intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở

Chia sẻ: Chubongungoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:95

8
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm là tổ chức được một môi trường học tập sôi nổi, tương tác, gắn liền với thực tế, tạo hứng thú giảng dạy cho chính bản thân. Tìm được một phương pháp dạy học tích cực, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân và tiếng Anh. Tạo dựng được mối quan hệ khăng khít với các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng đóng trên địa bàn. Tạo nên sự gắn kết kiến thức của các môn học Công dân, Lịch sử, tiếng Anh, Ngữ văn giúp học sinh có kiến thức tổng hợp khi tìm hiểu một vấn đề. Củng cố thêm những hiểu biết cho các em ở nhiều môn học khác có như vậy các em mới thực sự làm chủ được kiến thức.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH TRƯỜNG THPT GIA VIỄN C ------------------------------------ BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN CẤP TỈNH NĂM 2017 TÊN SÁNG KIẾN: "VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC TẠI DI SẢN CHÙA BÁI ĐÍNH MÔ HÌNH LỚP HỌC KHÔNG GIAN MỞ " Chủ biên : Trần Văn Hanh Đồng tác giả : Nguyễn Thị Thanh Hà Đinh Thị Kim Dung Phạm Văn Hiệu Phạm Thị Quyên Trường : THPT Gia Viễn C Gia Viễn, năm 2017
  2. MỤC LỤC NỘI DUNG Trang PHỤ LỤC I: NỘI DUNG SÁNG KIẾN 9 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 9 I. Lý do chọn đề tài 9 II. Mục đích nghiên cứu 10 III. Phạm vi nghiên cứu 11 IV. Đối tượng nghiên cứu 11 V. Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu 11 VI. Thời gian nghiên cứu 11 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 12 I. Cơ sở lý luận 12 II. Cơ sở thực tiễn 13 III. Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở 17 IV. Tính mới, tính sáng tạo, tính ưu việt của giải pháp mới so với giải 25 pháp cũ V. Những hiệu quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến 28 VI. Điều kiện và khả năng áp dụng 29 PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 30 PHỤ LỤC II : CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ LỤC III: TÓM TẮT DẠY HỌC VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC TẠI DI SẢN CHÙA BÁI ĐÍNH – MÔ HÌNH 33 LỚP HỌC KHÔNG GIAN MỞ, TRƯỜNG THPT GIA VIỄN C ĐÃ ÁP DỤNG TRONG NĂM HỌC 2016 - 2017 - Sản phẩm của giáo viên 33 - Sản phẩm của học sinh 51 PHỤ LỤC IV: HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH 82 GIÁ PHỤ LỤC V: MỘT SỐ HÍNH ẢNH HOẠT ĐỘNG 91 PHỤ LỤC VI : TỔNG HỢP KẾT QUẢ LÀM VIỆC THEO NHÓM 94
  3. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Stt Từ viết tắt Viết đầy đủ 1 BCM Ban chuyên môn 2 BGH Ban giám hiệu 3 CM Chuyên môn 4 CNTT Công nghệ thông tin 5 DHTDA Dạy học theo dự án 6 GDCD Giáo dục công dân 7 GV giáo viên 8 KH Kế hoạch 9 KT-XH Kinh tế - Xã hội 10 HS học sinh 11 SGK sách giáo khoa 12 SGV sách giáo viên 13 SHCM Sinh hoạt chuyên môn 14 THCS Trung học cơ sở 15 THPT Trung học phổ thông CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BẢN ĐĂNG KÝ SÁNG KIẾN CẤP TỈNH NĂM 2017
  4. Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến cấp Tỉnh Chúng tôi ghi tên dưới đây: Tỷ lệ (%) Trình độ đóng Ngày tháng TT Họ và tên Nơi công tác Chức vụ chuyên góp vào năm sinh môn việc tạo ra sáng kiến 1 Trần Văn Hanh 25/11/1973 THPT Gia Viễn C Hiệu trưởng Thạc sỹ 30% 2 Nguyễn Thị Thanh Hà 19/8/1978 THPT Gia Viễn C P. Hiệu trưởng Cử nhân 25% 3 Đinh Thị Kim Dung 02/ 7/1977 THPT Gia Viễn C TTCM Cử nhân 25% 4 Phạm Thị Quyên 13/01/1981 THPT Gia Viễn C TTCM Thạc sỹ 10% 5 Phạm Văn Hiệu 12/7/1983 THPT Gia Viễn C Giáo viên Cử nhân 10% Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở” 1. Lĩnh vực áp dụng: Dạy học liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Ngoại ngữ và Giáo dục công dân 2. Nội dung a. Giải pháp cũ thường làm Trong những năm học vừa qua, ở tất cả các bộ môn trong trường phổ thông việc dạy - học liên môn đã được các nhà trường triển khai đồng bộ coi đó là việc làm thường xuyên. Tuy nhiên, đa phần giáo viên khi dạy liên môn đều sử dụng phương pháp dạy học truyền thống nên kết quả giảng dạy chưa cao. Đặc biệt giáo viên còn có quan niệm về dạy học liên môn như sau: - Về mục tiêu: Dạy và học thiên về chú trọng việc truyền thụ tri thức khoa học mà ít gắn với thực tiễn, phương pháp dạy học chiếm ưu thế vẫn là các phương pháp truyền thống như: thuyết trình, đàm thoại, pháp vấn… trong đó giáo viên là trung tâm của quá trình dạy học. Như vậy, sẽ hạn chế việc phát triển toàn diện, phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. - Về quan niệm: Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm. - Về nội dung: Từ sách giáo khoa và giáo viên. - Về hình thức tổ chức: Cố định, giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp.
