
1
SÁNG KIẾN:
Ứng dụng công nghệ thông tin trong ôn tập và kiểm tra để tạo hứng thú
học tập và nâng cao chất lượng môn Toán ở trường THCS
A. THỰC TRẠNG
1. Thuận lợi
Trường THCS thị trấn Yên Ninh có đội ngũ giáo viên luôn nhiệt tình với
công tác giảng dạy, thực hiện tốt quy chế chuyên môn, tích cực bồi dưỡng học
sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu, kém. Ban giám hiệu luôn quan tâm, chỉ đạo và
tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng toàn diện
của học sinh.
- Cơ sở vật chất của trường tương đối đầy đủ, hiện đại đáp ứng cho yêu
cầu dạy và học, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên khi lựa chọn và vận dụng
các phương pháp dạy học tích cực.
- Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy nhiều em có ý thức học tập tốt, có ý
chí vươn lên, có tinh thần ham học hỏi.
2. Khó khăn
- Một bộ phận không nhỏ học sinh chưa hứng thú với việc học tập bộ môn
Toán, biểu hiện qua việc:
- Học tập một cách thụ động, thiếu phương pháp và động cơ học tập, chưa
tích cực, chủ động tham gia vào quá trình tự tìm tòi lĩnh hội kiến thức;
- Rụt rè, thiếu tự tin, ngại phát biểu ý kiến, ít tranh luận, ngại lên bảng.
Với mong muốn tạo hứng thú học tập để nâng cao chất lượng môn Toán ở
trường THCS tôi đã tìm tòi và áp dụng thành công một số giải pháp về:
“Ứng dụng công nghệ thông tin trong ôn tập và kiểm tra để tạo hứng
thú học tập và nâng cao chất lượng môn Toán ở trường THCS”
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Giải pháp cũ thường làm
a) Khi ôn tập hoặc kiểm tra kiến thức của học sinh giáo viên thường:
+ Củng cố liY thuyêYt.
+ Cho bài tập áp dụng.

2
+ Gọi học sinh bảng trình bày. Giáo viên chữa bài và nhận xét.
Với phương pháp dạy học này thì:
Giáo viên là chủ thể, thuyết trình, chuyển tải kiến thức cho học sinh và học
sinh là khách thể: nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo.
Học sinh tiếp thu kiến thức một cách hình thức và thụ động, thường học và
áp dụng một cách máy móc.
Học sinh chưa phát huy được khả năng tự học và tự tìm tòi khám phá
tri thức mới ... Đặc biệt là trong những thời điểm thiên tai, dịch bệnh học sinh
không thể đến trường thì ý thức tự giác, tự học của học sinh chưa cao.
b) Khi kiểm tra trắc nghiệm:
Hiện nay, hình thức kiểm tra trắc nghiệm rất phổ biến trong nhiều môn
học. Thi trắc nghiệm đặc biệt hiệu quả khi được sử dụng cho các bài thi trên diện
rộng và kiến thức chuẩn hóa.
+ Giáo viên in đề phát cho học sinh.
+ Học sinh làm vào giấy bằng cách khoanh vào chữ cái đứng trước câu trả
lời đúng, hoặc viết chữ cái đứng trước câu trả lời đúng.
Tuy nhiên, để giúp học sinh quen với phương pháp làm bài, biết vận dụng
kiến thức, có kĩ năng làm bài thi trắc nghiệm trong thời gian nhất định và đạt
được kết quả cao thì việc ôn tập theo hình thức này khá vất vả với giáo viên khi
không có máy chấm bài trắc nghiệm.
- Mất nhiều thời gian tổng hợp kết quả.
- Học sinh làm bài tập trắc nghiệm trên giấy thường thấy khô khan, khó
nhớ và ít hứng thú.
- Kích thước phòng học nhỏ, khoảng cách giữa các học sinh gần nên học
sinh có thể nhìn được bài của nhau.
2. Giải pháp mới cải tiến:
Để khắc phục được những vấn đề mà giải pháp cũ chưa làm được. Tôi đưa
ra các giải pháp mới cải tiến sau:
Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua các trò
chơi.

