for every child

VIET NAM

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH (Dành cho cán bộ cấp xã)

VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Hà Nội, 2017

2

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

MỤC LỤC

BÀI 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ ............................................... 4

I. Những vấn đề chung về dân tộc và dân tộc thiểu số ................................................................ 4

II. Sự phân bố các nhóm dân tộc ở Việt Nam ..................................................................................... 5

III. Một số chính sách của nhà nước đối với nhóm dân tộc thiểu số ........................................... 9

IV. Một số vấn đề khó khăn cơ bản của nhóm dân tộc thiểu số .................................................14

Bài 2: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI Ở NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ ...... 16

I. Thực trạng nghèo đói ở các vùng dân tộc thiểu số ...................................................................16

II. Công tác xã hội với vấn đề giảm nghèo của các dân tộc thiểu số .......................................21

III. Một số công cụ khi hỗ trợ giải quyết vấn đề nghèo của nhóm dân tộc thiểu số ..........22

Bài 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VĂN HÓA,

LỐI SỐNG ĐỐI VỚI NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ .................................................. 28

I. Những đặc điểm văn hóa đặc trưng của dân tộc thiểu số ......................................................28

II. Ảnh hưởng của các hành vi văn hóa chưa phù hợp với cộng đồng dân tộc thiểu số ...... 30

III. Công tác xã hội với bảo tồn và phát huy văn hóa lành mạnh ở

cộng đồng dân tộc thiểu số ...............................................................................................................33

Bài 4: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ ......................................... 38

I. Một số vấn đề về chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường ................................................38

II. Công tác xã hội với việc giải quyết vấn đề sức khỏe và vệ sinh môi trường ở cộng đồng dân tộc ít người .....................................................................40

Bài 5: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ .... 46

I. Những vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đối với nhóm dân tộc thiểu số ....46

II. Nguyên nhân ..........................................................................................................................................47

III. Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ giải quyết các vấn đề

về giáo dục của cộng đồng dân tộc thiểu số ..............................................................................49

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 52

3

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ

I. NHữNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN TỘC VÀ DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Khái niệm về dân tộc

Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về dân tộc và dân tộc thiểu số được G giới thiệu trong nhiều giáo trình chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu, … đặc biệt là những tài liệu liên quan đến vấn đề dân tộc và các nhóm dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay. Trong khuôn khổ tài liệu này chúng tôi trình bày khái niệm mang tính đặc trưng và được phổ biến rộng rãi.

Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa: “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau…”.

1.2. Khái niệm về dân tộc thiểu số

Từ điển Bách Khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa dân tộc thiểu số như sau:. “Dân tộc còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người… cộng đồng này có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và nhất là ý thức tự giác tộc người”.

4

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra một số định nghĩa liên quan đến dân tộc thiểu số như sau:

- Dân tộc thiểu số “là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Dân tộc đa số là “dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước”.

- Dân tộc thiểu số rất ít người “là dân tộc có dân số dưới 10.000 người”

- Vùng dân tộc thiểu số “là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” 1.

Khái quát những nội dung trên có thể nói, dân tộc là một khái niệm có thể hiểu theo hai nghĩa chính: Dân tộc hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc dân tộc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Sự liên kết cộng đồng dân tộc được tạo lên từ yếu tố có chung ngôn ngữ, văn hóa, lãnh thổ và biểu hiện thành ý thức tự giác tộc người.

II. SỰ pHÂN BỐ CÁC NHÓM DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Vùng DTTS và miền núi gồm 5.259 xã, ở 457 huyện, thuộc 52 tỉnh, thành phố, với gần 14 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước, đồng bào lại sinh sống chủ yếu ở những nơi khó khăn nhất (trên 8 triệu người DTTS sống ở vùng biên giới). Mặc dù dân số chỉ chiếm khoảng 1/6 nhưng địa bàn sinh sống lại chiếm 2/3 diện tích cả nước, trong điều kiện địa hình bị chia cắt, giao thông cách trở (Uỷ ban Dân tộc, 2016). Sự phân bố các nhóm dân tộc và dân tộc thiểu số được phân thành các vùng miền như sau:

2.1 Các tỉnh miền núi phía Bắc

Các tỉnh miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống của khoảng 30 tộc người thiểu số thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau: Việt - Mường (người Mường), Thái - Ka-Đai (Tày, Nùng, Thái, Giáy, Bố Y, Lào, Lự, La Ha, La Chí, Sán Chay, Cờ Lao, Pu Péo), Tạng - Miến (Lô Lô, La Hủ, Phù Lá, Hà Nhì, Cống, Si La), Hmông - Dao (Hmông, Dao, Pà Thẻn), Môn - Khmer (Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú, Mảng) và Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu).

Một số tộc người ở khu vực này còn được chia thành các nhóm địa phương hoặc nhóm dân tộc học: Tộc người Thái có các nhóm Thái Đen, Thái Trắng; người Tày có nhóm Pa Dí, Thu Lao, Tày Bốc (Tày Cạn) và Tày Nặm (Tày Nước); người Nùng có các nhóm như Nùng Dín, Nùng Lòi, Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Cháo; người Hmông có các nhóm chính là Hmông Hoa, Hmông Đen, Hmông Trắng, Hmông Xanh; người Hà Nhì có các nhóm Cồ Chồ, Lạ Mí và Hà Nhì Đen; người Phù Lá được chia thành 2 nhóm Pu La và Xá Phó; người La Hủ có các nhóm La Hủ Na (Đen) và La Hủ Sư (Vàng); Sán Chay có 2 nhóm là Cao Lan và Sán Chí, v.v...

1 Nghị định số 5/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Về Công tác dân tộc

Một đặc điểm dễ nhận thấy là phần lớn các tộc người thiểu số ở miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ địa lý riêng biệt, tình trạng xen cư/cộng cư là phổ biến. Tại nhiều huyện, không chỉ có hiện tượng xen cư/cộng cư trong phạm vi huyện/xã mà thậm chí cả ở cấp thôn bản. Trước đây,

5

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

quá trình xen cư/cộng cư chỉ thấy ở các dân tộc thiểu số với nhau, sau ngày hòa bình lập lại (1954), nhiều nhóm người Kinh ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng đi khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới đã xen cư/cộng cư với các dân tộc thiểu số tại chỗ, tạo nên những bức tranh đa sắc màu. Tình trạng xen cư/cộng cư đã góp phần đẩy nhanh quá trình giao lưu giữa các cộng đồng tộc người. Đồng thời, việc trao đổi hôn nhân giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa người dân tộc thiểu số với người Kinh ngày càng nhiều hơn khiến cho cấu trúc dân số-tộc người ở nhiều nơi bị biến dạng đáng kể.

Trong xã hội truyền thống của đa số các tộc người miền núi phía Bắc, giữa các làng bản chỉ có quan hệ liên làng - quan hệ đồng đẳng giữa các đơn vị xã hội đồng cấp. Tuy nhiên, ở các dân tộc Thái, Tày và Mường, ngoài quan hệ liên làng, còn có các mô hình chính trị - xã hội lớn hơn, ví dụ như mô hình “mường” ở người Thái và người Mường hoặc chế độ “quằng” ở người Tày.

Đó là mối quan hệ siêu làng, là những hình thức sơ khai của nhà nước. Mỗi “mường” hay “quằng” được hình thành trên cơ sở của một vài chục làng bản, nhưng đều có phạm vi lãnh thổ và hệ thống luật tục riêng. Đứng đầu “mường” và “quằng” là các chúa đất thế tập (nối nhau được phong chức vị) và đồng thời cũng là ‘chủ linh hồn’ của toàn vùng lãnh thổ.

Thành phần cư dân trong các tổ chức siêu làng của người Mường khá thuần nhất; nhưng các “mường” của người Thái hay “quằng” của người Tày thường có thêm nhiều làng bản của một số tộc người thiểu số khác. Quan hệ làng, liên làng và siêu làng tạo nên môi trường dung dưỡng ý thức tự giác, lưu giữ và phát triển văn hóa tộc người. Trong cả hệ thống chính trị xã hội làng, liên làng và siêu làng, người già và những người hành nghề tôn giáo - những người có nhiều kiến thức về luật tục và tri thức địa phương về các mặt văn hóa, xã hội và đời sống kinh tế của cộng đồng - có vai trò quan trọng đặc biệt.

Mặc dù các tộc người ở miền núi phía Bắc đều không có lãnh thổ riêng, nhưng mỗi làng bản truyền thống đều có một phạm vi cư trú được xác định - bao gồm đất ở, đất canh tác, các loại rừng/đất rừng và các nguồn nước. Chế độ sở hữu trong khuôn khổ làng bản là sự thống nhất của 2 mặt đối lập: Sở hữu cộng đồng đối với các nguồn lực tự nhiên và sở hữu tư nhân đối với thành quả lao động của mỗi gia đình. Luật tục của mọi tộc người đều quy định:

Quyền sở hữu đối với các nguồn lực tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ mỗi thôn làng bản luôn thuộc về tập thể cộng đồng. Để bảo vệ quyền sở hữu ấy, đã có những “thoả ước” trong phạm vi cộng đồng và kết quả của nó chính là các bộ luật tục và thông lệ xã hội được duy trì từ nhiều đời. Việc đảm bảo các quyền của mỗi thành viên trong công xã luôn được coi là một trong những tiêu chí đạo đức và chuẩn mực ứng xử xã hội. Để luật tục hay các thông lệ được duy trì và có hiệu lực cần thiết, các thiết chế tự quản được hình thành.

Hoạt động của các thành viên trong thiết chế tự quản xưa không chỉ chịu sự giám sát của cộng đồng mà còn bị ràng buộc bởi nỗi ám ảnh về sự giám sát của thần linh, các thế lực siêu nhiên và mặc cảm đạo đức gắn với lòng tự trọng. Chính vì thế, mặc dù hoạt động phi lợi nhuận, nhưng các thành viên trong bộ máy tự quản làng bản xưa đều có ý thức trách nhiệm cao. Đối với mỗi người dân, ý thức về sự tuân thủ chặt chẽ luật tục và các thông lệ đã trở thành nếp sống tự giác. Trái với điều đó, người ta có thể bị cộng đồng ruồng bỏ và đó cũng là nỗi ám ảnh thường xuyên đối với mỗi người.

6

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.2 Các tỉnh thuộc Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng lãnh thổ nằm ở phía tây của Nam Trung Bộ, phía bắc giáp với miền núi tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp với miền núi các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, phía Tây giáp với Lào, Campuchia và phía nam giáp với các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Ninh Thuận. Các nhóm dân tộc ở Tây Nguyên bao gồm cả người Kinh và các dân tộc khác như: Êđê, M’nông, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, K’ho, Mạ, Churu, Thái, Tày, Nùng, v.v... Hầu hết các nhóm dân tộc được coi là các cư dân bản địa của Tây Nguyên và họ hiện đang duy trì một số nền văn hóa riêng của họ, sự khác biệt và truyền thống đã có từ hàng ngàn năm từ thời tiền sử.

Bộ phận dân tộc thiểu số lại chia thành hai bộ phận là dân tộc thiểu số mới đến với hơn 30 dân tộc và dân tộc thiểu số tại chỗ với hơn 10 dân tộc. Đáng chú ý trong đó là bộ phận các dân tộc thiểu số tại chỗ, gồm 4 ngôn ngữ Nam Đảo: Gia Rai; Ê Đê; Chu Ru; Ra Glai và 9 dân tộc nói ngôn ngữ Môn – Khơmer: Ba Na; Xơ Đăng; Giẻ Triêng; Brâu; Rơ Măm; Hơrê; Mạ; M’nông; Cơ Ho.

Những dân tộc này sống xen kẽ với các dân tộc mới đến và người Kinh để tạo nên một khối đoàn kết với những nét văn hoá đặc sắc Tây Nguyên truyền thống: Văn hoá Cồng chiêng; các lễ hội truyền thống cùng với sự đa dạng của các công trình kiến trúc đáng kinh ngạc, từ nhà “Rông” của các dân tộc thiểu số, các chùa, đền thờ được thiết kế theo phong cách phương đông.

2.3 Các tỉnh thuộc Tây Nam Bộ

Tây Nam Bộ còn được gọi là Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau.

Ở Tây Nam Bộ có nhiều đồng bào dân tộc cùng sinh sống với nhau: Người Kinh; Khmer; Hoa; Chăm; Nùng; Mường; Tày; Thái; Ấn Độ;… Chiếm tỷ lệ đông đảo nhất là người Kinh, sau đó đến các dân tộc khác: Người Khmer; người Chăm; người Hoa. Trong khuôn khổ tài liệu này chúng tôi tập trung giới thiệu về người Khmer; người Chăm và người Hoa ở Tây Nam Bộ. Đây là các nhóm dân tộc thiểu số chiếm phần đông và đại diện đặc trưng cho vùng này.

Người Khmer đến định cư sớm nhất ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Họ vốn là những người nông dân Khmer nghèo khổ đến đây làm ăn sinh sống để tránh sự áp bức, bóc lột của chế độ Ăng Co. Nhưng về sau, do nội chiến và sự giết chóc của quân Xiêm, những người di cư Khmer đến vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ngày càng đông hơn. Nét nổi bật văn hoá của người Khmer chính là chùa Khmer, đây là điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội của đồng bào.

Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục), do sư cả đứng đầu. Thanh niên Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, tạo nên bản sắc dân tộc của mình trên một nền tảng văn hoá chung, một lịch sử chung của tất cả các dân tộc Việt Nam thống nhất. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.

Người Chăm ở Tây Nam Bộ là một bộ phận của cộng đồng người Chăm từ miền Trung Bộ đến sinh sống. Vào thế kỷ XIV – XV, một bộ phận người Chăm ở Ninh Thuận di cư đi nhiều nơi, sau đó về tụ cư thành từng làng (Palay) dọc theo sông Hậu, trên các cù lao thuộc các huyện Phú Châu, Phú Tân,

7

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Châu Phú, tỉnh An Giang vào nửa đầu thế kỷ XIX. Về tôn giáo, nhóm cộng đồng Chăm cùng theo đạo Hồi (Islam), một tôn giáo du nhập từ bên ngoài vào Nam Bộ.

Đa số người Chăm sống ở An Giang, nhóm sống ở Tân Châu (An Giang) và nhóm sống ở Tây Ninh đều cư trú giáp biên giới. Trung tâm văn hoá của cộng đồng người Chăm là các thánh đường, nơi sinh hoạt tín ngưỡng Islam của cộng đồng. Ở Nam Bộ, số người Chăm tuy không đông, nhưng sự hiện diện của những Masjid (tiểu thánh đường) với lối kiến trúc đặc trưng, bề thế, uy nghi đã thể hiện tiềm lực tinh thần tín ngưỡng của cộng đồng người Chăm.

Ngược lại với dân tộc Khmer sống tương đối cách biệt với dân tộc khác, người Hoa sống rất hoà đồng với các dân tộc khác nhằm mục đích làm ăn, mua bán. Người Hoa rất có ý thức và năng lực kinh doanh, thương mại, chịu khó, chí thú, có bí quyết làm ăn, ít quan tâm đến chính trị. Họ ít tham gia các hoạt động của cộng đồng chung, song tính cộng đồng trong nội bộ người Hoa lại rất cao.

Các hội tương trợ của các dòng họ người Hoa liên kết lại thành các tổ chức chặt chẽ, có quy mô lớn và hoạt động rất hiệu quả. Về tôn giáo, ngoài tín ngưỡng thờ các vị thần khác nhau, người Hoa còn theo đạo Phật. Bên cạnh những nét đặc sắc trong phong tục tập quán, thể hiện qua thờ tự, qua nghi thức hành lễ, tín đồ người Hoa cũng lập Hội Phật học lấy tên là Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm Phật học hội. Tổ chức này có mặt tại nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp… Đây là hình thức tương trợ trong cộng đồng người Hoa, giúp cầu cúng, viếng thăm những gia đình Hoa có tang lễ hay gặp khó khăn trong cuộc sống.

2.4 Các tỉnh Duyên hải miền Trung

Vùng duyên hải miền Trung gồm Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng. Người dân bản địa sinh sống ở vùng đồi núi này là các tộc người thiểu số như Katu, Cor, Cadong, Ra Glai, Xêđăng, Giẻ - Triêng, Hrê, Bana, Chăm,… đồng bào dân tộc ở đây hoàn toàn quen thuộc và gắn bó với núi rừng. Họ biết cách chinh phục tự nhiên, khai thác những vùng đất bằng hoặc đất thung lũng phục vụ việc canh tác lúa nước, canh tác nương rẫy trồng lúa khô và các loại hoa màu khác. Đồng thời, họ sống cùng rừng nên biết cách trồng rừng, bảo vệ rừng và khai thác tài nguyên rừng, trong đó có những sản phẩm quý như trầm hương, những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như quế…

Một đặc trưng lớn nhất và cơ bản trong đời sống của người dân miền núi nơi đây là nếp sống nương rẫy. Đây là nếp sống chủ đạo và bao trùm lên tất cả các tộc người trong vùng. Về kinh tế, đó là truyền thống canh tác nương rẫy trên vùng đất khô của sơn nguyên. Về xã hội, nếp sống nương rẫy duy trì các quan hệ cộng đồng công xã làng buôn, các quan hệ bình đẳng, dân chủ của xã hội nguyên thủy,... Có thể nói, toàn bộ đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của dân tộc miền núi duyên hải miền Trung gắn bó với rừng núi và nương rẫy, từ tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, nghi lễ, đời sống tình cảm… Đó có thể được gọi chung là văn hóa rừng.

