
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG
TRƯỜNG THPT CHUYÊN THOẠI NGỌC HẦU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----
An Giang, ngày 28 tháng 01 năm 2019
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG HỒNG CHÂU. Nam, nữ: NỮ
- Ngày tháng năm sinh: 09-11-1973.
- Nơi thường trú: 257/2 TRẦN NHẬT DUẬT, LONG XUYÊN, AN GIANG.
- Đơn vị công tác: THPT CHUYÊN THOẠI NGỌC HẦU
- Chức vụ hiện nay: TỔ TRƯỞNG – Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ LL&PP dạy học Văn
- Lĩnh vực công tác: GIÁO VIÊN DẠY VĂN
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
Nhiệm vụ công tác của tôi được nhiều thuận lợi từ phía đơn vị : Trường tôi là nơi tập
trung những học sinh khá giỏi, nơi được sự ưu ái của các cấp lãnh đạo và sự ủng hộ nhiệt
tình của quý phụ huynh. Giáo viên là những thành viên tâm huyết với nghề. Bên cạnh đó,
đề thi trung học phổ thông quốc gia được ra theo hướng phát triển năng lực người học. Vì
thế, việc thực hiện nhiệm vụ dạy học văn tương đối thuận lợi, nhất là dạy học các em thi
đại học môn văn.
Tuy nhiên, do học sinh học lực khá giỏi nên các em chọn ngành để thi đại học thường
là những ngành mũi nhọn đòi hỏi điểm cao, và chủ yếu thuộc các ngành khoa học tự nhiên.
Về phía xã hội, với xu hướng hiện nay, môn văn không được nhiều sự quan tâm, không
thấy được giá trị vận dụng nên tâm lí học tập của các em cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.

2
Những lí do đó đòi hỏi giáo viên dạy văn phải sáng tạo trong dạy học, một mặt nhằm
thu hút học sinh, mặt khác nhằm đào tạo những con người năng động, đạo đức đáp ứng yêu
cầu của xã hội trong xu hướng toàn cầu hóa.
Tên sáng kiến: DẠY HỌC TƯƠNG TÁC CHO HỌC SINH THPT.
Lĩnh vực: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN
III- Mục đích yêu cầu của sáng kiến
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
1.1. Tình hình dạy học văn ở trường phổ thông hiện nay
1.1.1. Chương trình sách giáo khoa và cách thức kiểm tra thi cử
Về chương trình, sách giáo khoa cấp trung học phổ thông đã chú ý dạy kiến thức cơ
bản cho học sinh về các loại văn bản để thực hành trong cuộc sống. Đó là văn bản khoa
học, văn bản hành chính, văn bản báo chí, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật,…ở mỗi
đơn vị kiến thức, người soạn sách đã chú ý nội dung lý thuyết và bài tập thực hành bao
gồm các mức độ từ nhận biết đến vận dụng.
Trong cách thức kiểm tra thi cử, đề thi thông qua phần đọc hiểu kiểm tra mức độ nhận
biết của học sinh về các loại văn bản và các phương thức biểu đạt.
1.1.2. Cách dạy của giáo viên
Về kiến thức, GV chủ yếu bám theo chuẩn kiến thức kĩ năng và chú trọng dạy văn học
vì tác phẩm văn học là phần kiến thức quan trọng để học sinh hưởng điểm ở câu 5 điểm
trong bài thi.
Về phương pháp, do nhiều lý do, việc vận dụng kết hợp các PP còn nhiều bất cập trong
quản lý HS trên lớp sao cho đáp ứng yêu cầu kiến thức theo chuẩn, đồng thời đáp ứng yêu
cầu đổi mới. Nên đại đa số GV chỉ vận dụng tối đa PP dạy học phát huy năng lực HS ở các
tiết dự giờ, thao giảng còn các tiết dạy thông thường trên lớp, GV vẫn phải đối phó để theo

