Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

Link xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem tivi trực tuyến nhanh nhất xem phim mới 2023 hay nhất xem phim chiếu rạp mới nhất phim chiếu rạp mới xem phim chiếu rạp xem phim lẻ hay 2022, 2023 xem phim lẻ hay xem phim hay nhất trang xem phim hay xem phim hay nhất phim mới hay xem phim mới link phim mới

intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá Giáo dục góp phần nâng cao chất lượng xây dựng trường chuẩn Quốc gia tại trường THPT Hoàng Mai

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:41

9
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Đẩy mạnh công tác xã hội hoá Giáo dục góp phần nâng cao chất lượng xây dựng trường chuẩn Quốc gia tại trường THPT Hoàng Mai" nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu, tích cực để công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường ngày một tốt hơn, tạo ý thức cho mỗi phụ huynh, mỗi doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đóng góp, hỗ trợ vật chất, tinh thần nhằm từng bước giúp trường THPT Hoàng Mai ngày càng đáp ứng yêu cầu dạy và học của giáo viên, học sinh sớm tạo được một ngôi trường có chất lượng giáo dục toàn diện.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá Giáo dục góp phần nâng cao chất lượng xây dựng trường chuẩn Quốc gia tại trường THPT Hoàng Mai

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA TẠI TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI
  2. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA TẠI TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI LĨNH VỰC: QUẢN LÍ TÁC GIẢ: Hồ Hồng Sơn NĂM HỌC: 2021 – 2022 SỐ ĐIỆN THOẠI: 0978.251.686
  3. MỤC LỤC PHẦN I. MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI....................................................................................... 1 II. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ........................... 2 1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 2 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 2 III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................... 2 IV. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH MỚI, ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI ......... 2 1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài .................................................. 2 2. Tính mới..................................................................................................... 3 V. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ........................................................................... 3 PHẦN II. NỘI DUNG ......................................................................................... 4 I. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ......................................... 4 II. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI ...................................................................... 5 1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 5 2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 10 III. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC.......... 14 1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường ............................................. 15 2. Đổi mới xây dựng kế hoạch công tác xã hội hoá giáo dục ...................... 15 3. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền ................................................ 16 4. Phát huy vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh và phụ huynh học sinh ...................................................................................................................... 17 5. Thành lập Ban liên lạc kết nối với các thế hệ học sinh ........................... 18 6. Phối hợp với các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường.............................. 18 7. Giao lưu, tạo mối quan hệ tốt với các đơn vị trên địa bàn ...................... 19 8. Dân chủ, công khai trong quá trình thực hiện và quản lý........................ 19 9. Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục ................. 20 10. Biểu dương và tri ân những cá nhân, tập thể có nhiều đóng góp trong công tác XHHGD......................................................................................... 20 IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC ............................................................................... 20
