
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến ngành Giáo dục thị xã Bình Long.
Tôi ghi tên dưới đây:
S
ố
T
T
H
ọ v
à tên
Ngày,
tháng, năm
sinh
Nơi công
tác (hoặc
nơi thường
trú)
Ch
ức
danh
Trình
độ
chuyên
môn
T
ỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
1 NGUYỄN
THỊ
THỦY
05/10/1978 Trường
Tiểu học
An Lộc B-
Bình Long -
Bình Phước
Giáo
viên
chủ
nhiệm
lớp 3
ĐHSP
Tiểu học
100%
1. Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Giúp học sinh biết dùng từ,
đặt câu và bước đầu biết sử dụng hình ảnh nhân hóa,so sánh để đặt câu viết
thành đoạn văn ở lớp 3.”
2. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục ( phân môn Tập làm văn)
4. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 09/9/2020
5. Mô tả bản chất của sáng kiến
5.1 Tính mới của sáng kiến
5.1.1. Tình trạng của giải pháp đã biết:
Qua thực tế giảng dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3 theo
chương trình sách giáo khoa những năm học qua, tôi nhận thấy học sinh còn một
số hạn chế sau:

- Đối với học sinh lớp 3, vốn từ ngữ của các em rất nghèo nàn, việc diễn đạt
câu văn, ý văn còn nhiều hạn chế. các em không biết làm một đoạn văn hoàn
chỉnh, không biết dùng từ đặt câu, trong quá trình làm bài văn không biết sử
dụng từ, ý câu lan man, liệt kê sự việc, lặp từ rất nhiều.
- Học sinh chưa tự tin trong cách dùng từ, đặt câu. Đến tiết Tập làm văn, lớp
học trầm. Các em còn thụ động.
- Một số học sinh còn ngại học văn hoặc học tập không hứng thú.
- Từ những thực trạng đã nêu ở trên, nguyên nhân chính là do:
+ Do vốn từ của học sinh còn hạn chế.
+ Hiểu biết về thế giới xung quanh chưa nhiều.
- Giáo viên chưa mạnh dạn đổi mới
phương pháp và hình thức dạy học phân môn Tập làm văn và ngại dạy môn này,
chưa chú trọng việc huy động các kiến thức trong môn Tiếng Việt để hỗ trợ cho
Tập làm văn. Việc dạy tích hợp các phân môn trong Tiếng Việt chưa được quan
tâm đúng mức. Một số giáo viên chưa coi trọng việc cung cấp kiến thức làm
văn, chưa phát huy được vốn sống của trẻ vào quá trình hình thành kiến thức bài
học. Vì vậy chưa tạo ra được một tiết dạy phong phú, nhẹ nhàng tự nhiên và
hiệu quả,
Từ trong quá trình tổ chức thực hiện, ứng dụng có kết quả, bản thân tôi đã
tổng kết thành đề tài : “Giúp học sinh biết dùng từ đặt câu và bước đầu biết sử
dụng hình ảnh nhân hóa, so sánh để đặt câu viết thành đoạn văn ở lớp 3.”
5.1.2. Biện pháp có tính mới:
- Học sinh có ý thức tự học và biết cách sử dụng từ ngữ để đặt câu có nghĩa.
- Rèn cách quan sát. Học sinh miêu tả bằng lời, biết viết câu bước đầu có hình
ảnh hình ảnh nhân hóa và so sánh.
- Học sinh luyện tập nhiều kĩ năng đa dạng: kĩ năng nghe; kĩ năng nói, cách
dùng từ đặt câu.
5.2 Nội dung sáng kiến

5.2.1. Các biện pháp thực hiện:
* Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tập làm văn về cách
dùng từ đặt câu và sử dụng một số hình ảnh so sán và nhân hóa.
+ Dạy tích hợp các phân môn trong môn Tiếng Việt.
+ Hướng dẫn học sinh biết quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình ảnh.
+ Hướng dẫn học sinh cách đặt câu, liên kết câu thành đoạn văn.
+ Hướng dẫn học sinh bước đầu biết dùng từ có hình ảnh so sánh, nhân hóa
khi đặt câu.
5.2.1.1 Dạy tích hợp các phân môn trong môn Tiếng Việt để làm giàu vốn từ
Khi dạy luyện từ và câu, tôi đã cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh
thông qua các dạng bài tập của bài dạy. Mở rộng vốn từ ở các chủ điểm, nhất là
những từ ngữ có tác dụng tả hoặc kể.
Ví dụ 1: Khi viết về chủ điểm Thành thị, nông thôn tôi cung cấp cho học
sinh những từ khóa sau:
+ Từ ngữ nói về thành thị: nhà cao tầng, đường phố, xe cộ , siêu thị, nhà
ga, công viên, sân bay,…; những từ ngữ gợi tả, gợi cảm ( nhộn nhịp, đông đúc,
nườm nượp, lấp lánh, rực rỡ,…)
+ Từ ngữ nói về nông thôn: cánh đồng, đường làng, bãi ngô, dòng sông,
con đò hay rừng cao su, đường đất đỏ, vườn cây ăn trái, trang trại chăn nuôi, …;
những từ ngữ gợi tả, gợi cảm( uốn khúc, quanh co, bát ngát, xanh tươi, trĩu quả,
bạt ngàn,…
Trên cơ sở các từ khóa trên, tôi hướng dẫn học sinh viết câu cho đủ ý,sắp
xếp thành đoạn văn phù hợp với nội dung các em muốn kể về thành thị hay nông
thôn.
Khi dạy phân môn tập đọc, trước hết tôi tập trung vào việc học sinh đọc bài
tốt, lưu loát sau đó hướng đến việc cảm thụ văn bản qua việc trả lời hệ thống
câu hỏi tìm hiểu nội dung bài. Tôi thường hướng dẫn học sinh đọc nhấn giọng
các từ gợi tả, gợi cảm, đồng thời giải nghĩa từ đối với các từ học sinh chưa hiểu.
Tôi kết hợp cho các em tập đặt câu với các từ đó, nếu thời gian cho phép.