Có thể nói, các tộc người cùng sinh sống trên vùng núi duyên hải miền Trung có những nét tương đồng và khá đặc trưng về quan niệm ứng xử giữa thế giới người sống và người chết, từ đó tạo nên cả một hệ thống những tập tục, nghi lễ, sinh hoạt văn hóa xung quanh thế giới người chết, tạo nên một hiện tượng văn hóa dân gian mang tính tổng thể - sinh hoạt nhà mồ. Từ đó, họ sáng tạo ra nghệ thuật trang trí nhà mồ, tượng nhà mồ, các nhạc cụ, bài hát, điệu múa dành riêng cho sinh hoạt lễ hội nhà mồ.

8

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

III. MỘT SỐ CHíNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ

Việt Nam có 54 dân tộc anh em với hàng chục ngôn ngữ, khoảng 12 tôn giáo, trong đó có các tôn giáo lớn của thế giới: Đạo Phật, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Tin Lành, Hòa Hảo, đạo Hồi,…. Cùng với truyền thống yêu chuộng hòa bình của người dân, trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước không xảy ra xung đột sắc tộc hoặc tôn giáo. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng quyền của các nhóm thiểu số, cũng như việc tăng cường khối đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc. Cụ thể như: tại Điều 5, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nêu rõ:

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.” .

Đó chính là sự bình đẳng về mọi mặt trong việc thực hiện quyền phát triển của mỗi dân tộc như xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất hàng hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào DTTS…”.

Thực hiện Đường lối của Đảng, Chính sách của Nhà nước, nhiều Chương trình mục tiêu quốc gia lớn, dành ưu tiên cho vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được triển khai và đã đem lại thành quả to lớn. Chương trình 134 hỗ trợ đất sản xuất, nhà ở;

Chương trình 135 phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn, giúp đỡ đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa; Nghị quyết 30a thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững cho 62 huyện nghèo trong toàn quốc, chủ yếu vẫn thuộc vùng đồng bào các dân tộc thiểu số là những ví dụ. Chỉ tính riêng Chương trình 135, sau 12 năm thực hiện (1999 - 2010), chương trình đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn miền núi, nhất là cơ sở hạ tầng thiết yếu.

Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, thực hiện Chương trình này giai đoạn 2 (2006-2010), được triển khai tại 1.848 xã thuộc 50 tỉnh, ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu đô-la. Từ nguồn vốn trên, Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm; hỗ trợ phát triển sản xuất cho 2,2 triệu hộ; đào tạo tập huấn nâng cao năng lực cho trên 460.000 cán bộ xã, thôn bản và hỗ trợ kinh phí cho gần 930.000 lượt học sinh con em các hộ nghèo... giảm tỷ lệ nghèo các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn từ 47,5% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010. Tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm từ 35% năm 2011 còn 16,8% năm 2015. Kết thúc giai đoạn 2011-2015, có 80 xã ĐBKK (ở 23 tỉnh) và 366 thôn, bản ĐBKK (của 30 tỉnh) hoàn thành mục tiêu của Chương trình 135.

9

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ngày 14/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc. Nghị định này quy định các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra, còn có nhiều văn bản pháp quy và chính sách ưu tiên, hỗ trợ đối với các dân tộc thiểu số, ví dụ: Nghị định 39/2015/NĐ-CP quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số; Nghị định 75/2015/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020;

Nghị quyết 52/NQ-CP năm 2016 đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 do Chính phủ ban hành; Nghị quyết 539/NQ-UBTVQH13 năm 2012 kết quả giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành; Chỉ thị 194/CT-BVHTTDL năm 2011 về tổ chức thực hiện Đề án “Bảo tồn và phát triển văn hoá dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành;

Chỉ thị 1497/CT-BNN-PC năm 2013 tăng cường triển khai thực hiện Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2013-2016 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, v.v. Bên cạnh đó Uỷ ban Dân tộc trong năm 2016 đã ban hành nhiều chính sách như Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2016-2020; Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội các DTTS rất ít người giai đoạn 2016-2025; Chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn ĐBKK; Chính sách bảo vệ phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo bền vững và hỗ trợ đồng bào DTTS giai đoạn 2016-2020, v.v.

Những chính sách cụ thể cho đồng bào dân tộc thiểu số có thể được tóm tắt như sau:

3.1. Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực

Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực tập trung vào dầu tư kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc với các vùng khác. Bên cạnh đó, việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý nguồn lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ, có chế độ đãi ngộ hợp lý cũng được quan tâm trong các nội dung chính sách.

3.2. Chính sách đầu tư phát triển bền vững

Chính sách đầu tư phát triển bền vững nhằm đảm bảo việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiết yếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc.

Chính sách này cũng quan tân đến: i) tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; ii)

10

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng khác; iii) Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường.

Nội dung này cũng liên quan đến việc quy định các chủ đầu tư các dự án quy hoạch, xây dựng có ảnh hưởng tới đất đai, môi trường, sinh thái và cuộc sống của đồng bào các dân tộc, phải công bố công khai và lấy ý kiến của nhân dân nơi có công trình, dự án được quy hoạch, xây dựng; tổ chức tái định cư, tạo điều kiện để người dân đến nơi định cư mới có cuộc sống ổn định tốt hơn nơi ở cũ.

Thực hiện các chương trình, đề án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giải quyết cơ bản vấn đề vốn, đất ở, đất sản xuất, công cụ sản xuất cho nông dân thiếu đất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ phát triển kinh tế, giao đất, giao rừng cho hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững.

Chính sách đề cấp đến công tác tổ chức phòng, chống thiên tai và ứng cứu người dân ở vùng bị thiên tai, lũ lụt.

Cuối cùng là có chính sách hỗ trợ kịp thời những dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt để ổn định và phát triển.

3.3. Về chính sách phát triển giáo dục và đào tạo

Các chính sách về phát triển giáo dục và đào tạo tập trung vào những nội dung chính sau:

- Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc.

- Phát triển hột thống các trường đào tạo từ cấp mần non đến cấp phổ thông dân tộc nội trú, bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

- Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số như vay vốn để họ tập, học nghề, chỗ ở, đặc biệt là cho học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học.

- Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế. Bên cạnh đó còn có chính sách hỗ trợ giáo viên ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc.

- Đưa vào chương trình giảng dạy trong hệ thống các trường, trung tâm giáo dục thường xuyên, học tập cộng đồng, các trường đào tạo nghề và đào tạo chuyên nghiệp tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc.

- Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vào Đại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp.

11

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

3.4. Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

Chính sách xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số tập trung vào việc bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó việc đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.

3.5. Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số

Chính sách này liên quan đến quy định hưởng chế độ đãi ngộ và ưu đãi khác đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số được bồi dưỡng, tập huấn, để phát huy vai trò trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.

3.6. Chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá

Chính sách bảo tồn và phát triển văn hoá đề cập đến những nội dung công việc sau:

- Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

- Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hoá truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.

- Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng.

- Đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hoá - thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

3.7. Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số

Bảo tồn và phát triển các môn thể dục, thể thao truyền thống của các dân tộc. Đầu tư xây dựng và hỗ trợ các hoạt động thể dục, thể thao, xây dựng sân vận động, nhà thi đấu, trung tâm tập luyện thể dục thể thao ở vùng dân tộc thiểu số.

12

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

3.8. Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số

Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái. Bên cạnh đó chính sách sẽ hỗ trợ quảng bá, đa dạng hoá các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch.

3.9. Chính sách y tế, dân số

Những chính sách về y tế và dân số bao gồm:

- Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm

- Xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

- Hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.

- Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật.

- Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hoá y tế, thực hiện chính sách ưu tiên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động đầu tư, phát triển y tế ở vùng dân tộc thiểu số.

3.10. Chính sách thông tin - truyền thông

Chính sách thông tin và truyền thông tập trung vào những lĩnh vực sau:

- Đầu tư phát triển thông tin - truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cung cấp một số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ thông tin.

- Xây dựng, củng cố hệ thống thông tin tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia về dân tộc; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thiên tai, lũ lụt ở vùng dân tộc thiểu số.

- Áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc.

- Tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

3.11. Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý

Chính sách này tập trung vào những nội dung chính sau:

- Cung cấp các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

13

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Chính quyền các cấp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý phù hợp với từng đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số.

- Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, đa dạng hoá các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số.

3.12. Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái

Nội dung chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái gồm:

- Sử dụng, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sinh thái vùng dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.

- Bảo vệ, cải tạo và đảm bảo cho vùng có tài nguyên được đầu tư trở lại phù hợp.

- Tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào ở vùng có tài nguyên để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học.

3.13. Chính sách quốc phòng, an ninh

Chính sách quốc phòng được xác định bao gồm:

- Xây dựng, củng cố, quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị và giữ vững trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.

- Cơ quan nhà nước, đồng bào các dân tộc ở vùng biên giới và hải đảo có trách nhiệm cùng các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương bảo vệ đường biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước láng giềng ở vùng biên giới và hải đảo theo quy định của pháp luật.

Những chính sách cụ thể dành cho các dân tộc thiểu số còn được quy định chi tiết ở Hiến pháp 2013, một số Nghị định, Nghị quyết và hàng loạt các Chỉ thị, Quyết định, Thông tư hướng dẫn của các cơ quan nhà nước. Khi làm việc với từng nhóm dân tộc thiểu số cụ thể và về từng lĩnh vực cụ thể, cán bộ cơ sở cần thiết phải tra cứu và tìm hiểu thêm các quy định chi tiết liên quan.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN CƠ BẢN CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ

4.1. Nghèo đói

Nghèo đói là vấn đề đã tồn tại lâu dài trong đồng bào các dân tộc miền núi. Mặc dù hiện nay các chính sách của Đảng và Nhà nước luôn có sự quan tâm đặc biệt đối với họ (các chính sách bảo hiểm, đất đai, nhà cửa và các điều kiện sinh hoạt, đáp ứng các nhu cầu phát triển của họ; nhu cầu thiết yếu của cuộc sống bao gồn ăn ở, mặc, đi lại và những nhu cầu cần thiết như; chăm sóc y tế, giáo dục, văn hóa, giao tiếp...), nhưng cái nghèo vẫn dai dẳng và luẩn quẩn. Đây thực sự là một rào cản lớn trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội phát triển trong xu thế mà nhu cầu chung của con người càng được nâng cao, và đặc biệt đây cũng chính là một rào cản lớn cho công cuộc xóa đói giảm nghèo chung của quốc gia.

14

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

4.2. Văn hóa, lối sống

Văn hóa và lối sống của nhóm người dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng ở những nét văn hóa truyền thống đặc sắc cần được phát huy và bảo tồn, ví dụ như không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên: Ê Đê, Cơ Ho, Gia Rai, Ba Na; Xơ Đăng; Giẻ Triêng; hát Then của người Tày,…

Bên cạnh đó thì vẫn còn nhiều dân tộc thiểu số có nhiều hủ tục, lối sống lạc hậu, mê tín dị đoan cần được xóa bỏ. Đây thực sự là một vấn đề nan giải bởi không thể xóa bỏ ngay được mà cần phải có thời gian và quá trình nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và thói quen chưa phù hợp.

4.3. Sức khỏe và vệ sinh môi trường

Các nhóm dân tộc thiểu số ở nước ta tập trung chủ yếu ở những vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng biên giới hải đảo và phần lớn lại là các đối tượng nghèo đang sống trong điều kiện tự nhiên, xã hội khó khăn cho nên vấn đề nâng cao sức khỏe, bảo vệ sức khỏe cho người dân cũng như bảo vệ môi trường sống gặp rất nhiều khó khăn và thử thách, đây thực sự là một thách thức lớn đối với các cấp quản lý. Phần này cần nhấn mạnh đến nhận thức của người dân.

4.4 Vấn đề giáo dục

Vấn đề giáo dục đối với các nhóm dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn nan giải và nhiều thách thức. Thách thức này trở thành một rào cản vô cùng lớn trong việc thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa mù chữ,phổ cập giáo dục trong cả nước và nâng cao đời sống của bà con dân tộc. Có rất nhiều trẻ em ở các nhóm dân tộc thiểu số phải bỏ học hoặc ngừng học giữa chừng khi đang ở độ tuổi đến trường; tỷ lệ mù chứ và trái mũ chữ ở các nhóm dân tộc thiểu số cũng rất lớn. Điều này cho thấy việc tiến tới xóa mù chữ và phát triển một nền giáo dục có chất lượng, bền vững cho vùng dân tộc thiểu số đang là một bài toán khó, cần phải có sự tham gia mạnh mẽ và quyết liệt của nhiều thành phần nhất là những người làm công tác quản lý.

15

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI Ở NHÓM

DÂN TỘC THIỂU SỐ2

I. THỰC TRạNG NGHÈO ĐÓI Ở CÁC VùNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Tỷ lệ nghèo đói

Nhiều năm qua, nhất là từ năm 1989 đến nay, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển nhưng do cơ sở hạ tầng lạc hậu, địa hình bị chia cắt phức tạp, trình độ dân trí còn hạn chế nên mặc dù đã có nhiều tiến bộ so với thập niên 80 trở về trước, nhưng kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung vẫn còn thấp kém hơn so với bình quân chung của cả nước và một số khu vực khác. Nghèo đói vẫn là một thách thức lớn và là một mục tiêu mà Việt Nam phải giải quyết trong nhiều năm tới vì kết quả xóa đói giảm nghèo chưa đồng đều. Điều tra năm 2011 cho thấy một số vùng, khu vực, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ nghèo khá cao, hoặc rất cao như Hòa Bình, Điện Biên, Kon Tum với hơn 50%; Sơn La, Lai châu, Quảng Bình trên dưới 40%. Ở nhiều huyện, xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng miền núi có các đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như vùng núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên, tỷ lệ hộ nghèo có thể chiếm đến 60 – 70%.

Kết quả điều tra thu nhập người dân trên cả nước năm cho thấy tỷ lệ hộ nghèo nói chung trên cả nước đã giảm đáng kể trong giai đoạn 2011-2015 (bảng dưới). Tuy nhiên, nếu xem xét tỷ lệ nghèo đói theo vùng lãnh thổ thì tỷ lệ nghèo ở nông thôn, miền núi vẫn còn cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị; Các khu vực như Bắc Trung Bộ Duyên hải miền Trung, các vùng miền núi tập trung các đồng bào dân tộc thiểu số như miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên thường có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều so với khu vực đồng bằng.

16

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Bảng 1: Tỷ lệ nghèo đói theo khu vực

Tỷ lệ hộ nghèo theo năm (%) 2011 2012 2013 2014 2015

CẢ NƯỚC 12,6 11,1 9,8 8,4 7,0

Thành thị 5,1 4,3 3,7 3,0 2,5

Nông thôn 15,9 14,1 12,7 10,8 9,2

Ðồng bằng sông Hồng 7,1 6,0 4,9 4,0 3,2

26,7 23,8 21,9 18,4 16,0 Trung du và miền núi phía Bắc

18,5 16,1 14,0 11,8 9,8 Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung

20,3 17,8 16,2 13,8 11,3 Tây Nguyên

Ðông Nam Bộ 1,7 1,3 1,1 1,0 0,7

Ðồng bằng sông Cửu Long 10,1 7,9 9,2 6,5

11,6 (Theo Tổng cục thống kê, câp nhật ngày 13/9/2016. Tỷ lệ hộ nghèo 2015 được tính với mức 615 nghìn đồng đối với khu vực nông thôn và 760 nghìn đồng đối với khu vực thành thị)

2

Theo bảng 1, tỷ lệ hộ đói nghèo ở các vùng tập trung các tộc ít người đều cao hơn so với tỷ lệ hộ đói nghèo ở các vùng đồng bằng và so với tỷ lệ hộ đói nghèo chung của cả nước. Cần lưu ý rằng đây mới là tỷ lệ nghèo đơn chiều (xét riêng về thu nhập). Nếu áp dụng tỷ lệ nghèo đa chiều theo 6-7 tiêu chí thì còn cao hơn rất nhiều và khoảng cách giữa các vùng miền cũng lớn hơn.

Xét về từng dân tộc, các nhóm dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Trung Trường Sơn và Tây Nguyên là nhóm có tỷ lệ đói nghèo cao nhất trong đó có dân tộc Pakô-Vân Kiều ở Quảng Trị; Jarai ở Tây Nguyên; Dân tộc Mông và Dao ở miền núi phía Bắc. Đây là những nhóm dân tộc sinh sống ở những vùng tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, địa hình bị chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, vẫn còn tập quán du canh, du cư, phát rừng làm nương rẫy, trình độ canh tác còn lạc hậu, kinh tế-xã hội chưa phát triển hoặc mới bắt đầu tiếp cận phát triển. Một bộ phận đồng bào vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực nhất là vào những tháng giáp hạt hoặc sau những đợt thiên tai.