  4. V. TÁC ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC XHHGD ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI THÀNH TRƯỜNG CHUẨN QUỐC GIA .... 24 VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM .......................................................................... 25 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................... 26 1. Kết luận ........................................................................................................... 26 2. Kiến nghị ......................................................................................................... 26 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 27 PHỤ LỤC
  5. PHẦN I. MỞ ĐẦU I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Xã hội hóa giáo dục và đào tạo (XHH GD&ĐT) là làm cho giáo dục trở thành của xã hội, hay nói cách khác là huy động toàn xã hội tham gia làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội - kinh tế, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho giáo dục; kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể. Trong khi nguồn lực của nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp thì việc huy động đẩy mạnh XHH GD&ĐT là rất cần thiết. Kể từ sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW ra đời, xã hội hóa giáo dục trong những năm qua đã góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách. Chủ trương xã hội hóa giáo dục đã tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục. Nghành giáo dục Việt Nam phấn đấu phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả; xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Từ những nguồn đã huy động được qua công tác XHHGD nhà trường có thêm kinh phí bổ sung cơ sở vật chất lớp học, mua sắm trang thiết bị dạy học cho các bộ môn, mở rộng khuôn viên, giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn đảm bảo an tâm học tập…góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và xây dựng trường chuẩn Quốc gia. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác XHHGD cũng gặp nhiều khó khăn do phụ huynh, học sinh chưa hiểu rõ bản chất công tác XHHGD, trên địa bàn còn ít các doanh nghiệp…Xuất phát từ ý nghĩa đó với mong muốn tìm ra giải pháp hữu hiệu tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác XHH GD&ĐT 1
  6. tại trường THPT Hoàng Mai nói riêng và nghành giáo dục nói chung, tôi nghiên cứu đề tài: “Đẩy mạnh công tác xã hội hoá Giáo dục góp phần nâng cao chất lượng xây dựng trường chuẩn Quốc gia tại trường THPT Hoàng Mai”. II. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Mục đích nghiên cứu Tìm ra các giải pháp hữu hiệu, tích cực để công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường ngày một tốt hơn, tạo ý thức cho mỗi phụ huynh, mỗi doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đóng góp, hỗ trợ vật chất, tinh thần nhằm từng bước giúp trường THPT Hoàng Mai ngày càng đáp ứng yêu cầu dạy và học của giáo viên, học sinh sớm tạo được một ngôi trường có chất lượng giáo dục toàn diện. 2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu công tác xã hội hóa giáo dục gắn với việc xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học tại trường THPT Hoàng Mai từ năm học 2019 - 2020 đến nay. Nghiên cứu dựa trên những việc làm đã đạt được trong những năm học qua của nhà trường mà bản thân tôi là người trực tiếp thực hiện. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Nghiên cứu kĩ các văn bản về công tác XHHGD, xây dựng trường chuẩn Quốc gia được Chính phủ, Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh, Sở GD&ĐT và UBND thị xã ban hành. - Thu thập, phân tích, tổng hợp công tác XHHGD của các đơn vị khác và công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THPT Hoàng Mai. - Khảo sát, đánh giá tình hình thực tế. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục. IV. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ TÍNH MỚI, ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài Đề tài nhằm nâng cao chất lượng công tác xã hội hóa giáo dục ở trường THPT Hoàng Mai, giúp nhà trường từng bước khắc phục những khó khăn về cơ sở vật chất, giúp các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục học tập, các em học sinh khá giỏi biết vươn lên hơn nữa trong học tập để dành kết quả cao hơn...Tạo được ý thức cho mỗi thầy cô giáo, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác giáo dục học sinh, ý thức vươn lên của mỗi học sinh và tình yêu thương mọi người, biết chia sẽ cho bạn bè, mọi người khi gặp khó khăn, sau khi lớn lên 2
