intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Dạy học bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn 12 theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

Chia sẻ: Caphesuadathemhanh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:34

9
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là tìm hiểu, đánh giá phương pháp và hiệu quả giảng dạy bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ, đề xuất giải pháp nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy bài ôn tập, tổng kết văn học nói chung ở trường THPT.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Dạy học bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ trong chương trình Ngữ văn 12 theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh

  1. BÁO CÁO KẾT QUẢ  NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu  Mục tiêu của giáo dục Việt Nam hiện nay là cung cấp nguồn nhân lực có   chất lượng cả  về  tri thức và kĩ năng, thái độ  đáp  ứng cho công cuộc xây dựng   đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo đó, Nghị  quyết số  29 – NQ/TW   ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị  lần thứ  tám Ban Chấp hành Trung  ương   Đảng khóa XI về  đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp  ứng yêu cầu công   nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN   và hội nhập quốc tế đã nêu rõ: Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới   những vấn đề  lớn, cốt lõi, trong đó, đổi mới phương pháp giảng dạy được xác   định là một trong những yêu cầu cấp thiết của ngành giáo dục nhằm hướng đến  mục tiêu tạo môi trường và điều kiện để  học sinh phát huy tính tích cực, chủ  động, sáng tạo, khơi dậy trong học sinh niềm đam mê, hứng thú trong học tập và  rèn luyện. Do vậy, ngành giáo dục đã nỗ  lực không ngừng trong việc đổi mới   PPDH, hoàn thiện những lí thuyết dạy học tích cực là cơ sở định hướng cho GV   và HS trong quá trình tổ chức dạy học sao cho hiệu quả nhất mà vẫn đúng đặc   trưng bộ môn. Chương trình học môn Ngữ  văn của học sinh phổ  thông những năm gần  đây có nhiều đổi mới. Chương trình được xây dựng như  một chỉnh thể văn hoá  mở, nhìn chung nhấn mạnh đến cả  ba phương diện: về tri thức xã hội và nhân  văn, về kĩ năng và về giáo dục tình cảm thẩm mĩ. Mối quan hệ hữu cơ giữa hiểu   biết, kĩ năng, thái độ  và năng lực cần hướng tới đã được coi trọng. Nhận thức   về bản chất và vị trí môn Ngữ văn được xác định rõ ràng hơn. Sách giáo khoa đã  chú trọng đến việc gắn kết phần đọc văn với tiếng Việt và làm văn; đặc biệt  yêu cầu dạy học văn tích hợp nội dung với các môn học khác. Dạy học sinh nắm  bắt những kiến thức về  ngôn ngữ  nói chung và tiếng Việt nói riêng trên cơ  sở  1
  2. những kiến thức đã học ở  trung học cơ sở, nhằm hình thành và nâng cao những  kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, về những yêu cầu của việc sử  dụng ngôn ngữ  tiếng Việt trong giao tiếp, đặc biệt là rèn kỹ  năng sử  dụng có   hiệu quả  các loại phong cách ngôn ngữ  là công việc của người giáo viên dạy   Ngữ văn. Bên cạnh những bài đọc văn, bài lí thuyết, thực hành tiếng Việt là các  bài ôn tập, tổng kết. Những bài học này thường đặt  ở  cuối phần, cuối kì hoặc  cuối chương trình học. Bài ôn tập, tổng kết nói chung và bài tổng kết tiếng Việt   nói riêng là một kiểu bài đặc biệt, thể  hiện  ở  những yêu cầu về  hệ  thống hóa  nội dung và phương pháp. Bài học này giúp người học hình thành năng lực khái   quát, tổng hợp tri thức, kĩ năng tự  học, tự  nâng cao kiến thức, đồng thời GV có   thể kiểm tra nhận thức của HS, giáo dục ý thức học hợp tác và học phát triển. Song, thực tiễn lại tồn tại những điểm gây bất lợi cho việc dạy và học bài  ôn tập: thời lượng phân phối chương trình còn hạn chế, chương trình chỉ  tập  trung tổng kết kiến thức mà chưa chú trọng rèn kĩ năng. GV và HS đều ngại bài   học này. Bởi bài ôn tập nhiều câu hỏi, HS băn khoăn không biết bắt đầu từ đâu,  còn GV giảng dạy đại khái vì lúng túng không biết triển khai hoạt động học như  thế nào, đa phần là GV tổng kết hộ HS. Lí do cơ bản là chúng ta chưa hiểu đặc  trưng bản chất của bài học. Khi đối tượng chưa tường minh thì không thể  lựa   chọn phương pháp phù hợp và tích cực được. Phương pháp dạy học hiện đại yêu cầu tích cực hóa hoạt động của HS  với tư cách chủ  thể  của quá trình học, chủ  động tiếp thu kiến thức. Đây không   còn là lí thuyết phương pháp mới, nhưng áp dụng trong mỗi giờ  học còn hạn  chế, nhất là những bài ôn tập, tổng kết. Bởi lẽ, mọi việc ôn tập phải xuất phát  từ sự chuẩn bị và hứng thú của HS. Hơn nữa, ôn tập là nền tảng để  mở  ra một   nấc thang tri thức mới. Đây là thử thách để GV thể hiện năng lực của mình trong   việc nâng cao chất lượng học tập, đi vào chiều sâu tri thức, phát triển tư duy cho  HS. 2