5.2.1.2 Hướng dẫn học sinh quan sát, biết chọn lựa, chắt lọc hình
ảnh.
- Khi muốn viết được đoạn văn hay, để người đọc có cảm tình với mình
thì cần tổ chức tốt quá trình quan sát thực tế của học sinh. Giáo viên đóng vai trò
dẫn dắt, gợi mở nguồn cảm hứng, khơi dậy suy nghĩ trong các em. Khi quan sát
tranh, trả lời câu hỏi, học sinh có thể ghi chép một số hình ảnh so sánh hoặc
nhân hóa vào vở. Giáo viên cần tôn trọng những suy nghĩ, cảm xúc thơ ngây và
nâng chúng lên chất lượng cao hơn, giúp học sinh nâng cao khả năng cảm xúc
thẩm mĩ, kích thích khám phá cái hay, cái đẹp của các em. Giáo viên không
thuyết giảng mà phải gợi mở tạo điều kiện cho học sinh phát huy độc lập suy
nghĩ, làm việc, tự mình học được cách nghĩ, cách làm, cách nói, cách viết riêng
của mình. Khi quan sát phải lựa chọn các chi tiết cụ thể nhưng không phải là các
chi tiết rời rạc, tản mạn mang tính liệt kê, chi tiết không cần nhiều mà phải chọn
lọc, phải lột tả được cái thần của người và vật. Khi quan sát, yêu cầu cần sử
dụng nhiều giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác và cả xúc giác. Điều
quan trọng là các em phải biết quan sát bằng cả tấm lòng.
Ví dụ : Quan sát tranh tả về cảnh đẹp đất nước.
Giáo viên treo tranh: Tả cảnh biển ở Phan Thiết:
* Giáo viên gợi ý, học sinh quan sát tranh, dựa vào gợi ý đặt câu.
+ Học sinh thứ nhất đặt câu: Nước biển xanh ngắt.
+ Học sinh khác nhận xét về ý và lời: Bạn đặt câu đã đủ ý, nhưng hình ảnh
chưa sinh động. Theo em: Nước biển trong xanh như ai pha mực.
+ Học sinh khác đặt câu: Nước biển trong xanh với những con sóng bạc đầu
trắng xóa.
Câu văn của bạn ý đã chặt chẽ chưa? Em sửa lại câu văn cho bạn như thế
nào? (nếu bạn đặt câu còn lan man, lủng củng). Sau đó tôi đã sữa rất kĩ cho từng
em. Khi đến tiết tập làm văn viết, các em viết bài rất tốt.
Ví dụ: Khi dạy bài: Tả về lễ hội.
Giáo viên treo tranh: Lễ hội đua thuyền:

*Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm, học sinh tự đặt câu, học sinh khác
sửa cho bạn. Giáo viên theo dõi giúp đỡ các nhóm khi học sinh còn thắc mắc,
Ví dụ: Nhóm 1
+ Học sinh thứ nhất đặt câu: Những chiếc thuyền chứa nhiều người chuẩn bị
tham gia thi đấu.
+ Học sinh khác nhận xét về ý và lời: Những chiếc thuyền chứa nhiều người
chuẩn bị tham gia thi đấu.
Dùng từ chứa nhiều người chưa được hay, học sinh khác sửa cho bạn: Trên
mỗi chiếc thuyền khoảng mười vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu.
+ Học sinh khác đặt câu: Hai bên bờ, mọi người tham gia rất đông, nét mặt ai
cũng vui vẻ rạng ngời. Cây cối như muốn hò reo cùng khán giả.
em vừa chuyện trò vui vẻ. Một thoáng, lớp học đã sạch sẽ. Em rất vui.
5.2.1.3 Hướng dẫn học sinh bước đầu biết dùng từ có hình ảnh so
sánh, nhân hóa vào đoạn văn.
Luyện từ và câu lớp Ba bước đầu cung cấp cho học sinh các cách để sử
dụng biện pháp so sánh, nhân hóa. Tôi cho học sinh nắm kĩ các cách so sánh,
nhân hóa thông qua các ví dụ cụ thể trong sách giáo khoa, sau đó mở rộng thêm
bằng cách cho các em luyện đặt câu có hình ảnh so sánh, nhân hóa.
- Học sinh cần nắm được các kiểu so sánh:
Có hai kiểu so sánh: So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng
+ Ví dụ so sánh ngang bằng: Ông mặt trời như quả cầu lửa khổng lồ.
+ Ví dụ so sánh không ngang bằng: Tình yêu thương của cha mẹ hơn cả
mọi thứ trên đời.
- Từ tuần 19, các em bắt đầu làm quen với các kiểu nhân hóa:
Cách 1: Gọi vật như gọi người:
VD: Bác gà trống trông thật oai vệ.
Cách 2- Tả vật như tả người (tả hình dáng, tâm trạng, ngoại hình, tính
cách)