  7. thành đạt trong cuộc sống biết chia sẽ lại cho thế hệ đàn em…Tuyên truyền phổ biến rộng rãi để các bậc phụ huynh, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp hiểu được tầm quan trọng của công tác XHHGD trong công tác giáo dục, từ đó có nhiều ủng hộ, đóng góp hơn cho nhà trường và thấy được rằng giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội. 2. Tính mới Đề tài đã đưa ra được những giải pháp thiết thực phù hợp với thực tiễn nhà trường, địa phương. Tận dụng được thế mạnh của công nghệ thông tin trong việc kết nối các thế hệ học trò. Tạo được mối quan hệ mật thiết giữa các đơn vị, xây dựng được nguồn quỹ khuyến học ổn định. V. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 4 năm 2022. 3
  8. PHẦN II. NỘI DUNG I. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Trong công tác Xã hội hóa giáo dục hiện nay đang được quan tâm rất nhiều của Đảng, Nhà nước và các cơ sở giáo dục vì vậy có nhiều nhà quản lý, tổ chức nghiên cứu, tiêu biểu như: Tác giả Phạm Minh Hạc là người đã viết nhiều tài liệu về XHHGD: Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 tác giả đã cung cấp nhiều thông tin cần thiết và bổ ích cho các cấp quản lý, các tổ chức và đoàn thể, nhà trường, gia đình về mục đích, ý nghĩa, nội dung hoạt động, phương thức tiến hành công tác quản lý và những kinh nghiệm để nâng cao chất lượng XHH công tác giáo dục. Trong đó tác giả khẳng định: “Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta”. Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào tập trung trong toàn dân”. Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã làm rõ khái niệm XHH công tác giáo dục và coi XHH là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn khái niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn. “Xã hội hóa công tác giáo dục – nhận thức và hành động” do Viện khoa học giáo dục Việt Nam xuất bản năm 1999. Nội dung tài liệu cụ thể hóa và hoàn thiện những quan niệm cơ bản mà mọi người cần biết về XHHGD, đồng thời chỉ ra vai trò và trách nhiệm của từng lực lượng trong XHH công tác giáo dục, những nét chính về cách tiến hành XHH công tác giáo dục ở địa phương và trường học. “XHHGD nhìn từ góc độ pháp luật” của Tiến sĩ Lê Quốc Hùng ( 2004) đã chỉ ra những hạn chế trong quản lý nhà nước về công tác XHHGD, đồng thời chỉ ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Nhìn chung, hoạt động XHHGD đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện, cả về lý luận lẫn thực tiễn ở nước ta. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến XHHGD 4
  9. (công tác quản lý, giải pháp thực hiện, phạm vi hoạt động,...) ở từng địa phương vẫn luôn có những đặc điểm riêng biệt. Vì thế, nghiên cứu XHHGD gắn liền với thực tiễn giáo dục của địa phương sẽ mang đến hiệu quả nhất định góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục ở địa phương. II. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận 1.1. Xã hội hóa giáo dục 1.1.1. Khái niệm Xã hội hoá giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội. 1.1.2. Vai trò của xã hội hóa giáo dục Xã hội hoá giáo dục làm cho hoạt động giáo dục mang tính xã hội. Trong đó người giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động về nội dung và phương thức thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao. Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá, đạo đức, lối sống. Xã hội hóa giáo dục gồm hai thành phần chính: Xây dựng một xã hội học tập trong đó mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời và Vận động toàn xã hội tham gia đóng góp cho giáo dục. Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược về giáo dục, chỉ đạp quá trình xây dựng và phát triển giáo dục nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc, có tính cách mạng trong hoạt động thực tiễn, biến hoạt động giáo dục mang tính chuyên biệt (chuyên môn và nghiệp vụ) trong một lĩnh vực, một thiết chế giáo dục (ngành giáo dục), trở thành một hoạt động học tập rộng lớn và sâu sắc bắt rễ vào các lĩnh vực đời sông vật chất, tinh thần của xã hội. Đảm bảo cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội. 5
