
- 1 -
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị THPT Nguyễn Đình Chiểu
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN
ĐỂ KỂ CHUYỆN,TÓM TẮT
TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
THPT.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục :
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn - Lĩnh vực
khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012.

- 2 -
SƠ LƢỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lê
2. Ngày tháng năm sinh: 04/10/1980
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: Phước Thái- Long Thành- Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613551883 ; ĐTDĐ:0169 4907 380
6. E-mail:ngle1712@gmail.com
7. Chức vụ:Tổ trưởng
8. Đơn vị công tác:Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng:2003
- Chuyên ngành đào tạo:Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm:Ngữ văn
- Số năm có kinh nghiệm:08
BM02-LLKHSKKN

- 3 -
Tên sáng kiến kinh nghiệm: SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN ĐỂ KỂ
CHUYỆN,TÓM TẮT TRONG BỘ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10 THPT.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn hợp thành chương trình văn hóa
cơ bản ở bậc THPT,chuẩn bị cho các em học sinh ra đời hoặc tiếp tục học cao
hơn.Sách Ngữ văn 10 có viết: “Văn học là nhân học” – Môn Ngữ văn góp phần
quan trọng vào việc giáo dục nhân cách học sinh,giúp các em trở thành những con
người tốt.Đó là những con người yêu nước, yêu CNXH, có tư tưởng tình cảm cao
đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm thù cái
ác… Đó là những con người có bản lĩnh, tư duy sáng tạo, có năng lực cảm thụ cái
chân-thiện-mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học. Đó cũng chính là những
người có ham muốn tha thiết đem tài năng của mình cống hiến cho sự nghiệp xây
dựng đất nước.
Vì vậy, mỗi bài học ở THPT giáo viên không chỉ hướng dẫn các em thưởng
thức, cảm thụ. Mà điều cơ bản là thông qua thưởng thức cảm thụ giáo viên hướng
dẫn các em chủ động lĩnh hội những kiến thức cụ thể vừa sức về tác phẩm văn học,
học sinh tiến đến chiếm lĩnh những kiến thức phổ biến về khoa học. Có như vậy,
môn Ngữ văn ở THPT mới góp phần vào việc giáo dục học sinh phát triển toàn
diện về tâm hồn và trí tuệ, về tri thức và thẩm mĩ.
Nhất là những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo đã thực hiện thay sách
giáo khoa cấp I, II,III ;dạy học bám sát vào chuẩn kiến thức-kĩ năng và thực hiện
chương trình giảm tải năm 2011. Có sự thay đổi đáng kể trong nội dung và hình
thức. Cùng với sự thay đổi ấy phương pháp dạy học cũng được nghiên cứu và thay
đổi cho phù hợp với chương trình , đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Theo tôi nghĩ đây là phương pháp dạy học tích cực. Vì vai trò của người thầy là
định hướng, chỉ đạo còn học sinh giữ vai trò tích cực hoạt động và chủ động.
Phương pháp dạy học này đã kích thích tư duy sáng tạo của học sinh rất cao giúp
các em làm chủ được kiến thức môn học.
Muốn học được một giờ văn tốt trước hết người học phải đọc trước tác phẩm
(văn bản) và nắm được nội dung văn bản. Đối với Ngữ Văn lớp 10, trong giờ học
văn việc đọc văn bản, nắm được nội dung của văn bản đồng nghĩa với việc kể được
tóm tắt văn bản đó. Đây là khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến kết quả tiếp
thu bài của học sinh. Vì đọc xong tác phẩm, nhất là tác phẩm tự sự, dù đọc diễn
cảm nhiều lần, các em cũng sẽ dễ quên lời của văn bản. Cái còn lại trong các em là
văn bản hình tượng. Nhưng văn bản hình tượng ấy sẽ còn sinh động và sáng tạo
như thế nào, sự thâm nhập của các em vào hiện tượng ấy sâu sắc và có cảm xúc ra
sao?…phần lớn phụ thuộc vào biện pháp kể, có như vậy mới tiến hành việc chia bố
cục, nêu đại ý và phân tích được văn bản, giờ học mới đạt kết quả cao. Vì vậy, việc
kể- tóm tắt văn bản không thể thiếu trong giờ học Ngữ văn của học sinh lớp 10
trong chương trình đổi mới sách giáo khoa hiện nay. Do đó, tôi thấy việc kể -tóm
tắt văn bản là một bước quan trọng nên tôi quyết định chọn đề tài này.