1.1.1. Đời sống và thu nhập

Đời sống và thu nhập của người dân tộc thiểu số thấp hơn nhiều so với đời sống và thu nhập của người Kinh, đặc biệt là ở các xã vùng III.

Chất lượng dân số không đạt yêu cầu, đời sống nhân dân khó khăn, ăn, ở, sinh hoạt... còn tạm bợ, mất vệ sinh, hay xảy ra các bệnh tật, dịch bệnh. Trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm phát triển thế hệ mai sau, tương lai cũng gặp không ít trở ngại vì vào mùa giáp hạt nhà không có gạo ăn là học sinh lại nghỉ học ở nhà. Hiện số học sinh bỏ học giữa chừng, thường hay nghỉ học ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng hoặc khu vực thành thị.

Ở nhiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi, do cuộc sống du canh du cư, so với người Kinh, điều kiện sinh hoạt còn rất nhiều khó khăn và tạm bợ. Hầu hết nhà cửa được làm nhỏ hẹp từ tranh tre nứa lá. Khác với nhà ở dân tộc Kinh, ngôi nhà sàn ở nhiều làng dân tộc thiểu số không phải là tài sản đáng kể.

17

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Chất lượng nhà ở của người dân được phản ánh qua chỉ tiêu về nhà ở phân thành 4 loại: Nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn xơ. Bảng 2 trình bày tỷ lệ % dân số có nhà ở chia theo loại hình nhà và dân tộc. Bảng số liệu dựa trên kết quả đánh giá của tổ chức Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009.

Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm dân số có nhà ở chia theo loại nhà và dân tộc

Dân tộc Kiên cố Bán kiên cố Thiếu kiên cố Đơn sơ

Cả nước 46 39 8 7

Kinh 49 39 6 6

Tày 30 31 24 15

Thái 36 32 16 17

Mường 47 25 14 13

Khơme 3 34 36 27

Mông 6 40 29 24

(Nguồn: Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, tháng 3/2011)

Các số liệu trong bảng 2 cho thấy, trong số 6 dân tộc được nghiên cứu, dân tộc Kinh có điều kiện nhà ở tốt nhất, có tới 88% dân tộc Kinh được sống trong nhà kiên cố hoặc bán kiên cố. Đứng thứ hai là dân tộc Mường với 72% số người dân tộc này sống trong nhà kiên cố hoặc bán kiên cố. Dân tộc Khơ me và dân tộc Mông có điều kiện nhà ở kém nhất, chỉ có 37% người Khơ me sống trong loại nhà kiên cố hoặc bán kiên cố, tỷ lệ này ở dân tộc Mông là 46%.

Bảng cập nhật tình hình nhà ở năm 2015 theo khu vực sinh sống cũng cho thấy những tỷ lệ tương tự. Tỷ lệ nhà ở bán kiến cố, thiếu kiên cố và nhà đơn sơ ở các khu vực có động người dân tộc thiểu số sinh sống cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở đồng bằng và ở khu vực thành thị. Đơn cử như tỷ lệ nhà bán kiên cố tại khu vực Đông nam bộ, Tây nguyên và đồng bằng sông Cửu Long là 78%, 76% và 64%, đều cao gấp gần 2 lần so với tỷ lệ chung của cả nước

Chung

100 100 100 100 100 Nhà kiên cố 50 48 52 93 50 Nhà bán kiên cố 40 49 36 7 31 Nhà thiếu kiên cố 6 2 7 0 12 Nhà đơn sơ 4 1 5 0 7

100 67 28 2 2

Tỷ lệ các loại nhà ở - chia theo khu vực CẢ NƯỚC Thành thị Nông thôn Ðồng bằng sông Hồng Trung du và miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung Tây Nguyên Ðông Nam Bộ Ðồng bằng sông Cửu Long 100 100 100 17 19 9 76 78 64 6 2 16 1 1 10

18

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1.2. Y tế, giáo dục

Tỷ lệ tử vong mẹ ở Việt Nam được Ngân hàng Thế giới thống kê năm 2015 ở mức 54 trên 100.000 ca. Theo Bộ Y tế, tỷ lệ này ở nhóm dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa cao hơn gấp 4 lần, nơi người dân chưa được tiếp cận các thiết bị và dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiên tiến. Theo số liệu thống kê năm 2010 của Bộ Y tế, miền núi phía Bắc là khu vực dẫn đầu cả nước về tình trạng tử vong ở bà mẹ, ước tính có 200/100.000 bà mẹ tử vong trong khi sinh; xếp sau là khu vực Tây Nguyên với tỷ lệ tử vong là 100/100.000 bà mẹ. Số liệu (ước tính) này đã giảm so với trước khi có sự can thiệp của Chương trình giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh năm 2009 (trước đó, tỷ lệ tương ứng là 411/100.000 mẹ và 178/100.000 mẹ)

Nguy cơ tử vong mẹ cao nhất ở Điện Biên, cứ 148 phụ nữ vào tuổi 15-49 thì có 1 tử vong mẹ; sau đó đến Lai Châu 218; Gia Lai là 271, các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Lào Cai dao động ở mức trên 300 và thấp nhất là Lạng Sơn, chỉ có 1 bà mẹ chết trên 3.567 phụ nữ trong độ tuổi 15-49. Thống kê cho thấy tỷ lệ tử vong mẹ ở các tỉnh vùng Tây Bắc là 13,4%, các tỉnh vùng Tây Nguyên là 5,3% và thấp nhất là các tỉnh vùng Đông Bắc là 3,3%.

Theo kết quả Điều tra Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2014 cho thấy tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 5 năm trước điều tra đã giảm mạnh xuống còn 19,7‰, gần đạt được mục tiêu đã đề ra cho năm 2015 là 19,3‰. Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi trong giai đoạn 5 năm trước cuộc điều tra là 16‰, gần đạt được mục tiêu đề ra là 14,8‰ vào năm 2015. Kết quả điều tra cũng cho thấy vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng miền, giữa các nhóm đối tượng. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới năm tuổi cao nhất ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là 47,5‰, cao gấp 6,5 lần so với khu vực thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ suất tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi cao nhất ở nhóm dân tộc thiểu số là 53‰, cao gấp khoảng 4 lần so với nhóm Kinh/Hoa.

1.1.3. Khả năng tiếp cận các dịch vụ kết cấu hạ tầng và kỹ thuật sản xuất mới

Khả năng tiếp cận các dịch vụ kết cấu hạ tầng và kỹ thuật sản xuất mới ở nhóm dân tộc thiểu số thường khó khăn hơn so với người Kinh.

Trước hết là khả năng tiếp cận và sử dụng đường giao thông. Phát triển giao thông sẽ là giải pháp tốt để thúc đẩy giảm nghèo cho vùng dân tộc, mở rộng thông tin và đẩy mạnh các hoạt động sản xuất. Nhưng thực tế cho thấy, phần lớn hộ nghèo ở các nhóm dân tộc thiểu số chưa có khả năng sử dụng đường giao thông cơ giới.

Trường học, trạm y tế được xây dựng. Giáo viên và thầy thuốc được điều tới nhưng trẻ em vẫn không đi học nhiều, nhiều người dân vẫn không đến trạm y tế khám bệnh và nhiều sản phụ vẫn sinh con ở nhà.

Việc tập huấn các kỹ thuật và đưa các giống cây trồng vật nuôi vào sản xuất trong khi khá dễ dàng ở người Kinh thì lại thường khó khăn, chậm chạp ở nhóm dân tộc thiểu số. Đó là do với người dân tộc thiểu số thì đây thường là những điều mới lạ; mặt khác do chỉ được tập huấn chủ yếu trên lý thuyết nên người dân không biết cách làm vì với họ đòi hỏi phải cầm tay chỉ việc, vừa học vừa làm.

Các tổ chức Ngân hàng quốc tế và trong nước đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai dịch vụ tín dụng nhỏ cho đồng bào dân tộc với vốn lãi suất ưu đãi để phát triển sản xuất. Tuy nhiên, phổ biến là tình trạng sử dụng không hiệu quả, người dân chưa đủ khả năng sử dụng vốn.

19

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số

Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: Khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai xấu, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn,…

Nhóm nguyên nhân do hạn chế chủ quan của người dân tộc: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn sản xuất, đông con, thiếu việc làm, lười lao động và mắc vào các tệ nạn xã hội (nghiện hút, rượu chè, cờ bạc,…)

Nhóm nguyên nhân do cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư, về khuyến nông, lâm ngư, về vốn tín dụng, giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai, định canh, định cư, vùng kinh tế mới,… Những năm gần đây, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên hỗ trợ các nhóm dân tộc thiểu số, song việc triển khai, thực hiện các chính sách này còn khá khiêm tốn về hiệu quả thực tế.

Có sự khác nhau về nhóm nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo ở người Kinh so với nhóm dân tộc thiểu số. Nếu phân tích 3 nhóm nguyên nhân đói nghèo hiện có, có thể nhận thấy, trong khi người Kinh, các nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo thường là đất đai xấu; khí hậu thời tiết khắc nghiệt và thiếu vốn sản xuất, thì ở nhóm dân tộc thiểu số, các nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo lại là: Thiếu kiến thức sản xuất; địa hình phưc tạp, giao thông kém phát triển, khó tiếp cận các dịch vụ y tế giáo dục và kỹ thuật sản xuất mới; đất canh tác dốc và năng suất thấp kém; hạn chế của cơ chế, chính sách giảm nghèo,…

- Những rủi ro, tai họa đột xuất: Đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi, điều quan tâm nhất của họ trong đời sống là vấn đề cái ăn. Vì vậy, có được sự an toàn về lương thực là vấn đề ưu tiên hàng đầu. Đa số họ sống trên những vùng đất dốc, núi đá, không thuận lợi cho việc canh tác, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, cường độ mưa mạnh, mưa tập trung, gây ra hạn hán vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa. Những trận lũ quét ở miền núi đã tàn phá nghiêm trọng tài nguyên thiên nhiên và các công trình thủy lợi, đường sá, cầu cống, gây nhiều thiệt hại về người và của, gây khó khăn cho cây trồng vật nuôi, quá trình sản xuất. Kết quả là mất mùa đối với cây trồng, bệnh dịch đối với gia súc, dẫn đến năng suất thấp ít hiệu quả, nên dẫn đến thường xuyên đói lương thực vào những thời kỳ giáp hạt.

- Gia tăng dân số: Gia tăng dân số quá mức theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học. Hiện tượng kết hôn sớm đang rất phổ biến ở nông thôn miền núi, báo động một xu hướng tăng dân số trong vài thập niên tới là không tránh khỏi. Với tốc độ tăng dân số cao, một số vùng có nhóm dân tộc thiểu số sinh sống đang chịu sức ép lớn về dân số, dẫn đến thiếu đất nông nghiệp, điều tưởng như không xảy ra ở vùng vốn đất rộng người thưa. Tại không ít vùng ở vùng núi phía Bắc và đặc biệt của Tây Nguyên, do dân số tăng nhanh, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người chỉ bằng ở vùng đồng bằng châu thổ nhưng chất lượng lại đất xấu hơn nhiều, dẫn đến năng suất và thu nhập cũng thấp hơn nhiều.

- Tình trạng du canh du cư: Đối với vùng nông thôn miền núi nói chung và nhóm dân tộc thiểu số nói riêng, rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá nhất, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên chất lượng rừng đã và đang ngày càng giảm sút do tập quán du canh du cư của người dân. Hiện tượng thiếu đất canh tác đang rất phổ biến, ảnh hưởng đến an toàn lương thực và đe dọa sự phát triển bền vững của cuộc sống người dân nơi đây.

20

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Sự phân hóa xã hội: Sự phân hóa dân tộc, dân số vùng nông thôn, miền núi là một nguyên nhân nữa của sự phát triển chậm chạp. Rất nhiều nhóm dân cư ở nông thôn, miền núi không những nghèo, thiếu đói, mà họ còn ít được học hành. Với trình độ học vấn thấp, thì rõ ràng việc tiếp thu khoa học tiên tiến, khả năng quy hoạch, tổ chức sản xuất hợp lý là rất hạn chế. Lao động ở vùng nông thôn, miền núi nói chung vẫn trong tình trạng lạc hậu, năng suất thấp.

II. CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ GIẢM NGHÈO CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Để giúp đỡ và hỗ trợ người dân dân tộc thiểu số thoát nghèo và tự vươn lên trong cuộc sống, Công tác xã hội cần kết hợp thực hiện nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm cả các hoạt động cung cấp dịch vụ trực tiếp, đến kết nối, điều phối các dịch vụ hỗ trợ, cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức, biện hộ để người nghèo, hộ nghèo tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ và phát triển.

2.1 Cung cấp dịch vụ xã hội trực tiếp

Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) cần cung cấp nhiều hoạt động khác nhau như hỗ trợ cá nhân, gia đình về học nghề, tìm việc làm, nâng cao thu nhập; hướng dẫn cách làm ăn, phát triển kinh tế hộ gia đình; vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần; hỗ trợ kết nối tới các dịch vụ khám chữa bệnh và học tập; và các dịch vụ xã hội khác phù hợp với nhu cầu của đối tượng,… nhằm giúp họ sử dụng các nguồn hỗ trợ này một cách hiệu quả. Cụ thể như sau:

- Can thiệp, hỗ trợ: Cùng cá nhân giải quyết các vấn đề tâm lý, tình cảm, xã hội giúp người dân tộc thiểu số thực hiện chức năng của mình, trị liệu, hỗ trợ phục hồi tâm lý. Tham vấn để giải quyết các vấn đề họ đang gặp phải, trợ giúp các đối tượng tiếp cận các dịch vụ xã hội; tổ chức các cuộc tiếp xúc trao đổi để tìm ra khó khăn và cách thức giải quyết.

- Tham vấn cá nhân và nhóm: Tất cả các hoạt động của NVCTXH là giúp đối tượng tự lập và có khả năng tự quyết, giúp đối tượng đưa ra các giải pháp khác nhau để đối tượng cân nhắc, lựa chọn giải pháp thích hợp với mình hoặc có thể đưa ra một quyết định đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề của chính mình.

- Quản lý trường hợp: Làm việc với những cá nhân, hộ nghèo gặp nhiều khó khăn và cần có sự trợ giúp lâu dài để họ có thể khắc phục, vượt qua hoàn cảnh nghèo khó của mình. Trong phương pháp này, NVCTXH sẽ tập trung nhiều vào việc điều phối, hỗ trợ kết nối các nguồn lực để cung cấp cho gia đình.

- Làm việc theo nhóm: NVCTXH tiếp cận các nhóm hoặc thành lập các nhóm tương trợ để hỗ trợ giải quyết vấn đề của người nghèo, hộ nghèo theo nhiều phương pháp như trang bị thông tin kiến thức để thay đổi nhận thức, những kỹ năng để giải quyết các vấn đề mà họ đang quan tâm, hỗ trợ tâm lý cho thành viên các nhóm có những khó khăn trong các mối quan hệ và mâu thuẫn chính trong bản thân họ…

- Làm việc tại cộng đồng nghèo: Với vai trò là nhân viên hỗ trợ phát triển cộng đồng, NVCTXH hỗ trợ tìm kiếm những nhân tố tích cực và có ý tưởng đổi mới trong cộng đồng để nâng cao năng lực cho họ bằng cách trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết khi làm việc với cộng đồng; cách thức thu hút sự tham gia của người dân trong các hoạt động xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện giám sát các hoạt động cộng đồng. Qua đó, cộng đồng được tăng cường năng lực và tiến tới một cộng đồng phát triển bền vững.

21

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.2 Cung cấp các dịch vụ kết nối, giáo dục, biện hộ

Thứ nhất, về vai trò kết nối dịch vụ: NVCTXH phối hợp với tổ chức của mình, quan hệ với các nguồn hỗ trợ khác để huy động nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) cộng đồng nhằm giải quyết vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, đáp ứng nhu cầu của người nghèo, hộ nghèo, hỗ trợ phát triển cộng đồng, kết nối thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội cho đối tượng.

Thứ hai là vai trò giáo dục: Xây dựng niềm tin trong cuộc sống, NVCTXH trực tiếp làm công tác giáo dục cho người dân tộc thiểu số về những vấn đề liên quan đến kiến thức, nhận thức về cuộc sống, về cách thức làm giàu và vượt khó, thoát nghèo. Bên cạnh đó, NVCTXH còn nâng cao năng lực cho cán bộ liên quan ở cộng đồng, thành viên các gia đình dân tộc thiểu số nghèo để họ tự giải quyết các vấn đề phát sinh, vượt qua hoàn cảnh khó khăn thông qua các hoạt động truyền thông tại các nhóm gia đình và cộng đồng nghèo.

Thứ ba là vai trò biện hộ: NVCTXH làm công tác xã hội trong xoá đói giảm nghèo phải am hiểu và cập nhật kịp thời những chính sách, luật pháp trong lĩnh vực giảm nghèo để đại diện những người nghèo, hộ nghèo yêu cầu các tổ chức, đơn vị liên quan thực hiện đầy đủ các quyền lợi chính đáng và hợp pháp nhằm đảm bảo quyền lợi cho đối tượng.