  10. Tạo ra một phong trào học tập sâu rộng trong xã hội dưới nhiều hình thức, thực hiện học tập suốt đời để người dân làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn, cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho Việt Nam trở thành một xã hội học tập. Xã hội hóa giáo dục sẽ phát huy mọi tiềm năng trong xã hội về vật chất, trí tuệ, khoa học kỹ thuật, huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục với các mức độ khác nhau giúp giáo dục đạt quy mô rộng, tốc độ lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ giáo dục. Thực hiện xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược kinh tế – xã hội của Đảng và nhà nước. Công bằng không chỉ trong việc hưởng thụ (người dân được Nhà nước và xã hội chăm lo) mà còn trong việc đóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người từng địa phương. 1.1.3. Ý nghĩa của việc thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục Thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục là tạo ra một “xã hội học tập” góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho cộng đồng. Mở rộng hình thức giáo dục thường xuyên, tăng cường quy mô, hình thức dạy học cho toàn dân phấn đấu thực hiện tốt giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, lao động. Coi trọng giáo dục tư tưởng chính trị, chú ý hình thành tư duy sáng tạo và năng lực thực hành cho người học…xã hội hóa công tác giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tạo nên những điều kiện vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục; làm cho giáo dục thực sự phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, phục vụ trực tiếp lợi ích cho từng cá nhân; tạo điều kiện cho mục đích của giáo dục phù hợp với mục đích của từng cá nhân tham gia giáo dục. Tạo điều kiện làm phong phú hơn cho nội dung và phương pháp giáo dục; thực hiện công bằng xã hội và dân chủ hoá giáo dục, nhờ dân chủ hóa mà mở rộng lực lượng tham gia giáo dục, làm cho mọi người hiểu được giáo dục không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi gia đình, từng cá nhân người đi học. 1.1.4. Cơ sở chính trị, pháp lý của chính sách xã hội hóa giáo dục Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã chỉ rõ, “Thể chế hoá chủ 6
  11. trương xã hội hoá giáo dục đã ghi trong nghị quyết Đại hội VIII”.Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đã nêu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. Sau Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nêu trên, Luật Giáo dục ra đời năm 1998, lần đầu tiên công nhận chế độ đa sở hữu đối với các cơ sở giáo dục, bao gồm công lập, bán công, dân lập và tư thục. Ngày 14/6/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục. Luật Giáo dục xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội; “phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong đó đặt mục tiêu định hướng đến năm 2010, “tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%”. Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về xã hội hóa giáo dục. Những năm gần đây, chủ trương xã hội hóa giáo dục còn được Trung ương chỉ đạo rõ hơn trong Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong phần Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, quan điểm chỉ đạo,Nghị quyết xác định:“Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”. Ngày 14/6/2019, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua Luật Giáo dục năm 2019. Với mục tiêu thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đổi mới giáo dục, đào tạo, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện; Luật xác định: “Thực 7
  12. hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục…”. - Thông tư 16/2018/TT-BGD ĐT ngày 03/8/2018 quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. - Công văn số 7383/UBND.VX ngày 27/09/2018 của UBND tỉnh Nghệ An về việc triển khai thực hiện Thông tư số 16/2018/TT-BGDĐT ngày 03/08/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; - Công văn số 2354/SGDĐT-KHTC ngày 10/12/2018 của Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư số 16/2018/TT-BGDĐT ngày 03/08/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Có thể nói rằng, các cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên là căn cứ quan trọng để việc xã hội hoá giáo dục được ghi nhận và phát triển và trở thành một phần không thể thiếu trong bức tranh chung về phát triển giáo dục Việt Nam trong những năm qua. 1.2. Trường chuẩn Quốc gia và ý nghĩa đối với sự phát triển giáo dục 1.2.1. Khái niệm Trường chuẩn quốc gia là trường đạt các tiêu chí theo thông tư 18/2018/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo . 1.2.2. Văn bản về xây dựng trường chuẩn Quốc gia - Thông tư số 18/2018/TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học. - Thông tư số 14/2020/TT-BGDĐT, ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông. 1.2.3. Ý nghĩa đối với sự phát triển nhà trường, giáo dục Ngành Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương lớn mang tính chiến lược, đó là việc xây dựng hệ thống trường đạt chuẩn quốc gia của tất cả các bậc học. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia nhằm góp phần chuẩn hóa cơ sở vật chất, đội ngũ 8