  3. Chính vì tầm quan trọng của bài học và sự  khó khăn của giáo viên khi  giảng dạy, tôi xin được đề  xuất một vài kinh nghiệm có tính chất cá nhân góp   phần đổi mới hướng nghiên cứu và giảng dạy môn Ngữ  văn trong nhà trường   qua đề tài: Dạy học bài “Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và   các phong cách ngôn ngữ” trong chương trình Ngữ  văn 12 theo hướng tích   cực hóa hoạt động của học sinh. Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu, đánh giá phương pháp và hiệu quả giảng   dạy bài  Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách   ngôn ngữ, đề xuất giải pháp nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy bài ôn tập,  tổng kết văn học nói chung  ở  trường THPT. Đối tượng nghiên cứu là bài Tổng   kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ   trong  chương trình SGK Ngữ  văn lớp 12, tập 2, NXB Giáo dục năm 2016. Đối tượng  khảo sát là HS khối 12, trường THPT Nguyễn Thái Học, Thành phố  Vĩnh Yên,  tỉnh Vĩnh Phúc. Thực nghiệm đề  tài dạy học bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử,   đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ theo phương pháp dạy học mới,  phát huy năng lực của học sinh. Phương pháp nghiên cứu được sử  dụng trong  sáng kiến kinh nghiệm là: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp quan  sát thực nghiệm, phương pháp phỏng vấn, phương pháp tiếp cận tâm lý.                2. Tên sáng kiến:  Dạy học bài “Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc   điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ” trong chương trình Ngữ văn 12   theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh.           3. Tác giả sáng kiến: ­ Họ và tên: VŨ THỊ THANH HẢI ­ Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THPT Nguyễn Thái Học ­ Số điện thoại: 0982.213.659  E_mail: haivnth@gmail.com          4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: VŨ THỊ THANH HẢI          5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn lớp 12. 3
  4.          6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 5/2019                  7. Mô tả bản chất của sáng kiến:          7.1. Thực trạng của vấn đề 7.1.1. Kiểu bài ôn tập, tổng kết tiếng Việt  trong chương trình Ngữ văn 7.1.1.1. Đặc trưng Bài ôn tập, tổng kết tiếng Việt là bài tổng hợp tri thức của một quá trình  học tập trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm kiến thức về  lí thuyết   tiếng Việt như  hoạt động giao tiếp, đặc điểm ngôn ngữ  nói, viết, phép tu từ,   nghĩa của câu, các phong cách ngôn ngữ… Khi triển khai giảng dạy, GV nên lưu  ý định hướng cho HS tiếp xúc kết hợp các đơn vị kiến thức khác nhau một cách  hợp lí, đồng thời có thể triển khai vận dụng kiến thức đó vào giải quyết một số  vấn đề cụ thể trong thực tiễn. Bài học này có nhiều ưu thế để GV nâng cao kỹ  năng cho HS.  Bài ôn tập, tổng kết tiếng Việt còn là một dạng đối tượng nhận thức  mang tính tích hợp nội dung và phương pháp. Nội dung kiến thức mà GV và HS   phải làm việc  ở bài này là toàn bộ  các kiến thức đã học trước đó, các bộ  phận   cấu thành nên chương trình. Do vậy, từ  việc nắm được cấu trúc chương trình,  hiểu được sự sắp xếp của các bài học, GV hướng dẫn cho HS cách để nắm bắt   nội dung và phương pháp tiến hành ôn tập. Bài ôn tập khối lượng kiến thức nhiều, phong phú, nên cả GV và HS thấy  e ngại, nhưng nhất  thiết  không được bỏ  qua bài học quan trọng này. Trong  chương trình Ngữ  văn, chúng ta quan tâm nhiều hơn đến việc triển khai phân  tích các tác phẩm văn học cho đúng phong cách, thể  loại, nhưng việc rèn luyện  4
