intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giờ dạy giáo viên sáng tạo - giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4

Chia sẻ: Ngaynangmoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

4
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là hình thành và phát triển cho người học các phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Phát triển các năng lực: Năng lực giao tiếp và hợp tác; tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề; thích ứng và sáng tạo; năng lực cảm thụ thẩm mĩ, sử dụng ngôn ngữ… Phát huy được sự chủ động, sáng tạo trong vận dụng các hình thức dạy học tích cực của đội ngũ giáo viên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Giờ dạy giáo viên sáng tạo - giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI GIỜ DẠY GIÁO VIÊN SÁNG TẠO - GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 4 Lĩnh vực: Quản lí Đơn vị: Trường THPT Quỳnh Lưu 4 Năm học: 2020-2021
  2. MỤC LỤC TT NỘI DUNG Trang PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 3 1.1 Lý do chọn đề tài 3 1.2 Tính mới của đề tài 4 1.3 Mục đích nghiên cứu 4 1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4 1.5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4 1.6 Phương pháp nghiên cứu 5 PHẦN II NỘI DUNG 6 2.1 Giờ dạy giáo viên sáng tạo 6 Thực trạng dạy học hiện nay và sự cần thiết tổ chức hoạt 2.2 động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở trường THPT 6 Quỳnh Lưu 4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 2.3 thông qua thực hiện “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở 9 Trường THPT Quỳnh Lưu 4 2.4 Kết quả nghiên cứu 42 PHẦN III KẾT LUẬN 47 3.1 Kết luận 47 3.2 Bài học kinh nghiệm 47 3.2 Kiến nghị 48 PHỤ LỤC 50
  3. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. Lí do chọn đề tài Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và các hoạt động giáo dục luôn là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà trường, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, ngành giáo dục đang đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và thực hiện Chương trình GDPT 2018. Muốn đổi mới giáo dục thành công thì trước hết phải đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thật tốt để họ thích ứng được với yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung và chương trình mới nói riêng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề khập khiễng, chương trình muốn đổi mới nhưng nhiều giáo viên lại chưa đáp ứng được về năng lực, các cơ sở đào tạo giáo viên cũng chưa theo kịp yêu cầu đổi mới. Trường THPT Quỳnh Lưu 4 cũng nằm trong tình trạng chung của cả hệ thống, số giáo viên ở độ tuổi từ 45 trở lên khá nhiều (trên 40%), nghĩa là họ được đào tạo trong giai đoạn trước, sức ỳ lớn, ngại đổi mới, hạn chế về sử dụng công nghệ thông tin,... Một thực tế nữa là, công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên ở các cơ sở cũng đang thực hiện khá hình thức, đối phó. Điểm yếu của đội ngũ giáo viên hiện nay là còn rất nhiều hạn chế khi thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Đó là những rào cản khá lớn khi các nhà trường thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục chuẩn bị thực hiện Chương trình GDPT 2018. Để đáp ứng yêu cầu về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và các hoạt động giáo dục chuẩn bị triển khai Chương trình GDPT 2018, trong nhiều năm qua Trường THPT Quỳnh Lưu 4 đã thực hiện nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả, từng bước giúp đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ. Khâu đột phá mà nhà trường đã lựa chọn thực hiện trong các năm học gần đây là thực hành “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” các môn văn hóa và các chủ đề giáo dục gắn với tiết Sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệm. Mục tiêu của hoạt động này là giúp giáo viên chuyển từ cách dạy học, giáo dục truyền thụ một chiều sang hình thức tổ chức “giờ dạy sáng tạo” nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh và giáo viên trong từng tiết học. “Giờ dạy sáng tạo” là giáo viên tạo điều kiện tối đa cho học sinh tham gia trực tiếp vào bài học, truyền cảm hứng cho các em thực hiện nhiệm vụ học tập, cả giáo viên và học sinh cùng sáng tạo. Mỗi tiết dạy học đổi mới cũng là quá trình giáo viên đúc kết kinh nghiệm, tự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. Nhu cầu được bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ là điều giáo viên nào cũng mong muốn. Mỗi nhà trường đều có một cách bồi dưỡng giáo viên khác nhau. Với sự lựa chọn “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” làm điểm đột phá trong đổi mới hoạt động sinh hoạt chuyên môn, Trường THPT Quỳnh Lưu 4 đã tạo được một nền nếp dạy học tích cực, thông qua đó, từng bước nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội 3