  13. cán bộ, giáo viên, nhân viên; góp phần giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia là xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, có tính nhân văn cao góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc của con người Việt Nam. Từ đó, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay, đáp ứng được tinh thần định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và XII vừa qua. Đặc biệt là thực hiện tinh thần của Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường; tạo ra được nề nếp kỷ cương nghiêm túc của nhà trường. Từ đó, nhà trường tạo được niềm tin và uy tín đối với học sinh, đối với phụ huynh học sinh và đối với các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền ở địa phương. Góp phần nâng cao sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà. Trường được công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia, sẽ góp phần hoàn thiện hơn về nội dung tiêu chí “Phát triển Giáo dục – Đào tạo toàn diện” của thị xã, nơi nhà trường đang được giao nhiệm vụ giáo dục bậc phổ thông. Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia sẽ làm thay đổi được nhận thức của học sinh về việc học tập, giúp các em có ý thức đúng đắn và tích cực, chủ động hơn trong việc học tập, tạo được môi trường học tập chất lượng với cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, phù hợp với từng bộ môn. 1.3. Xã hội hóa giáo dục đối với công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia Xã hội hoá giáo dục là một chiến lược về giáo dục tạo nên những điều kiện vật chất và tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục; làm cho giáo dục thực sự phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Xã hội hóa giáo dục là một trong những giải pháp nhằm huy động sức mạnh toàn dân, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân xây dựng thêm các phòng học bộ môn, phòng chức năng, mua sắm thêm các thiết bị, dụng cụ, hóa chất cho các phòng thực hành Vật lý, Hóa học, Sinh học…cơ bản đảm bảo theo danh mục tối thiểu quy định phục vụ cho thí nghiệm thực hành những bài học theo chương trình GDPT và sử dụng đồ dùng dạy học của thầy cô giáo. Mặc dù đã dược sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức như UBND tỉnh, Sở GD&ĐT, UBND thị xã…nhưng nguồn kinh phí để trang bị cơ sở vật chất và thiết 9
  14. bị dạy học vẫn là bài toán khó cho các nhà trường. Để đạt được trường chuẩn Quốc gia thì tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cần phải đảm bảo, vì vậy công tác XHHGD có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia. 2. Cơ sở thực tiễn Mỗi tổ chức trong nhà trường đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng có chung một mục tiêu phấn đấu đó là xây dựng và phát triển nhà trường ngày càng lớn mạnh. Người quản lý phải biết phối kết hợp chặt chẽ phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, đồng thời người quản lý phải xây dựng mối quan hệ giữa các tổ chức đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cùng nhau nâng cao chất lượng nhà trường. Mỗi biện pháp đều có vị trí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng tổng hòa các biện pháp trên đều tập trung cho nhiệm vụ chính trong nhà trường, đó là giảng dạy và giáo dục học sinh. Mỗi biện pháp hỗ trợ cho nhau nhằm thúc đẩy, hoàn thiện hơn trong các mối quan hệ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường tạo nên một môi trường giáo dục thân thiện, toàn diện, lớn mạnh cả về chiều sâu và bề rộng trong công tác xã hội hóa giáo dục. Mỗi biện pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng không thể tách rời nhau, người quản lý phải biết lựa chọn, phối hợp cho phù hợp, đúng hoàn cảnh, điều kiện thực tế thì có thể khơi dậy được tối đa huy động sức mạnh của toàn xã hội góp sức xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục. Hệ thống giáo dục ở nước ta đã phát triển đầy đủ các ngành, bậc học và những năm gần đây đã và đang tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học, THCS, THPT đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên nếu đem so sánh sự phát triển này với các nước trên thế giới và trong khu vực thì ta còn hạn chế nhiều. Về chất lượng, trừ một số ít học sinh giỏi của ta thì không kém các nước, nhưng đa số học sinh kiến thức hẫng hụt nhiều, sự hiểu biết về công nghệ ít, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống còn hạn chế, trình độ ngoại ngữ kém… 10