  5. kĩ năng khái quát tổng hợp, đặc biệt là kĩ năng vận dụng ngôn ngữ  trong giao  tiếp  ở  HS một cách thành thạo, linh hoạt lại ít được chú ý. Dạy học dạng bài   này được xem là đạt yêu cầu khi hình thành cho HS cả phương diện lí thuyết và  phương diện thực hành, có kĩ năng phân tích và tổng hợp, lĩnh hội và tạo lập.  GV và HS cần khắc phục tâm lí ngại và sợ, tích cực tìm kiếm những phương   pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng. Bài ôn tập không đơn giản là “cái gói”  chứa tất cả  kiến thức đã học, mà hơn thế, nó còn đáp  ứng yêu cầu của HS là  được rèn luyện kĩ năng học tập và tổ  chức lại những đơn vị  cơ  bản cấu thành   nên chương trình học. HS không thể  ngay lập tức hình dung được cấu trúc nội dung bài học ôn  tập. Mục tiêu chúng ta hướng đến ở dạng bài này không phải là nhắc lại những  kiến thức đã học mà phải từ những tri thức đã có để hình thành nên tri thức mới,  ở dạng khái quát. Do đó, đòi hỏi HS phải có tư duy khái quát, tổng hợp, so sánh,  đánh giá các đơn vị kiến thức với nhau.  Bài ôn tập được xem là kiểu bài bản lề, bởi để  có thể  nắm bắt toàn bộ  nội dung chương trình học thì HS phải nỗ  lực vượt qua tư  duy phân lập để  có  được tư  duy tổng hợp. Tri thức mà người học có được không phải từ  một văn   bản, một bài học mà là cả  một quá trình tiếp nhận. Một khi dạng bài này được  triển khai theo đúng cách của nó, HS được trực tiếp làm việc, tự  mình thay đổi  nhận thức, biết cách đánh giá tổ  chức kiến thức  ở một trình độ  nhất định. Mặt   khác, bài ôn tập thường  ở  cuối mỗi phần, mỗi chương trình học, do vậy nó là  bản lề giữa kiến thức cũ và mới. Cánh cửa muốn mở rộng thì bản lề phải vững.   Kiến thức và kĩ năng hình thành cho HS thông qua bài ôn tập cũng vậy, chúng ta  không nên tham vọng ôm trọn những kiến thức trong một khoảng thời gian  ở  một hai tiết học. Chúng ta chỉ triển khai ở góc độ vĩ mô, tổng quát kiến thức cũ,  giúp HS hình thành tư duy lôgíc, bồi dưỡng tư duy hình tượng. Hơn nữa, bài ôn tập cũng là dạng bài bản lề giáo dục ý thức học tập của  HS. Đối với bài học này, HS phải làm việc hết mình, sự  tiến triển của giờ học   5
  6. phụ thuộc vào khả năng học tập của HS. Ở các dạng bài đọc­ hiểu văn bản hay  lí thuyết tiếng Việt, làm văn, HS chờ  GV giảng rồi mới có định hướng tư  duy.  Còn ở dạng bài ôn tập, HS phải dựa vào chính vốn học tập suốt thời gian trước   để tự tổng kết theo các mức độ khác nhau. Như vậy, bài ôn tập là bản lề từ việc   học tập tập thể, học nhận thức sang học tự nhận thức, HS càng tích cực thì chất   lượng giờ học càng cao.        7.1.1.2. Nội dung bài “Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và   các phong cách ngôn ngữ” Bài  Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách   ngôn ngữ  trong sách giáo khoa Ngữ  văn 12 có hệ  thống câu hỏi triển khai nội  dung ôn tập, thống nhất với mục tiêu bài học.  Số lượng câu hỏi là 5 câu, dưới dạng bài tập. Thực tế mỗi câu gồm nhiều   ý nhỏ, mỗi ý là một câu hỏi. Đánh giá câu hỏi, chúng ta nên dựa vào các mặt   kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực cần hướng tới. * Về tri thức: Các tác giả biên soạn sách đã đưa vào bài hệ thống các câu hỏi phong phú,  bao quát được nội dung kiến thức cơ  bản về  lịch sử, đặc điểm loại hình, các  phong cách ngôn ngữ  của phần Tiếng Việt đã học từ  lớp 10 đến lớp 12. Triển   khai từ ôn tập kiến thức cơ bản, khái quát đến bài tập cụ thể. Trong sách giáo viên hướng dẫn khai thác các câu hỏi theo trình tự, định  hướng những nội dung cơ  bản. Nhiều GV xây dựng giáo án y nguyên theo sự  trình bày của sách giáo viên, vì thế chưa bộc lộ được ý tưởng thiết kế  một giờ  dạy phù hợp, chỉ  đơn thuần là đáp án các câu hỏi và bài tập. Nếu GV biết vận  dụng sáng tạo sách giáo viên và tài liệu tham khảo với việc tổ  chức các hoạt   động học phù hợp thì bài dạy mới thực sự phong phú. * Về kĩ năng: Nội dung ôn tập cũng quán triệt tinh thần của việc dạy học văn hiện nay,  đó là đảm bảo kết hợp song song giữa dạy kiến thức và dạy kỹ  năng. Kỹ  năng   6
  7. HS được rèn luyện chủ yếu là kĩ năng tổng hợp, khái quát, luyện tập, thực hành  sử dụng và phân tích tiếng Việt.  * Về thái độ: Hệ thống các câu hỏi và bài tập được trình bày khá khoa học và lôgíc. HS  sẽ có thái độ yêu quý và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. * Về năng lực cần hướng tới: Bài học giúp hình thành  ở  HS những năng lực quan trọng như  năng lực   giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, giao tiếp tiếng Việt.        7.1.2. Thực tiễn dạy học bài “ Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm   loại hình và các phong cách ngôn ngữ” trong nhà trường.      