  4. ngũ giáo viên hàng năm. Trên cơ sở áp dụng có hiệu quả “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” trong các năm học vừa qua, chúng tôi đã đúc kết thành đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Giờ dạy giáo viên sáng tạo - giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4” với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm và hi vọng được đồng nghiệp đón nhận. 1.2. Tính mới của đề tài - “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” là một hoạt động chuyên môn, một hình thức bồi dưỡng giáo viên thường xuyên mang tính chất thực hành, đề cao sự sáng tạo của từng giáo viên trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động dạy học, giáo dục trên lớp và đề cao sự chủ động, tích cực các tổ, nhóm chuyên môn trong đổi mới quản lí hoạt động chuyên môn ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4 từ năm học 2018-2019 đến 2020-2021. - “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” không chỉ thực hiện ở các môn học văn hóa mà còn thực hiện qua các chủ đề giáo dục gắn với tiết sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệm. Đây là nội dung mới mà trường chúng tôi áp dụng từ năm học 2019-2020 và năm học 2020-2021. Thông qua việc đổi mới các chủ đề giáo dục và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trong giờ sinh hoạt lớp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, tạo ra sản phẩm giáo dục mang tính toàn diện, hội đủ các kĩ năng cần thiết để trở thành những công dân toàn cầu, đồng thời giúp đội ngũ giáo viên chủ nhiệm tự bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm, kinh nghiệm giáo dục học sinh. 1.3. Mục đích nghiên cứu - Thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục; đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục học sinh. - Hình thành và phát triển cho người học các phẩm chất: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. - Phát triển các năng lực: Năng lực giao tiếp và hợp tác; tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề; thích ứng và sáng tạo; năng lực cảm thụ thẩm mĩ, sử dụng ngôn ngữ… - Phát huy được sự chủ động, sáng tạo trong vận dụng các hình thức dạy học tích cực của đội ngũ giáo viên. 1.4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận về các phương pháp dạy học mới, dạy học sáng tạo, tạo hứng thú cho học sinh. - Khảo sát điều tra thực trạng và nhu cầu học tập của HS. So sánh giờ học truyền thống và giờ học sáng tạo của học sinh Trường THPT Quỳnh Lưu 4. 4
  5. - Khảo sát điều tra thực trạng quá trình lên lớp của đội ngũ giáo viên, nhất là đối với giáo viên thực hiện giờ dạy sáng tạo, giáo viên dự giờ. - Đề xuất Ban Giám hiệu, tổ/nhóm chuyên môn và Công đoàn phối hợp tổ chức thao giảng “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” hàng năm, tạo điều kiện cho giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm mạnh dạn thể nghiệm những cách làm hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục học sinh. 1.5. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động thực hành dạy học sáng tạo của giáo viên thông qua bài dạy các môn văn hóa và các chủ đề giáo dục gắn với tiết Sinh hoạt lớp. 1.6. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến phương pháp dạy học sáng tạo. - Phương pháp điều tra, khảo sát lấy ý kiến của học sinh về việc tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục của giáo viên. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục và rút ra kết luận, kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài. 5
  6. PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2.1. Hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” 2.1.1. Hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” - “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” là hoạt động giáo dục trong đó giáo viên (GV) chủ động đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực hiện nay. Dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, từng cá nhân học sinh (HS) được tham gia trực tiếp vào các hoạt động học tập, giáo dục với tư cách là chủ thể hoạt động. - Hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” là hoạt động dạy học, giáo dục có tính thực tiễn cao. Học sinh được giao nhiệm vụ học tập, chủ động thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tự nghiên cứu, trải nghiệm và thực hành, qua đó hình thành, rèn luyện các kĩ năng tự học và thể hiện được phẩm chất, năng lực; bổ trợ và cùng với các hoạt động giáo dục khác trong chương