  5. Với phương pháp dạy và học như trên, có thể nhận thấy những ưu, nhược điểm như sau: * Ưu điểm của giải pháp cũ: - Cung cấp cho học sinh kiến thức chuẩn của từng bài, đảm bảo nhu cầu nắm kiến thức “cấp tốc” để phục vụ kiểm tra, thi cử. - Giáo viên và học sinh không tốn nhiều thời gian. * Nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục của giải pháp cũ: - Giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. - Giáo án dạy theo phương pháp truyền thống được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. - Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng thực hành và áp dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế. - Người học càng ngày càng mất hứng thú học tập; hạn chế, thậm chí triệt tiêu sự sáng tạo, luôn thụ động ghi nhớ kiến thức máy móc, học chỉ là học để chống đối với các kì thi, các bài kiểm tra … - Phương pháp cũ cũng không đáp ứng được yêu cầu tích hợp, liên môn theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Phương pháp dạy học truyền thống dễ xảy ra thói quen, tình trạng “tư duy khép kín”, chủ yếu dạy diễn giảng, ít dùng phương tiện kĩ thuật tích cực, làm việc cá nhân nhiều, tương đối thụ động, kết quả thường là ghi nhớ, tái hiện (học thuộc) các kiến thức, kĩ năng đã học trong 1 môn học. b. Giải pháp mới cải tiến. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Đặc biệt, trong Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống. Trên cơ sở đó việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn, và dạy học theo chủ đề tích hợp đã được Bộ GD- ĐT triển khai nhân rộng. Bởi dạy học tích hợp, liên môn là nguyên tắc dạy học tích cực để đổi mới dạy học tiến tới đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, nhằm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh. Góp phần đào tạo nguồn nhân lực có đủ trí tuệ, kĩ năng và nhân cách đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe của thời đại mới- thời đại của hội nhập và phát triển. Bên cạnh đó Giáo dục di sản là một trong những phương pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông góp phần đổi mới dạy học theo hướng tích cực. Qua đó, bài học trở nên sinh
  6. động, hấp dẫn và giúp học sinh hứng thú, tiếp thu bài tốt hơn. Đặc biệt, hiện nay học sinh đang thiếu sự trải nghiệm, thiếu kiến thức thực tế, vì vậy, mỗi di sản văn hóa là một cơ hội để giáo dục thế hệ trẻ, là một sợi dây gắn kết trách nhiệm và tình cảm của nhà trường với gia đình và xã hội. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn mạnh: “Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh về di sản văn hoá, vừa có trách nhiệm sử dụng di sản văn hoá để dạy học. Việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học sẽ mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá”. Trước thực tế ấy, chúng tôi luôn trăn trở tìm ra những phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo hứng thú cho cả người dạy và người học để từng bước đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trong năm học 2016 - 2017, chúng tôi đã tiến hành một số giải pháp mới trong việc dạy học liên môn, tích hợp như sau: Giải pháp 1. Xác định chủ đề, nhiệm vụ học tập và nghiên cứu gắn với yêu cầu của nhiệm vụ môn học - Theo định hướng của giáo viên hoặc có thể theo ý tưởng của học sinh quan tâm có nội dung sát với nhiệm vụ môn học. Giải pháp 2. Các nhóm hình thành đề cương, kế hoạch học tập - Xác định mục tiêu. - Hình dung nội dung chi tiết, các công việc cụ thể, cách thức thực hiện, các điều kiện cần thiết như nguồn tư liệu, thiết bị, kinh phí, người tham gia…Dự kiến thời gian, địa điểm triển khai công việc, phân công người thực hiện,, dự kiến sản phẩm cần đạt. Tất cả các vấn đề này được trình bày trong đề cương, kế hoạch thực hiện. - Giáo viên hướng dẫn và thông qua các đề cương, kế hoạch thực hiện Giải pháp 3. Các nhóm thực hiện nhiệm vụ - Thu thập thông tin: từ các tư liệu, báo chí, sách, thực tiễn doanh nghiệp, internet, phỏng vấn, đi trải nghiệm vv… - Xử lý thông tin: tổng hợp, phân tích dữ liệu - Thảo luận thường xuyên: giữa các thành viên trong nhóm để giải quyết các vấn đề, nhóm trưởng kiểm tra tiến độ, giáo viên góp ý - Xây dựng sản phẩm: tập hợp các kết quả thành một sản phẩm cuối cùng Giải pháp 4. Giới thiệu sản phẩm trước lớp học không gian mở - Trình bày sản phẩm trước lớp học không gian mở bằng các phương pháp: trình chiếu slides, bài viết, đóng kịch, thể hiện tài năng vv… Giải pháp 5. Đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu xác định - Học sinh báo cáo sản phẩm trước lớp học không gian mở và giáo viên, tự rút ra các kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, các khó khăn, các thuận lợi và những điều cần phải nghiên cứu thêm.