Trong tất cả các hoạt động trợ giúp người dân tộc thiểu số nghèo, NVCTXH cần tuân thủ việc thúc đẩy sự tham gia của đồng bào vào tất cả các hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ.

III. MỘT SỐ CÔNG CỤ KHI HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NGHÈO CỦA NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ

Nhiều nhóm dân tộc thiểu số có thể chưa nhận biết và không tự giải quyết được vấn đề của chính mình nên công tác xã hội với vấn đề nghèo đói của nhóm dân tộc thiểu số cần giúp cho người nghèo hiểu, được nâng cao nhận thức và biết khai thác tiềm năng sẵn có mình để trên cơ sở đó nhận thức được vấn đề của mình và đưa ra các biện pháp giải quyết với các nguồn lực sẵn có. Bên cạnh đó, họ cũng cần phải biết tập hợp sức mạnh của các nhóm người nghèo hay cả cộng đồng để giải quyết những vấn đề chung, trong đó có vấn đề của mỗi cá nhân người nghèo.

3.1. Vẽ sơ đồ cộng đồng

Đây là một công cụ hữu hiệu trong giải quyết vấn đề nghèo đói ở nhóm dân tộc ít người. Không chỉ có sơ đồ cộng đồng mà hầu hết các loại biểu đồ, sơ đồ đều có thể phù hợp với tư duy hình tượng của người dân.

- Mục đích: Việc áp dụng công cụ này là cách thích hợp giúp người dân trực tiếp tham gia vào quá trình đánh giá thực trạng nghèo đói và tìm hướng để cộng đồng giảm nghèo.

- Qua sơ đồ cộng đồng nhiều vấn đề được thể hiện như:

+ Phân bố tài nguyên thiên nhiên

+ Tổ chức làng bản (nơi cư trú, công trình công cộng, nghĩa địa, nơi chăn thả gia súc, nguồn nước sinh hoạt…).

22

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

+ Phân bố các hộ gia đình và mức độ giàu, nghèo

+ Đất đai canh tác và cơ cấu cây trồng, vật nuôi

+ Giáo dục, y tế…

Dụng cụ: Sử dụng luôn những vật dụng hiện có tại cộng đồng làm dụng cụ vẽ sơ đồ, có thể là đá, cây cỏ, tre, v.v. Với một số cộng đồng có điều kiện có thể sử dụng giấy A0, bút màu: đỏ, xanh nhạt, xanh đậm, tím, đen.

Các bước tiến hành vẽ sơ đồ gồm:

1) Định hướng Đông Tây Nam Bắc

2) Xếp hoặc vẽ thứ tự các thành tố, các địa điểm công cộng chính, ví dụ:

+ Đường giao thông

+ Sông, suối

+ Trường học, trạm xá, nhà cán bộ thôn, cán bộ y tế.

+ Nhà dân

+ Nguồn nước ăn

+ Các thành tố khác sẽ được thể hiện bằng các ký hiệu khác nhau.

+ Cuối cùng là việc xác định ranh giới của làng với các làng, xã xung quanh bằng.

Lưu ý: Tránh vẽ sơ đồ ở trong nhà hoặc nơi khuất tầm nhìn. Tốt nhất là việc vẽ nên tiến hành tại chỗ cao ráo, đầu làng, bản hoặc bên ngoài làng, bản để người dân có thể liên tưởng và quan sát rộng.

Khi sử dụng công cụ này, NVCTXH cần chú ý tạo điều kiện và thúc đẩy sự tham gia chủ động của người dân trong việc trực tiếp vẽ bản đồ. NVCTXH cần xem đây là một cơ hội tốt để trao đổi, tìm hiểu về những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội,… nói chung của cộng đồng, có ảnh hưởng tới đời sống của bà con. Song song với quá trình vẽ sơ đồ, NVCTXH có thể nói chuyện, hỏi những người tham gia về các yếu tố (tự nhiên, kinh tế, xã hội,…) thể hiện trên bản đồ xem chúng có tác động như thế nào tới vấn đề nghèo đói; mong muốn của bà con trong việc khắc phục những yếu tố đó để phát triển, đi lên.

3.2. Thảo luận nhóm

Đây là một trong những công cụ quan trọng nhất của phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (Participatory Rural Appraisal - PRA).

- Mục đích: Nhằm trao đổi, thu thập những ý kiến chung của cộng đồng về tình hình đói nghèo của cộng đồng, nguyên nhân và hướng giải pháp can thiệp.

23

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Tùy thuộc vào từng vấn đề và điều kiện cụ thể, NVCTXH có thể tổ chức các cuộc thảo luận nhóm với các nhóm đối tượng khác nhau. Thông thường, với mỗi cuộc đánh giá ở một cộng đồng, ít nhất cũng cần thảo luận với khoảng 3 nhóm đại diện khác nhau, ví dụ: nhóm đại diện cán bộ và các ban ngành đoàn thể, nhóm nam giới, nhóm phụ nữ. Tùy từng lĩnh vực đánh giá ưu tiên khác nhau, và nếu có điều kiện, có thể tiến hành thảo luận nhóm với các nhóm dân khác như học sinh, trẻ em bỏ học, phụ nữ nghèo, người già, nhóm thanh niên, v.v.

Để tổ chức một buổi họp nhóm có kết quả, cần chuẩn bị đầy đủ các điều kiện và tuân theo các nguyên tắc sau đây:

+ Địa điểm và thời gian, chủ đề buổi thảo luận phải rõ ràng và được thông báo trước cho người dân tham gia. Phân công người điều hành, thư ký để ghi chép lại nội dung thảo luận. Nơi thảo luận tốt nhất là ở nhà dân.

+ Trước khi tiến hành thảo luận người điều hành cần bắt đầu bằng những câu chuyện vui, thăm hỏi về gia cảnh và đời sống của các thành viên trong nhóm và tình hình chung của cộng đồng.

+ Vấn đề nêu ra cần ngắn gọn, dễ hiểu, tránh trừu tượng và càng lượng hóa càng tốt.

+ Khéo léo dung hòa các ý kiến đối lập và giữ hòa khí trong buổi thảo luận.

+ Sử dụng các công cụ trực quan để giúp người dân hình dung được vấn đề cần thảo luận như: Giấy, bút màu, bảng đen, tranh ảnh, hình vẽ, hạt đậu, viên sỏi, cành cây, chiếc lá, kể chuyện vui…

+ Với các nhóm hay đối tượng gặp khó khăn về ngôn ngữ thì khuyến khích họ tham gia thảo luận bằng tiếng dân tộc và nhờ người khác dịch lại.

+ Kết thúc buổi họp đúng giờ trong không khí vui vẻ.

Trong quá trình thảo luận, cần ghi chép lại những thông tin quan trọng, đặc biệt là những ý kiến mà mọi người tham gia đã thống nhất. Kết quả thảo luận chính là đầu vào quan trọng cho việc tìm kiếm các giải pháp, hoạt động can thiệp giúp cộng đồng dân tộc thiểu số giảm nghèo.

3.3. Sắp xếp thứ tự ưu tiên

Công cụ này giúp người dân có cơ hội thảo luận, đánh giá, xác định nguyên nhân và mức độ nghèo đói của cộng đồng; các lựa chọn ưu tiên của cộng đồng để khắc phục đói nghèo; những thế mạnh, trở ngại của cộng đồng và hướng giải quyết các trong các hoạt động xóa đói giảm nghèo cụ thể: Chẳng hạn như sử dụng đất đai, vay vốn để đầu tư sản xuất, cây trồng, chăn nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng,…

Với phương pháp này, đối tượng tham gia đa dạng, có thể là toàn thể dân làng hay chia thành các nhóm khác nhau để cùng trao đổi về những nội dung cần thiết. Kết hợp sử dụng các công cụ khác như thảo luận nhóm, xây dựng các sơ đồ, biểu đồ về các nội dung liên quan,… sắp xếp thứ tự ưu tiên được đánh giá là một trong những công cụ hữu ích trong quá trình làm việc với người dân ở khu vực miền núi, dân tộc thiểu số.

24

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Trong quá trình thực hiện phương pháp này, có thể chia các nội dung trao đổi thành các phần nhỏ hơn, ví dụ như:

Xác định và xếp hạng nguyên nhân nghèo:

- Tổ chức các nhóm làm việc theo yêu cầu (bố trí các nhóm cách xa nhau để không nghe hay bàn bạc được với nhau).

- Hướng dẫn nhóm thảo luận và đưa ra ý kiến riêng của từng người về nguyên nhân của nghèo đói, liệt kê lên bảng đen hoặc tờ giấy to.

- Sau khi có danh sách về nguyên nhân đói nghèo, cần để cho nhóm có thêm thời gian tiếp tục trao đổi, thảo luận về nguyên nhân nào là quan trọng nhất và xếp thứ tự ưu tiên.

Có nhiều cách để xếp hạng nguyên nhân đói nghèo nhưng có hai cách thường dùng là:

Một là, Phát thẻ cho các thành viên trong nhóm để họ tự ghi ý kiến riêng theo quy định, ví dụ: Yêu cầu ghi lại một nguyên nhân quan trọng nhất, hay ghi tất cả các nguyên nhân nhưng theo thứ tự từ quan trọng đến không quan trọng.

Hai là, Kẻ một bảng gồm nhiều ô khác nhau trên tờ giấy hay mặt đất, mỗi ô điền sẵn một nguyên nhân đói nghèo, phát hạt lạc (ngô, đậu hay hòn sỏi) cho các nhóm viên để họ bỏ vào ô mà họ chọn theo quy định của nhóm.

Ví dụ: Có 10 ô thì bỏ vào ô quan trọng nhất 10 hạt và ô không quan trọng nhất là 1 hạt; hay mỗi người được phát từ 3 đến 5 hạt để họ bỏ vào 3 đến 5 ô mà họ cho là quan trọng nhất; hoặc cách đơn giản nhất là một người chỉ bỏ 1 hạt duy nhất vào ô mà họ cho là quan trọng nhất.

- Sau đó, tổng hợp tính điểm bình quân và xếp thứ tự cao thấp theo kết quả được ghi trên thẻ hay số hạt của mỗi ô. Nếu ô nào có số điểm cao nhất sẽ là nguyên nhân quan trọng nhất và ngược lại.

Phương pháp này cho phép người dân tham gia thảo luận cùng bàn bạc công khai, trao đổi tại sao họ lại xác định và xếp hạng như vậy.

Qua kết quả khảo sát, đánh giá sự tham gia cộng đồng, người dân nhận ra những mặt mạnh, yếu, những vấn đề bức xúc trong cộng đồng, những vấn đề cần ưu tiên giải quyết.

Xác định nhu cầu, trở ngại và xếp hạng mức độ quan trọng:

Có nhiều cách để xác định nhu cầu của cộng đồng. Có thể thông qua phỏng vấn trực tiếp, hỏi những người am hiểu sự việc ở địa phương kết hợp với các số liệu điều tra khác để xác định nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, có hai cách làm thông dụng và hiệu quả là:

1) Phát thẻ để người dân tự viết ra nhu cầu của họ mà họ cho là cần thiết và phù hợp với tình hình nhu cầu thực tế của họ, sau đó tổng hợp lại.

2) Để cho từng thành viên phát biểu và nhân viên công tác xã hội ghi lại thành một danh sách trên tờ giấy khổ lớn hay bảng đen.

25

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Sau khi tạm thời phân được các nhóm nhu cầu và trở ngại dựa trên ý kiến của từng cá nhân riêng lẻ, điều cần làm tiếp theo là để nhóm tiếp tục thảo luận xem sự xác định đó đã hợp lý chưa, còn thiếu hoặc có cần điều chỉnh gì không? Sau đó tổ chức cho nhóm tự đánh giá và xếp thứ ưu tiên theo mức độ quan trọng của từng nhu cầu hay trở ngại, qua đó tìm được những nhu cầu quan trọng và giải quyết trước.

Công cụ Sắp xếp thứ tự ưu tiên không chỉ được sử dụng để xác định nhu cầu hoặc phân tích nguyên nhân của vấn đề mà còn có thể được áp dụng để giúp các thành viên cộng đồng trao đổi, tìm ra giải pháp phù hợp nhất để giải quyết đói nghèo. Nó không chỉ giúp những người tham gia thống nhất (dù nhiều khi vẫn chỉ là tạm thời, chưa tuyệt đối 100%) về những vấn đề cần được ưu tiên giải quyết và phương hướng giải quyết, mà còn giúp mọi người tham gia hiểu được sâu hơn về thực trạng vấn đề, nhu cầu và mối quan tâm của các thành viên khác nhau. Từ đó, những người tham gia có thể có cái nhìn rộng hơn đối với các vấn đề chung của cộng đồng, thay vì chỉ là nhu cầu của cá nhân, và củng cố tinh thần đoàn kết, chia sẻ và đồng lòng vì những mục tiêu chung của cộng đồng.

3.4. Sơ đồ Venn

Mục đích của công cụ này là nghiên cứu cơ cấu, hoạt động và tầm ảnh hưởng tới người dân của các tổ chức xã hội: Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tổ chức xã hội truyền thống của cộng đồng như: nhóm sở thích, hội đồng già làng, dòng họ…; chỉ ra các mối quan hệ của các tổ chức đó; đồng thời nhận biết vai trò và chức năng của các tổ chức, cá nhân chính yếu đối với vấn đề nghèo đói tại địa phương.

Công cụ này có thể được sử dụng khi làm việc với các nhóm dân khác nhau. NVCTXH có thể hướng dẫn những người tham gia làm theo các bước cơ bản như gợi ý dưới đây:

- Xác định đối tượng chính cần quan tâm, trao đổi. Ví dụ: Người dân trong cộng đồng xã X. Cắt một tờ giấy hình vuông và ghi tên đối tượng lên đó.

- Trao đổi xem những cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có liên quan và ảnh hưởng tới đối tượng (người dân trong cộng đồng xã X), thể hiện bằng những hình tròn với các kích cỡ khác nhau tỷ lệ thuận với mức độ ảnh hưởng: Mức độ ảnh hưởng càng lớn thì tên cơ quan/ tổ chức/ cá nhân được đặt trên hình tròn càng lớn và ngược lại.

- Thảo luận mức độ liên quan (mối quan hệ gần gũi hay xa cách) của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân đó so với đối tượng: Nếu mức độ liên quan càng nhiều thì khoảng cách so với đối tượng càng gần. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có mối liên hệ với nhau thì có thể được xếp gần nhau.

26

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Hội phụ nữ

Dự án giảm nghèo

Hội nông dân

Ngân hàng người nghèo

Phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo thôn Chòi Hồng

Hội cựu chiến binh

Hội định canh, định cư

Dự án 93/103 dự án 120

Ủy ban Nhân dân xã

Xem tham khảo ví dụ dưới đây:

Sơ đồ 3: Ví dụ về sơ đồ Venn khảo sát ảnh hưởng của các tổ chức xã hội đối với đời sống của cộng đồng người H’Mông ở bản Chòi Hồng, xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Nguồn: Trung tâm nghiên cứu giảm nghèo Đại học Thái Nguyên)

Lưu ý: Trường hợp một vài người dân trong nhóm không biết rõ và lúng túng trong việc phân tích đánh giá các tổ chức của địa phương thì NVCTXH nên dựa vào công việc cụ thể mà tổ chức đó đã và đang làm hay nêu rõ tên người đang công tác trong tổ chức đó để gợi ý, cung cấp thêm thông tin cho người dân. Sau đó cần kiểm tra những thông tin thu được từ các phương pháp khác để tránh chỉ có thông tin một chiều, thiếu khách quan.

Sơ đồ Venn là một công cụ rất hữu dụng và được sử dụng khá thường xuyên trong quá trình phát triển cộng đồng, làm việc với các dân tộc thiểu số, người dân nghèo ở vùng sâu vùng xa. Việc sử dụng Sơ đồ Venn giúp tạo hứng khởi, kích thích sự tham gia của người dân, hình tượng hóa các mối quan hệ trong cộng đồng – giúp người dân dễ hình dung và trao đổi. Trong quá trình hướng dẫn, NVCTXH có thể khích lệ sự trao đổi, giải thích của người dân – tại sao họ lại cho một tổ chức, cá nhân là quan trọng, có tầm ảnh hưởng tới họ (bằng hình tròn to) hoặc tại sao họ lại xếp một tổ chức, cá nhân gần với họ, hoặc xa với họ (bằng khoảng cách xa hay gần). Việc ghi lại các ý kiến trao đổi của người dân trong quá trình này là vô cùng hữu ích, giúp NVCTXH hiểu rõ hơn về cộng đồng và các nhân tố cần tác động để giúp giải quyết vấn đề nghèo đói và định hướng giải pháp can thiệp.