trình thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục. 2.2.2. Ưu điểm của hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” - Đối với giáo viên: Giúp giáo viên chủ động, linh hoạt, sáng tạo về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để có nhiều tiết dạy học hấp dẫn không chỉ ở tiết học các môn văn hóa mà còn cả các chủ đề giáo dục gắn với tiết Sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực hiện nay. - Đối với học sinh: + Về kiến thức: nội dung của các bài học được HS tiếp nhận một cách chủ động, tích cực. + Trong quá trình học tập học sinh được rèn luyện rất nhiều kỹ năng: làm việc nhóm, xây dựng kế hoạch, tra cứu tài liệu, giao tiếp, thuyết trình, sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng quay video, hội họa, âm nhạc, đóng kịch, dựng phim, các hình thức phỏng vấn… + Về nhận thức, thái độ: học sinh chủ động, tự tin, có nhiều ý tưởng sáng tạo, phá vỡ giới hạn của bản thân, phát huy tính chủ động, tích cực, tự giải quyết vấn đề, tự học của học sinh thực hiện cả ở trên lớp và ngoài lớp học. 2.2. Thực trạng dạy học hiện nay và sự cần thiết tổ chức hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4 *Đội ngũ giáo viên: - Đối với dạy học các môn văn hóa: Với số GV có độ tuổi trên 45 khá nhiều, hạn chế về công nghệ thông tin, tâm lí ngại đổi mới… nên khi nhà trường triển khai “Giờ 6
  7. dạy giáo viên sáng tạo”. Một bộ phận lớn GV lâu nay vẫn sử dụng cách dạy học truyền thụ một chiều, HS thiếu khả năng vận dụng và thực hành. Vì vậy, họ khá lúng túng trước yêu cầu đổi mới dạy học và hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, nhất là việc vận dụng các hình thức, các kỹ thuật dạy học mới. Chúng tôi đã khảo sát 64/80 GV của nhà trường về yêu cầu đổi mới PP,HTDH qua hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” một số nội dung sau: + Thầy (cô) có sẵn sàng tham gia đăng kí và thực hiện hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở trường THPT Quỳnh Lưu 4? (Đánh dấu nhân vào ô tương ứng) a. Sẵn sàng tham gia b. Không c. Chưa sẵn sàng tham gia + Lí do của việc thầy (cô) chưa sẵn sàng tham gia “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”? (Đánh dấu nhân vào ô tương ứng) a. Ngại đổi mới b. Hạn chế về CNTT, soạn bài vất vả hơn… c. Lúng túng về PP và vận dụng các hình thức tổ chức hoạt động dạy học/giáo dục. + Khi áp dụng các hình thức tổ chức dạy học/hoạt động giáo dục đổi mới, thầy (cô) thấy việc tiếp thu và ghi nhớ, vận dụng kiến thức, phát triển kĩ năng…của học sinh có hiệu quả hơn không? a. Không b. Bình thường c. Hiệu quả hơn Kết quả thu được, có trên 11% GV chưa sẵn sàng tham gia. Lí do: ngại đổi mới, CNTT hạn chế, lúng túng khi vận dụng các hình thức tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục. Trên 88% GV được hỏi sẵn sàng đăng kí thể nghiệm đổi mới. 64/64 GV được hỏi đều cho rằng khi thực hiện đổi mới hình thức tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục, việc tiếp thu, ghi nhớ, vận dụng kiến thức,…của HS hiệu quả hơn. - Đối với các hoạt động giáo dục của GVCN: hình thức tổ chức hoạt động giáo dục tại giờ Sinh hoạt lớp khô cứng, thiếu hấp dẫn. Nội dung sinh hoạt lớp thường “hành chính hóa” theo motip: đánh giá ưu, nhược điểm tuần học đã qua và phổ biến kế hoạch, nhiệm vụ của trường, Đoàn trường trong tuần tới. Phần nhận xét, đánh giá còn nặng về nhắc nhở, phê bình. Các GVCN ít quan tâm xây dựng các chủ đề giáo 7
  8. dục mà các em quan tâm, các em thích, vấn đề các em băn khoăn... Giờ Sinh hoạt lớp không còn là không gian để GVCN – HS trao đổi, tâm tình, chia sẻ, kết nối yêu thương... Nhiều HS, nhất là những em không may mắc lỗi thường khá lo lắng, thậm chí “sợ” những giờ Sinh hoạt lớp. Năng lực, kĩ năng thực hiện các chủ đề giáo dục trải nghiệm, hướng nghiệp của GVCN cũng rất hạn chế. - Từ khi nhà trường đẩy mạnh hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”, giáo viên có “đất” để thể nghiệm “sáng tạo”. Có thể nói, hoạt động “giờ dạy sáng tạo” đã đánh thức tiềm năng nhiều giáo viên, giúp họ chủ động, tích cực tìm tòi, vận dụng các hình thức tổ chức dạy học, kĩ thuật dạy học phù hợp với từng nội dung hoạt động học trên lớp. Trước đây, nhiều GV ngại thay đổi vì họ còn mơ hồ về đổi mới, thực ra, yêu cầu đổi mới (sáng tạo) không phải là cái gì ghê gớm, mà chính là GV sự dụng hợp lí, hiệu quả các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực trong từng hoạt động dạy học, giáo dục trên lớp. Hoạt động này đã giúp Chuyên môn nhà trường phát hiện nhiều nhân tố mới, nhất là các giáo viên trẻ có năng lực để bổ sung vào nguồn giáo viên chuẩn bị cho các kì thi GVDG cấp tỉnh. * Học sinh: - Một bộ phận học sinh