7.1.2.1. Thuận lợi ­ Về nội dung bài dạy: Hệ thống câu hỏi đa dạng, toàn diện, bao quát nội   dung chương trình đã học, đồng thời đảm bảo kết hợp song song giữa kiến thức   và kỹ  năng. Câu hỏi và bài tập cũng đã chú trọng khai thác những kiến thức cơ  bản, trọng tâm về  lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ  đã   học. Bài dạy có những thuận lợi về tiềm năng tri thức và kỹ  năng, nếu người   dạy chú ý và khai thác đúng cách thì đây sẽ  là kiểu bài phong phú nhất trong   chương trình. ­ Về thực tiễn dạy học: Tư duy của HS phổ thông giai đoạn này phù hợp   cho dạy học kiểu bài ôn tập. GV có thể căn cứ  vào trình độ  của HS để  tổ  chức  các hoạt động học tập sinh động, giúp các em hứng thú hơn.          7.1.2.2. Khó khăn ­ Về nội dung bài học:  Kiến thức bài tiếng Việt nói chung và bài ôn tập tiếng Việt nói riêng  thường rất khô và khó. Các câu hỏi và bài tập đưa ra chủ yếu là hệ  thống kiến   thức rồi luyện tập nên chưa tạo được sự hấp dẫn đối với người học. ­ Về thực tiễn dạy ­ học: 7
  8. + Phía giáo viên:  Về  tâm lí: GV có phần ngại giảng dạy loại bài này và cho rằng đây là  kiểu bài nhắc lại kiến thức đã học nên chủ yếu là HS tự trả lời câu hỏi, còn trên  lớp dạy qua loa cho xong.   Về  phương pháp: Từ  việc soạn giáo án, chúng tôi nhận thấy giáo án bài  Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ  giống như một dàn ý đáp án cho các câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, trong   phần hoạt động của thầy và trò thì chưa thấy rõ biện pháp tổ  chức tiết học ôn   tập sinh động, hấp dẫn. Vì thế, trên lớp triển khai tiết dạy mỗi người một cách:  hoặc coi câu hỏi như bài tập, giao HS về nhà làm, hoặc GV diễn giảng, HS chép  vào vở… HS không phải thắc mắc, giải đáp vấn đề mà trở thành “cái bồ” chứa  kiến thức. + Phía học sinh: HS thường không thích học tiếng Việt vì quá khô khan,   mặt khác do tâm lí học hành nặng về thi cử, kiến thức tiếng Việt chiếm ít điểm  nên ít được đầu tư. Do đó, có rất ít HS chuẩn bị  bài, hoặc chuẩn bị  theo kiểu   “chống đối” cho có để  tránh bị  phạt. Hầu hết HS không tự  giác, nỗ  lực để  tìm  kiếm tri thức, mà thụ động, trông chờ  việc đọc chép. Vì thế, trên lớp HS không  hứng thú học tập. Tóm lại, qua khảo sát nội dung ôn tập của sách giáo khoa, thực tiễn dạy ­  học của GV và HS, chúng tôi nhận thấy việc dạy học bài Tổng kết tiếng Việt:   Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ còn nhiều vấn đề  cần  giải quyết. Những thực trạng trên là cái chúng ta cần nhìn nhận thẳng thắn và  nghiêm túc suy nghĩ để  khắc phục. Mỗi GV cần nghiên cứu nội dung và hiểu   yêu cầu của việc dạy học bài ôn tập, để có hướng triển khai phù hợp, đồng thời   chú ý đến trình độ của đối tượng HS. Thực tiễn cho thấy những cách thức giảng   dạy bài ôn tập, hoặc là rất sơ sài, hoặc là chưa tích cực, hấp dẫn. Đó là lí do thôi  thúc chúng tôi triển khai đề  tài này, cố  gắng khắc phục những tồn tại đang có,  đề  xuất một và kinh nghiệm giảng dạy bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc   8
  9. điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ  đúng với tinh thần dạy học mới,   đảm bảo nội dung, tổ chức hoạt động phong phú, sinh động, tăng tính hấp dẫn,  kích thích tinh thần tự giác, sáng tạo học tập của học sinh.         7.2. Các biện pháp giải quyết vấn đề Phương pháp dạy học tích cực được thực hiện thông qua tổ chức các hoạt   động học tập của HS. Học sinh ­ đối tượng của hoạt động dạy và là chủ  thể  của hoạt động học, phải được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ  chức. Trong mỗi giờ, GV là người chỉ  đạo, hướng dẫn, giám sát, còn HS là  người trực tiếp giải quyết vấn đề  theo cách suy nghĩ của mình. Những hoạt  động GV có thể tổ chức rất phong phú, chúng ta có thể chia làm các giai đoạn để  tổ chức các hoạt động phù hợp: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn tổ chức các hoạt   động theo tiến trình giờ dạy, giai đoạn tổ chức củng cố kiến thức.         7. 2.1. Giai đoạn chuẩn bị Đây là giai đoạn GV giao công việc và HS có nhiệm vụ hoàn thành những  bài tập định hướng cho việc tiến hành giờ học. GV có thể tổ chức giai đoạn này   cho cá nhân hoặc nhóm HS hợp tác chuẩn bị. Tổ chức dạy học hợp tác giúp các  thành viên trong nhóm chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng  nhau xây dựng tri thức mới.  Bài ôn tập không thể  chỉ  triển khai trên lớp với thời gian hạn hẹp được.  Do vậy, GV cần mở  rộng ngữ  cảnh sư  phạm,  định hướng cho HS học bằng  nhiều hình thức và nội dung khác nhau. GV cần kiểm tra chặt chẽ việc chuẩn bị  của HS, đồng thời sử dụng kết quả học tập  ở nhà hợp lí, sẽ  giúp việc tổ  chức   ôn tập trên lớp hiệu quả và sinh động hơn. Đối với bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, GV giao nhiệm vụ cho HS về nhà chuẩn bị trước các công việc  như: Điền thông tin vào các bảng hệ thống kiến thức, suy nghĩ và làm các bài tập  4, 5 (SGK, tr.193­195) vào vở  soạn. Trong bước kiểm tra bài cũ, GV kiểm tra   phần chuẩn bị của HS trong vở soạn. 9