  7. - Lớp/nhóm khác góp ý sản phẩm. - Giáo viên đánh giá chất lượng sản phẩm, đánh giá phương pháp làm việc, nghiên cứu, nêu ưu khuyết từng thành viên nhóm và cho điểm Với đặc thù của bộ môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân và tiếng Anh, chúng tôi vận dụng phương pháp dạy học liên môn và đã đạt được những hiệu quả mong đợi. Có thể nói đây là một phương pháp có nhiều ưu thế, khắc phục được nhiều hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống. * Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp: Sáng kiến này đã phát huy những phương pháp dạy học tại di sản là một trong những cầu nối giúp học sinh tiếp cận tri thức và cũng là cách thể hiện năng lực của giáo viên. Xã hội không ngừng thay đổi khiến cho các phương pháp giáo dục cũng phải được thay đổi theo sao cho phù hợp với xu thế chung. Vậy đổi mới phương pháp dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở đã mang lại những hiệu quả sau: - Giúp học sinh phát triển năng lực - Thay đổi tư duy học tập truyền thống - Đa dạng hóa các phương pháp dạy học - Kích thích khả năng sáng tạo của giáo viên và học sinh - Tạo được nhiều hứng thú cho học sinh; phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập và góp phần đa dạng hóa các phương pháp dạy học xu hướng hội nhập quốc tế. * Về nội dung, kiến thức Giải pháp cũ Giải pháp mới Học sinh thuộc, nhớ kiến thức; Học sinh hiểu và biết vận dụng kiến Mục tiêu biết vận dụng kiến thức để giảithức vào giải quyết những nhiệm vụ bài tập. thực tiễn. - Do sách giáo khoa và giáo viên - Do giáo viên hoặc học sinh đề xuất quyết định. trên cơ sở năng lực và hứng thú của Nội dung - Ít có tính liên môn. học sinh. - Liên quan đến nhiều môn học và nhiều lĩnh vực. - Người dạy là trung tâm, tổ - Người học là trung tâm, thực hiện các chức kiến thức thành các nhiệm nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của giáo viên Phương vụ giao cho học sinh. để xây dựng kiến thức cho mình. pháp - Giáo viên đưa ra phương pháp - Học sinh tự lựa chọn phương pháp làm việc. làm việc và có thể làm việc cả trong và ngoài trường học. Phương - Có sẵn do giáo viên lựa chọn. - Được lựa chọn hoặc xây dựng bởi tiện học sinh trong quá trình dạy - học. * Về tổ chức dạy học
  8. GIẢI PHÁP CŨ GIẢI PHÁP MỚI * Nơi tổ chức: Trong lớp học. * Nơi tổ chức: Không gian mở * Cách thức: * Cách thức: - Giáo viên: Đóng vai trò - Giáo viên: Có vai trò định hướng, giám sát hoạt trung tâm, truyền thụ kiến động học tập. thức áp đặt một chiều. - Học sinh: - Học sinh: + Học sinh thảo luận trong + Bước 1: Học sinh được cùng giáo viên đề xuất ý giới hạn lớp học để không ảnh tưởng, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hưởng lớp bên cạnh. hiện chuyên đề. + Hoạt động chủ yếu của học + Bước 2: Tìm hiểu thực tế, trong quá trình này các sinh là nghe, ghi chép và học em được đóng vai trò hướng dẫn viên du lịch, nhà thuộc. lịch sử, nhà văn để khảo sát, thu thập, phỏng vấn người dân những thông tin cần thiết. + Bước 3: Lựa chọn, xử lý thông tin và đánh giá + Trong giờ học chỉ tổ chức thông tin đó dựa trên sự tham khảo ý kiến của giáo được 1, 2 hoạt động nhóm từ viên, các chuyên gia và kết hợp với tìm hiểu thông 3-5 phút, chỉ có những học tin trên mạng internet. sinh tích cực tham gia, không + Bước 4: Hoạt động theo nhóm, mỗi nhóm có nhóm huy động được cả nhóm. trưởng, có thư ký, triển khai theo kế hoạch, có sổ theo dõi; mỗi nhóm trao đổi, thảo luận, khi gặp khó khăn được giáo viên hỗ trợ kịp thời. + Bước 5: Báo cáo sản phẩm của nhóm mình trong hoạt động ngoại khóa * Đánh giá: - Là việc của giáo * Đánh giá: Bao gồm đánh giá của giáo viên, tự đánh viên và sự đánh giá chỉ tập giá của học sinh và đánh giá lẫn nhau giữa các học trung đến kết quả cuối cùng. sinh. - Sự đánh giá được thực hiện trong suốt quá trình học tập. * Về hiệu quả dạy học NỘI DUNG GIẢI PHÁP CŨ GIẢI PHÁP MỚI - Kết quả kiểm tra đánh - Kết quả kiểm tra đánh giá: Tỉ lệ học giá: Tỉ lệ học sinh đạt sinh đạt điểm khá giỏi chiếm tỉ lệ cao KẾT QUẢ điểm khá giỏi chiếm tỉ lệ (91,7%) và có xu hướng tăng dần qua HỌC TẬP thấp (65,5 %) và không ổn các lần kiểm tra, điểm dưới trung CỦA HỌC định, học sinh đạt điểm bình chiếm tỉ lệ thấp (7,12%) và có SINH yếu kém cao (8,5%). xu hướng giảm dần.