- 4 -
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lý luận
Trong quá trình dạy học Ngữ văn có nhiều yếu tố dẫn đến một bài học, một giờ
dạy - học đạt hiệu quả cao. Nhưng yếu tố cơ bản vẫn là nắm vững nội dung văn
bản trước khi phân tích văn bản. Từ đó học sinh mới có thể độc lập suy nghĩ, chủ
động tích cực trả lời câu hỏi hoặc thảo luận một vấn đề mà giáo viên đưa ra cho
học sinh. Tránh tình trạng khi học sinh chưa nắm được nội dung, cốt truyện hoặc
nội dung cơ bản của một văn bản mà trở nên thụ động, ỉ lại và chờ đợi vào sự đọc
chép của giáo viên. Chính vì vậy, muốn cho học sinh tự tìm tòi và khám phá khai
thác văn bản một cách chủ động, tích cực thì trước hết người giáo viên phài là
người định hướng cho học sinh làm thế nào để học sinh nắm được nội dung của
văn bản. Và muốn vậy phải hướng dẫn học sinh đọc trước văn bản ở nhà.
Nhưng để nắm được nội dung của văn bản không chỉ đơn thuần là đọc văn
bản ngắn, lời văn có sự việc, diễn biến thì còn dễ. Ngược lại những văn bản dài,
tính nghệ thuật cao thì lại là cả một vấn đề và việc nắm được nội dung là phải biết
kể tóm tắt được văn bản. Song từ trước đến nay, trong thực tế tôi thấy việc dạy –
học văn nói chung, bước kể tóm tắt các văn bản rất khó đối với học sinh- kể cả học
sinh khá, giỏi. Đa số các em không biết tóm tắt mà chỉ kể theo kiểu học thuộc lòng
cả văn bản. Trong khi đó, việc kể tóm tắt là chúng ta đang luyện cho học sinh cách
trình bày văn bản bằng miệng. Kể tóm tắt văn bản theo tôi hiểu là chúng ta phải
“thâu tóm những ý chính, ý cơ bản” nhưng không phải là liệt kê rời rạc mà phải
biết liên kết các ý đó lại để tạo thành cách kể mạch lạc, rõ ràng, ngắn ngọn và đủ ý.
Đó cũng là điều mà tôi băn khoăn, suy nghĩ, luôn trăn trở để tìm ra giải pháp tốt
nhất.
Ngoài ra trong quá trình giảng dạy, một điều rất rõ đó là học sinh ở các lớp
tôi trực tiếp giảng dạy trong giờ học văn –đặc biệt là giờ học văn bản văn xuôi các
em rất thích đọc, phần đọc được các em hưởng ứng rất sôi nổi, các em thi nhau
xung phong để được cô giáo chỉ định đứng lên đọc.Nhưng khi giáo viên yêu cầu kể
tóm tắt thì các cánh tay vội vàng cụp xuống và ánh mắt cũng lẩn chốn cái nhìn của
cô. Đó là một thực tế đáng buồn và ảnh hưởng đến chất lượng dạy – học môn Ngữ
văn.
Do đặc trưng của môn Ngữ văn lớp 10 và yêu cầu chung của bộ môn là rèn
luyện cho học sinh các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết và cảm thụ văn bản. Đây cũng
là năm đầu của cấp học, là tiền đề cho các năm học tiếp theo, do vậy giúp học sinh
cảm thụ tốt được nội dung của bài học là điều không phải giản đơn. Các em mới
bước chân từ THCS lên còn bao bỡ ngỡ, giáo viên cũng vừa mới tiếp xúc với cách
giảng dạy mới chưa có nhiều kinh nghiệm. Chính vì vậy mà còn gặp không ít
những khó khăn trong mỗi giờ dạy, đa phần các em chưa có ý thức cao trong việc
học bài và soạn bài trước ở nhà. Vì thế mà về cơ bản việc giảng dạy môn Ngữ văn
hiện nay đôi khi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa phù hợp với đặc
trưng bộ môn. Bên cạnh đó cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học cho môn Văn ở
trong nhà trường còn thiếu nhiều. Giáo viên dạy học chưa đầu tư nhiều thời gian
cho việc nghiên cứu chuẩn bị bài và chưa thực sự quen với việc sử dụng đồ dùng

- 5 -
trực quan vào phương pháp đổi mới. Phần lớn trong giờ Ngữ văn chưa phát huy
được tính tích cực của học sinh. Học sinh cũng ít được làm việc độc lập và rèn
luyện kỹ năng thực hành. Từ đó dẫn đến kết quả học tập chưa cao.