3
kịp chương trình . Bên cạnh đó để vận dụng hiệu quả các PP theo yêu cầu đổi mới, đòi hỏi
nhiều điều kiện khác như cơ sở vật chất, số lượng học sinh trong một lớp,…Theo thống kê
một số trường hiện nay, vẫn còn nhiều trường có sĩ số trên dưới 50 HS trên một lớp. Tuy
nhiên, đối với trường chuyên, sĩ số HS chỉ khoảng 35 em, lớp đại trà khoảng trên 40 em
thì việc áp dụng các kĩ thuật và PP dạy học có nhiều thuận lợi hơn các trường trên địa bàn
tỉnh. GV có thêm thời gian chỉnh sửa bài cho các em.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Đối với HS, kĩ năng học tập luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập tại
trường, đem đến những cách nhìn, cách đánh giá cũng như hoạt động tích cực cho học sinh
trong hành trình chinh phục tri thức. Một trong những kĩ năng học tập quan trọng nhất cần
thiết cho hội nhập hiện nay chính là học tập bằng hoạt động tương tác. Môn Ngữ văn là
một môn rèn luyện kĩ năng xã hội nên năng lực hợp tác rất quan trọng trong việc dạy học
văn.
Đối với GV, kĩ năng tổ chức hoạt động dạy học là cơ sở rất quan trọng trong việc giáo
dục đào tạo HS. Mỗi GV cần thường xuyên trau dồi năng lực tổ chức, thực hiện hiệu quả
các hoạt động dạy học để tạo điều kiện tốt nhất cho HS. Việc vận dụng linh hoạt các hình
thức tổ chức dạy học là vô cùng cần thiết trong tiến trình lên lớp. Nhất là đối với các địa
phương mà điều kiện cơ sở vật chất của trường và HS còn thiếu thốn.
Bản thân là thành viên Hội đồng bộ môn nên nhận được nhiều ý kiến từ phía GV về
đổi mới PP dạy học, bản thân cũng đã dạy và dự nhiều tiết dạy của các trường trong địa
bàn thành phố Long Xuyên, nên tôi muốn qua đề tài DẠY HỌC TƯƠNG TÁC MÔN
NGỮ VĂN THPT nhằm:
- Định hướng cho GV cách thức tiến hành đổi mới PP dạy học một cách hiệu quả.
- Phát triển cho HS năng lực đọc hiểu, tạo lập văn bản.
- Nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, từ đó nâng cao chất lượng thi HS giỏi và
thi THPT quốc gia.

4
3. Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu đề tài: từ tháng 11 năm 2017 đến cuối tháng 01 năm 2019.
- Địa điểm và đối tượng áp dụng: học sinh lớp 10 chuyên văn và học sinh lớp 12.
- Phạm vi: môn Ngữ Văn lớp 10 nâng cao và lớp 12 cơ bản.
Làm đề tài này, tôi đã vận dụng nhiều phương pháp chủ yếu sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các
nguồn tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, phỏng vấn, so sánh, thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp xử lý thông tin: thống kê toán học
4. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Vấn đề dạy học tương tác đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc
đổi mới PP dạy học, tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về cách thức tiến hành
dạy học tương tác ở từng bài cụ thể thuộc môn Ngữ văn THPT.
Trong quá trình đọc tài liệu và thể nghiệm, tôi nhận ra nhiều điểm mới trong cách thức
tiến hành giảng dạy bằng phương pháp dạy học tương tác. Đề tài sẽ đáp ứng được yêu cầu
của GV và HS một cách hiệu quả:
- Về phía giáo viên :
+ Thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực HS.
+ Đảm bảo tính khoa học và sư phạm
+ Mạnh dạn sắp xếp các đơn vị kiến thức trong bài học theo hướng năng động sáng tạo,
mà vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng.
+ Vận dụng đơn giản hóa theo hướng tiện lợi, tiết kiệm, dễ thực hiện giúp việc vận dụng
các kĩ thuật dạy học (kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật khăn trải bàn) và phương pháp dạy học

5
trở nên dễ dàng hơn. Từ đó, khắc phục được những vấn đề khó khăn về thời gian, về cơ sở
vật chất.
+ Đáp ứng yêu cầu phát triển của từng đối tượng HS
- Về phía học sinh : hoạt động dạy học trên lớp trở nên thú vị hơn do được tiến hành thường
xuyên, tránh được sự nhàm chán trong học văn. Đề tài cũng góp phần rèn luyện năng lực
tương tác cho người học, nâng cao năng lực giao tiếp, tạo môi trường làm việc thân thiện
học sinh tích cực.

