
Vấn đề mới - cũ trong thơ Việt Nam trước
1945 nhìn từ phong trào Thơ mới
1. Trong phần Nhỏ to đặt cuối Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có mơ ước mai
sau chỉ cần 4 người trong số 45 người có mặt ở Thi nhân Việt Nam được công chúng
nhớ, là ông đã thoả ước nguyện. Thế nhưng sự thật con số được nhớ trong công chúng
hiện nay là lớn hơn nhiều, gấp vài ba lần. Không cần phải nghĩ ngợi, có thể ở ngay
đầu cửa miệng: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Hàn Mặc
Tử, Bích Khê, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Anh Thơ... Còn có thể kể
vào đây cả những người chỉ có vài bài, hoặc một bài như Nguyễn Nhược Pháp, Vũ
Đình Liên, Đoàn Văn Cừ, Yến Lan, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân... Thế là đã ngót hai
chục, tức là gấp ngót 5 lần con số Hoài Thanh mơ ước. Và giá trị thơ họ để lại là cho
cả thế kỷ XX, cho đến nay, chứ không phải riêng cho thời 1932 - 1945.
Và đây là một tuyển - tuyển, có nghĩa không phải là tất cả bề rộng của phong
trào, với mỗi nhà thơ có đến một hoặc vài tập, và vô số bài đăng trên báo, rất nhiều
báo, đương thời. Để có bộ tuyển 167 bài này, Hoài Thanh nói ông đã đọc 50 quyển và
khoảng một vạn bài thơ, trong đó có non một vạn bài dở. Con số một vạn đây là chỉ
của một người đọc, trong 10 năm. Hẳn còn nhiều ngàn hoặc cả vạn bài khác Hoài
Thanh chưa đọc. Vậy sự tuyển chọn ở đây quả thật là chặt. Phần được chọn trong Thi
nhân Việt Nam cùng với diện rộng các bài của trên 45 nhà thơ được tuyển ta quen gọi
là Thơ mới. Vậy con số non một vạn bài dở mà Hoài Thanh chê cần được gọi là thơ

gì? Thơ dở thì chắc rồi. Nhưng dở có phải là cũ không? Đó là câu hỏi đặt ra cần xem
xét khi tìm hiểu vấn đề mới - cũ?
Cần tiếp tục một sự gạn lọc nữa. Không phải 167 bài được Hoài Thanh chọn
vào tuyển tất cả đều được người đọc đời sau nhớ. Có lẽ chỉ khoảng 1/4 số bài được
người đọc thuộc. Tức là có người một bài như Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhược Pháp,
Thâm Tâm...; có người vài bài như Lưu Trọng Lư, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ...; có
người nhiều bài hơn như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên... Lại có
rất nhiều người không có bài nào để nhớ.
Thế nhưng chỉ với những bài được nhớ ấy, nới cho thật rộng, khoảng dăm sáu
chục bài của trên dưới 20 nhà thơ lại kết tụ được, kết tinh được thần sắc, cốt cách, linh
hồn của một phong trào thơ, được mệnh danh là Thơ mới. Giá trị nó để lại cho đời, cái
nó xứng đáng được xưng tụng, không phải chỉ là ý tưởng, ngôn ngữ, cảm xúc, giọng
điệu, phong cách thơ, thậm chí một trào lưu thơ được gọi là mới, mà là sự hội tụ, sự
kết tinh để có cả một thời thơ, một thời đại trong thơ, làm chuyển động và thay đổi
hẳn những gì đã định hình và ổn định suốt cả 10 thế kỷ, và còn lấn sang đầu thế kỷ
XX, với hai người kết thúc là Yên Đổ và Tú Xương... Cái được gọi là thời đó lại
không thể sớm hơn, và tất nhiên không có chuyện muộn hơn. Sớm hơn một chút là
Đông Hồ, Tương Phố; là Trần Tuấn Khải, Tản Đà... Tất cả đều chưa đến được cái gọi
là mới. Còn lùi sâu hơn nữa vào hai thập niên đầu thế kỷ XX - đó là thơ chữ Hán của
Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu. Là thơ nôm trào phúng của Nguyễn Thiện Kế,
Phan Điện (không kể Yên Đổ, Tú Xương). Là thơ Nôm hoặc Quốc ngữ của các nhà
Nho trong phong trào Đông kinh nghĩa thục. Tất cả đều thuộc một phạm trù thơ khác,
gần gũi với thơ Trung đại nên càng xa quỹ đạo Thơ mới, nhưng lại không thể gọi là