27

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VĂN HÓA, LỐI SỐNG ĐỐI VỚI NHÓM

DÂN TỘC THIỂU SỐ3

I. NHữNG ĐặC ĐIỂM VĂN HÓA ĐặC TRƯNG CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ

Văn hóa của mỗi tộc người là tổng thể các yêu tố: tiếng nói, văn hóa sản xuất, văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần. Đó là: lối sống, phong cách sống, cách ứng xử đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội giữa con người với con người; giữa con người với cộng đồng; sắc thái tâm lý, tình cảm, quan niệm về chân, thiện, mỹ, quan niệm về vũ trụ, về nhân sinh; tập quán trong sinh hoạt đời thường, trong chu kỳ của một đời người, lễ nghi, tín ngưỡng .v.v.

Những yếu tố này làm nên sắc thái văn hóa lối sống của người dân tộc, có mãnh lực làm cho người ta phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, tạo nên văn hóa tộc người.

Về văn hóa các nhóm tộc người cụ thể của 53 dân tộc thiểu số ở nước ta, có thể thấy ngay sự phong phú và đa dạng của nó. Điều thú vị là qua đó, có thể khôi phục hay dựng lại quá trình phát triển của lịch sử loài người trên rất nhiều lĩnh vực. Dưới đây là một số nét chấm phá chung về một số đặc điểm liên quan tới sắc thái văn hóa lối sống của các dân tộc thiểu số - những đặc điểm này có thể không hoàn toàn đúng với từng dân tộc cụ thể.

28

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Về loại hình kinh tế

Do sinh sống ở các vùng khó khăn, địa hình hiểm trở, điều kiện giao thông và cơ sở hạ tầng kém phát triển nên hình thức kinh tế chủ yếu của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu là làm nông nghiệp, trồng trọt phân tán và chăn nuôi nhỏ.

1.2. Về công cụ sản xuất

Cũng từ thực tế trên, công cụ sản xuất của đồng bào còn thơ sơ, lạc hậu. Việc sử dụng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế.

1.3. Về các hình thức săn bắt

Các hình thức săn bắt từ tập thể đến cá nhân với việc phân chia kết quả thu được còn mang dấu ấn của việc phân chia theo chế độ bình quân nguyên thủy.

1.4. Về các hoạt động trao đổi:

Phổ biến là các chợ phiên miền núi, hình thức trao đổi là đổi vật. Các loại chợ, ngoài chợ phiên còn có những loại chợ khác mà tiêu biểu là chợ câm.

3

1.5. Về phân công lao động:

Thịnh hành phân công lao động theo tự nhiên, chủ yếu là theo giới và tuổi tác. Hỗ trợ cho trồng trọt là ngành nghề truyền thống từ đan lát đến nghề gốm, dệt,nhuộm vải, rèn, in hoa văn. Đặc biệt là thổ cẩm. Nghề rèn đặc biệt phát triển ở người H’mông.

1.6. Về phương tiện vận chuyển:

Trên bộ: đi bộ, gùi hàng sau lưng, trước trán, đội hàng (đồ gốm) trên đầu, vác trên vai, đi ngựa, thậm chí dùng voi nhà, các loại xe thô sơ, xe đạp. Dưới nước: bè nứa, thuyền độc mộc, nổi tiếng là thuyền đuôi én ở Tây Bắc.

1.7. Về loại hình nhà:

Từ nhà để ở đến các loại nhà công cộng như nhà Rông ở Tây nguyên, nhà ở từ mái đác của người Rục đến lều lợp lá chuối của người La Hủ, đến nhà sàn của người Thái,nhà đất của người H’mông…

1.8. Về ẩm thực:

Cơm lam, cơm nếp, mèn mẻn, thắng cố, nậm pịa, rượu cần, các loại mắm. Cách thức chế biến: ăn sống, gỏi, nướng, luộc, phơi khô, kho… Hút thuốc lào, thuốc lá với các loại tẩu hình dạng rất phong phú, Nhuộm răng, ăn trầu.

1.9. Về tổ chức gia đình:

Từ đại gia đình mẫu hệ, tiểu gia đình mẫu hệ đến đại gia đình phụ hệ và hiện nay là tiểu gia đình phụ hệ ở hầu hết các dân tộc thiểu số ở nước ta.

29

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.10. Về chế độ hôn nhân:

Từ quần hôn, hôn nhân anh em chồng, đến hôn nhân chị em vợ, hôn nhân liên minh ba thị tộc (Bru – Vân Kiều), chế độ 4 hôn đẳng (Ê đê), đến hôn nhân cá thể với nhiều biểu hiện quá độ từ hôn nhân của xã hội mẫu quyền sang xã hội phụ quyền (tục trở về, tục kéo vợ ở người H’mông, quyền cữu phụ). Chế độ cư trú trong hôn nhân: từ hôn nhân chồng cư trú bên phía mẹ vợ (trong nhà mẹ vợ hoặc trong nhà gần nhà mẹ vợ) như người Khơ me Nam Bộ, đến hôn nhân vợ cư trú ở bên chồng và cuối cùng là sau hôn nhân hai vợ chồng ở nơi cư trú mới xa bên nhà vợ cũng như xa bên nhà chồng.

1.11. Về cưới xin:

Từ phụ nữ cưới chồng (các dân tộc nói tiếng Nam Đảo) đến đàn ông cưới vợ. Tồn tại cả chế độ đa thê, lẫn đa phu (thần bếp: 2 chồng, 1 vợ). Tính chất hôn nhân: Từ hôn nhân theo tình yêu đến hôn nhân mua bán, thể hiện trong thách cưới, quà cáp tặng nhà bên vợ (hoặc nhà bên chồng), tiêu biểu là tiền mua đầu người vợ bằng bạc trắng ở Tây Bắc. Sinh đẻ: đẻ đứng, đẻ ngồi, đẻ nằm, đẻ trong nhà, đẻ ở ngoài rừng. Tục chôn nhau cũng đa dạng: chôn trong nhà, dưới gầm giường, chôn ngoài rừng, đựng trong lá cây hoặc trong ống tre nứa.

1.12. Về ma chay:

Địa táng, không táng, hỏa táng, để trong hang đá. Mồ: chôn tập thể theo gia đình, dòng họ (Tây Nguyên), chôn cá nhân. Lễ dồn mộ, lễ bỏ mả. Tượng nhà mồ ở Tây Nguyên với nghệ thuật tả thực sinh động phản ánh cuộc sống đời thường của người quá cố.

1.13. Về tín ngưỡng, tôn giáo:

Từ tôn giáo nguyên thủy như vạn vật hữu linh, ma thuật (ma thuật làm hại như ma lai, ma gà, mà cà rồng, ma ngũ hãi), ma thuật chữa bệnh, ma thuật tình yêu, ma thuật cầu mùa, tô tem giáo (thờ Bàn Vương ở người Dao, thờ thần Hồ ở người Khơ Mú) đến sa man giáo ở người H’mông và nhiều dân tộc khác; thờ các loại phi, giàng, lễ thành đinh, cấp sắc; thời tù trưởng, ma bản, các tổ sư ngành nghề, các vị lập buôn làng, thờ cúng tổ tiên, các anh hùng dân tộc đến các tín ngưỡng như Phật giáo Tiểu thừa ở người Khơ me Nam Bộ…

1.14. Về lối sống:

Từ du canh du cư sang định canh định cư. Về tư tưởng: từ ý thức hệ cộng đồng nguyên thủy lên tiểu nông, qua ý thức hệ phong kiến và nay là ý thức tiên tiến nhất của mọi thời đại là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

II. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC HÀNH VI VĂN HÓA CHƯA pHù HỢp VỚI CỘNG ĐồNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1. Thực trạng các hành vi văn hóa chưa phù hợp ở cộng đồng dân tộc thiểu số

Có một số vấn đề về các hành vi văn hoá chưa phù hợp (hủ tục văn hoá) ở cộng đồng các dân tộc thiểu số cần quan tâm và xem xét trong quá trình hỗ trợ. Thứ nhất về việc tang, quan niệm của không ít đồng bào dân tộc thiểu số là mời thầy Tào, thầy Mo, thầy cúng yểm bùa, trừ ma và con cháu lăn đường, đội mũ rơm; một số gia đình dân tộc Tày ở tỉnh Lạng Sơn có tục viếng thông gia

30

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

và tế lễ riêng, khi cha mẹ mất thì các con (đã trưởng thành) phải mỗi người một lễ, tế rườm rà, tốn kém; rồi tục đưa đám trước 12 giờ đêm ảnh hưởng cộng đồng dân cư; một số bản, làng dân tộc H’Mông tỉnh Sơn La để người chết trong nhà nhiều ngày; có nơi ngoài việc làm ma tươi cho người chết, còn phải làm ma khô cúng bằng trâu, bò.

Thứ hai về việc cưới, một bộ phận thanh niên dân tộc thiểu số tin vào lá số, số mệnh và việc “nhập ma” cô dâu về nhà chồng; các dân tộc Dao và Sán Chỉ ở vùng sâu, vùng xa tỉnh Quảng Ninh còn tục tảo hôn, ép gả, mua bán, thách cưới cao, tổ chức cưới dài ngày; tục nối dây ở dân tộc Ê Đê (Phú Yên); dân tộc Sán Dìu có tục một nhà trong một năm không được đẻ hai người, nếu có người cưới dâu thì người đến kỳ sinh đẻ phải ra ngoài rừng đẻ con; ở một số dân tộc vẫn còn tục lệ hôn nhân cận huyết thống; ở tỉnh Ðiện Biên, tại một số thôn, bản của dân tộc Hà Nhì và Si La việc cưới, việc tang có quá nhiều thủ tục phức tạp. Nhiều bản, làng, thôn, ấp còn tình trạng trọng nam, khinh nữ; em dâu, con dâu không được ngồi ăn cơm chung mâm với anh chồng, bố chồng; con gái không được học lên lớp trên; một số gia đình có người đau ốm đã làm Then, cúng ma để giải hạn mà không đưa tới trạm y tế xã; tập quán dùng thuốc phiện lưu cữu ở vùng cao.

Thứ ba là một hủ tục nặng nề khác là tục phạt vạ. Cũng ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có luật tục phân chia cái chết thành chết lành và chết dữ. Trong trường hợp “chết dữ” (ví dụ: tai nạn, phụ nữ chết khi sinh con), gia đình chẳng những mất người thân mà còn trở thành nạn nhân của sự trừng phạt được quy định từ ngàn đời bởi luật tục.

Trong nhiều nghi lễ sinh hoạt, một số dân tộc vẫn duy trì nhiều hủ tục và việc thực hành được cả cộng đồng giám sát. Ví như, trong nghi lễ liên quan đến tang ma, có những cộng đồng thường có hành động biểu hiện tình cảm thái quá như tự rạch đùi, rạch ngực; người phụ nữ có chồng chết phải... kiêng tắm gội cả tháng.

Ở khu vực miền núi phía Bắc cũng có nhiều hủ tục đang tồn tại và gây ảnh hưởng không tốt cho cuộc sống của đồng bào. Trên vùng cao Hà Giang, một số cộng đồng dân tộc thiểu số vẫn có tục để người chết lâu ngày trong nhà; giết mổ nhiều bò, lợn, tổ chức ăn uống dài ngày gây tốn kém; hay việc đặt niềm tin thái quá vào cúng bái, bói toán... Tại Lai Châu, vẫn diễn ra phổ biến tình trạng tảo hôn, không đăng ký kết hôn, hôn nhân cận huyết, thách cưới...

Tại nhiều vùng miền núi Quảng Ngãi vì hủ tục “cầm đồ thuốc độc” mà nhiều người bị đánh đập dã man cho đến chết…

Qua những đánh giá trên, có thể nhận thấy thực trạng những hành vi văn hoá chưa phù hợp/hủ tục văn hóa ở đồng bào ít người như sau:

Một là, tình trạng một số tập tục lạc hậu đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành rào cản cho sự phát triển kinh tế và xã hội của chính đồng bào dân tộc thiểu số.

Hai là, tình trạng tập tục lạc hậu tồn tại không tập trung, không có tính hệ thống mà rải rác ở những bản, làng thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao, nơi điều kiện vật chất và tinh thần khó khăn, nhiều hơn là ở những thị trấn, thị tứ, thị xã, thành phố miền núi.

Ba là, căn cứ vào tính chất và nguồn gốc hình thành các tập tục, có thể phân chia thành loại tập tục liên quan mê tín dị đoan và loại tập tục hình thành từ thói quen và nếp sống hằng ngày của đồng bào các dân tộc thiểu số.

31

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Lưu ý: Với NVCTXH hoặc các cán bộ phát triển cộng đồng đến từ bên ngoài, cần hết sức nhạy cảm khi nhìn nhận và trao đổi với các vấn đề liên quan tới văn hóa, đặc biệt là các vấn đề có thể bị coi là “hủ tục”. Với góc nhìn chủ quan từ một người bên ngoài, những tập tục này có thể là không tốt, sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của cộng đồng; và nhiều người sẽ nghĩ là “không thể chấp nhận được” hoặc “cần phải xóa bỏ càng nhanh càng tốt”. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ văn hóa, những tập tục này đã có truyền thống từ lâu đời, đã ăn sâu vào máu thịt của người dân và họ có những niềm tin mãnh liệt vào chúng, thậm chí có những “lý do xác đáng” hoặc “giá trị văn hóa, tâm linh” ở trong đó. Vì vậy, sẽ không dễ gì để một người bên ngoài vào xóa bỏ, thay đổi các tập tục đó. Việc tiếp cận không khéo, mang tính nóng vội, không có nhạy cảm văn hóa có thể dẫn đến việc cán bộ phát triển cộng đồng bị tẩy chay và không làm được việc với cộng đồng.

Ở góc độ này, cần hết sức đề cao nguyên tắc tôn trọng thân chủ, tôn trọng cộng đồng và nhạy cảm văn hóa. Việc tiếp cận từ từ, tìm hiểu dần dần sẽ giúp NVCTXH hiểu rõ hơn về văn hóa, truyền thống các dân tộc. Qua đó, từng bước NVCTXH có những trao đổi, thảo luận với người dân sâu hơn. Những chia sẻ thông tin từ bên ngoài (dưới miền xuôi) có thể từng bước có những tác động đến suy nghĩ, nhận thức của đồng bào và dần dần tự họ sẽ có những đánh giá, phân tích xem có cần thay đổi, xóa bỏ tập tục nào đó hay không.

2.2. Hậu quả, ảnh hưởng của các hành vi văn hóa chưa phù hợp đến cộng đồng dân tộc thiểu số

- Hôn nhân cận huyết:

Trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người H’mông thường vẫn còn kết hôn cận huyết thống. Sự tái tổ hợp gen lặn là điều khó tránh và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến giống nòi, đến khả năng sống sót và phát triển bình thường của thế hệ con cháu.

Hôn nhân cận huyết thống dẫn đến bệnh tật cho thế hệ con cháu và làm suy thoái giống nòi. Theo những nghiên cứu y khoa trên thế giới, con cái của những cặp hôn nhân cận huyết thống có thể có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 10 lần so với những đứa trẻ khác. Khi trưởng thành, những đứa trẻ được sinh ra từ những ông bố, bà mẹ có quan hệ anh em họ hàng cũng có nguy cơ xảy thai hoặc vô sinh. Đây có thể là một trong những nguyên nhân làm suy giảm dân số của các dân tộc thiểu số ở nước ta.

- Chữa bệnh bằng cúng bái:

Với một số vùng miền, một số người dân tộc HMông, Giáy, Táy…, vẫn còn một tập tục khá phổ biến là “bắt con ma bệnh”. Do quan niệm người ốm là do ma ám nên người nhà chỉ mời thầy mo về cúng để đuổi con ma bệnh. Nhiều trường hợp bệnh không thuyên giảm mà còn dẫn đến những cái chết oan uổng cho người bệnh.

- Tục lệ ma chay:

Ở một số vùng miền, trong đó có người H’mông, thay vì được khâm liệm thì người chết vẫn được để lâu trong nhà, có thể lên tới hàng tuần. Mầm bệnh cũng từ đó mà phát tán. Cũng theo tục lệ này, thì người vào viếng sẽ bốc một nắm cơm, một miếng thịt mớm vào miệng người chết, thấy cơm và thịt rơi ra nghĩa là đã “chết thật”. Lúc đó người đến viếng mới khóc rống lên tiếc thương rồi ra ngoài ăn nhậu chia buồn.

32

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Hủ tục chôn sống:

Người mẹ khi sinh con nếu chẳng may qua đời, đứa con dù sống sót cũng phải chôn theo mẹ. Đó là một hủ tục rất nặng nề và đau lòng của đồng bào Ma Coong, xã ThượngTrạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình).

- Tập tục cưới xin:

Với tập tục “nối dây”, khi người mẹ mất đi thì người cha hoặc ở vậy nuôi con hoặc muốn đi bước nữa phải lấy chị hay em vợ mới tiếp tục được ở lại gia đình, nuôi con. Nếu muốn đi bước nữa với người ngoài họ vợ thì người cha phải bỏ lại toàn bộ gia sản cùng con cái cho phía họ vợ nuôi rồi trở về với gia đình cha mẹ đẻ nên tục “nối dây” còn có tên khác là tục “trở về”. Những trường hợp mẹ chết, cha bỏ đi và con phải nương tựa vào nhà họ ngoại là khá nhiều và những đứa trẻ mồ côi mẹ lại không được cha nuôi dưỡng sẽ gặp rất nhiều thiệt thòi hơn rất nhiều lần, dù có được dòng họ bên ngoại cưu mang cũng chỉ bù đắp được phần nào. Các trẻ gặp thiệt thòi như thế không những thêm trách nhiệm cho dòng họ mà còn là gánh nặng của xã hội (tiền trợ cấp hàng tháng cho những đối tượng là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn).