Là một giáo viên có tuổi nghề còn ít, nhưng với chuyên ngành đào tạo Văn
đồng thời trong các dịp hè vừa qua tôi đã được tham gia về các lớp học chuyên đề
thay sách giáo khoa;chuyên đề chuẩn kiến thức - kĩ năng;chuyên đề đổi mới cách
ra đề kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức-kĩ năng; thực hiện giảng dạy theo
chương trình giảm tải năm 2011 từ lớp 10 đến lớp 12 (môn Ngữ văn), bản thân tôi
đã sơ bộ thâu tóm sơ lược nội dung chương trình của các khối lớp cộng với tình
hình thực tiễn như vậy. Cho nên bản thân luôn trăn trở làm thế nào để tạo được
hứng thú của học sinh với môn học, mà việc làm đầu tiên tôi nghĩ là tích cực sử
dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh) khi dạy môn văn khối 10, hướng tới việc tạo
tiền đề cho học sinh chiếm lĩnh kiến thức ở các lớp học, cấp học cao hơn.Vì môn
Ngữ văn là môn học sẽ giúp các em nhiều trong ứng xử, giao tiếp và trình bày văn
bản viết … nó góp phần không nhỏ vào sự phát triễn của xã hội, đáp ứng mục tiêu
giáo dục của thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Bộ môn Ngữ văn 10, cũng như kết quả khảo sát chất lượng môn văn ở thời
điểm đầu năm. Tôi thấy việc đọc thông, viết thạo cũng như quá trình đọc và kể tóm
tắt được văn bản trong một tiết dạy – học văn là điều khó khăn đối với các em học
sinh lớp 10, cho nên tôi chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 10 với việc “sử
dụng đồ dùng trực quan (tranh ảnh) để kể, tóm tắt truyện trong một tiết dạy- học
Ngữ văn”.
Trong chương trình đổi mới về nội dung – phương pháp đối với môn Ngữ
văn có rất nhiều vấn đề tôi muốn đề cập. Song do thời gian còn hạn chế nên tôi chỉ
giới hạn đề tài trong một phạm vi rất nhỏ, chỉ một phần nhỏ trong các bước tiến
hành của một giờ Ngữ văn 10. Đó là tích cực sử dụng đồ dùng trực quan (tranh
ảnh) cho phần kể chuyện tóm tắt trong một tiết dạy học Ngữ văn. Mặc dù đã ấp ủ
trong suy nghĩ từ lâu, song sáng kiến này vẫn còn mang tính kinh nghiệm non trẻ.
Mong các quý vị, bạn đọc tham khảo, góp ý kiến cho đề tài của tôi được phong phú
hơn.
2. Nội dung,biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
a. Biện pháp chung
Để tạo được hứng thú học tập của học sinh và nâng cao chất lượng của học
sinh cũng như đạt được ước vọng của bản thân, góp một phần nhỏ bé vào bước
chuyển biến cơ bản, đột phá về chất lượng giáo dục, giáo dưỡng theo hướng tiếp
cận với trình độ tiên tiến của xã hội và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời
thực hiện có hiệu quả việc đổi mới, bản thân tôi đã tiến hành một số những công
việc sau:
Thực hiện việc vận dụng tư tưởng tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh vào thực tiễn giảng dạy ở môn Ngữ Văn 10 – THPT, như các nhà nghiên cứu
về phương pháp dạy học đã cho rằng “giáo viên không thể rót hoặc cung cấp kiến
thức tới học sinh và học sinh cũng không thể giữ vai trò chủ động: nghe, ghi, chấp
nhận và kèm theo mẫu trong quá trình học tập”. Mà tích cực hóa hoạt động học tập