  15. Nguyên nhân của những yếu kém trên có nhiều, nhưng chủ yếu do nguồn đầu tư cho Giáo dục và đào tạo, sự huy động xã hội đóng góp cho giáo dục còn quá ít ỏi. Đặc biệt là nhận thức về vai trò của nhân dân, các cấp các ngành trong công cuộc Xã hội hóa giáo dục còn nhiều hạn chế. Yêu cầu của đất nước ta là phát triển nhanh để trở thành một nước phát triển, hoàn thành công cuộc CNH - HĐH đất nước. Muốn vậy thì sự phát triển giáo dục phải đáp ứng yêu cầu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đảng ta khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Để giải quyết mâu thuẫn về nguồn lực và yêu cầu phát triển, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước và xây dựng một xã hội học tập thì không có cách nào khác là phải tiến hành “Xã hội hóa giáo dục”. 2.1. Thực trạng vấn đề 2.1.1. Đặc điểm tình hình nhà trường Trường THPT Hoàng Mai được thành lập theo Quyết định số 2489/QĐ- UBND, ngày 14 tháng 6 năm 1997 của UBND tỉnh Nghệ An. Từ khi thành lập cho tới nay, trường THPT Hoàng Mai luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của UBND, HĐND, Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An; sự quan tâm, giúp đỡ của Thị ủy, HĐND, UBND thị xã Hoàng Mai và của các cơ quan, doanh nghiệp, chính quyền địa phương nơi trường đóng. Chi bộ Đảng, Ban Giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường luôn đoàn kết nhất trí trong mọi hoạt động. Trường xây dựng tốt mối quan hệ với cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương. Đội ngũ giáo viên nhà trường có năng lực, kinh nghiệm, ổn định, nhiệt tình công tác, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, nhiều giáo viên đạt thành tích cao trong công tác giảng dạy được Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh, Liên đoàn lao động, Công đoàn nghành giáo dục, Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An tặng bằng khen, giấy khen. Học sinh nhà trường đa số là con em vùng nông thôn, cha mẹ làm nông, nhiều em có hoàn cảnh khá khó khăn nhưng chăm ngoan, có động cơ học tập đúng đắn. Các tổ chức trong nhà trường hoạt động đều tay, cha mẹ học sinh chăm lo đến việc học tập của con em. 2.1.2. Công tác xã hội hóa giáo dục trong những năm vừa qua của nhà trường Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngành giáo dục tỉnh Nghệ An trong những năm vừa qua cũng đã phát động, triển khai rộng rãi công tác XHHGD 11
  16. trong các nhà trường, huy động sức mạnh tập thể, sức mạnh toàn dân đóng góp và xây dựng nghành giáo dục phát triển toàn diện. Qua các cuộc vận động đó cũng đã đạt được một số kết quả nhất định như: số lượng trường, lớp tăng lên, cơ sở vật chất các trường học được quan tâm đầu tư từ nhiều nguồn lực khác nhau. Nhiều tổ chức, cá nhân tham gia giúp đỡ về tiền, của, đất đai để xây dựng, nâng cấp các trường, lớp học; mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội ngày càng tăng cường gắn kết và phát huy hiệu quả… Tuy nhiên, nhiều người cho rằng XHH giáo dục chỉ là thu, nộp tiền để phát triển giáo dục; hoặc coi xã hội được quyền thụ hưởng nền giáo dục, còn việc đầu tư cho giáo dục là việc của Nhà nước. Trong xu thế phát triển giáo dục trên thế giới hiện nay, mọi người cùng làm giáo dục; đầu tư cho giáo dục đòi hỏi ngày càng cao, Nhà nước chỉ có thể tham gia đầu tư ở phạm vi nhất định, song vẫn giữ vai trò chủ đạo; các tổ chức, cá nhân và gia đình cùng tham gia đầu tư cho giáo dục với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh có quy định rõ Hội cha mẹ học sinh chỉ thu những khoản thu để phục vụ cho hoạt động của Ban đại diện, chứ không được thu để chi các chi phí quản lý, xây dựng cơ sở vật chất trong trường học...Tuy nhiên, việc tự nguyện ủng hộ, viện trợ, tài trợ, đầu tư vào các cơ sở giáo dục chưa được mọi người hiểu và thực hiện đúng cách, một số bộ phận phụ huynh đang nghĩ là nhà trường vận động đóng góp, tài trợ xây dựng trường để thầy/cô lấy tiền đi du lịch, chia nhau. Bên cạnh đó, có những gia đình có điều kiện kinh tế, có