  10.     7. 2.2. Giai đoạn tổ chức hoạt động theo tiến trình giờ học     7. 2.2.1. Hoạt động khởi động Đây là hoạt động nhằm mục đích tạo hứng thú cho HS khi vào bài. GV có   thể đưa tình huống có vấn đề, thiết kế trò chơi trí tuệ… tùy thuộc vào mục tiêu  bài học, đối tượng học sinh và thời gian cho phép. Đối với bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, GV tổ chức lớp chơi trò chơi ô chữ, khám phá bí ẩn đằng sau ô  chữ. Nhiệm vụ của HS là đi tìm từ khóa (Gồm 8 chữ cái: Vai trò quan trọng của  ngôn ngữ  tiếng Việt trong đời sống của con người Việt Nam?). Có 8 câu hỏi,   tương  ứng với 8 hàng ngang; mở  một ô hàng ngang sẽ  tìm được các chữ  cái   tương ứng của từ khóa hàng dọc. Nếu HS đoán được từ khóa sau khi mở dưới 4  hàng ngang thì GV có thể khuyến khích điểm thưởng. (Từ khóa: Giao tiếp)        7.2.2.2. Hoạt động hình thành kiến thức Hoạt động này giúp HS tìm hiểu, lĩnh hội nội dung kiến thức của bài, rèn  luyện kĩ năng khái quát, tổng hợp, thực hành, cung cấp cho HS cơ  sở  khoa học  của những kiến thức được đề cập đến trong bài học. Do đặc thù của bài ôn tập  (so với những bài học về  văn bản hoặc lí thuyết tiếng Việt, làm văn), nên GV  cần lựa chọn phương pháp và các kĩ thuật dạy học phù hợp, kích thích tính tự  giác và tích cực học tập ở HS. Phương pháp dạy học bài ôn tập được sử  dụng chủ  yếu là dạy học hợp  tác theo nhóm. Đây là một PPDH mà "HS được phân chia thành từng nhóm nhỏ  riêng biệt, chịu trách nhiệm về  một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông   qua nhiệm vụ  riêng biệt của từng người. Các hoạt động cá nhân riêng biệt   được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung". Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS tham  gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia   sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội   10
  11. dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau  hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. Phương pháp dạy học thảo luận theo nhóm được cụ thể hóa bằng một số  kĩ thuật dạy học tương  ứng, phù hợp. Đối với bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử,   đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ, GV nên sử  dụng một số  kĩ  thuật dạy học tích cực như: Kĩ thuật động não, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật   công đoạn, kĩ thuật lập sơ đồ tư duy: ­ Kĩ thuật Động não: Là PP đặc sắc dùng để  phát triển nhiều giải pháp  sáng tạo cho một vấn đề. HS nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, có thể ngẫu  nhiên theo dòng suy nghĩ, có thể  rộng và sâu cũng như  không giới hạn bởi các   khía cạnh nhỏ nhặt của vấn đề. GV nên sử dụng kết hợp KTDH Động não với  các KTDH khác trong bài  Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và   các phong cách ngôn ngữ. ­ Kĩ thuật khăn trải bàn: Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác  kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy  sự tham gia tích cực; Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS; Phát  triển mô hình có sự  tương tác giữa HS với HS. Kĩ thuật này giúp cho hoạt động  nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về  chủ  đề  đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi. Trong bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm với kĩ thuật khăn trải bàn trong  thời gian 4 phút, để thực hiện các câu hỏi ôn tập về đặc điểm nội dung của văn học  trung đại Việt Nam:  Nhóm 1, 2, 3: Thực hiện câu 1 (SGK, tr.192) về  nguồn gốc, lịch sử  phát  triển và đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt.  Phiếu học tập số 1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn lập a. Về nguồn gốc, tiếng Việt thuộc: a)…. 11