  9. - Không khí lớp học: Đơn - Không khí lớp học: Sôi nổi, thoải điệu, trầm lắng, thầy đọc mái, có sự trải nghiệm thú vị trò ghi - Năng lực giải quyết các - Năng lực giải quyết các vấn đề thực vấn đề thực tế: Năng lực tế: Học sinh đạt được các kỹ năng, năng giải quyết và vận dụng lực đã đề ra, tự tin trình bày ý kiến kiến thức vào thực tế còn trước đám đông; biết vận dụng kiến hạn chế thức khoa học vào thực tế phục vụ cho đời sống. - Không có sản phẩm hoặc Học sinh trình bày kết quả thu được qua SẢN PHẨM nếu có thì có sau quá trình các bài thuyết trình (Phần thi chào hỏi) CỦA HỌC học và học sinh không có hoặc các sản phẩm (Sưu tầm triển lãm SINH dự định trước về sản tranh), các vở kịch (Phần thi tài năng) phẩm. 3. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được 3.1. Hiệu quả kinh tế Đây là đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục, do vậy hiệu quả kinh tế trước mắt không thể tính bằng tiền đồng. Chắc chắn rằng, dạy học liên môn tại di sản Chùa Bái Đính- mô hình lớp học không gian mở với các phương pháp dạy học tích cực được thiết kế cụ thể trong sáng kiến đã chứng tỏ phần nào hiệu quả kinh tế. 3.2. Hiệu quả xã hội - Trong quá trình thực hiện, mỗi nội dung khác nhau chúng tôi thực hiện nhiều phương pháp dạy học tích cực, cách thức tổ chức khác nhau để không nhàm chán và phù hợp với khả năng của học sinh. Kết quả học sinh lĩnh hội kiến thức nhanh hơn, có hiệu quả hơn. Các em được trao đổi thảo luận một cách thoải mái và thực hành nhiều hơn vì chúng tôi đi theo quy trình từ dễ đến khó theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Từ đó, gây được hứng thú học tập cho học sinh và các em ngày càng yêu thích các môn học hơn. - Học sinh được tham gia vào các hoạt động trải nghiệm. Thông qua các hoạt động trải nghiệm nâng cao kiến thức kỹ năng sống, - Học sinh cũng thay đổi nhận thức về di tích lịch sử, về di sản. Từ bài học, học sinh có kiến thức thực tế, hành vi và nhận thức của các em có sự chuyển biến, có tác động rõ ràng hơn. Học sinh nắm chắc hơn kiến thức lịch sử, kiến thức về di sản đồng thời kích thích được các em ham tham quan, học hỏi, tò mò, muốn mở rộng tầm hiểu biết lịch sử quê hương, của dân tộc mình, giáo dục các em lòng yêu mến và tự hào về quê hương. 3.3. Kết quả cụ thể đối với học sinh sau khi áp dụng sáng kiến Trong quá trình giảng dạy thực tế, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm việc đổi mới phương pháp dạy học. Kết quả như sau: * Thực nghiệm: Khối 11 và 12, chia làm 2 hai nhóm:
  10. + Nhóm thực nghiệm: Khối lớp 12 + Nhóm đối chứng: Khối lớp 11 Giỏi Khá Trung bình Yếu Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL % Khối 11 254 135 53,1 98 38,6 18 7,12 03 1,18 Khối 12 219 140 63,9 69 31,5 10 4,6 0 0,0 Sau khi áp dụng phương pháp đổi chứng, chúng tôi nhận thấy đổi mới phương pháp dạy học tích cực “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở” cho học sinh đã được những kết quả như sau: + Các em tỏ ra say mê học tập, tự tin trong các hoạt động giao tiếp. + Học sinh không còn sợ giờ tiếng Anh, Ngữ văn, Lịch sử và GDCD. + Tạo ra được nhiều tình huống kích thích sự sáng tạo của học sinh. + Giúp các em nâng cao hiểu biết về cần phải gìn giữ di sản. + Đây là một hướng đi đúng có thể mang lại hiệu quả khá khả quan trong quá trình dạy và học trong các nhà trường phổ thông trong điều kiện hiện nay. * Đánh giá những phản hồi của học sinh Nhận xét Số học trả lời Tỷ lệ Rất hứng thú 120 54,8% Hứng thú 50 22,8% Bình thường 25 11,4% Không hứng thú 12 5,5% Căng thẳng 12 5,5% * Đánh giá kết quả thực nghiệm * Những mặt đạt được - Học sinh tham gia thảo luận nhóm sôi nổi, tích cực tìm hiểu và trả lời câu hỏi của GV và các bạn trong lớp, cho thấy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình thực hiện. - Các nhóm hoàn thành bài được giao và báo cáo được nội dung của nhóm thông qua đó cho mọi người biết thêm nhiều kiến thức liên quan đến di sản. - Có sự phân công hợp lý trong nhóm, biết sử dụng CNTT vào trong quá trình thực hiện để tìm kiếm tài liệu, soạn thảo văn bản và làm bài trình diễn, điều này chứng tỏ phát triển được kĩ năng hợp tác nhóm, kĩ năng CNTT được nâng cao và sử dụng hợp lý. - Kiến thức học sinh có được chính là do các em tự tạo ra và tự tìm tòi nghiên cứu được điều này chứng tỏ học sinh đã trở thành nhân vật trung tâm trong quá trình dạy học. 4. Điều kiện và khả năng áp dụng 4.1. Điều kiện áp dụng
  11. Để áp dụng sáng kiến một cách hiệu quả, mỗi giáo viên cần chú ý đến một số vấn đề sau: - Căn cứ tình hình thực tế, hoàn cảnh, trình độ học sinh trong mỗi năm học, mỗi lớp học để có phương pháp giảng dạy phù hợp. - Linh hoạt, đa dạng trong cách thức sử dụng các chủ đề dạy học tích hợp. - Giáo viên phải hướng dẫn học sinh sử dụng phương pháp học một cách hiệu quả, tránh mất nhiều thời gian của học sinh. 4.2. Khả năng áp dụng - Sáng kiến này có thể sử dụng cho tất cả các giáo viên giảng dạy ở các trường phổ thông. - Sáng kiến có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà giáo góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giờ học. Trên đây là bản tóm tắt nội dung sáng kiến chúng tôi đã thực hiện trong năm học 2016 - 2017. Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Gia viễn, ngày 18 tháng 9 năm 2017 CƠ QUAN CHỦ QUẢN T/M nhóm tác giả sáng kiến Người làm đơn Nguyễn Thị Thanh Hà PHỤ LỤC I. NỘI DUNG SÁNG KIẾN PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài Từ lâu, việc dạy học tại di sản trong các nhà trường đã được quan tâm, coi trọng. Việc tổ chức dạy học tại di sản theo các bài học, môn và liên môn ở các trường trung học phổ thông là rất cần thiết bởi xu thế hội nhập quốc tế ngày nay đòi hỏi các dân tộc phải lưu giữ những giá trị tốt đẹp về vật chất và tinh thần của đời sống xã hội loài người. Chính vì thế, cho đến nay, hàng loạt di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, danh lam thắng cảnh, di vật... có giá trị đã và đang được xem xét, công nhận là di sản văn hóa từ cấp địa phương, cấp tỉnh, cấp quốc gia cho đến quốc tế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: "Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản,