Tập tục cưới xin, ma chay ở một số đồng bào ít người được tổ chức rất linh đình với hàng trăm mâm cỗ. Chi phí cho một đám cưới, đám ma có khi hàng chục triệu, vượt xa khả năng kinh tế của một gia đình nông dân miền núi. Ở một số dân tộc vùng cao như H’mông, Khơ-mú, Xinh-mun, …tục thách cưới bằng bạc trắng đã bớt nặng nề nhưng số tiền mặt mà nhà trai phải đưa cho nhà gái lại tăng lên đáng kể. Vì thế, ma chay, cưới xin vẫn là gánh nặng cho bao gia đình, nhất là những gia đình nghèo.

Nhận biết những hậu quả có thể có của các tập tục này đối với chính người dân cộng đồng sẽ giúp NVCTXH có những cái nhìn rộng hơn khi làm việc với các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, như đã lưu ý ở trên, những cán bộ phát triển cộng đồng cần hết sức thận trọng và nhạy cảm trong việc bàn luận và trao đổi với người dân tộc về các vấn đề mang tính tập tục, truyền thống của họ.

III. CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI BẢO TồN VÀ pHÁT HUY VĂN HÓA LÀNH MạNH Ở CỘNG ĐồNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

3.1. Một số vai trò của nhân viên công tác xã hội trong bảo tồn và phát huy văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số

3.1.1. Kết nối

Vai trò này tập trung giải quyết nguyên nhân “Thiếu cơ hội tiếp cận đến đến các dịch vụ xã hội” như y tế, tư pháp, phúc lợi xã hội,… để hướng đến giải quyết các vấn đề như sinh con tại nhà, không làm giấy khai sinh, mời thày mo cúng cho người ốm…

Nhân viên công tác xã hội sau khi rà soát, tìm hiểu các vấn đề của cộng đồng có thể thấy được các điểm cần cải thiện và cần vận động đồng bào để đồng bào hiểu những quan niệm hủ tục sai lầm, từ đó xoá bỏ những tục lệ lạc hậu đang tồn tại ở nhóm dân tộc ít người Với việc hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ bên ngoài, đặc biệt là thông tin, truyền thông, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tư pháp, phúc lợi xã hội,… NVCTXH có thể từng bước giúp người dân điều chỉnh, thay đổi những tập tục cũ của mình nếu họ thấy không phù hợp. Bên cạnh đó, với vai trò người kết nối,

33

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

NVCTXH có những kiến nghị với cấp trên và trực tiếp bàn bạc với cộng đồng, kịp thời đề ra những giải pháp khắc phục tiến tới hạn chế, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.

3.1.2. Tuyên truyền, giáo dục

Nhiệm vụ này sẽ giải quyết nguyên nhân về dân trí thấp và thiếu thông tin để hướng đến giải quyết các vấn đề tăng cường hiểu biết pháp luật, thay đổi các hành vi chưa đúng như đã nói ở trên.

Để hoạt động tuyên truyền vận động đúng mục đích, đạt hiệu quả đối với người dân là nhóm dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, không đồng đều, hơn nữa lại đang tồn tại những hủ tục lạc hậu, trước hết, người đi tổ chức tuyên truyền vận động (nhân viên công tác xã hội) cần phải:

- Rà soát xem các hủ tục lạc hậu đang tồn tại ở cộng đồng dưới hình thức nào (cưới hỏi, ma chay, tảo hôn, mê tín dị đoan…)

- Tìm và phối hợp với các cá nhân, tổ chức, cơ quan có khả năng và chức năng tuyên truyền để chuyển tải các nội dung cần thiết (như cá nhân có khả năng kẻ vẽ tốt, các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình…).

- Sắp xếp lịch trình tuyên truyền vận động cho các nội dung cụ thể và thông báo để người dân biết, theo dõi.

- Vận động già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ, thầy mo, thầy cúng,... – những người có uy tín lớn đối với người dân - cùng tham gia tổ chức tuyên truyền, vận động

- Tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau: tờ rơi, pa nô áp phích, qua hệ thống đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc, đội chiếu bóng động lưu động, qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, các ấn phẩm văn hoá để người dân ngấm dần, hiểu dần mới có thể thực hiện được.

- Nhân viên công tác xã hội cần coi trọng việc biên soạn tài liệu, nội dung tuyên truyền các chương trình văn hoá phù hợp với từng đối tượng, từng dân tộc bằng cả hai thứ tiếng phổ thông và tiếng dân tộc, đáp ứng yêu cầu của cán bộ cơ sở và người dân. Quan tâm chú trọng để đáp ứng các yêu cầu về thông tin, cập nhật thông tin chung và thông tin của tình hình địa phương cơ sở, nhất là các thông tin có tính chất trao đổi kinh nghiệm hoạt động văn hoá, giúp nâng cao trình độ cán bộ cơ sở và nhận thức của người dân.

Nội dung tuyên truyền:

+ Tuyên truyền sâu rộng cho bà con người dân tộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức, chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội... Lồng ghép tuyên truyền pháp luật với sinh hoạt lễ hội; bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan; củng cố hoạt động hòa giải cơ sở; thực hiện tốt hương ước, quy ước ở thôn, làng; tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động đến tận cơ sở.

+ Vận động người dân từng bước xóa bỏ các tập tục lạc hậu, mê tín, dị đoan... làm ảnh hưởng đến sự phát triển của từng dân tộc và sự phát triển chung của cộng đồng, như: tục thách cưới (ở mức cao); tục nối dòng (loạn luân); tục vợ khi chết, người chồng phải về với gia đình bố mẹ đẻ (hoặc gia đình chị em ruột, dòng tộc) để lại những đứa con không cha, không mẹ; nhiều trường hợp không có người nuôi dưỡng..., tục phạt vạ (ở mức cao); tảo hôn; không làm giấy

34

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

khai sinh cho con, hoặc không đăng ký khi kết hôn; tin vào bùa ngải, ma lai, thầy cúng, thầy mo khi ốm đau; tổ chức ăn uống dài ngày khi có đám tang, gây tốn kém cho gia đình có người chết, v.v.

Nhân viên công tác xã hội khi tổ chức tuyên truyền thì nội dung tuyên truyền cần đi thẳng vào vấn đề, có thể lồng cả yêu cầu bắt buộc phải chấp hành theo quy ước văn hóa hoặc quy định của pháp luật. Còn đối với các dân tộc thiểu số như Hà Nhì, Si La, La Chí, Mạ,… tổng dân số chưa tới 60 nghìn người, điều kiện môi trường sống rất khó khăn, dân trí thấp, thì nội dung cần nặng về tính thuyết phục, phân tích cái lợi, cái hại với lời nói, dòng chữ dễ hiểu, tốt nhất là bằng tiếng các dân tộc này để đồng bào nhận ra và làm theo.

3.1.3. Xây dựng năng lực

Xây dựng năng lực là một trong những vai trò quan trọng của nhân viên công tác xã hội. Nhân viên công tác xã hội cần phân loại các đối tượng cần được tập huấn, bồi dưỡng, xây dựng năng lực sao cho phù hợp với nội dung cần chuyển tải. Chẳng hạn như tập huấn cho những đối tượng là đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa, già làng, trưởng bản, người làm công tác mặt trận, ban vận động ở thôn, bản nhằm tăng cường năng lực chọ, đào tạo những đối tượng này thành hạt nhân tuyên truyền tại cơ sở.

Đối với người dân thì già làng, trưởng bản là những người thường có hiểu biết cao trong cộng đồng, có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, được mọi người dân quý trọng. Do vậy, nhân viên công tác xã hội cần phải nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực cho đội ngũ các già làng, trưởng bản về hậu quả, ảnh hưởng của các hủ tụ văn hóa đến cộng đồng nói chung và cuộc sống của người dân nói riêng. Khi họ đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đẩy lùi, xóa bỏ các hủ tục và thực hiện theo pháp luật thì chính họ sẽ là người trực tiếp vận động, tuyên truyền bà con trong thôn, bản của mình tìm hiểu, thực hiện. Như thế, những già làng, trưởng bản sẽ là cộng tác viên tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để đưa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.

3.1.4.Vai trò kết nối nguồn lực

Công tác xã hội về văn hóa lối sống là một quá trình mà nhân viên công tác xã hội nghiên cứu những hậu quả, ảnh hưởng của những hủ tục văn hóa ảnh hưởng đến cộng đồng; từ đó tác động vào cộng đồng để giúp cho cộng đồng và thôn, bản có những hoạt động tích cực nhằm đẩy lùi và xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.

Nhân viên công tác xã hội làm việc với người dân, chính quyền địa phương nói rõ mục đích và nội dung hoạt động của mình để tìm kiếm sự hợp tác của cộng đồng và các cấp chính quyền, nhằm làm cho cộng đồng có sự thay đổi tích cực thông qua các hoạt động phát triển như:

- Huy động sức dân trong việc xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở trong đó có sự hỗ trợ của Nhà nước, đặc biệt là nhà văn hoá thôn, bản – là nơi tổ chức các buổi biểu diễn, giao lưu văn nghệ..

- Tiến hành lồng ghép, kết hợp nhiều chương trình, dự án để tăng hiệu quả đầu tư cho các thôn bản: Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá, các dự án nghiên cứu bảo tồn văn hoá truyền thống; Dự án bảo tồn các điệu múa đồng bào dân tộc, dự án bảo tồn chữ nôm Dao, chương trình 135, v.v.

35

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Kêu gọi, kết nối các tổ chức xã hội; tổ chức phi chính phủ nước ngoài; doanh nghiệp, tư nhân đầu tư, hỗ trợ hoạt động văn hoá.

3.2. Xây dựng quy trình bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống

Bảo tồn di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhưng rất khó khăn cần phải có hướng tiếp cận mới về nhân học ứng dụng, về lý thuyết tổng thể nguyên hợp của văn hóa dân gian... Đặc biệt, cần coi trọng nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học thể hiện cả từ khâu định hướng, khảo sát, đến vấn đề bảo tồn, xây dựng cơ chế chính sách...

Trước hết, cần phải có sự chuyển biến nhận thức tiếp cận với di sản văn hóa tộc người một cách khoa học ở các cơ quan đề ra chính sách. Đồng thời cần có sự chỉ đạo đồng bộ của cấp ủy đảng và chính quyền địa phương (Tỉnh ủy và các Huyện ủy có nghị quyết chuyên đề, có đề án, Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng dự án thực hiện).

Từ thực tiễn bảo tồn văn hóa vật thể ở ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số cần gắn vấn đề bảo tồn di sản văn hóa với các nhiệm vụ trọng tâm như xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực...của địa phương. Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận từ cấp ủy đảng tới người dân với vấn đề bảo tồn di sản văn hóa.

Trong vấn đề bảo tồn di sản văn hóa cần đặc biệt chú ý vai trò của di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa phi vật thể là cái hồn của mỗi tộc người, là sắc thái riêng của từng dân tộc. Vì vậy bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể là tôn trọng văn hóa tộc người. Nhưng muốn bảo tồn văn hóa phi vật thể cần có các công đoạn mang tính chất khoa học:

+ Bước 1: Tiến hành khảo sát, tổng kiểm kê các di sản.

+ Bước 2: Điều tra nhu cầu của người dân và lựa chọn các di sản để bảo tồn. Trong đó coi trọng vấn đề bảo tồn “sống” các di sản trong môi trường sinh hoạt của người dân. Di sản văn hóa phi vật thể được lưu truyền chủ yếu qua phương thức truyền dạy bằng các hình thức truyền miệng, trình diễn...Vì vậy, khi bảo tồn cần đầu tư cho vấn đề truyền dạy. Cần tiến hành mời nghệ nhân truyền dạy cho đối tượng thanh niên ở cộng đồng và thiếu niên ở các trường học. Các trường dân tộc nội trú, các trường bán trú dân nuôi thực sự là môi trường rất quan trọng và cần thiết để trao truyền di sản văn hóa. Vì thế, cần tiến hành lựa chọn các trường này là địa điểm để thực hiện trao truyền các loại di sản văn hóa phù hợp.

+ Bước 3: Di sản văn hóa muốn được cộng đồng thừa nhận và sống trong cộng đồng thì đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp, chính sách đặc biệt như giải pháp đầu tư tổ chức các cuộc liên hoan bảo tồn các di sản như thi hát ru, thi sử dụng nhạc cụ dân tộc, thi “sơn ca”, thi trò chơi dân tộc, thi ẩm thực... Mặt khác, cần xây dựng các chính sách về đầu tư quảng bá thương hiệu, đầu tư xây dựng mô hình thực nghiệm truyền dạy, các chính sách tôn vinh các nghệ nhân, các chính sách tập hợp đội ngũ tri thức dân gian...

36

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Như vậy, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa dân tộc vừa là nhiệm vụ trước mặt, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ trọng yếu, cấp bách, nhưng ở các tỉnh biên giới như Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa càng trở thành cấp bách hơn. Vì đó còn là nhiệm vụ góp phần nâng cao ý thức quốc gia, đề cao tinh thần dân tộc, bảo vệ chủ quyền biên giới. Mỗi di sản văn hóa các dân tộc (dù là của người Kinh hay của đồng bào các dân tộc thiểu số) vừa là tài sản của tộc người, nhưng đồng thời cũng là cột mốc văn hóa. Bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc phải coi trọng sự đồng thuận của người dân và cần có phương pháp nghiên cứu một cách khoa học gắn liền với thực tiễn từng vùng.

37

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI

DÂN TỘC THIỂU SỐ4

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

1.1. Thực trạng

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhìn chung các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản của nhóm dân tộc thiểu số đã được cải thiện rất nhiều so với trước đây. Tuy nhiên, những chỉ tiêu sức khỏe cơ bản của nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với người Kinh. Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do những hạn chế khó khăn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc điểm tự nhiên của khu vực sinh sống của nhóm người dân tộc thiểu số phần lớn sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa và những nơi có điều kiện tự nhiên khá khắc nghiệt, việc ăn uống, sinh hoạt hàng ngày còn dựa vào thiên nhiên. Đối với họ, khi gặp các vấn đề về sức khỏe đặc biệt là việc sinh sản, việc đến với các cơ sở y tế còn là vấn đề nan giải, đa số họ muốn tự điều trị tại nhà hoặc tìm thầy thuốc trong làng. Việc vận động bà mẹ đến sinh nở tại các trạm y tế gặp nhiều khó khăn khi vấp phải các vấn đề về phong tục tập quán. Đa số bà mẹ đều muốn sinh tại nhà do thói quen và điều kiện di chuyến khó khăn nếu ở vùng sâu vùng xa, mặc dù đã có trạm y tế và có các nhân viên y tế được đào tạo các kiến thức và kỹ năng cơ bản về cách đỡ đẻ an toàn cho các bà mẹ, chăm sóc sức khỏe cho người dân trong làng bản của mình.

38

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Các dịch vụ y tế ngày càng có nhiều nỗ lực nhằm giúp người dân tiếp cận với nhiều kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em được tốt hơn. Nhưng các vấn đề về điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán vẫn là rào cản lớn khiến cho họ chỉ dừng lại ở việc tiếp cận với các dịch vụ này ở tuyến cơ sở này.

Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người dân tộc thiểu số là một bước quan trọng trong việc khuyến khích họ đến trạm y tế và bệnh viện khi gặp các vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên còn nhiều bất cập trong quá trình cấp phát thẻ và truyền thông về cách sử dụng thẻ. Điều này dẫn đến việc người dân không hiểu nhiều về lợi ích của thẻ bảo hiểm và cách thức sử dụng chúng, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số. Các bệnh về ký sinh trùng, nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh tiêu chảy vẫn chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh thường gặp và đây cùng là những bệnh có nguyên nhân gây tử vong cao.

Suy dinh dưỡng cũng là bệnh thường gặp đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng cao hơn so với nhóm trẻ em người Kinh. Ngoài ra, phong tục tập quán ảnh hưởng tới sức khỏe như nghiện hút vẫn còn tồn tại, tai biến sản khoa, uốn ván sơ sinh, băng huyết sau khi sinh, v.v. vẫn là những nguyên nhân tử vong mang tính đặc thù ở các nhóm dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay.

4

Các vấn đề về vệ sinh môi trường cũng là vấn đề nhức nhối và đáng báo động. Do thói quen sinh hoạt và nhiều quan niệm khác nhau, việc làm chuồng gia súc gần nhà, rác thải bừa bãi, việc tắm giặt vệ sinh thân thể và giữ gìn vệ sinh xung quanh,… vẫn đang là những vấn đề tồn tại nhiều trong đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số. Đã có nhiều chương trình, chính sách nhằm khuyến khích các hộ chăn nuôi dời chuồng trại ra xa khu vực nhà ở, nhưng điều này rất khó thực hiện vì theo thói quen chăn nuôi của họ, việc giữ gia súc và gia cầm gần nhà tạo cảm giác an toàn và dễ chăm sóc.