chưa có thái độ học tập tốt, khá thụ động trong học tập. Biết không nói, không phát biểu, không tranh luận, thảo luận. Chính điều đó khiến các em thiếu kĩ năng sống, không tự tin, không phát huy được các năng lực chung như tự chủ và tự học; năng lực thể chất, năng lực thẩm mỹ, giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực ngôn ngữ, năng lực toán học, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học. - Hiện nay, HS tiếp nhận kiến thức từ nhiều kênh thông tin và dưới nhiều hình thức khác nhau và được chuyển tải rất sinh động, hấp dẫn đặc biệt qua Interrnet. Vì vậy nhiều khi các hình thức dạy học GV cung cấp có thể không còn “đủ mới” để hấp dẫn HS. Các em có thể tự học, tự tìm tòi các kiến thức trước khi được tiếp nhận tại lớp. Chính vì lẽ đó, đa số HS chờ đợi các tiết học phải đổi mới, đột phá về hình thức tổ chức hoạt động. Học sinh mong muốn giờ học không nặng kiến thức, áp đặt và nhàm chán. Điểm mạnh nữa của HS sinh ngày nay là cập nhật cái mới nhanh, biết sử dụng công nghệ và các kỹ thuật học tập mới. Những HS năng động không thích những giờ học GV truyền thụ một chiều. Các em luôn mong muốn thầy, cô mỗi ngày hãy thổi vào lớp học một năng lượng mới, một cảm hứng học tập mới. * Mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông 2018: - Giúp HS làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách 8
  9. và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. - Chương trình GDPT 2018 giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0. - Mục tiêu Chương trình GDPT 2018 đòi hỏi GV phải chủ động, dám thử nghiệm và thay đổi để có những giờ dạy sáng tạo mang lại nguồn cảm hứng học tập cho HS. Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, trường chúng tôi đã tổ chức thực hiện “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” nhằm định hướng, hỗ trợ cho GV nắm được những yêu cầu của đổi mới dạy học, hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; từng bước thay đổi cách thức soạn giáo án theo kế hoạch bài học, biết vận dụng các hình thức tổ chức dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực vào hoạt động dạy học và giáo dục nhằm đáp ứng cả hai mục tiêu kép: đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS và nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên của nhà trường. 2.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thông qua thực hiện “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở Trường THPT Quỳnh Lưu 4 2.3.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chi ủy, Ban Giám hiệu, Công đoàn đối với nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên Chi ủy, Ban Giám hiệu Trường THPT Quỳnh Lưu 4 xác định: “Nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên là nhiệm vụ hàng đầu, có tính quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và sự phát triển của nhà trường;”. Vì vậy, hàng năm, Chuyên môn nhà trường đã tập trung chỉ đạo thực hiện hai nhiệm vụ chính: + Tập huấn các nội dung mới của năm học theo hướng dẫn của Bộ và Sở GD&ĐT Nghệ An; thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ tự bồi dưỡng qua mạng đối với GV, CBQL triển khai Chương trình GDPT 2018 trực tuyến trên hệ thống taphuan.csdl.edu.vn của BGD&ĐT; Tập huấn bồi dưỡng kĩ năng, nghiệp vụ giáo dục học sinh theo định hướng giáo dục, kỉ luật tích cực HS cho đội ngũ GVCN. + Về thực hành: thực hiện chủ trương mỗi GV thực hành ít nhất 01tiết dạy học cụ thể trên lớp (các môn văn hóa hoặc các chủ đề giáo dục gắn với giờ Sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm của GVCN) với yêu cầu “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”/năm 9
  10. học. Chúng tôi xác định đây là nội dung quan trọng nhất của nhiệm vụ bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ GV và đổi mới công tác quản lí các hoạt động chuyên môn trong năm học này. Vì vậy phải thực hiện thực chất và lấy chất lượng đổi mới cụ thể của từng GV để đánh giá công tác bồi dưỡng giáo viên hàng năm. Mục tiêu cốt lõi: từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và chuẩn bị thực hiện Chương trình GDPT 2018. Mục tiêu cụ thể: + Thứ nhất, đây là một nhiệm vụ chuyên môn trọng tâm của mỗi GV/năm học nhằm từng bước giúp GV nhận ra và biết cách thực hiện được yêu cầu cụ thể của đổi mới là: biết vận dụng hợp lí các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS vào từng bài học/ chủ đề giáo dục cụ thể trên lớp; đề cao tính chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của từng GV trong quá trình dạy học và giáo dục HS. Đây cũng chính là quá trình GV tự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. + Thứ hai, đưa hoạt động này thành trọng tâm của đổi