  12. hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh... Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người. . ...Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.” Ngay trong tháng 01 năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có công văn số 73/HD-BGDĐT-BVHTTDL về việc hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh, giữ gìn và phát huy giá trị của di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong hướng dẫn này, Bộ đã yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch của tỉnh xây dựng bộ tài liệu giới thiệu về văn hóa địa phương, dân ca, trò chơi dân gian, di tích, di sản tại địa phương để các nhà trường tham khảo trong quá trình tổ chức dạy học di sản văn hóa vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa). Trong các nội dung giáo dục nói chung thì nội dung giáo dục dạy học tại di sản rất quan trọng. Bởi nội dung giáo dục đó sẽ bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Trong nhiều các hình thức tổ chức dạy học thì việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản vào dạy học theo năng lực các bài học liên môn Ngữ văn, Lịch sử, Tiếng Anh, GDCD (Mô hình lớp học không gian mở) tại di sản Chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình - nơi học sinh sinh sống sẽ khiến cho bài giảng được sinh động, gần gũi và lôi cuốn học sinh hơn. Việc định hướng học sinh vào tìm hiểu những di sản Chùa Bái Đính sẽ giúp các em cảm thấy bài học gắn bó hơn với cuộc sống ở xung quanh các em. Qua đó, sẽ bồi dưỡng học sinh tình cảm tự hào với những giá trị văn hóa truyền thống do ông cha để lại, càng thêm yêu quê hương, yêu đất nước mình hơn. Và trên hết, các em sẽ tự nảy sinh ý thức trách nhiệm đối với việc bảo tồn di sản văn hóa, cũng như kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp từ ngàn xưa trong lịch sử quê hương, đất nước. Hình thức này, đang trở thành một giải pháp mới và hiệu quả nhằm khắc phục những hạn chế do các giải pháp dạy học cũ đã làm. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và áp dụng sáng kiến: “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở” II. Mục đích nghiên cứu Sáng kiến nhằm giúp giáo viên và học sinh thực hiện và tích lũy được những kinh nghiệm sau: - Về phía giáo viên:
  13. + Tổ chức được một môi trường học tập sôi nổi, tương tác, gắn liền với thực tế, tạo hứng thú giảng dạy cho chính bản thân. + Tìm được một phương pháp dạy học tích cực, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân và tiếng Anh. + Tạo dựng được mối quan hệ khăng khít với các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng đóng trên địa bàn. + Tạo nên sự gắn kết kiến thức của các môn học Công dân, Lịch sử, tiếng Anh, Ngữ văn giúp học sinh có kiến thức tổng hợp khi tìm hiểu một vấn đề. Củng cố thêm những hiểu biết cho các em ở nhiều môn học khác có như vậy các em mới thực sự làm chủ được kiến thức. - Về phía học sinh + Tạo hứng thú, niềm say mê với môn Ngữ văn, Lịch sử, Giáo dục công dân và tiếng Anh. + Nâng cao cho học sinh lòng tự hào, ý thức giữ gìn tôn tạo di sản và giáo dục tình yêu quê hương đất nước để học sinh xác định lí tưởng, mục tiêu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. + Thông qua họat động học tập tại di sản chùa Bái Đính: Bổ sung, cung cấp thêm nguồn tư liệu có giá trị về di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình trong tình trạng nguồn tư liệu này đang hết sức ít ỏi nhằm phục vụ cho việc dạy học di sản ở THPT. + Nhằm hình thành và phát triển cho HS ba phẩm chất chủ yếu là sống yêu thương; sống tự chủ và sống trách nhiệm. Đồng thời, hình thành và phát triển cho HS tám năng lực chung chủ yếu là: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất; năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực tính toán và năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. III. Phạm vi nghiên cứu - Sáng kiến này chỉ nghiên cứu về vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở. IV. Đối tượng nghiên cứu Áp dụng cho học sinh cấp trung học phổ thông, đặc biệt là học sinh lớp 12. V. Câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 5.1.Câu hỏi nghiên cứu - Thực trạng dạy học tại di sản bằng việc vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - lớp học không gian mở như thế nào? - Học sinh hưởng ứng như thế nào khi tham gia học tập vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - mô hình lớp học không gian mở? - Giáo viên dạy học mô hình lớp học không gian mở cần tiến hành các bước như thế nào? 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh giữa giải pháp cũ thường làm với giải pháp mới để có sự kế thừa và phát huy.
  14. - Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ thăm lớp, quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên. - Phương pháp trao đổi, thảo luận: trao đổi trong nhóm và trao đổi với đồng nghiệp - Phương pháp thực nghiệm - Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Giáo viên đặt câu hỏi để kiểm tra đánh giá mức độ hiểu bài và sự hứng thú của học sinh với phương pháp học mới. - Phương pháp phỏng vấn: qua các câu hỏi phỏng vấn cho các giáo viên và học sinh. - Phương pháp thống kê - Phương pháp phân tích định tính và định lượng VI. Thời gian nghiên cứu - Từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 04 năm 2017.
