
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
MAI BÌNH DƢƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CHỦ SỞ HỮU, RỦI RO TÍN
DỤNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 62.34.02.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Ngọc Thạch
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi nền kinh tế, góp
phần thu hút vốn và cung ứng các khoản tín dụng. Hoạt động kinh doanh của
NHTM phải luôn đảm bảo tính ổn định, an toàn và sinh lợi. Cùng với thị trường
vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân
hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với hoạt động đứng ra huy động các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế (vốn
tạm thời nhàn rỗi được giải phóng từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của
dân cư…) thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thương mại đã cung cấp vốn
cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt
động của hệ thống ngân hàng thương mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các
doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hoạt động kinh doanh của mình, góp phần
nâng cao hiệu quả của cả nền kinh tế. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định chủ thể
chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính là ngân hàng
thương mại. Ngoài ra, NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của ngân hàng thương
mại nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng
thương mại trong hệ thống, các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng hay
thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng
cho nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dắt dẫn các luồng tiền, tập
hợp, phân chia vốn của thị trường điều khiển chúng một cách có hiệu quả. Vì vậy,
ổn định hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong đối với hệ thống tài chính
Việt Nam.
Kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008- 2009, đã có nhiều
chuyên gia quan tâm nghiên cứu bất ổn tài chính có thể dẫn đến nguy cơ phá sản
trên nhiều lĩnh vực như Altman (1968), Altman & ctg (1977), Zavgren (1985).
Riêng trong lĩnh vực ngân hàng có các nghiên cứu của Boyd & Graham (1986),

De Nicolo (2000), Hesse & Cihak (2007), Soedarmono & ctg (2011), Rahman &
ctg (2012), Fu & ctg (2014), Chiaramonte & ctg (2015), Strobel (2015). Các
nghiên cứu này tìm thấy tác động của nhiều yếu tố đến sự ổn định tài chính của
các NHTM. Tuy nhiên, một vấn đề đang được tranh luận là tác động của vốn chủ
sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của các NHTM. Về mặt lý
thuyết, vốn chủ sở hữu đóng vai trò quan trọng đối với một ngân hàng. Vốn chủ sở
hữu không chỉ tài trợ cho các khoản đầu tư của ngân hàng mà còn giúp các ngân
hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, gia tăng năng lực canh tranh và đảm
bảo uy tín của ngân hàng. Bên cạnh đó, lý thuyết cũng cho thấy rủi ro tín dụng xảy
ra sẽ ảnh hưởng ngay đến thu nhập của các NHTM. Từ đó, ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của các NHTM, tạo nên sự bất ổn định.
Một số nghiên cứu của Furlong và Keeley (1989), Keeley (1990), Van và
Roy (2003), Jacob Oduor và cộng sự (2017) cho thấy rằng vốn chủ sở hữu giúp
giảm thiểu rủi ro và gia tăng sự ổn định tài chính của các ngân hàng. Mặt khác, các
nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rủi ro tín dụng mà các ngân hàng gặp phải
với các khoản vay đã dẫn đến tình trạng mất thanh khoản của ngân hàng và đẩy
ngân hàng đến tình trạng phá sản. Kết quả này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu
gần đây của Björn Imbierowicz và Christian Rauch (2013).
Tại Việt Nam, kể từ sau khủng hoảng 2008 - 2009, hệ thống ngân hàng
Việt Nam đang dần hồi phục nhờ những nỗ lực tích cực trong xử lý nợ xấu của
từng ngân hàng nói riêng và Chính phủ nói chung. Nhìn lại những bất ổn của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua có thể thấy vốn chủ sở hữu và rủi
ro tín dụng đóng một vai trò quan trọng. Do đó, có thể nói trong bối cảnh Việt
Nam hiện nay việc xem xét tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đến sự ổn
định tài chính của các ngân hàng là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng
vừa qua. Bởi vì, việc xác định mức độ và chiều hướng tác động của vốn chủ sở
hữu, rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng sẽ giúp cho việc
xây dựng các chính sách quản trị ngân hàng phù hợp và bền vững.

Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” là cần
thiết.
1.2. Khe hở nghiên cứu
Dựa trên kết quả quá trình khảo sát các nghiên cứu thực nghiệm sẽ được
trình bày phía sau, nghiên cứu kỳ vọng có thể lấp đầy một số khoảng trống nghiên
cứu sau:
Thứ nhất, dựa trên cơ sở nghiên cứu trước cho thấy các nghiên cứu đã rất
quan tâm tới vấn đề tác động của cả vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn
định tài chính của các NHTM. Tuy nhiên các nghiên cứu đi theo hai hướng khác
nhau: hướng thứ nhất nghiên cứu về tác động của vốn chủ sở hữu đến sự ổn định
tài chính của các NHTM như: của Jacob Oduor và cộng sự (2017), Aggrawal và
Jacques (2001); Rime (2001); Godlewski (2004); Hakenes và Schnabel (2010);
Abba và cộng sự (2013); Vũ Thị Hồng (2015); Lê Thanh Ngọc và cộng sự
(2015)...hướng thứ hai nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài
chính của các NHTM Björn Imbierowicz và Christian Rauch (2013); Beck & ctg
(2009); Consuelo Silva Buston (2012). Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước
nhằm đo lường mức độ tác động của cả vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự
ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam còn rất hạn chế.
Thứ hai, các lý thuyết nghiên cứu về tác động của vốn chủ sở hữu tới đến
sự ổn định tài chính của ngân hang cho thấy nhiều mâu thuẫn. Hướng thứ nhất, lý
thuyết chỉ ra gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ làm giảm lợi nhuận từ đó giảm sự ổn định
tài chính của ngân hàng. Quan điểm này bắt nguồn từ các tranh luận xung quanh
lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958). Modigliani và Miller
(1958) cho rằng cấu trúc vốn không có ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp.
Hướng thứ hai, vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ giúp các ngân hàng có những lựa chọn
tốt hơn trong hoạt động kinh doanh đồng thời kiểm soát tốt hơn hoạt động tín dụng
từ đó gia tăng sự ổn định tài chính của ngân hàng (Jensen và Meckling, 1976). Các
lý thuyết này cho thấy, các chiều hướng tác động của vốn chủ sở hữu đến sự ổn

định tài chính của ngân hàng theo từng giai đoạn thời gian, và có khả năng tồn tại
tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt
Nam là tác động phi tuyến và có hình chữ U ngược. Điều này ngụ ý rằng việc gia
tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu có thể giúp làm gia tăng sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam nhưng chỉ đến một mức tỷ lệ nhất định nào đó. Nếu tỷ lệ vốn
chủ sở vượt qua mức này thì việc gia tăng vốn chủ sở hữu lại có thể làm giảm sự
ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam do hiệu quả hoạt động kinh doanh
giảm sút. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tại điểm đảo chiều sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam chính là tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối ưu, mà tại mức tỷ lệ này sự ổn
định tài chính của các NHTM Việt Nam là cao nhất. Cần một nghiên cứu chứng
minh tồn tại tác động phi tuyến này và tìm ra ngưỡng vốn chủ sở hữu tối ưu giúp
làm tăng sự ổn định tài chính của NHTM Việt Nam.
Thứ ba, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra vào những
năm 2008 và 2009 đã làm kinh tế các quốc gia đang bị suy giảm mạnh. Tại Việt
Nam, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng đã và đang ảnh hưởng không nhỏ:
trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư nước ngoài có khả năng thu hồi vốn
và bán chứng khoán ra. Do đó, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến dự trữ ngoại hối và giá
cả trên thị trường chứng khoán. Xuất khẩu sẽ suy giảm, điều này vừa ảnh hưởng
đến cán cân thanh toán quốc tế, thâm hụt thương mại; vừa làm tăng lao động mất
việc, tác động tiêu cực đến thị trường sức lao động; thị trường bất động sản sẽ có
xu hướng đình trệ và sự đình trệ của thị trường này sẽ tác động tiêu cực đến các thị
trường khác. Một số ngân hàng mất khả năng thanh khoản, rút lại tín dụng dẫn đến
các doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường vốn; lãi suất tăng, tăng chi phí vốn, vì
vậy ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh (Đinh Sơn Hùng, 2010). Các nghiên cứu
thực nghiệm của Consuelo Silva Buston (2012); Jacob Oduor và cộng sự (2017)
cho thấy dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đã làm thay đổi tác động của tỷ
lệ vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng. Tuy
nhiên các nghiên cứu trong nước, chưa có nghiên cứu nào so sánh sự thay đổi của
tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của