mới công tác chỉ đạo, quản lí hoạt động chuyên môn của nhà trường, nhất là đối với hoạt động sinh hoạt chuyên môn của các tổ, nhóm chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ. Về hình thức tổ chức thực hiện: + Ban Chuyên môn chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn hướng dẫn GV căn cứ Kế hoạch giáo dục môn học lựa chọn, và đăng kí bài dạy (GVBM)/chủ đề giáo dục (GVCN) và tổ chức thực hiện theo tinh thần đổi mới “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”. + Ban Chuyên môn phối hợp BCH Công đoàn tổ chức 2 đợt thao giảng chủ đề Giờ dạy giáo viên sáng tạo”. Lựa chọn những giáo viên có năng lực, mạnh dạn đột phá, thể nghiệm những cách dạy học/hoạt động giáo dục mới thao giảng để đúc kết kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình về sáng tạo trong dạy học các môn văn hóa và hoạt động giáo dục của GVCN. Từ hoạt động này, phát hiện những nhân tố mới cho nhà trường. Quan điểm chỉ đạo của Ban Giám hiệu nhà trường đối với nhiệm vụ BDTX là: coi trọng đào tạo, bồi dưỡng GV theo hướng thực hành nghiên cứu bài học cụ thể; đề cao sự đổi mới, đột phá của từng GV nhưng không tạo áp lực về đánh giá, xếp loại giờ dạy (như thi GVDG hay dự giờ đánh giá xếp loại chuyên môn); mỗi tiết dạy học của “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” trên lớp là cơ hội để GV được thể nghiệm, trải nghiệm về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, làm mới chính mình, vượt lên chính mình. 2.3.2. Phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ, nhóm chuyên môn trong việc tổ chức thực hiện “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” 10
  11. Trong hoạt động chuyên môn này, vai trò chủ động, tích cực của đội ngũ tổ trưởng, tổ phó, nhóm trưởng chuyên môn các môn học hết sức quan trọng, có tính quyết định. Để hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” có hiệu quả, các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn phải nắm vững mục đích, quan điểm chỉ đạo, tiêu chí định hướng đánh giá giờ dạy, có năng lực điều hành, tổ chức hoạt động đúng qui trình để đưa hoạt động này trở thành nền nếp sinh hoạt chuyên môn thường xuyên; tuyệt đối không hình thức, đối phó khi tổ chức hoạt động “giờ dạy giáo viên sáng tạo”. *Về mục đích: + Đẩy mạnh hoạt động thực hành đổi mới PP,HT dạy học nhằm tăng cường, phát huy tính chủ động, tích cực, tự giải quyết vấn đề, tự học của học sinh thực hiện cả ở trên lớp và ngoài lớp học. + Phát huy tính chủ động, tích cực, đổi mới, sáng tạo của giáo viên về thiết kế ý tưởng, vận dụng PP, HT tổ chức dạy học trong từng tiết dạy (văn hóa và giáo dục học sinh) theo yêu cầu đổi mới. + Góp phần bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. + Đổi mới công tác quản lí, điều hành hoạt động sinh hoạt chuyên môn các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn theo hướng NCBH cụ thể. *Về cách thức tổ chức thực hiện: Trên cơ sở Kế hoạch giáo dục bộ môn đã được phê duyệt, việc tổ chức thực hiện hoạt động “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” ở cấp tổ/ nhóm chuyên môn như sau: - Bước 1: Giáo viên chủ động lựa chọn, đăng kí nội dung bài dạy/chủ đề giáo dục sẽ thực hiện. Tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn lập danh sách gửi về Phó Hiệu trưởng Chuyên môn. (Có danh sách kèm phần phụ lục). - Bước 2: Giáo viên tiến hành chuẩn bị kế hoạch bài học (giáo án). Yêu cầu đặt ra cho giáo viên khi chuẩn bị kế hoạch bài học để thực hành tiết dạy sáng tạo là phải thể hiện sự đột phá (ít nhất cũng phải có điểm đổi mới) về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực học tập của HS. Giáo viên có thể đa dạng hóa các hình thức, kĩ thuật dạy học theo từng hoạt động của quá trình lên lớp theo định hướng như sau: + Lựa chọn hình thức khởi động vào bài học phù hợp, thú vị nhằm tăng tính hấp dẫn, tạo hứng khởi cho học sinh bước vào khám phá bài học mới. + Lựa chọn các hình thức tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới với yêu cầu: xác định đúng trọng tâm chuẩn kiến thức, kĩ năng của bài học và lựa chọn các hình thức chuyển giao nhiệm vụ học tập cho HS một cách hợp lí để tăng cường hoạt 11