Trẻ em và phụ nữ chưa ý thức nhiều về vấn đề vệ sinh thân thể dù hiện nay hệ thống nước máy có thể đã được cấp đến nhiều hộ gia đình trong các làng, xã của người dân tộc thiểu số. Do thói quen, nhiều người vẫn tắm và sinh hoạt bằng nước suối, ao, để tiết kiệm nước. Điều này dễ gây ra các bệnh truyền nhiễm và các bệnh liên quan đến việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh.

1.2. Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân để chỉ ra rằng vấn đề về chăm sóc sức khỏe và vệ sinh, bảo vệ môi trường của các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay còn nhiều khó khăn và bất cập. Nó có thể xuất phát từ yếu tố nhận thức, trình độ, văn hóa lối sống và cũng có thể xuất phát từ những yếu tố tác động khách quan tới cộng đồng của họ:

- Phong tục tập quán lạc hậu, nhận thức của người dân chưa được rõ ràng trong việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân và vệ sinh môi trường sống của họ. Chính nguyên nhân này là rào cản lớn khiến cho họ đang gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống nói chung và đã trải qua nhiều thế hệ từ đời cha ông cho đến con cháu hiện tại.

- Mạng lưới y tế ở cơ sở còn thiếu cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn nhân lực. Điều này đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc thiểu số mà nhất là các hoạt động đưa dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần với họ hơn. Nhân viên y tế thôn bản đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng nhưng mạng lưới lại chưa được phủ khắp, họ còn yếu cả về tay nghề lẫn kinh nghiệm khám chữa bệnh.

39

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Khả năng tiếp cận với các nguồn thông tin y tế của nhóm người dân tộc thiểu số là rất thấp, họ thiếu phương tiện đi lại và giao thông không thuận lợi là những lý do làm cho nhóm đồng bào dân tộc thiểu số có khó khăn trong việc tiếp cận cơ sở ý tế ở những tuyến cao.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính cản trở người dân tộc thiếu số trong việc sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh đó là vấn đề kinh tế. Đối với họ, không chỉ các khoản chi phí cho viện phí, mà các khoản chi ngoài viện phí như tiền ăn uống, đi lại,… đã tạo nên gánh nặng về tài chính có khó khả năng tự vượt qua. 1.3. Hậu quả

Do nhận thức việc khám chữa bệnh chưa phải là quan trọng nhất đối với người dân tộc nên họ bị lệ thuộc vào các hủ tục lạc hậu khi lâm bệnh, từ đó họ lâm vào tình trạng mắc bệnh nặng và khó chữa trị, có khi dẫn đến tử vong. Bên cạnh đó việc luôn có những tư tưởng lạc hậu và coi thường sức khỏe, làm ảnh hưởng tới sự phát triển nòi giống, sự phát triển sức khỏe cho toàn cộng đồng.

Vấn đề vệ sinh môi trường và sức khoẻ còn gây cho cộng đồng có những tụt hậu về nhận thức, hành vi và thông qua đó góp phần thúc đẩy cho các hủ tục lạc hậu nảy sinh thêm và phát triển mạnh mẽ trong đời sống của các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số nhất là đối với những nhóm ở miền núi xa xôi: ở Tây Bắc, Tây Nguyên, một số tỉnh Trung du miền núi phía bắc,…

Vấn đề này cũng góp phần làm giảm sức lao động, tái sản xuất sức lao động từ hậu quả của việc giảm sút sức khỏe, từ đó sản phảm do con người tạo ra cho cộng đồng ít hơn, điều này làm cho cộng đồng chậm phát triển và góp phần đưa cộng đồng vào tình trạng đói nghèo. Không thoát ra được cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo.

Hơn nữa cũng làm cho thói quen du canh du cư của người dân tộc phát triển, người dân dễ bị lôi kéo và kích động tham gia vào các hoạt động phá huỷ môi trường thiên nhiên như chặt phá rừng có thể làm mất trật tự, an ninh xã hội.

II. CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ SỨC KHỎE VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG Ở CỘNG ĐồNG DÂN TỘC íT NGƯỜI

Việc thay đổi thói quen của người dân không phải là một sớm một chiều. Tuy nhiên, trong những nấc thang thay đổi hành vi nếu như chúng ta làm tốt việc phát hiện ra hành vi không tốt và cung cấp thông tin nhằm giúp cho các nhóm dân tộc thiểu số có thể tự quyết định điều chỉnh và thay đổi hành vi của họ thì đây là một bước tiến quan trọng trong tiến trình giải quyết tận gốc các vấn đề về sức khỏe, vệ sinh môi trường và phát triển bền vững.

2.1. Sự tham gia của nhân viên công tác xã hội trong quá trình giải quyết vấn đề về sức khỏe và vệ sinh môi trường

2.1.1. Nhân viên công tác xã hội tham gia vào các hoạt động đẩy mạnh quá trình giáo dục nâng cao nhận thức cho các nhóm dân tộc thiểu số

- Tuyên truyền,- giáo dục về vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức khỏe thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài, internet; đồng thời nâng cao vai trò của các trang thông tin điện tử trong hoạt động tuyên truyền, cập nhật thông tin và thu thập ý kiến phản hồi từ cộng

40

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

đồng; phối hợp với các cơ quan, đoàn thể tổ chức các hoạt động, các cuộc thi tìm hiểu và hiến kế các giải pháp thiết thực, hiệu quả về chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số.

- Tập huấn nâng cao nhận thức về chăm sóc sức khỏe ban đầu, hướng dẫn cho người dân rà soát, xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe bản thân và các thành viên gia đình.

- Chia sẻ để thay đổi hành vi tự chăm sóc sức khỏe giúp họ có nhận thức đúng về chăm sóc sức khỏe cá nhân và cộng đồng tại các vùng dân tộc thiểu số.

- Thành lập các tổ, nhóm triển khai thực hiện các hoạt động quản lý bảo vệ sức khỏe và vệ sinh môi trường dựa vào cộng đồng tại quận - huyện, phường - xã - thị trấn là cách làm tốt có hiệu quả cao.

- Biên soạn những tài liệu ngắn gọn bằng chữ và quan trọng là bằng hình ảnh và phát đến từng người dân như tờ bướm, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền các vấn đề cần chuyển tải sẽ phù hợp với đặc điểm của nhiều nhóm cộng đồng dân cư.

- Tác động tới những người có uy tín trong cộng đồng để họ trực tiếp tuyên truyền và giáo dục cho các thành viên khác.

2.1.2. Nhân viên công tác xã hội tham gia vận động xã hội hóa chăm sóc sức khỏe cho người dân tộc

- Tuyên truyền cho cộng đồng hiểu và quan tâm, cùng gánh vác trách nhiệm chung.

- Xây dựng và liên kết các dịch vụ công cộng trong việc chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số.

- Tranh thủ sự giúp đỡ của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước về chăm sóc sức khỏe cho dân tộc thiểu số.

- Đẩy mạnh việc phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội như: Hội phụ nữ; Đoàn thanh niên tổ chức các phong trào thi đua, hoạt động tình nguyện nhằm hướng về cộng đồng giúp đỡ cộng đồng các mảng trong đời sống xã hội mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh…

- Cùng người dân trong cộng đồng chủ động tham vào việc góp ý cho chính sách, chiến lược, kế hoạch hành động thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường của địa phương, …thông qua các cuộc họp lấy ý kiến tham vấn tổ chức ở cấp cơ sở mà đối tượng tham vấn là đại diện của cộng đồng hoặc thông qua các cuộc phỏng vấn ở cộng đồng... sẽ là những cách làm thiết thực, đem lại hiệu quả như mong muốn.

2.1.3. Đánh giá thường xuyên việc triển khai các chính sách giáo dục của chính phủ và việc giới thiệu các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe và bảo vệ môi trường

- Việc đánh giá thường xuyên giúp cho nhân viên công tác xã hội cùng với các đối tượng được giúp đỡ nhìn nhận lại những kết quả đã thực hiện được thông qua kế hoạch hoạt động đã đề ra, thông qua đây các nhân viên công tác xã hội và đối tượng có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm và những trải nghiệm với những kết quả mà chúng ta đã đạt được.

41

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Việc đánh giá xuyên suốt quá trình nhân viên công tác xã hội tham gia hỗ trợ cho công tác giáo dục, huấn luyện thay đổi nhận thức, hành vi của các nhóm dân tộc thiểu số để giúp họ có ý thức tốt hơn trong việc giữ gìn sức khỏe bản thân cũng như cộng đồng, tác động và sử dụng hiệu quả tích cực các nguồn tài nguyên ở trong cộng đồng.

- Đánh giá việc triển khai và thực hiện các chính sách về y tế của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào các vùng dân tộc thiểu số.

- Trực tiếp tham gia giới thiệu dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ công tác chăm sóc sức khỏe: Chăm sóc sức khỏe ban đầu; khám chữa bệnh; sức khỏe sinh sản; chế độ bảo hiểm… tại địa phương.

2.2. Các kỹ năng cơ bản trong việc giải quyết vấn đề sức khỏe và vệ sinh môi truờng cho dân tộc thiểu số

2.2.1. Kỹ năng truyền thông

Tuyên truyền vận động là một trong những hoạt động rất quan trọng để nâng nhận thức của người dân nói chung đặc biệt là người dân tộc thiểu số nói riêng. Chính vì vậy, nhân viên công tác xã hội cần phải có được kiến thức sâu rộng, có những trải nghiệm thực tiễn phong phú về cộng đồng và nhất là hiểu được văn hóa lối sống của họ. Nếu không thì nhân viên công tác xã hội cần sử dụng những người dân trong địa phương có sự hiểu biết, thông qua họ chúng ta chuyển tải những thông điệp tới cho cộng đồng.

Một số loại hình của truyền thông chính phục vụ cho quá trình truyền thông thay đổi hành vi chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường ở nhóm người dân tộc thiểu số:

- Sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại đang ngày một tiếp cận tới các vùng sâu vùng xa, như Internet, ti vi, đài, báo, tạp chí, các ấn phẩm (bao gồm cả sách, tờ rơi, bản tin, băng cassette, video..)

- Chương trình truyền thông trong các dự án về thay đổi nhận thức hành vi do các tổ chức dân sự xã hội thực hiện.

- Hội thi, hội thảo (giữa các lãnh đạo, nhà quản lý, chuyên gia, nhân viên công tác xã hội và người dân trong cộng đồng,...)

- Các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho người dân trong cộng đồng.

- Tổ chức biểu diễn các tiểu phẩm, kịch ngắn,…

- Câu lạc bộ (chia sẻ kinh nghiệm)

- Tư vấn, tham vấn cộng đồng (các tổ chức Nhà nước, Phi chính phủ, các nhà khoa học, nhân viên công tác xã hội...)

- Các chiến dịch truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Vai trò truyền thông vận động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên...

- Mạng lưới thư viện và dịch vụ truyền thông,…

42

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Nhân viên công tác xã hội cần lưu ý rằng, trong điều kiện hiện nay việc truyền thông đa phương tiện rất phổ biến, nhưng phải lựa chọn phương tiện truyền thông nào mang lại hiệu quả cao nhất và phù hợp với điều kiện, phương tiện sẵn có tại cộng đồng: nếu có điện thì chúng ta sử dụng ti vi, màn chiếu để tuyên truyền; nhà văn hóa/ nhà rông để hội họp, sinh hoạt/ thảo luận nhóm/ diễn kịch/ sân khấu hóa; sân vận động tổ chức các hội thi thể thao theo chủ đề; ủy ban nhân dân xã để tổ chức các hội thi/ hội diễn văn hóa văn nghệ;…

Để các hoạt động tuyên truyền vận động đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao nhất đối với người dân tộc thiểu số, nơi mà dân trí còn thấp, không đồng đều chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ nhu cầu của họ, phân tích và đánh giá các nhu cầu thực tiễn để không làm trái ý họ, làm điều mà họ không mong muốn. Ví dụ như: muốn xây dựng nhà vệ sinh cho họ cần được thực hiện bài bản và theo hướng tập trung vào thói quen và nhu cầu của người dân tộc. Không thể ép họ làm theo những mô hình nhà vệ sinh do chúng ta áp đặt, bởi vì một khi họ cảm thấy không phù hợp thì việc hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh đều trở nên lãng phí vì không được sử dụng.

Việc tổ chức các buổi truyền thông nhóm nhỏ, nhóm lớn nhằm cung cấp cho bà mẹ kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho trẻ và sức khỏe sinh sản được cho là hiệu quả và bền vững khi nhóm bà mẹ này có thể là nguồn truyền thông mở rộng cho các bà mẹ khác trong cộng đồng, việc này tạo hiệu ứng rộng rãi trong quá trình thay đổi hành vi cho bà mẹ.

Trong quá trình truyền thông cũng cần lưu ý một số yếu tố làm ảnh hưởng tới quá trình truyền thông: Các thói quen, truyền thống văn hóa của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số bởi đây là những yếu tố rất khó thay đổi, và thường hay bị cản trở tới quá trình truyền thông của chúng ta; ảnh hưởng của các dịch vụ xã hội; trạng thái về mặt thể chất của người truyền thông lẫn người nhận truyền thông; các yếu tố về tâm lý, tình cảm, bao gồm cả đức tin; các yếu tố về kinh tế; kiến thức và kỹ năng của người truyền thông, v.v.

2.2.2. Kỹ năng tập huấn, giáo dục và chuyển giao tri thức

Tập huấn là một trong những vai trò cơ bản của nhân viên công tác xã hội để giáo dục cộng đồng, tăng năng lực cho cộng đồng nhất là nhóm dân tộc thiểu số. Đây là hoạt động truyền đạt hay trao đổi trực tiếp những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho người dân. Hoạt động này đóng vai trò chủ đạo trong quá trình nhân viên công tác xã hội làm việc với nhóm người dân tộc thiểu số vì nó mang lại hiệu quả cao, nhanh chóng làm thay đổi những kiến thức, kỹ năng cũng như thái độ, hành vi của họ trước việc đảm bảo giữ gìn sức khỏe của chính mình và người thân cũng như bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sống của cộng đồng xung quanh.

Đây là quá trình trao đổi trực tiếp giữa nhân viên công tác xã hội, các chuyên gia với người dân trong cộng đồng nên cần tạo được bầu không khí chân thành cởi mở, thoải mái, khuyến khích và tăng cường sự tham gia của họ, khi đó các vấn đề sức khỏe và vệ sinh môi trường của cộng đồng được nhóm người tham gia hiểu, sáng tỏ. Thông qua họ, thông điệp của chúng ta nhanh chóng được lan tỏa và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng và có sự tham gia tích cực của toàn cộng đồng vào quá trình bảo vệ sức khỏe, dinh dưỡng và vệ sinh môi trường.

Huấn luyện, nâng cao năng lực cho nhóm dân tộc thiểu số cũng cần đảm bảo tính linh hoạt, có thể là sự truyền đạt một kiến thức mới cho người nghe, có thể trao đổi, thảo luận một vấn đề liên quan tới cộng đồng của những người học để họ có cơ hội chia sẻ trải nghiệm, cũng có thể là sự kết hợp vừa truyền đạt, vừa trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan tới cộng đồng, ví dụ như vấn đề sức khỏe, dinh dưỡng và vệ sinh môi trường của nhóm dân tộc thiểu số. Đối với mỗi nhóm dân tộc họ có thể có kiến thức nhất định về cuộc sống, về giữ gìn, đảm bảo sức khỏe và bảo vệ môi trường.

43

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Thông qua huấn luyện họ được trao đổi với nhau, chia sẻ những trải nghiệm và được học những kiến thúc mới, khoa học và cụ thể. Qua đây, chính bản thân họ được tăng năng lực lên rất nhiều, tự học hỏi lẫn nhau, học hỏi ở nhân viên công tác xã hội và ngược lại nhân viên công tác xã hội cũng học tập được nhiều điều bổ ích từ họ.

2.3.3. Kỹ năng vận động chính sách, đánh giá và giám sát

Vận động chính sách là một kỹ năng quan trọng có mặt trong hầu hết quá trình làm việc với các vấn đề mà nhóm dân tộc thiểu số gặp phải. Bên cạnh những kỹ năng và phương pháp có tính chất tương tác, tăng cường năng lực một cách trực tiếp thì việc đánh giá, thay đổi chính sách là vô cùng cần thiết. Trong vấn đề này, nhân viên CTXH cần đóng vai trò tích cực trong quá trình sửa đổi và tăng cường thực hiện ở các mặt sau:

- Tiếp tục tham gia vận động và đánh giá hiệu quả của chương trình liên quan đến y tế, chăm sóc sức khỏe, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở miền núi, hải đảo, vùng ngập lũ, vùng bị nhiễm mặn.

- Đóng góp tích cực vào việc đánh giá, tăng cường hiệu quả thực hiện nhằm cải thiện cơ bản tình trạng chăm sóc sức khỏe, sử dụng nước sinh hoạt của dân cư, đặc biệt là dân cư nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, vùng núi cao thiếu nước.