  12. ­ Họ: ­ Dòng: b)….. ­ Nhánh b. Các thời kì trong lịch sử: c)….. Nhóm 4, 5, 6: Thực hiện câu 2, 3 (SGK, tr.193) về các phong cách ngôn ngữ.  Phiếu học tập số 2 PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN …….. nghệ thuật …….. …….. …….. …….. Thể   loại  ­ Ca dao, vè,  văn   bản  thơ.. tiêu biểu ­   Truyện,  tiểu   thuyết,  kí… ­ Kịch bản Các   đặc  ­   Tính   hình  trưng   cơ  tượng bản ­ Tính truyền  cảm ­ Tính cá thể  hóa ­ Kĩ thuật công đoạn: HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao  giải quyết một nhiệm vụ khác nhau. Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả  thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm sẽ luân chuyển giấy A 0 ghi kết quả thảo  luận cho nhau.  Trong bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, sau khi các nhóm đã thực hiện xong kĩ thuật khăn trải bàn, GV  cho các nhóm trao đổi sản phẩm để nhận xét góp ý cho nhau. Do điều kiện thời  12
  13. gian nên GV xếp hai nhóm thành một cặp trao đổi và góp ý, cụ thể là: nhóm 1 và  nhóm 4; nhóm 2 và nhóm 5; nhóm 3 và nhóm 6. Sau khoảng thời gian là 2 phút,  các nhóm sẽ  xem và xử  lí các ý kiến của nhóm bạn để  hoàn thiện lại kết quả  thảo luận của nhóm mình. Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo và báo cáo kết   quả thảo luận trước lớp.          7.2.2.3. Hoạt động luyện tập Đây là hoạt động yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu  được để  giải quyết những nhiệm vụ  cụ  thể, qua đó GV xem HS đã nắm được  kiến thức hay chưa và nắm được  ở  mức độ  nào. HS chỉ  hoàn thành nhiệm vụ  học tập của mình sau khi rèn luyện những kiến thức đã học, khắc sâu và ghi nhớ  chúng, sau đó biết đem những kiến thức đó vào phục vụ  cuộc sống, biết sáng  tạo những văn bản mới. GV giao công việc để HS tự mình làm việc và sáng tạo.   Nội dung luyện tập phụ thuộc vào trình độ của từng HS, do đó, hệ thống bài tập  phải rất công phu, tỉ mỉ, có tính sáng tạo, góp phần tạo hứng thú học tập cho HS. Với hoạt động luyện tập của bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm   loại hình và các phong cách ngôn ngữ, GV hướng dẫn HS thảo luận cặp đôi các  bài tập 4, 5 (SGK, tr.193­195) trong 5 phút. Sau đó, GV có thể  tổ  chức cho HS   chơi trò chơi trí tuệ, đưa ra các phần thi và các câu hỏi liên quan đến nội dung ôn  tập (xem thêm phần phụ  lục). GV chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử  1 HS làm   thành viên trọng tài, quan sát, ghi điểm.        7. 2.2.4. Hoạt động vận dụng Hoạt động vận dụng nhằm tạo cơ hội cho HS vận dụng những kiến thức,   kĩ năng, thể nghiệm giá trị đã được học vào trong cuộc sống thực tiễn ở gia đình,  nhà trường và cộng đồng. Với bài  Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, lựa chọn một trong hai chủ đề  sau để tạo lập văn bản (bài tập hoàn thiện ở nhà): 13
  14.         Đề 1: Viết một bản tin tường thuật lại lễ kỉ niệm 89 năm ngày thành lập  Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vừa qua.       Gợi ý: ­ Chú ý về thời gian, địa điểm… ­ Diễn biến các sự kiện chính ­ Sử dụng phong cách ngôn ngữ báo chí       Đề 2: Viết đoạn văn (200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về trách nhiệm  của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt      Gợi ý ­ Đảm bảo thể thức đoạn văn 200 chữ. ­ Sử dụng phong cách ngôn ngữ khoa học. ­ Về nội dung đoạn văn: Cần nêu được các ý cơ bản sau: + Sự trong sáng của tiếng Việt. + Thực trạng việc sử dụng tiếng Việt trong giới trẻ hiện nay. + Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và liên hệ bản thân.        7. 2.2.5. Hoạt động tìm tòi, mở rộng Đây là hoạt động nhằm khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu thêm để  mở  rộng kiến thức, nhằm giúp các em hiểu được rằng, ngoài kiến thức đã học trong   nhà trường còn rất nhiều điều cần phải tiếp tục học hỏi, khám phá.   Đối với bài ôn tập, GV yêu cầu HS làm việc cá nhân, tìm hiểu  ở  nhà các   vấn đề sau: ­ Tìm đọc thêm một số tài liệu về tiếng Việt: Ngữ âm, chữ viết, câu, ngữ  pháp, từ loại… ­ Đọc và sưu tầm một số  bài viết, tác phẩm về  tiếng Việt như: bài thơ  Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ), các bài viết Phải giữ  gìn, quý trọng tiếng nói dân   tộc  (Hồ  Chí Minh),  Giữ  gìn sự  trong sáng của tiếng Việt  (Phạm Văn Đồng),  Sáng nghĩa, trong lời (Xuân Diệu)…. ­ Viết báo cáo những điều bản thân tự học được (khoảng 3 trang giấy). 14