  12. động học cho HS, giúp HS chủ động tiếp nhận, vận dụng kiến thức mới. Với nội dung hình thành kiến thức mới, PP, HT, KTDH có thể sử dụng hình thức các nhóm chuẩn bị ở nhà bằng video; giới thiệu sản phẩm và thuyết trình; viết báo cáo; tiểu phẩm, thảo luận nhóm, cặp đôi, phỏng vấn... + Lựa chọn các hình thức tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng, tìm tòi, sáng tạo. Giáo viên có thể sử dụng các phương pháp, kĩ thuật sau: Sử dụng câu hỏi/bài tập; Sử dụng trò chơi; Phỏng vấn chuyên gia/đối thoại văn chương; Sử dụng hình ảnh trực quan; Tổ chức cuộc thi vẽ tranh,... + Lựa chọn đa dạng các hình thức kiểm tra, đánh giá theo hướng mở: hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập... - Bước 3: Giáo viên trình bày ý tưởng tổ chức giờ dạy, lựa chọn các hình thức dạy học, kĩ thuật dạy học... trước các nhóm chuyên môn hoặc các giáo viên có kinh nghiệm, năng lực chuyên môn giỏi; nhóm chuyên môn cùng trao đổi, góp ý bổ sung để giáo viên hoàn chỉnh KHBH. - Bước 4: Giáo viên thực hành bài dạy/ chủ đề giáo dục trên lớp, có sự tham gia dự giờ của giáo viên trong tổ/nhóm chuyên môn... - Bước 5: tổ, nhóm chuyên môn trao đổi, góp ý sau dự giờ, đúc kết kinh nghiệm. Cần đánh giá đúng những cách tổ chức, hình thức chưa phù hợp để rút kinh nghiệm và ghi nhận, đánh giá cao điểm đột phá, sáng tạo của GV. Những cách làm hay, tốt phải được đúc kết để nhân rộng trong tổ, nhóm chuyên môn, và xem đây là một minh chứng quan trọng để đánh giá sự tiến bộ về chuyên môn, nghiệp vụ và là cơ sở để xếp loại chuẩn nghề nghiệp giáo viên cuối năm. * Cách xây dựng tiêu chí đánh giá “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”: - Tiêu chí đánh giá “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”: + Cách giáo viên thiết kế hoạt động học lấy HS làm trung tâm: Để ghi nhận sự đổi mới của mỗi GV chính là vấn đề GV đã thiết kế hoạt động dạy học như thế nào. Giáo viên dự giờ sẽ quan sát xem trong tiết học HS có được tham gia nhiều hoạt động hay không? HS có hứng thú học tập không? Hay HS ngồi im hoặc trả lời theo những câu hỏi, đáp án đã chuẩn bị sẵn. GV là người tổ chức các hoạt động, người dự giờ quan sát HS hoạt động chứ không phải săm soi tìm lỗi của đồng nghiệp đang thể hiện sự sáng tạo. Một giờ dạy hiệu quả là HS phải được hoạt động nhiều, được trải nghiệm, khám phá, từ đó tự tiếp nhận, hình thành kiến thức. + Cách sử dụng và hiệu quả sử dụng các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực vào bài học. Một bài học, mỗi GV có thể sử dụng nhiều hình thức dạy học, kĩ thuật khác 12
  13. nhau và đó là sáng tạo. Có GV mạnh về tổ chức hoạt động, HS rất thích và quản lí được hoạt động đó. Có GV mạnh về khả năng thuyết trình, thu hút HS, các em thích nghe, và như thế việc truyền đạt kiến thức sẽ vô cùng hiệu quả. Đó cũng là sáng tạo. - Quan điểm đánh giá “Giờ dạy giáo viên sáng tạo”: + Như đã trình bày trước đó, quan điểm của nhà trường trong hoạt động này là đề cao đổi mới, sáng tạo nhưng không gây áp lực cho GV; không đánh giá tiết dạy kiểu thi GVDG các cấp, hoàn toàn không có áp lực về xét thi đua. Khuyến khích GV đổi mới ở từng hoạt động cụ thể của tiến trình lên lớp, như: hoạt động “khởi động”, hoạt động “hình thành kiến thức mới”, hoạt động “luyện tập, vận dụng”... GV làm tốt ở hoạt động nào thì ghi nhận sự cố gắng, đổi mới ở hoạt động đó trong tiến trình lên lớp. Đối với hoạt động thực hành dạy học/giáo dục này, dù là thực hiện ở nhóm chuyên môn hay giờ dạy thao giảng, thi GVDG... chúng tôi đều xem đó là “giờ dạy giáo viên sáng tạo” và cũng là một hình thức bồi dưỡng, đào tạo GV. + Tất cả những nhận xét, đánh giá phải được thực hiện ngay sau tiết dạy. Nếu không kịp thời, hoạt động đánh giá, rút kinh nghiệm sẽ là hình thức, mọi thứ sẽ “trôi” mất, những gì giáo viên làm được không được ghi nhận, và như vậy sẽ không động viên được sự đổi mới, sáng tạo của từng giáo viên. 2.3.3. Thực hành “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” các môn văn hóa 2.3.3.1. Đổi mới hình thức hoạt động “khởi động”: Nếu như trước đây những giờ dạy chỉ được thực hiện theo các bước: Ổn định lớp, bài cũ, bài mới. Các hình thức vào bài nặng tính lý thuyết thì hiện nay mỗi môn học, hoạt động giáo dục đều có thể lựa chọn hình thức khởi động để tạo hứng thú và sự tham gia tích cực của HS. Có nhiều cách để thực hiện hoạt động khởi động nhưng trước hết giáo viên phải là người chủ động thiết kế hoạt động khởi động, dự kiến thời gian tiến hành thực hiện hoạt động này để vừa tạo được hứng khởi, sự hợp tác từ phía người học vừa thực hiện được dụng ý trong việc hình thành kiến thức mới cũng như đảm bảo kiến thức cho HS. Từ hình thức khởi động đã được lựa chọn, GV dẫn dắt đưa HS nhập cuộc, kết nối vào nội dung bài học một cách tự nhiên. Quá trình khởi động rất cần thu hút sự chú ý của người học bằng một cử chỉ, hành động tạo sự thân thiện, sự tương tác với học sinh. Các hình thức khởi động mà giáo viên có thể lựa chọn: + Dùng hình ảnh, động tác, âm thanh để khởi động cho bài học. Các động tác làm khỏe cơ thể như vươn vai, đấm lưng, vỗ tay, xoa tay… hoặc cho HS nghe một bản nhạc để gợi cảm xúc. Với hình thức này HS được thư giãn cũng như tăng cảm giác hứng thú khi bắt đầu tiết học. 13
