ vật phục vụ
cho việc dạy và học mà học sinh có thể nhìn thấy được, đặc biệt là được sử dụng
trong công tác giảng dạy.
2. Giáo viên cần xác định được giá trị cần đạt được khi sử dụng đồ dùng
thiết bị dạy học:
Sử dụng đồ dùng – thiết bị dạy học đúng yêu cầu sẽ có vai trò:
- Thúc đẩy sự giao tiếp, trao đổi thông tin, từ đó giúp học sinh học tập
hiệu quả.
- Tăng cường trí nhớ, làm việc học tập của học sinh lâu bền.
- Cung cấp thêm kiến thức, kinh nghiệm trực tiếp liên quan đến thực tiễn
xã hội và môi trường sống.
- Khắc phục những hạn chế của lớp học bằng cách biến cái không thể tiếp
cận được thành cái thể tiếp cận được khi giáo viên sử dụng phim ảnh
phỏng, mô hình và các thiết bị phương tiện tương tự.
- Cung cấp kiến thức chung, qua đó học sinh thể phát triển các họat
động hoc tập khác.
- Giúp phát triển mối quan hệ v các lĩnh vực học tập khác, khuyến khích
học sinh tham gia chủ động vào quá trình học tập.
3. Sử dụng đồ dùng – thiết bị dạy học phải phù hợp:
Đồ dùng thiết bị dạy học môn sinh học trường THCS vai trò giúp
phát huy tính năng động và hiếu kỳ của học sinh.
Ngưi giáo viên đứng trên bc ging phi th hiện hết kh năng ca mình v:
4/12
- Lối diễn đạt nội dung i thật hấp dẫn để i kéo sự theo dõi tập trung
của học sinh
- nghệ thuật thu hút học sinh đặc biệt phải tạo sự hấp dẫn, lôi cuốn
học sinh bằng một phương pháp, thủ thut riêng của mình trong chuyên môn.
- Không đưa ra những kiến thức gi thuyết ngay vào đầu học sinhcần
phải dần cung cấp dưới dạng tình huống, đi từ gần đến xa, từ dễ đến khó, từ trực
quan sinh động đến duy trừu tượng. Đây chínnh yếu tố quan trọng liên
quan rất lớn đến việc giảng dạy bmôn Sinh học. Do đó đồ dùng – thiết bị dạy
học không thể thiếu đối với người giáo viên khi lên lớp đối với học sinh khi
nghiên cứu vấn đề. Theo thực tế khi giảng dạy tùy vào mỗi kiểu bài khác nhau
có nhiều hình thức khác nhau:
Chẳng hạn như: Vật thể sống, lọai nh tượng này luôn mang những đặc
điểm thật, sống động về mọi họat động, màu sắc nh dáng, cách vận động riêng
của nó. Chính vậy các hiện tượng sự vật sống giá trị rất lớn trong công
tác giảng dạych thích sự tò mò thích thú của học sinh nhất là học sinh đầu cấp
khi cần nhận biết vấn đề lúc nào cũng muốn rằng chính tận mắt mình chứng
kiến sự vật, hiện tượng xảy ra.
Ngược lại giáo viên chỉ tả bài giảng của mình bằng lời rất khó,
khó lĩnh hội được kiến thức, mặc học sinh hiểu bài nhưng cũng rất hạn
chế. Do đó đồ dùng thiết bị dạy học đ dạy môn sinh học rất cần cho người
giáo viên, người bạn hỗ trợ đắc lực giúp giáo viên hòan thành bài giảng
một cách khoa học, logic.
Môn Sinh học môn khoa học nhưng chưa tiến đến sự chính xác như
môn Toán học, học thường những kiến thức đã được các nSinh học
trãi qua thực nghiệm, chứng minh, để từ đó rút ra được một vấn đề chung nhất.
Do đó khi giảng dạy phải tiến hành thực nghiệm mới khả năng
thuyết phục được tính tưởng tượng của học sinh về vấn đề đó, đồng thời qua
môn học còn rèn luyện cho học sinh thao tác thực hành vận dụng được kiến
thức. Đồ dùng thiết bị dạy học một hình tượng sống động, đối tượng tri
giác thật hấp dẫn buộc các em phải động não, suy nghĩ giải đáp thắc mắc mà bản
thân các em đặt ra, không những thế còn dẫn các em vào họat động học tập
với sự tập trung cao độ, thậm chí đầu óc các em làm việc liên tục, căng thẳng
các em không hề hay biết. Như vậy các em đã đáp ứng được nhu cầu của giáo
viên với việc tiếp thu kiến thức bài học của các em.
Rõ ràng qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi đã thấy được tầm quan trọng
của đồ dùng – thiết bị dạy học, nhất là trong việc hình thành cho các em thao tác
thực hành, đem hình ảnh sóng động vào thực tế thể nói đồ dùng thiết bị
dạy học là nhịp cầu bắt qua ngôn ngữ, giúp các em học sinh THCS cảm thấy gần
gũi và yêu thích học Sinh học hơn.
Tóm lại: Nội dung kiến thức của bộ môn Sinh học bao giờ cũng đặt
quan sát, phân tích tiến hành thí nghiệm lên hàng đầu, do đó đồ dùng thiết
bị dạy học một dụng cụ không thể thiếu đối với họat động dạy học môn
sinh học.
5/12