  15.       7.2.3. Giai đoạn tổ chức củng cố kiến thức Đây là một trong năm bước lên lớp của GV trong một tiết học. Củng cố  kiến thức giúp GV nắm được khả  năng tiếp thu bài của học sinh, qua đó điều   chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với nội dung, mục tiêu bài học, đồng  thời giúp GV đánh giá được tinh thần, thái độ học tập của HS. Đối với HS, củng  cố  giúp các em hệ  thống lại kiến thức trọng tâm của bài (khắc sâu kiến thức),  nắm vững và hiểu nội dung tiết học, đồng thời  mở  rộng và phát triển tư  duy  sáng tạo. Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học thì khâu củng cố  có vai   trò rất lớn trong việc khơi gợi những sáng tạo trong suy nghĩ, hình thành năng  lực, tư duy văn học, phát huy được vai trò chủ  động, tích cực của HS trong quá   trình học tập thông qua việc lĩnh hội kiến thức sau giờ học.  Trên thực tế  dạy học cho thấy học sinh có nắm vững mở  rộng và khái  quát được kiến thức hay không một phần lớn phụ thuộc vào bước củng cố  của  tiết học. Nếu GV coi nhẹ bước này, HS sẽ không thể nhớ lâu, rất khó vận dụng   vào việc làm các bài tập. Ngược lại nếu GV coi trọng, kiến thức sẽ đọng lại và  ám  ảnh mãi trong các em, tạo nên mối liên hệ  kích thích tìm tòi trong sự  vận   dụng làm các bài tập tốt hơn. Để củng cố bài học đạt được hiệu quả cao chúng  ta có thể vận dụng nhiều cách khác nhau như: Vấn đáp, gạch ý chính trên bảng,  trắc nghiệm, sơ đồ  hóa kiến thức... Trong đó, sơ  đồ  tư  duy được mệnh danh là  “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương pháp ghi chú đầy sáng tạo. Sơ đồ tư  duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc tổng thể của một   chủ  đề  và mức độ  quan trọng của những phần riêng lẻ  trong đó đối với nhau.   Đồng thời, sơ đồ tư duy giúp HS liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối với các   ý khác, giúp việc ôn tập và ghi nhớ sẽ hiệu quả và nhanh hơn. Đối với bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ, củng cố  kiến thức bằng kĩ thuật lập sơ  đồ  tư  duy sẽ  giúp HS  nắm kiến thức một cách hệ thống, logic, trọng tâm, hiểu bài sâu và nhớ  bài lâu   15
  16. hơn. Cụ  thể, HS lập sơ  đồ  tư  duy về  nguồn gốc, lịch sử  tiếng Việt, đặc điểm  loại hình tiếng Việt; phong cách ngôn ngữ có nhánh cấp 3. Ở trên, tôi đã đề xuất một số giải pháp nhỏ theo hướng tiếp cận mới đối với bài   Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ  trong chương trình Ngữ  văn 12.  Thực hiện các giải pháp này, GV có thể  vừa  thực hiện được những tiết dạy bám chuẩn kiến thức, kĩ năng vừa định hướng  phát huy được năng lực của HS, giúp giờ dạy ôn tập sinh động, hấp dẫn hơn.  THIẾT KẾ THỬ NGHIỆM GIÁO ÁN BÀI TỔNG KẾT PHẦN TIẾNG   VIỆT: LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM LOẠI HÌNH VÀ CÁC PHONG CÁCH NGÔN   NGỮ THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH I.  Mục tiêu bài học: ­ Kiến thức: Hệ  thống hoá được những kiến thức cơ  bản về lịch sử, đặc  điểm loại hình, các phong cách ngôn ngữ  của Tiếng Việt đã học từ  lớp 10 đến  lớp 12; Nắm chắc đặc điểm của từng phong cách và việc sử  dụng mỗi phong   cách trong ngữ cảnh giao tiếp phù hợp.   ­ Kĩ năng: Nâng cao thêm kĩ năng lĩnh hội văn bản và kĩ năng tạo lập văn  bản thuộc từng phong cách khi cần thiết.   ­ Thái độ: Nghiêm túc học tập, có thái độ yêu quý và giữ gìn sự trong sáng  của tiếng Việt. ­ Năng lực cần hướng tới: Phát huy tinh thần sáng tạo, nâng cao năng lực  giao tiếp tiếng Việt. II. Phương pháp, kĩ thuật dạy học: ­ Phương pháp: Thuyết giảng, PP dạy học theo nhóm ­ Kĩ thuật: Trò chơi, động não, khăn trải bàn, công đoạn, lập sơ đồ tư duy. 16
  17. III. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh: ­ Giáo viên: Bài giảng điện tử (Power Point), phiếu học tập, sách giáo khoa,   tư liệu tham khảo, máy chiếu. ­ Học sinh: Chuẩn bị  bài theo nội dung ôn tập, lập bảng hệ  thống các tác  phẩm đã học, bảng phụ. IV. Tiến trình dạy học: 1. Ổn định tổ chức: ( Kiểm tra sĩ số học sinh) 2. Kiểm tra bài cũ:  GV kiểm tra việc chuẩn bị bài của HS theo các câu hỏi hướng dẫn ôn tập. 3. Bài mới: * HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG: Trò chơi KHÁM PHÁ Ô CHỮ BÍ MẬT GV tổ chức lớp chơi trò chơi ô chữ, khám phá bí mật: ­ Từ  khóa gồm 8 chữ  cái: Vai trò của tiếng Việt trong đời sống của con  người? ­ 8 câu hỏi, tương ứng với 8 hàng ngang; mở một ô hàng ngang sẽ tìm được  các chữ cái tương ứng của từ khóa hàng dọc. Nếu HS đoán được từ khóa sau khi  mở dưới 4 hàng ngang thì GV có thể khuyến khích điểm thưởng. Hàng 1 (7 chữ cái): Chữ viết hiện nay của dân tộc Việt Nam ( QUỐC NGỮ  chữ: G). Hàng 2 (12 chữ  cái): Tên tập thơ  Nôm của Nguyễn Trãi (QUỐC ÂM THI   TẬP  chữ: I). Hàng 3 (3 chữ  cái): Chinh phụ  ngâm phần nguyên tác của Đặng Trần Côn  được viết bằng chữ.... (HÁN  Chữ: A). Hàng 4 (6 chữ cái): Câu thơ: Áo chàm đưa buổi phân li/ Cầm tay nhau biết   nói gì hôm nay (Tố Hữu) sử dụng phép tu từ nào? (HOÁN DỤ  chữ: O). 17