nhu cầu ủng hộ nhà trường, nhưng một số Ban đại diện cha mẹ học sinh, nhà trường lại chưa biết khai thác, huy động đúng quy định, hiệu quả. Do vậy, mỗi dịp đầu năm học mới thường lại rộ lên vấn đề lạm thu, lại xảy ra tình trạng lợi dụng hội phụ huynh học sinh, tình trạng áp đặt, cào bằng để thu tiền, gây ra bức xúc cho người nộp. Hàng năm, được sự đồng ý của UBND tỉnh, hướng dẫn của Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An các trường học nói chung và trường THPT Hoàng Mai nói riêng tiếp tục triển khai công tác XHHGD. Đối với trường THPT Hoàng Mai từ khi thực hiện chủ trương Xã hội hóa giáo dục đến năm học 2019 – 2020, trường đã thu được một số kết quả khả quan tuy nhiên về cơ sở vật chất chỉ mới đáp ứng được yêu cầu cơ bản của hoạt động dạy và học trong thời đại mới, cụ thể: 12
  17. + Cơ sở vật chất: Chỉ cơ bản đáp ứng được danh mục tối thiểu cho hoạt động dạy học; phòng học thiếu tivi, máy chiếu; khu vực vệ sinh còn thiếu thốn; nhà để xe xuống cấp… - Nhà hiệu bộ: 01 - Phòng đa chức năng: 01 - Phòng Lab: 01 - Tổng số phòng học: 46 - Phòng Thư viện, đọc sách: 02 - Phòng truyền thống: 01 - Phòng tổ bộ môn: 09 - Phòng học bộ môn: 07 - Nhà để xe học sinh: Tận dụng phía sau các phòng học để xây dựng nhà xe cho học sinh. - Công trình vệ sinh: 02 khu vực. - Trang thiết bị phòng học: 09 tivi, máy chiếu. + Chất lượng giáo dục: Hàng năm tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp duy trì trong khoảng 90 – 100%, HSG tỉnh ở mức độ khá, tỉ lệ bỏ học ít, không có học sinh cá biệt… 2.2. Một số thuận lợi, khó khăn - Thuận lợi: + Trường được sự quan tâm, đầu tư của UBND, HĐND, Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An; Thị ủy, HĐBD, UBND thị xã Hoàng Mai. Đặc biệt sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của hội cựu học sinh nhà trường, tinh thần trách nhiệm cao của hội cha mẹ học sinh, hội khuyến học nhà trường và các cơ quan, ban, ngành đóng trên địa bàn trong việc tạo dựng cơ sở vật chất ban đầu, khuyến khích động viên thế hệ cán bộ giáo viên nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ “Dạy chữ, trồng người”. + Hoạt động của nhà trường ngày càng đi vào ổn định và phát triển, tạo được niềm tin của nhân dân, đáp ứng tốt yêu cầu học tập, rèn luyện ngày càng cao của học sinh. 13
  18. + Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường ngày càng nhiệt tình, yêu nghề, có tâm và có tài trong nghề nghiệp. + Đội ngũ cán bộ quản lý có kinh nghiệm, sáng tạo, đột phá trong công tác quản lý đưa nhà trường lên một vị trí mới. + Ban đại diện Hội cha mẹ học sinh có kế hoạch hoạt động rõ ràng, minh bạch, công khai; nhiệt tình quan tâm trong các hoạt động của nhà trường; phát triển khuyến học, giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn, động viên các học sinh cũng như thầy cô đạt thành tích cao trong các cuộc thi cấp thị, cấp tỉnh…định kì hàng năm đều đại hội phụ huynh tổng kết kết quả đã làm được và khắc phục những vấn đề còn tồn tại. - Khó khăn: + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học mới chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao về chất lượng giáo dục và đào tạo, đặc biệt là thực hiện chương trình GDPT mới. + Đội ngũ giáo viên chuyên sâu còn hạn chế. + Tư tưởng nhận thức công tác xã hội hoá giáo dục, việc xây dựng cơ sở vật chất trường học vẫn là trách nhiệm của Nhà nước và nhà trường. + Trường đóng trên địa bàn thị xã đang trên đà phát triển nên điều kiện kinh tế còn hạn chế, đa phần là làm nông, nhiều hoàn cảnh rất khó khăn. III. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Qua kinh nghiệm nhiều năm công tác bản thân tôi nhận thấy “ Ở đâu phong trào XHH giáo dục tốt, ở đó phòng trào giáo dục phát triển”. Trên cơ sở phân tích thực trạng thực tế của nhà trường tôi thấy rằng có một số vấn đề cần giải quyết như: Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh và các em học sinh về công tác “Xã hội hoá giáo dục”, Nhà nước và nhân dân cùng làm; nâng cao vai trò của hiệu trưởng và giáo viên trong việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng, phát triển nhà trường; cần phải lập kế hoạch có căn cứ khoa học, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và tính đặc thù của địa phương và nhà trường; coi trong công tác tuyên truyền...Vì vậy, tôi xin đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh công tác XHHGD mà tôi đã thực hiện có hiệu quả tại trường THPT Hoàng Mai. 14