3
Trò chơi Toán học là trò chơi mà trong đó chứa đựng yếu tố Toán học. Nó
có thể là trò chơi được kết hợp cả vận động lẫn trí tuệ. Học sinh hưởng ứng và
tích cực tham gia các hình thức tổ chức của trò chơi Toán học nhằm khắc sâu
kiến thức và gây hứng thú học tập cho học sinh. Từ đó các em yêu thích môn học
và tăng khả năng tự học khám phá tri thức.
Về mục đích trò chơi Toán học có thể là:
- Trò chơi khởi động, nhằm dẫn dắt hình thành tri thức mới.
- Trò chơi nhằm củng cố kiến thức, luyện tập kĩ năng.
- Trò chơi nhằm ôn tập, rèn luyện tư duy trong giờ học ngoại khóa.
Về quy trình thực hiện trò chơi Toán học:
+ Giáo viên (hoặc giáo viên cùng học sinh) lựa chọn trò chơi.
+ Chuẩn bị các phương tiện, điều kiện cần thiết cho trò chơi.
+ Phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho học sinh.
+ Chơi thử (nếu cần thiết).
+ Học sinh tiến hành chơi.
+ Đánh giá sau trò chơi.
+ Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi.
Ưu điểm khi thực hiện trò chơi Toán học:
+ Là phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi học sinh.
+ Tạo được không khí vui vẻ và hứng thú học tập cho học sinh.
+ Học sinh tiếp thu bài học một cách tích cực và tự giác.
+ Giúp thay đổi hình thức hoạt động và thái độ học.
+ Tạo cơ hội giúp học sinh rèn luyện kỹ năng và củng cố kiến thức.
+ Giúp học sinh phát triển tâm lí, ý thức đạo đức, có kỹ năng hoạt động
nhóm tôn trọng kỷ luật của nhóm và có tinh thần đồng đội…
+ Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn
cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong mọi tình huống.
+ Qua trò chơi, học sinh được hình thành năng lực quan sát, được rèn
luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
+ Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học

4
sinh, giữa giáo viên với học sinh.
- Trong thực tế tôi đã sử dụng một số trò chơi trong tiết dạy học Toán như:
Trò chơi: “Em tập làm thủ môn”, trò chơi “Bí mật trong quả bóng ”, trò chơi
“Ô chữ”, trò chơi “Rung chuông vàng”, ………..
Ví dụ 1: Tạo không khí hào hứng trước giờ học bài giải hệ phương trình
bằng phương pháp thế: tôi tổ chức trò chơi “Em tập làm thủ môn”.
Ví dụ 2: Trò chơi “Bí mật trong quả bóng”
Ví dụ 2: Trò chơi “Bí mật trong quả bóng”

5
Ví dụ 3: Để tạo hứng thú học tập ôn tập với thời lượng 2 tiết tôi tổ chức
trò chơi cho các em dưới hình thức “Rung chuông vàng”
Mục đích
- Rèn luyện cho các em tính tập thể, nhanh nhẹn, khẩn trương khi làm
toán.
- Cuốn hút học sinh cùng thi đua học tập một cách hăng say.
Chuẩn bị
- Giáo viên chuẩn bị nội dung cho cuộc thi.
- Các em mang bảng, phấn.
Luật chơi:
Trò chơi gồm 20 câu hỏi.
Thời gian chuẩn bị cho mỗi câu là 20 giây.
Các thí sinh tham gia chơi viết câu trả lời vào bảng.
Nếu trả lời đúng thì được tiếp tục ngồi thi đấu và trả lời câu tiếp theo. Nếu
trả lời sai thì thí sinh bước ra khỏi bàn, xuống ngồi phía cuối lớp tham gia trả lời
các câu hỏi tiếp theo, nếu chưa đến câu cuối mà học sinh bị loại hết thì thí sinh
nào trả lời đúng nhiều câu hỏi nhất sẽ được trở về vị trí thi tiếp.
Thí sinh còn lại cuối cùng là người chiến thắng.