  15. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận của sáng kiến 1. Cơ sở của phương pháp dạy học tích cực - Theo nghiên cứu của các nhà khoa học: John Dewey (1859 – 1952): nhà tâm lí học và triết học người Mỹ, ông là người khởi xướng việc dạy học tích cực đặt biệt là phương pháp tiếp cận dự án. Theo Ông, cá nhân tự tìm cách phát triển một cách tự nhiên và tìm cách đạt được thành tích cá nhân ở một mức độ cao – nhà trường phải cung cấp các phương tiện để họ thực hiện được điều đó – Học thuyết nổi tiếng của Ông là học bằng việc làm (learning by doing), học bằng cách làm chứ không phải bằng cách lắng nghe như trong sư phạm truyền thống, học sinh phải hành động, xây dựng các dự án, tực hiện dự án đúng kỳ hạn, rút kinh nghiệm và học cách trình bày lại dự án. - Ovid Decroly (1871 – 1973): bác sỹ, nhà tâm lí học, nhà sư phạm người Bỉ, ông quan tâm đến khía cạnh tình cảm của trẻ em và những vấn đề chúng quan tâm, qua đó tìm cách tăng cường động cơ học tập tích cực và làm cho việc học tập của chúng thật có ý nghĩa. Ông cho rằng để tạo lợi ích cho trẻ, đòn bẩy tốt nhất để tích hợp các kiến thức là khi trẻ con tự mình phát hiện và diễn đạt. Celestin Freinet (1896 – 1966): nhà giáo dục người Pháp; theo giáo viên này, làm cho học sinh học tích cực là quan trọng nhất trong giảng dạy. Ông đã phát triển một hệ thống dựa trên 3 yếu tố: + Lớp học được tổ chức như một hợp tác xã + Các kiến thức được xây dựng dựa trên những dự án hay những nghiên cứu + Trường sản xuất và phổ biến các công cụ làm việc riêng của mình (ví dụ như các tờ báo, diễn đàn của trường). - Jean Piaget (9 August 1896 – 16 September 1980) ông cho rằng “kiến thức” được xây dựng bởi các cá nhân thông qua các hoạt động mà họ thực hiện trên các đối tượng. 2. Hiệu quả phương pháp dạy học mới (Dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở) Phương pháp dạy học này là một trong những cầu nối giúp học sinh tiếp cận tri thức và cũng là cách thể hiện năng lực của giáo viên. Xã hội không ngừng thay đổi khiến cho các phương pháp giáo dục cũng phải được thay đổi theo sao cho phù hợp với xu thế chung. Vậy đổi mới phương pháp dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở mang lại những hiệu quả sau: 2.1. Giúp học sinh phát triển năng lực Phương pháp dạy học mới giúp các em học sinh có thêm nhiều cơ hội phát triển năng lực của bản thân, tăng cường sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, giúp các em chủ động hơn trong việc thảo luận bài học và tự tin đặt những câu hỏi hay thắc mắc liên quan. Bên cạnh đó những đổi mới trong phương thức dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở còn giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng làm việc nhóm, biết cách đưa ra ý tưởng và hợp tác hoàn thành công việc chung sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.
  16. Việc nắm vững bản chất và hiểu rõ vai trò quan trọng của việc dạy học liên môn tích hợp là cơ sở, là nền tảng để chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế, thực hiện sáng kiến của chúng tôi. 2.2. Thay đổi tư duy học tập truyền thống Nếu phương thức dạy học truyền thống là học sinh thụ động trong việc tiếp nhận thông tin, quen với kiểu học đọc chép thì khi đổi mới phương pháp dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở, các em được chủ động hơn trong suốt quá trình lĩnh hội kiến thức. Cụ thể, học sinh được tự do tìm kiếm thông tin bài học, trải nghiệm thực tế thông qua các hoạt động ngoại khóa, thể hiện khả năng sáng tạo, tư duy và được khuyến khích trình bày ý kiến cá nhân của mình. Với ý nghĩa và mục đích trên, các em học sinh sẽ không bị bó hẹp giới hạn trong một khuôn khổ nhất định, mà thay vào đó có thể sử dụng bất kỳ phương pháp học nào, miễn sao đáp ứng được nhiệm vụ mà giáo viên đưa ra. 2.3. Kích thích khả năng sáng tạo của giáo viên và học sinh Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học còn giúp giáo viên và học sinh được tự do thể hiện khả năng sáng tạo của mình trong việc sáng tạo ra các thiết bị giáo dục phục vụ cho việc học. Ngoài ra, giáo viên và học sinh còn chủ động đề xuất, tổ chức các hoạt động của lớp/của nhóm để cùng nhau xây dựng tinh thần đoàn kết trong tập thể và hỗ trợ nhau trong học tập. 2.4. Đa dạng hóa các phương pháp dạy học Với chính sách đổi mới phương pháp dạy học tại di sản mô hình lớp học không gian mở, giáo viên có thể vận dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau cho cùng một tiết học để mang đến hiệu quả cao nhất. Học sinh cũng có cơ hội được trải nghiệm thêm những kiến thức mới và những phương pháp giảng dạy hiện đại. 3. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học tích cực * Ưu điểm: - Người học tiếp thu kiến thức mới một cách hứng thú khó quên. - Thúc đẩy việc học đi đôi với hành. - Củng cố phương pháp học tập theo nhóm. - Nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin. - Rèn luyện khả năng thuyết trình trước đám đông * Hạn chế: - Việc xác định bài học học tập là bước đầu tiên nhưng thường gặp nhiều khó khăn. Nếu xác định không đúng bài họcthì bài học tiến triển theo 2 hướng bất lợi: một là nghiên cứu sai mục tiêu môn học; hai là mục tiêu quá lớn, quá khó để nghiên cứu. - Nếu việc thực hiện điều hành nhóm không tốt thì công việc sẽ thực hiện không đều tay, có thành viên làm việc quá nhiều, có thành viên không làm hoặc ỷ lại việc cho người khác. II. Cơ sở thực tiễn 1. Thực trạng dạy học liên môn với mô hình lớp học không gian mở tại Di sản Chùa Bái Đính