  14. + Kể những câu chuyện để tạo sự tò mò, hồi hộp từ học sinh. Đó có thể là những câu chuyện văn chương, thực tiễn đời sống, câu chuyện trên báo chí… Có thể GV chủ động kể chuyện cũng có thể đặt ra những câu hỏi gợi mở để học sinh kể chuyện. + Xây dựng tình huống có vấn đề, các câu hỏi có tình huống gây sốc. Nêu câu hỏi có vấn đề, nên dùng những câu hỏi mở, những câu hỏi có tính kết nối, câu hỏi buộc phải tư duy và có nhu cầu được bày tỏ. Đặt câu hỏi nêu cảm tưởng suy nghĩ của bản thân học sinh về vấn đề có liên quan đến bài học + Để HS tự đặt câu hỏi với GV và HS có thể tự đặt câu hỏi với nhau về những vấn đề liên quan đến tiết học, đó cũng là cách để kiểm tra các em đã chuẩn bị bài đến đâu. + Đưa ra những con số thống kê, câu hỏi, trích dẫn, sự kiện; + Hoạt động trải nghiệm, quan sát, sử dụng hình ảnh trực quan; + Tạo những trò chơi hài hước hoặc liên tưởng… + Tổ chức cho học sinh xem trích đoạn video phù hợp liên quan đến bài học... Tuy nhiên dù có thực hiện dưới bất kì hình thức nào thì giáo viên vẫn phải dùng câu hỏi để kết nối học sinh vào tham gia hoạt động học. Một số hình thức khởi động tạo được hứng khởi cho học sinh thông qua hoạt động thao giảng “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” tại Trường THPT Quỳnh Lưu 4: Môn Ngữ văn: Khởi động bằng âm nhạc, video (GV chuẩn bị máy nghe nhạc di động hoặc sử dụng ti vi, máy chiếu có kết nối Internet để học sinh trực tiếp xem video). 14
  15. Khi dạy bài Vội vàng của Xuân Diệu (Sách Ngữ văn 11, tập 2, thực hiện tại lớp 11A6), giáo viên cho HS thưởng thức ca khúc “Còn tuổi nào cho em” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua giọng hát của Miu Lê. Dự kiến câu hỏi của GV Dự kiến câu trả lời của HS - Em có cảm nhận gì về tâm trạng của cố - Bâng khuâng, nuối tiếc. Cảm nhận được nhạc sĩ khi viết ca khúc “Còn tuổi nào sự chảy trôi, mất mát với những tháng cho em”? năm cuộc đời. - Theo em quỹ thời gian của đời người - 100 năm, 80 năm/ 60 năm.... không ai được ước lượng bao lâu? biết trước được cuộc đời mình bao lâu bởi có những điều khôn lường xảy đến mà ta không ngờ. - Thời gian của tuổi trẻ trong khoảng tuổi nào? - Từ năm 18- 30 tuổi (trên dưới 10 năm) Vì biết thời gian là hữu hạn, vì biết nắng vàng của ngày rồi sẽ tắt, vì thấy hoa nở sẽ tàn phai, vì ngửi thấy tháng năm có mùi ly biệt nên Xuân Diệu đã sống Vội vàng. Bài thơ Vội vàng của nhà thơ sẽ đánh thức chúng ta trân quý hơn tháng ngày được sống, bởi“Nếu biết trăm năm là hữu hạn, cớ sao ta không sống thật sâu” (Phạm Lữ Ân). *Khởi động bằng hình thức đưa ra những con số thống kê, câu hỏi, trích dẫn, sự kiện. 15
  16. (Vận dụng vào bài Nghị luận về hiện tượng đời sống (Ngữ Văn 12, tập 1, 12A7). Giáo viên có thể chọn để đưa ra những con số thống kê về một số hiện tượng sau: Vấn đề Con số TNGT ở nước ta năm - Số người chết vì TNGT gần 9.000 người. Trung bình 2017 ? mỗi ngày có khoảng 25 -30 người ra khỏi nhà và không bao giờ về nữa. Ung thư - Mỗi ngày có khoảng 300 người chết và mỗi năm phát hiện mắc mới 150.000 ca. - VN nước có tỉ lệ ung thư cao nhất thế giới. Bạo lực gia đình - 2011 tới 2015, cứ mỗi ngày ở Việt Nam lại có 64 phụ nữ, 10 trẻ em và 7 người cao tuổi là nạn nhân của bạo hành gia đình. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2016, theo con số thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 20 phụ nữ và trẻ em thiệt mạng do bạo lực gia đình. Mỗi năm có hơn 31.500 vụ BLGĐ. - Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực Gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (2010), 58% phụ nữ từng kết hôn cho biết rằng họ đã từng bị ít nhất 1 trong 3 loại bạo lực thể xác, tình dục và tinh thần trong cuộc đời. Nạo phá thai ở Việt - Tỉ lệ nạo phá thai ở Việt Nam là khoảng 300.000 ca mỗi Nam ? năm. Trong đó có khoảng 20% ở độ tuổi vị thành niên. - Là nước đứng thứ 5 trên thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á về tình trạng nạo phá thai. - Cũng theo thống kê của Ủy ban quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, ở nước ta, cứ 1 trẻ em ra đời thì có 1 bào thai bị phá bỏ. Mỗi năm có 1,2 – 1,6 triệu trẻ em được sinh ra tương ứng với đó con số bào thai bị phá bỏ. Đáng chú ý hơn cả là số trẻ vị thành niên nạo phá thai ở Việt Nam cao hơn nhiều lần so với các quốc gia dẫn đầu về nạo phá thai. Tỉ lệ thất nghiệp - Năm 2017, tỷ lệ lao động thất nghiệp ở mức khoảng 1,1 triệu người. Trong đó, số lao động có trình độ đại học thất nghiệp sẽ tăng nhiều hơn là khoảng 200.000 người. GV đặt câu hỏi: - Khi nghe những con số ấy em suy nghĩ về điều gì? Những con số ấy có xa lạ hay gần gũi với các em? - Trong gia đình, người thân của các em có người đã và đang là nạn nhân của hiện tượng trên hay không? 16