  19. 1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường - Kịp thời triển khai, cụ thể hóa nội dung các Nghị quyết, văn bản chỉ đạo của các cấp quản lý trong toàn ngành. Tham mưu, ban hành văn bản chỉ đạo về thực hiện XHHGD và coi đây là nhiệm vụ quan trọng của năm học. - Phân công cán bộ phụ trách công tác XHHGD, tích cực kêu gọi sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và kết nối với nhà trường tạo được sự gắn kết chặt chẽ. - Tích cực tham mưu các cơ quan, các cấp có thẩm quyền, các tổ chức từ thiện, cá nhân có lòng hảo tâm hỗ trợ trường xây dựng cơ sở vật chất: xây dựng phòng học, hỗ trợ kinh phí, sách vở, các suất quà, ... cho học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. - Hướng dẫn giáo viên, nhân viên rà soát số lượng, đánh giá chất lượng, kịp thời tham mưu bổ sung tài liệu, thiết bị đảm bảo đáp ứng yêu cầu dạy và học. - Nhà trường chú trọng xây dựng kế hoạch XHHGD và triển khai thực hiện tới 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên tạo sự đồng thuận cao trong đội ngũ, động viên cán bộ, giáo viên, nhân viên phát huy tinh thần trách nhiệm, cán bộ quản lý đi đầu, gương mẫu. - Kịp thời tham mưu cho các cấp quản lý, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục phù hợp, sát thực tế. - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm tranh thủ sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần để cải tạo, mua sắm các đồ dùng, thiết bị,...Đây phải được coi là giải pháp quan trọng có tính chiến lược, vì nếu tư tưởng thông suốt thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết tận gốc. 2. Đổi mới xây dựng kế hoạch công tác xã hội hoá giáo dục - Tìm hiểu và nắm vững các Chỉ thị, Thông tư, Nghị quyết, hướng dẫn…của các cấp có liên quan về công tác XHHGD. - Tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng (điểm mạnh, điểm yếu, nguồn lực), dự đoán chiều hướng phát triển về các mục tiêu của nhà trường. - Ban Giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch từ những mục tiêu chung, định hướng chiến lược phát triển nhà trường; Tổ chức sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá hiệu quả công tác XHHGD quyết tâm thực hiện việc xây dựng chiến lược cũng 15
  20. như việc thực hiện chiến lược huy động tham gia của cha mẹ học sinh, các nhà hảo tâm, cựu học sinh và các doanh nghiệp vào công tác XHHGD. - Xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể về mục tiêu, chỉ tiêu cần đạt; các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng, bổ sung, mua sắm cơ sở vật chất (về nguồn tài chính, nhân lực, phương tiện...). - Kế hoạch được niêm yết công khai và phải phù hợp với đặc điểm tình hình nhà trường, phù hợp với hoàn cảnh phụ huynh, học sinh. 3. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền Hiện vẫn còn tình trạng chưa hiểu đúng và làm đúng pháp luật về xã hội hóa trong giáo dục, dẫn tới cách thức triển khai không phù hợp khi kêu gọi xã hội hóa, tài trợ với cơ sở giáo dục, thậm chí lạm thu khi kêu gọi xã hội hóa, tài trợ ở một số cơ sở giáo dục. Công tác tuyên truyền giúp phụ huynh học sinh, các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp…hiểu được các nội dung về công tác xã hội hóa, nhận thức sâu sắc hơn về công tác xã hội hóa giáo dục có vai trò rất quan trọng, hiểu đây là một hướng phát triển có tính chiến lược lâu dài của Đảng. Qua đó điều chỉnh được các nhận thức lệch lạc, phiến diện và sai lầm về công tác XHHGD vì vậy cần làm tốt một số việc sau: - Xây dựng nội dung, hình thức tuyên truyền thích hợp như niêm yết công khai, gửi email cá nhân các văn bản chỉ đạo của cấp trên về XHHGD để cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường biết; thông báo kết quả đạt được và kế hoạch XHHGD của năm trong các cuộc họp cấp ủy, cơ quan, chi bộ, Ban đại diện cha mẹ học sinh, các kì họp phụ huynh trong năm. - Tuyên truyền thông qua việc tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích trong công tác phát triển xã hội hóa giáo dục như tuyên dương, ghi danh cán bộ, giáo viên kêu gọi được sự ủng hộ của các cựu học sinh, mạnh thường quân… - Tạo điều kiện để phụ huynh, cựu học sinh có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau như lễ khai giảng – tổng kết năm học, lễ trao quà khuyến học, tri ân thầy cô 20/11… - Nhân lễ kỉ niệm thành lập trường phát hành các tập san, bảng vàng đóng góp, công bố trên các phương tiện truyền thông, đài phát thanh truyền hình để mọi người được biết. 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2