  17. Có thể nói dạy học bằng không gian mở đang ngày càng được nhiều trường quan tâm, áp dụng. Không thể phủ nhận hàng loạt lợi ích mà phương pháp này mang lại như tăng thêm tính hứng thú, sáng tạo cho học sinh, giúp bài học trở nên bớt khô khan và tăng thêm tính thực tế, sinh động. Nhưng để mở rộng cách làm này giáo viên gặp phải không ít khó khăn như: - Phương pháp này, đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy “cổ điển” của cả giáo viên và học sinh, bởi lẽ dạy học truyền thống đã in sâu trong cách dạy và học của thầy và trò, chính điều này là một trở ngại cho phương pháp học và dạy mới. Do đó, phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải lập kế hoạch và nội dung khá công phu, phải thực sự tâm huyết với nghề. Đối với học sinh cần thay đổi nhận thức đây là một phương pháp học mới đòi hỏi phải phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng hợp tác làm việc trong nhóm. - Việc chuẩn bị và tiến hành dạy và học theo đòi hỏi thời gian nhiều hơn so với thời gian chuẩn bị dạy theo kiểu truyền thống - với sự chuẩn bị chu đáo của giáo viên- vai trò trung tâm thì việc dạy học không có gì là nặng nề, trong khi đó áp dụng kiến thức nhiều môn trong một buổi học thì quả là không dễ dàng cho cách dạy này. - Hiện nay, kinh phí và cơ sở vật chất phục vụ dạy và học còn nghèo nàn, chưa đáp ứng yêu cầu. Mặt khác, đây là một phương pháp dạy học mới, nên cả thầy và trò không tránh khỏi bỡ ngỡ và lúng túng do đó giáo viên phải tìm hiểu kĩ phương pháp này để xây dựng mô hình thích hợp để áp dụng trong dạy học theo sẽ gặp không ít khó khăn. - Khi giáo viên thực hiện “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản - Mô hình lớp học không gian mở” sẽ giúp học sinh hình thành được những phẩm chất, năng lực sau: * Các phẩm chất cần đạt được: - Yêu gia đình, quê hương, đất nước - Nhân ái, khoan dung - Trung thực, tự trọng, chí công, vô tư - Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó - Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên - Thực hiện nghĩa vụ đạo đức; tôn trọng, chấp hành kỷ luật, pháp luật * Các năng lực chung - Năng hợp tác: Các em sẽ hình thành được kỹ năng làm việc theo nhóm, đoàn kết, hợp tác giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm. - Năng lực giao tiếp: Giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp, ứng xử nhất là khi giao tiếp và trình bày trước mọi người. - Năng lực tự học: Qua dự án các em sẽ phát triển được năng lực tự học tốt hơn thông qua việc tự tìm tòi và lựa chọn các tài liệu phù hợp cho bài họchọc tập.
  18. - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề: Học sinh hình thành được năng lực phân tích, tổng hợp các vấn đề từ đó đưa ra các cách giải quyết thích hợp cho từng vấn đề. - Năng lực tính toán: Các em sẽ biết cách tra cứu thông tin và phân tích số liệu từ đó biết cách quan sát, tư duy so sánh, phân tích tổng hợp số liệu. - Năng lực vận dụng kiến thức liên môn: Qua bài học, học sinh biết vận dụng các kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cụ thể: Môn học Chủ đề Năng lực cần có Lớp 10: Kỹ năng làm bài văn nghị luận xã Kỹ năng viết bài nghị luận hội xã hội Ngữ văn Lớp 11: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn Kỹ năng giao tiếp, ứng xử; năng lực tư duy và diễn đạt. Lớp 12: Nghị luận về một hiện tượng đời Kỹ năng viết bài nghị luận sống. xã hội Bài 16 – lớp 10. Historical places - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Tiếng Anh - Năng lực giao tiếp và Năng lực hợp tác. - So sánh đối chiếu Bài 20, tiết 26 Lớp 10: Xây dựng và phát - Tra cứu thông tin và phân Lịch sử triển văn hóa dân tộc trong các thế kỷ X - tích số liệu XV - So sánh đối chiếu Giáo dục Bài 13 – Lớp 11: Chính sách giáo dục và - Tra cứu thông và phân tích công dân đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa số liệu - So sánh đối chiếu - Với phương pháp lấy học sinh làm trung tâm thì học sinh cần được rèn luyện một phương pháp học mới: quá trình tự học, tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác giữa các thành viên trong nhóm. Sự cộng tác này thể hiện ở kết quả là sản phẩm vật chất hoặc phi vật chất của cả nhóm. 2. Phương pháp dạy học truyền thống Quá trình dạy học quan niệm: - Về mục tiêu: Dạy và học thiên về chú trọng việc truyền thụ tri thức khoa học mà ít gắn với thực tiễn, phương pháp dạy học chiếm ưu thế vẫn là các phương pháp truyền thống như: thuyết trình, đàm thoại, pháp vấn… trong đó giáo viên là trung tâm của quá trình dạy học. Như vậy, sẽ hạn chế việc phát triển toàn diện, phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh. - Về quan niệm: Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm.