thơ cũ. Thơ mới, vậy là chỉ có thể xuất hiện và tồn tại trong 10 năm - từ 1932 cho đến
Tuyển Thi nhân Việt Nam năm 1942. Có gì như là một sắp xếp của lịch sử, một định
mệnh, không thể khác. Chỉ đến thời điểm đó mới có Thơ mới. Và sau đó, không còn
nữa, khi tất cả đều được chuyển vào quỹ đạo của một nền thơ hiện đại.
2. Vậy là ở đây có định ngữ mới cho một phong trào thơ tồn tại chỉ trong 10
năm, trải ra trên một diện không rộng lắm, chỉ trên dưới 40 nhà thơ; và được phản ánh
tập trung và rõ nét trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Có chữ mới tất có câu
hỏi: Vậy cái cũ, thơ cũ là gì? Có phải là tất cả những gì có trước nó, trước 1932, kể từ
Đông Hồ, Trần Tuấn Khải ngược về đầu thế kỷ XX, và sâu hơn, cả nền thơ Trung đại?
Và cả những gì đồng thời với nó, mà không được người tuyển chọn là Hoài Thanh để
mắt tới nơi con số non một vạn bài dở mà ông đã nêu?
Có thể hiểu như thế được không? Lôgích hình thức có thể cho phép hiểu như
thế. Cũ là tất cả những gì đã qua đi trong thời gian, trước ngưỡng hiện tại. Nhưng
đánh giá thơ, cũng như đánh giá các hiện tượng tinh thần của con người lại không thể
áp dụng nguyên tắc này. Bởi mọi giá trị tinh thần, khi nó đã là giá trị thì sống mãi. Và
quy luật phát triển của nghệ thuật không phải sau là hơn trước, mà chỉ là sau phải khác
trước. Không thể nói Balzac thế kỷ XIX là hơn Voltaire thế kỷ XVIII. Không thể nói
Lý Bạch, Đỗ Phủ thời Đường là hơn Khuất Nguyên thời Xuân Thu. Cũng như vậy,
không thể nói Nguyễn Du thế kỷ XVIII là hơn Nguyễn Trãi thế kỷ XV...
Sự thật thì khi phong trào Thơ mới mới được khởi động quả là khó tránh khỏi
có những bốc đồng, quá trớn, theo lối chế riễu, coi thường, thậm chí mạt sát mọi cái
được gọi là cũ. Thơ cũ đến từ những khuôn mẫu thời Đường, trong đó thể thất ngôn -
luật phải chịu một sự bài bác kịch liệt nhất, bởi, nói như Phan Khôi, nó "bó buộc quá

mà mất cả sanh thú"(1). Đến cả một tác gia vẫn được người đời sau nhớ là Bà Huyện
Thanh Quan cũng bị chê, trong lời bình của Phạm Quỳnh, được Hoài Thanh dẫn lại:
"nó hay, nó trúng vần, trúng điệu, nhưng vì đó có lẽ cũng làm mất cái giọng thiên
nhiên đi ít nhiều vậy.
... Rằng hay thì thật là hay
Nhưng hay quá, khéo quá, phần nhân công nhiều mà tự nhiên ít, quả là một bức
tranh cảnh vậy"(2).
Đến cả một người tiền bối gần gũi là Tản Đà, với bài Cảm thu, tiễn thu hay là
thế, cũng bị Tú Mỡ đem ra chế riễu:
Cây tươi tốt lá còn xanh ngắt
Bói đâu ra lác đác lá ngô vàng
Trên đường đi nóng rẫy như rang
Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ.
Là nhà thơ, lại là thơ trào phúng, dĩ nhiên là Tú Mỡ chẳng cần phải, như chúng
ta, để tâm đến những quy ước và lệ luật trong truyền thống thơ cổ điển mà nhà Nho
Tản Đà chưa thể dứt ra được. Và dẫu chưa dứt được, nhưng lệ luật ấy cũng không
phương hại gì nhiều lắm đến sự thống nhất giữa cảnh và tình trong cảm nhận của một
lớp người vào buổi giao thời vẫn còn lưu luyến với cái buồn thu với những "lá đào",
"suối tiễn", "oanh đưa"... để phô bày cảm xúc và tâm trạng. Nhưng rồi bình tĩnh lại,
khi sự thắng thế của Thơ mới đã được khẳng định thì một chuyển đổi thái độ là điều
dễ hiểu: Thơ mới không thể là sự phủ định toàn bộ truyền thống, là sự quay lưng tuyệt
đối với quá khứ dân tộc.

Do vậy mà toàn bộ thơ cổ điển, với những đỉnh cao của nó lại trở về là đối
tượng chiêm ngưỡng, tôn thờ của Thơ mới. Trước hết là Nguyễn Du. Lưu Trọng Lư
viết: "Thơ mới dẫu nó sản xuất ra được một bậc thiên tài lỗi lạc nào, tôi cũng không
vì bậc thiên tài ấy mà rẻ rúng ông Nguyễn Du thân yêu của tôi, ông Nguyễn Du bất
diệt, nhà thi sĩ của muôn đời"(3). Còn Hoài Thanh, người tổng kết Thơ mới thì không
chỉ một lần nói đến Nguyễn Du: "Một quyển sách nói về thơ Việt mà mở ra không
nhắc đến Nguyễn Du tôi thấy như một sự bội bạc. Nghĩ thế tôi muốn tìm một câu gì
trong Truyện Kiều để in lên đầu sách. Sự tình cờ xui tôi nhớ lại câu: "Của tin gọi một
chút này làm ghi. Đọc đi đọc lại riêng lấy làm đắc ý lắm”(4). Và một lần khác, khi
"quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại nào phong phú
như thời đại này" Hoài Thanh vẫn phải lựa cách rào đón mà nói trước rằng đây chỉ là
so thời với thời. Chứ không dám so một người với một người. Bởi, so một người với
một người thì tránh sao khỏi động đến Nguyễn Du là "bậc kỳ tài đời nay không ai
sánh kịp"(5).
Và tất nhiên không chỉ có Nguyễn Du. Cùng với Nguyễn Du còn bao nhiêu
người khác nữa, trước và sau ông. Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương... Và cả bà
Huyện Thanh Quan. Bà Huyện Thanh Quan, dẫu có lời chê, rào trước đón sau của
Phạm Quỳnh vẫn được tính đến trong các tác gia cổ điển có giá trị - Vậy là tinh hoa cổ
điển - Thơ mới vẫn tôn thờ... Cho đến thời hiện tại, với những người đi trước như Tản
Đà, dẫu có lúc bị chế riễu, vẫn được Hoài Thanh, nhân danh các nhà Thơ mới "cung
chiêu anh hồn" về dự hội Tao Đàn, với tư cách là "người của hai thế kỷ”: "Có tiên
sinh, người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những
đứa thất cước, không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi"(6)...