  18. Hàng 5 (6 chữ cái): Khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút thuộc từ loại gì? (TÍNH  TỪ chữ: T). Hàng 6 (9 chữ  cái):  Tuyên ngôn độc lập (Hồ  Chí Minh) là một áng văn….  kiệt xuất?  (CHÍNH LUẬN  Chữ: I). Hàng   7  (9  chữ   cái):   Các   văn   bản  văn   học   thuộc  phong   cách   ngôn  ngữ?  ( NGHỆ THUẬT  chữ: Ê). Hàng 8 (6 chữ cái): Loại hình ngôn ngữ của tiếng Việt? (ĐƠN LẬP Chữ: P). Từ khóa: GIAO TIẾP GV thuyết giảng: Giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống   xã hội, đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin nhận thức, tình cảm, hành động của  con người. Phương tiện chủ  yếu trong quá trình giao tiếp là ngôn ngữ. Tiếng  Việt là ngôn ngữ  có sức sống mãnh liệt, là điệu hồn của dân tộc Việt Nam. Tìm  hiểu tiếng Việt không chỉ  giúp ta hiểu để  sử  dụng đúng chuẩn, mà còn giúp ta  thêm yêu quý để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Để một lần nữa hệ thống lại những nội dung về nguồn gốc, lịch sử, đặc   điểm loại hình và các phong cách ngôn ngữ của tiếng Việt, hôm nay, chúng ta sẽ  cùng đến với bài Tổng kết tiếng Việt: Lịch sử, đặc điểm loại hình và các phong   cách ngôn ngữ. * HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC: I. Kiến thức cơ bản: ­ Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ học tập: Yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi 1, 2, 3 (SGK/ 192­193) ­ Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập: + Tổ chức học sinh thành 6 nhóm thảo luận, sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn, viết  nội dung trả lời trên giấy A0  Nhóm 1, 2, 3: Thực hiện câu 1 (SGK, tr.192) về nguồn gốc, lịch sử phát triển và  đặc điểm loại hình ngôn ngữ đơn lập của tiếng Việt. (Phiếu học tập số 1) 18
  19. Phiếu học tập số 1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ đơn  lập a. Về nguồn gốc, tiếng Việt thuộc: a)…. ­ Họ: ­ Dòng: b)….. ­ Nhánh b. Các thời kì trong lịch sử: c)….. Nhóm 4, 5, 6: Thực hiện câu 2, 3 (SGK, tr.193) về các phong cách ngôn ngữ.  Phiếu học tập số 2 PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN …….. nghệ thuật …….. …….. …….. …….. Thể   loại  ­ Ca dao, vè,  văn   bản  thơ.. tiêu biểu ­   Truyện,  tiểu   thuyết,  kí… ­ Kịch bản Các   đặc  ­   Tính   hình  trưng   cơ  tượng bản ­ Tính truyền  cảm ­ Tính cá thể  hóa Thời gian 4 phút. + Sau 4 phút, các nhóm trao đổi sản phẩm để  góp ý, bổ  sung trong 2 phút: GV   19
  20. xếp hai nhóm thành một cặp trao đổi và góp ý, cụ  thể  là: nhóm 1 và nhóm 4;   nhóm 2 và nhóm 5; nhóm 3 và nhóm 6. ­ Học sinh báo cáo kết quả và thảo luận: + Mỗi nhóm học sinh cử đại diện trình bày (Treo bảng phụ) + Học sinh lắng nghe, nhận xét và bổ sung ­ Đánh giá:  + Giáo viên nhận xét quá trình thực hiện nhiệm vụ  của học sinh, đánh giá kết   quả thảo luận.  + Chốt kiến thức: Phiếu học tập số 1 Nguồn gốc và lịch sử phát triển Đặc điểm của loại hình ngôn ngữ  đơn lập a. Nguồn gốc Tiếng Việt thuộc: a. Tiếng là đơn vị  cơ  sở  của ngữ  ­ Họ: ngôn ngữ Nam Á. pháp. Về  mặt ngữ âm, tiếng là âm  ­ Dòng: Môn­Khmer. tiết; về mặt sử  dụng, tiếng có thể  ­ Nhánh; Tiếng Việt Mường chung. là từ hoặc yếu tố cấu tạo từ. b. Các thời kì trong lịch sử: b. Từ không biến đổi hình thái. ­ Tiếng Việt trong thời kì dựng nước. c. Biện pháp chủ yếu để biểu thị ý  ­ Tiếng Việt trong thời kì Bắc thuộc và  nghĩa ngữ pháp là sắp đặt từ theo  chống Bắc thuộc. thứ tự trước sau và sử dụng các hư  ­   Tiếng   Việt   trong   thời   kì   độc   lập   tự  từ. chủ. ­ Tiếng Việt trong thời kì Pháp thuộc. ­ Tiếng Việt trong thời kì từ sau cách  mạng tháng Tám đến nay. Phiếu học tập số 2 PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN PCNN 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2