  19. - Về nội dung: Từ sách giáo khoa và giáo viên - Về hình thức tổ chức: Cố định, giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp Với phương pháp dạy và học như trên, có thể nhận thấy những ưu, nhược điểm như sau: * Ưu điểm của giải pháp cũ: - Cung cấp cho học sinh kiến thức chuẩn của từng bài, đảm bảo nhu cầu nắm kiến thức “cấp tốc” để phục vụ kiểm tra, thi cử. - Giáo viên và học sinh không tốn nhiều thời gian. * Nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục của giải pháp cũ: - Giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. - Giáo án dạy theo phương pháp truyền thống được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. - Học sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ năng thực hành của người học; do đó kỹ năng thực hành và áp dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế. - Người học càng ngày càng mất hứng thú học tập; hạn chế, thậm chí triệt tiêu sự sáng tạo, luôn thụ động ghi nhớ kiến thức máy móc, học chỉ là học để chống đối với các kì thi, các bài kiểm tra … - Phương pháp cũ cũng không đáp ứng được yêu cầu tích hợp, liên môn theo hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Phương pháp dạy học truyền thống dễ xảy ra thói quen, tình trạng “tư duy khép kín”, chủ yếu dạy diễn giảng, ít dùng phương tiện kĩ thuật tích cực, làm việc cá nhân nhiều, tương đối thụ động, kết quả thường là ghi nhớ, tái hiện (học thuộc) các kiến thức, kĩ năng đã học trong 1 môn học. 3. Các biện pháp để giải quyết vấn đề Trước thực tế ấy, chúng tôi luôn trăn trở tìm ra những phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo hứng thú cho cả người dạy và người học. Trong sáng kiến này chúng tôi đã tiến hành các giải pháp sau để giải quyết vấn đề: Giải pháp 1. Xác định chủ đề, nhiệm vụ học tập và nghiên cứu gắn với yêu cầu của nhiệm vụ môn học - Theo định hướng của Giáo viên hoặc có thể theo ý tưởng của học sinh quan tâm có nội dung sát với nhiệm vụ môn học Giải pháp 2. Các nhóm hình thành đề cương, kế hoạch học tập - Xác định mục tiêu. - Hình dung nội dung chi tiết, các công việc cụ thể, cách thức thực hiện, các điều kiện cần thiết như nguồn tư liệu, thiết bị, kinh phí, người tham gia…Dự kiến thời gian, địa điểm triển khai công việc, phân công người thực hiện,, dự kiến sản phẩm cần đạt. Tất cả các vấn đề này được trình bày trong đề cương, kế hoạch thực hiện. - Giaó viên hướng dẫn và thông qua các đề cương, kế hoạch thực hiện
  20. Giải pháp 3. Các nhóm thực hiện nhiệm vụ - Thu thập thông tin: từ các tư liệu, báo chí, sách, thực tiễn doanh nghiệp, internet, phỏng vấn, đi trải nghiệm vv… - Xử lý thông tin: tổng hợp, phân tích dữ liệu - Thảo luận thường xuyên: giữa các thành viên trong nhóm để giải quyết các vấn đề, nhóm trưởng kiểm tra tiến độ, giáo viên góp ý - Xây dựng sản phẩm: tập hợp các kết quả thành một sản phẩm cuối cùng Giải pháp 4. Giới thiệu sản phẩm trước lớp học không gian mở - Trình bày sản phẩm trước lớp học không gian mở bằng các phương pháp: trình chiếu slides, bài viết, đóng kịch, thể hiện tài năng vv… Giải pháp 5. Đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu xác định - Học sinh báo cáo sản phẩm, tự rút ra các kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, các khó khăn, các thuận lợi và những điều cần phải nghiên cứu thêm. - Lớp/nhóm khác góp ý sản phẩm. - GV đánh giá chất lượng sản phẩm, đánh giá phương pháp làm việc, nghiên cứu, nêu ưu khuyết từng thành viên nhóm và cho điểm Khi vận dụng phương pháp dạy học tích cực (Mô hình lớp học không gian mở tại Chùa Bái Đính) đã đạt được những hiệu quả nhất định. Có thể nói đây là một mô hình lớp học có nhiều ưu thế, khắc phục được nhiều hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống. Như vậy, dạy học liên môn theo mô hình lớp học không gian mở là một phương pháp dạy học đổi mới tạo được nhiều hứng thú cho học sinh; phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập và góp phần đa dạng hóa các phương pháp dạy học theo xu hướng hội nhập quốc tế. III. Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở 1. Tên hồ sơ dạy học “Vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học tại di sản Chùa Bái Đính - Mô hình lớp học không gian mở” 2. Mục tiêu dạy học - Lấy học sinh làm trung tâm, hướng học sinh đến việc lĩnh hội tri thức và kỹ năng, thông qua bài học để giải quyết các vấn đề thực tế. Việc vận dụng kiến thức liên môn để bảo tồn Di sản hiện nay tại tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng như ở Việt Nam nói chung từ đó nâng cao ý thức gìn giữ di sản của học sinh. - Giúp học sinh vận dụng linh hoạt kiến thức đã học ở các môn học khác để giải quyết các vấn đề thực tế cuộc sống. Thông qua bài học các em có thể vận dụng kiến thức ở các môn Giáo dục công dân, Lịch sử và Tiếng Anh vào giờ Văn học để nói về gìn giữ di sản tại tỉnh Ninh Bình hiện nay, từ đó giúp các em tự tin, thích thú học các bộ môn hơn. - Thông qua dạy học ngoại khóa giáo viên có cơ hội để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên trong các tổ nhóm chuyên môn.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2