  17. - Những con số biết nói ấy nhắc nhở em điều gì? (Về lối sống, ăn uống, chăm sóc bản thân. Về môi trường, điều kiện sinh hoạt…) Mục đích: + Giáo viên đưa ra những con số về các hiện tượng để học sinh nhận thấy những hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội là những hiện tượng khá nóng, được nhiều người quan tâm để từ đó tăng thêm khả năng quan sát các hiện tượng trong đời sống, nhận ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp để thay đổi những hiện tượng (có tính tiêu cực) và phát huy những hiện tượng có tính tích cực. + Không chỉ tạo hứng thú cho học sinh mà qua số liệu đó nhận ra học sinh có quan tâm đến đến những hiện tượng, vấn đề nóng bỏng, cấp thiết của xã hội, chính trị, kinh tế của đất nước. Từ đó gieo vào “não”, ý thức của các em suy nghĩ và trách nhiệm với những vấn đề của xã hội, đất nước. *Hình thức khởi động trò chơi Mảnh ghép lịch sử trong môn Lịch sử: Vận dụng vào dạy bài “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau 2/9/1945 đến 19/12/1946. (Thực hiện tại lớp 12A7 năm học 2020-2021). Giáo viên lựa chọn trò chơi Mảnh ghép lịch sử. (Trình chiếu Power Point). Có một bức chân dung ẩn trong 9 mảnh ghép lịch sử. Theo thứ tự, các em sẽ chọn các mảnh ghép. Mỗi mảnh ghép chứa một câu hỏi, trả lời đúng, mảnh ghép sẽ mở ra. Câu trả lời đúng được 10 điểm. Tìm được đúng chân dung ẩn trong các mảnh ghép được 10 điểm. Tìm chân dung lịch sử trong bất cứ thời gian nào. Hình thức khởi động này tạo được hứng thú đối với học sinh, các em tham gia đầy hào hứng. Trò chơi các Mảnh ghép lịch sử cũng đã dẫn dắt vào nội dung bài học, thể hiện được các nội dung trọng tâm bài học là: cách đối phó với âm mưu của thực dân Pháp và các nước đế quốc của chính phủ lâm thời VNDCCH và vai trò Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 12/1946. *Hình thức khởi động trò chơi Đuổi hình bắt chữ trong môn Toán (vận dụng khi dạy bài Mặt cầu, lớp 12A7, GV: Nguyễn Thị Trang) 17
  18. 2.3.3.2. Đổi mới các hình thức tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới Hoạt động hình thành kiến thức mới là phần trung tâm của nội dung kế hoạch bài học. Giáo viên cần vận dụng đa dạng các phương pháp gắn với hình thức tổ chức hoạt động dạy học để chuyển giao nhiệm vụ học tập cho học sinh. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Các phương pháp học tập tích cực như phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp đóng vai, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, sơ đồ tư duy, khăn phủ bàn, dạy học theo tình huống... Dạy học gắn với hoạt động trải nghiệm, khám phá, thực hành. Là người tham gia thao giảng “Giờ dạy giáo viên sáng tạo” và dự giờ đồng nghiệp, chúng tôi thu nhận được nhiều cách tổ chức hoạt động học tập hình thành kiến thức mới của giáo viên rất hiệu quả, học sinh thích thú, hăng hái hợp tác. Ví dụ 1, giáo viên Phạm Thị Ngọc Bích (Sinh học 11A11) đã tổ chức HS thực hiện chủ đề “Mâm xôi ngũ sắc” bằng tổ chức các hoạt động chuyển giao nhiệm vụ cho HS nghiên cứu lý thuyết và thực hành. + Hoạt động 1: Phân tích tình huống thực tiễn " Xôi ngũ sắc, sắc màu thực vật". + Hoạt động 2: Nghiên cứu các kiến thức nền về các nhóm sắc tố trong thực vật và đề xuất giải pháp thiết kế quy trình chế biến xôi ngũ sắc. + Hoạt động 3: Lựa chọn bản thiết kế - Báo cáo quy trình chế biến xôi ngũ sắc; + Hoạt động 4: Chế tạo và thử nghiệm sản phẩm thực hành chế biến xôi ngũ sắc; + Hoạt động 5: Trình bày sản phẩm và đánh giá. Qua tiết học này, chúng tôi nhận thấy: + Tiết học thực sự thú vị, HS được phát huy năng lực: tính toán, tư duy, thẩm mỹ, hợp tác. Đồng thời phát huy được phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm, trung thực 18
  19. khi các em có ý thức giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm, sử dụng vật liệu từ thiên nhiên. + Các em hiểu được dù làm công việc gì cũng cần có kế hoạch, sự tỉ mỉ, khéo léo. Tận tâm và nghệ thuật; Tăng kĩ năng thực hành vào công việc cụ thể, để từ đó các em có thể hỗ trợ giúp đỡ bố mẹ trong việc nữ công gia chánh. + Tạo cơ hội khám phá các món ăn khác, phát huy niềm yêu thích của bản thân, thậm chí cơ hội cho định hướng nghề nghiệp của bản thân. + Học sinh là nhân vật trung tâm của các hoạt động dạy học. Các em chủ động khám phá, chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Quá trình làm sản phẩm là những trải nghiệm tuyệt vời giúp các em trau dồi kiến thức, kĩ năng. Một số hình ảnh minh họa quá trình chuẩn bị màu, nguyên liệu, thực hành nấu xôi ngũ sắc tại lớp 11A11: 19
  20. Các nhóm báo cáo sản phẩm: 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2