44

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

45

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CỦA NHÓM DÂN TỘC

THIỂU SỐ5

I. NHữNG VẤN ĐỀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐỐI VỚI NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Vấn đề chất lượng và môi trường giáo dục

Chất lượng giáo dục thấp hơn rất nhiều so với các vùng trong cả nước, tỷ lệ học sinh bỏ học, học lại vì học kém rất cao. Việc giáo dục môi trường an toàn, giới, quyền trẻ em và kỹ năng sống chưa được quan tâm. Chất lượng của các lớp phổ cập còn thấp; trang thiết bị, sách giáo khoa để giảng dạy và học tập còn thiếu. Môi trường học tập chưa thực sự thu hút trẻ em tới trường. Quan hệ giáo viên học sinh chưa thật sự bền vững, giáo viên chưa an tâm với nghề nghiệp khi công tác ở vùng sâu vùng xa.

1.2. Vấn đề quy mô trường lớp và đội ngũ giáo viên

Hệ thống trường lớp chưa thực sự ổn định và chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo ở địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số sinh sống. Nhiều xã chưa có trường trung học cơ sở (chỉ có lớp trung học cơ sở), điều kiện học tập, sinh hoạt của giáo viên, học sinh thấp kém, không phát huy được khả năng học tập và giảng dạy của thày và trò.

46

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI pHÒNG, CHỐNG BạO LỰC GIA ĐÌNH

Đội ngũ giáo viên vừa thiếu vừa yếu do ảnh hưởng bởi hệ thống chính sách đào tạo cũng như sự luân chuyển giáo viên giữa vùng núi và miền xuôi. Giáo viên chưa an tâm giảng dạy, chất lượng giảng dạy chưa cao và chưa phát huy được hết khả năng của đội ngũ giáo viên phục vụ sự nghiệp giáo dục miền núi.

1.3. Vấn đề cơ sở vật chất

Tuy được sự đầu tư của nhà nước nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều các trường lớp, nhà tạm bằng tranh tre nứa lá, sân trường không đủ chỗ cho học sinh hoạt động học tập và vui chơi.

Khu nội trú của các hệ bán trú tại các trường tiểu học, trung học cơ sở và cả hệ thống các trường dân tộc nội trú thiếu thốn và luôn ở tình trạng khó khăn: không có chỗ ngủ, không có bếp ăn, không có người phục vụ, trẻ phải tự nấu ăn không đảm bảo vệ sinh cũng như dinh dưỡng. Đặc biệt là vấn đề nước uống, nước sinh hoạt, nhà vệ sinh cho cả học sinh và giáo viên.

1.4. Vấn đề thực hiện chế độ chính sách

5

Tuy những năm gần đây chính sách tiền lương và các chế độ khác đảm bảo cuộc sống cho giảng viên đã được cải thiện, nhưng những chính sách về sự luân chuyển, các chế độ đãi ngộ sau khi công tác vùng cao cho giáo viên chưa được giải quyết thỏa đáng, dẫn đến tình trạng giáo viên bỏ trường, bỏ lớp, bỏ nghề vẫn còn xảy ra, làm ảnh hưởng đến tiến trình đào tạo chung của ngành giáo dục.

Chính sách của nhà nước đối với học sinh các trường dân tộc nội trú cũng chưa thực sự được thực hiện triệt để, còn phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ của địa phương và gia đình.

1.5. Vấn đề nhận thức lạc hậu về giáo dục của người dân tộc thiểu số

Trong quan niệm của nhóm người dân tộc thiểu số còn rất lạc hậu về vai trò của giáo dục, họ chưa nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng của việc học. Nhiều người dân tộc cho rằng học cũng chẳng để làm gì cả; hay học chữ có thay được cơm, ngô, sắn không; học không no được cái bụng; một số nơi có cho con em đi học nhưng chỉ con trai mới được đi học còn con gái phải ở nhà chăm em hoặc phụ giúp những công việc trong gia đình.

II. NGUYêN NHÂN

Công tác giáo dục cho nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, làm cho chất lượng giáo dục cho nhóm người dân tộc thiểu số miền núi kém phát triển, ngày càng có khoảng cách so với vùng đồng bằng, đô thị như: Tỷ lệ trẻ em đến trường còn thấp, tỷ lệ học sinh nữ đến trường ít hơn nam; chất lượng giáo dục đầu ra của học sinh chưa cao; công tác phổ cập giáo dục, xoá mù chữ chưa ổn định, thiếu bền vững; hiệu quả nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số chưa cao;… Thực tế còn những bất cập, hạn chế như vậy là bởi những nguyên nhân căn bản: kinh tế của gia đình học sinh còn nhiều khó khăn; về quy mô trường lớp; chất lượng và môi trường giáo dục; về cơ sở vật chất; về chế độ chính sách.

2.1. Kinh tế của gia đình của các em học sinh còn nhiều khó khăn

Gia đình nghèo, không có đủ cái ăn, cái mặc nên nhiều em đã phải cùng gia đình đi làm thêm, vào rừng, lên nương để kiếm cái ăn sống qua ngày hoặc các em phải ở nhà để chăm em nhỏ giúp cha

47

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

mẹ. Học sinh miền núi phần lớn mang tâm lý thích đi kiếm tiền hơn là đi học bởi với các em, tuổi thơ gắn liền với cái đói, cái rét, các em mong muốn được có cuộc sống tốt đẹp hơn và cách tốt nhất theo nhiều em chính là sớm đi kiếm tiền. Điều này xuất phát từ nhận thức chưa đúng đắn và đầy đủ của các em, một phần từ chính yêu cầu của cuộc sống và sự thôi thúc từ gia đình và nhận thức chưa đầy đủ về giáo dục của các bậc cha mẹ.

Thêm vào đó, khoảng cách nghèo vẫn còn rất lớn giữa người nghèo vùng dân tộc thiểu số với người Kinh, đặc biệt là người nghèo ở những vùng sâu, vùng xa như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên.

2.2. Chất lượng đội ngũ giáo viên còn nhiều bất cập

Giáo viên người dân tộc và giáo viên giảng dạy ở vùng dân tộc vừa thiếu về số lượng vừa yếu về mặt chuyên môn. Giáo viên nguời dân tộc thường được bố trí dạy các lớp thuộc tiểu học vì có lợi thế về ngôn ngữ và văn hóa, nhưng điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo ngay bậc học đầu tiên.

Giáo viên ở vùng xuôi lên, có trình độ nhưng do quản lý đào tạo ở các trường còn kém, có phần buông lỏng nên giáo viên chưa thực sự phát huy hết khả năng của họ cho sự nghiệp giáo dục.

Một số giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc dạy học cho học sinh nhất là ở cấp tiểu học, do học sinh chưa được học tiếng Việt và giáo viên còn bất cập khi không hiểu tiếng bản địa.

Trình độ giáo viên còn hạn chế: Việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy ở miền núi chỉ là hình thức, nhiều giáo viên chưa thực sự quan tâm đến học sinh yếu kém, chưa có lòng say mê, yêu nghề…

Ngoài ra, rào cản ngôn ngữ và nhu cầu giáo dục đặc thù cho người DTTS: Hiện nay, các môn học trong trường đều được dạy bằng tiếng Việt, trong khi đó kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh DTTS còn rất kém. Việc chưa thông thạo tiếng Việt thể hiện qua cách các em không nghe kịp được các thầy cô giảng hoặc nhiều em nghe nhưng không hiểu nghĩa của từ nên không nhớ được kiến thức cô giáo dạy mình.

2.3. Ngành giáo dục và đào tạo chưa thực sự quan tâm sâu sát

- Chất lượng giáo dục và môi trường giáo dục:

Chất lượng giáo dục các cấp của trẻ em dân tộc thiểu số đều thấp hơn so với tỷ lệ chung của cả nước. Tỷ lệ học sinh “ngồi nhầm lớp” và tỷ lệ bỏ học còn cao. Việc giáo dục môi trường an toàn, giới, quyền trẻ em và kỹ năng sống chưa được quan tâm đúng mức. Chất lượng phổ cập của các lớp còn thấp, các lớp này thường được tổ chức dạy ban đêm, giáo viên là của các trường trung học cơ sở dạy thêm ngoài giờ; sách giáo khoa, tài liệu và trang thiết bị dạy học phục vụ học tập còn thiếu.

Môi trường học tập chưa thực sự thu hút được trẻ em đến trường. Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh còn có biểu hiện chưa được thân thiện, học sinh yếu chưa được quan tâm giúp đỡ thường xuyên.

Nhiều học sinh không tiếp thu được kiến thức sinh ra tâm lý chán nản và bỏ học, nội dung và chương trình sách giáo khoa còn quá tải đối với học sinh miền núi. Ở một số nơi còn diễn ra tình trạng học sinh không chịu đến trường sau các kì nghỉ buộc giáo viên phải đến tận nhà vận động

48

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

các em trở lại trường và có một thực tế đáng buồn ở các vùng miền núi là vận động học sinh tới trường đã khó, giữ chân các em còn khó hơn.

- Về cơ sở vật chất:

Khu nội trú của học sinh bán trú ở các trường tiểu học và trung học cơ sở còn nhiều khó khăn, chưa đủ chỗ ngủ cho các em, một số trường chưa tổ chức được nấu ăn cho học sinh, các em phải tự nấu ăn không đảm bảo chế độ dinh dưỡng.

Đặc biệt là vấn đề nước sạch, nước sinh hoạt, nhà vệ sinh vẫn đang là vấn đề bức xúc ở nhiều trường tiểu học, trung học cơ sở vùng dân tộc thiểu số. Về mùa khô các trường không có đủ nước sinh hoạt cho học sinh, giáo viên. Có trường đã xây dựng được nhà vệ sinh nhưng do không có nước nên không sử dụng được.

- Về chế độ chính sách:

Chế độ chính sách đối với giáo viên chưa hợp lý. Chính sách của Nhà nước đối với học sinh trung học phổ thông chưa có, còn phụ thuộc và địa phương và gia đình học sinh.

Có thể thấy rào cản về chính sách có tác động rất lớn đến tình trạng tiếp cận giáo dục chung của nhóm dân tộc thiểu số. Hệ thống pháp luật và chính sách về giáo dục thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi bổ sung. Bên cạnh đó hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao.

- Về cơ sở hạ tầng

Với địa hình miền núi cách trở, rộng và bị chia cắt bởi sông suối và đồi núi ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là một trở ngại rất lớn đối với việc đi học của trẻ. Trẻ em miền núi hầu hết phải tự đi bộ đến trường với khoảng cách khá xa; nhiều trẻ phải lội sông suối, trèo núi… rất nguy hiểm. Điều kiện khí hậu thời tiết ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thường khắc nghiệt, giá rét kéo dài, lũ quét, sạt lở đất thường xuyên… khiến cho việc đi học của trẻ em gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm;

III. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC CỦA CỘNG ĐồNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1. Vai trò giáo dục, truyền thông

Nhân viên CTXH cần đóng vai trò là người giáo dục nhằm cung cấp thông tin và các hướng dẫn cụ thể để nâng cao nhận thức của cộng đồng dân tộc thiểu số về tầm quan trọng của giáo dục.

Nhân viên CTXH cần đảm bảo sự tiếp cận với thông tin và khả năng sử dụng các hỗ trợ từ chính sách giáo dục cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đóng góp tích cực vào việc tham gia đánh giá thường xuyên việc triển khai các chính sách giáo dục của chính phủ và giới thiệu các dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ trong quá trình tiếp cận các dịch vụ xã hội.

NVCTXH cũng tham gia trong quá trình xây dựng các hoạt động thiết kế các các khóa tập huấn, cách thức truyền thông, phổ biến kiến thức sáng tạo để người dân hiểu và tham gia tích cực hơn vào trong quá trình tiếp cận dịch vụ giáo dục trên địa bàn, cụ thể như sau:

49

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

- Xây dựng các mô hình học tập trong thôn bản cho các nhóm đặc thù.

- Xây dựng mô hình giới thiệu dịch vụ công tác xã hội hỗ trợ công tác giáo dục tại địa phương.

- Xây dựng mô hình vận động Nâng cao cơ hội và khả năng tiếp cận giáo dục cơ bản cho người nghèo vùng DTTS và miền núi, giảm bất bình đẳng và chênh lệch về giới, dân tộc, chú ý đến nhu cầu giáo dục đặc thù của các nhóm DTTS.

2.2. Vai trò biện hộ, điều phối và kết nối dịch vụ

Cộng đồng DTTS chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội, trong đó có giáo dục và môi trường khó khăn xung quanh. Nhân viên CTXH cần chú ý đến việc xây dựng mối liên hệ giữa cộng đồng DTTS với các hệ thống xung quanh, đặc biệt là với những hệ thống hỗ trợ mà bản thân cộng đồng chưa biết hoặc chưa có thông tin để tiếp cận. Đồng thời, tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc sử dụng thế mạnh trong cộng đồng, đặc biệt là vốn tri thức bản địa trong việc xây dựng môi trường thuận lợi hơn trong việc hỗ trợ cung cấp các dịch vụ giáo dục.

Nhân viên CTXH cần đóng vai trò quan trọng trong việc vận động ngành giáo dục tổ chức các lớp học có trình độ phù hợp cho các nhóm đối tượng khác nhau, ví dụ nhóm bỏ học, nhóm quá tuổi đi học, nhóm trẻ em khó khăn; vận động chính sách hỗ trợ cho nhóm có hoàn cảnh đặc biệt; vận động chính sách hỗ trợ trẻ em học nội trú; vận động chính sách dạy song ngữ.

Bên cạnh đó, nhân viên CTXH cũng tham gia vận động nguồn lực, bao gồm vận động hỗ trợ ngân sách, đồ dùng học tập, tổ chức các hoạt động dạy học tại nhà; kết hợp với ngành giáo dục để vận động nguồn lực cải thiện hạ tầng cơ sở phục vụ cho công tác dạy và học ở các cộng đồng DTTS khó khăn.

2.3. Vai trò giám sát, đánh giá và vận động chính sách

Nhân viên CTXH cần đảm bảo sự tham gia của mình trong các hoạt động dưới đây để tăng cường chất lượng phản biện xã hội và sự đóng góp vào quá trình đánh giá, thực hiện và hoàn thiện chính sách như sau:

- Tham gia vào các nghiên cứu về đổi mới quản lý giáo dục đối với nhóm DTTS.

- Giám sát, đánh giá quá trình thực hiện các chương trình nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là đối với nhóm giáo viên dạy cho nhóm DTTS.

- Việc kết nối, giám sát trong quá trình tăng cường bảo đảm chất lượng dạy tiếng Việt và tiếng DTTS đối với cộng đồng DTTS.

- Đóng vai trò cầu nối trong việc khuyến khích mở các lớp nội trú, bán trú với những nơi đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác phân tán theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Củng cố và hoàn thiện hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, huyện để tạo nguồn đào tạo con em đồng bào dân tộc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên tuyển sinh và cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Chú trọng đào tạo nghề cho con em đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu và tổ chức tốt việc dạy chữ dân tộc.

50

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Có thể nói, trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, hệ thống an sinh đang trong quá trình hoàn thiện và phát triển, vai trò của NVCTXH trong làm việc với nhóm DTTS không chỉ gói gọn trong một số hoạt động nhất định mà cần có sự linh hoạt trong quá trình áp dụng và thực hành. DTTS đã và đang là cộng đồng có nhu cầu đặc biệt và cần sự trợ giúp của NVCTXH trong các hoạt động thực hành ở các cấp độ thưc hành vi mô đến các cấp độ can thiệp vĩ mô về mặt chính sách.

51

CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Minh Hạo. 2003. Một số vấn đề giảm nghèo cho vùng dân tộc thiểu số. NXB Khoa học Xã hội.

2. Nguyễn Kim Liên. 2008. Phát triển cộng đồng. NXB Lao động Xã hội.

3. Ủy ban dân tộc – Viện Dân tộc. 2008. Cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số khi Việt Nam gia nhập WTO. NXB Lý luận chính trị Hà Nội.

4. Ban chỉ đạo Đại hội Đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam. 2010. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam. NXB Giáo dục Việt Nam.

5. Chính phủ. 2002. Công văn số 2685/VPCP – QHQT, ngày 21/5/2002 về Chiến lược toàn diện về tăng trường và xóa đói giảm nghèo.

6. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ về công tác dân tộc. 2002. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta. NXB Chính trị quốc gia.

7. Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới. NXB Nông nghiệp, 2002.

8. Ban chấp hành Trung ương. 2009. Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương khóa 9. NXB Chính trị hành chính.

9. 60 năm công tác dân tộc, thực tiễn và bài học kinh nghiệm. NXB lý luận chính trị, 2006.

10. Chính phủ. 2011. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc.

11. Uỷ ban dân tộc miền núi (2016). Tiếp tục đổi mới công tác dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Một số websites:

- http://songkhoe.vn/thuc-trang-tu-vong-tre-em-tai-viet-nam-s2960-0-237157.html

- http://vov.vn/suc-khoe/san-phu-khoa/cu-100000-san-phu-thi-co-54-nguoi-tu-vong-455030.vov

- https://www.unicef.org/vietnam/vi/media_7456.html

52