BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ KIM OANH
CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ KIM OANH
CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên Ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã Số: 62 34 02 01
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
i
TÓM TẮT LUẬN ÁN
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam
cũng đang gánh chịu những hệ lụy từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới vừa qua. Theo
Tổng cục Thống kê, trong năm 2010 đã có 47.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt
động và tình trạng này kéo dài cho đến những năm tiếp theo, ngay cả khi nền kinh tế
thế giới đã bước vào thời kỳ phục hồi. Nguyên nhân chính của tình trạng này là các
doanh nghiệp Việt Nam có quy mô kinh doanh và vốn đầu tư thấp, đặc biệt cơ cấu
vốn chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thanh toán và cạnh
tranh yếu. Do đó, luận án tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính: (i) tác động của suy
thoái kinh tế, các yếu tố vi mô và mối quan hệ giữa các biến vĩ mô với việc lựa chọn
cấu trúc vốn (CTV) của doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới (quý
1/2007-quý 4/2010) và kinh tế thế giới phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016); (ii) xác
định ngưỡng CTV mục tiêu của các Công ty cổ phần (CTCP) niêm yết trên sàn chứng
khoán Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế.
Kết quả của luận án cho thấy: (i) ngưỡng CTV mục tiêu của các doanh nghiệp
này trong thời kỳ suy thoái kinh tế là 54,39% và trong thời kỳ phục hồi là 59,66%;
(ii) suy thoái kinh tế và khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều đến việc lựa
chọn CTV, còn ngược lại, cơ cấu tài sản có tác động thuận chiều. Riêng trong thời
kỳ suy thoái kinh tế, doanh nghiệp cần kiểm soát thêm vấn đề quy mô, tốc độ tăng
trưởng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế phục
hồi, doanh nghiệp cần mở rộng quy mô, tăng trưởng và khả năng thanh toán. Bên cạnh
đó, trong thời kỳ này, doanh nghiệp cần kiểm soát thêm các khoản thu nhập chịu thuế;
(iii) tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa các biến kinh tế vĩ mô (TTTP, tăng trưởng kinh
tế, TTTD và TTCK) và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Ngoài ra, trong thời
kỳ suy thoái kinh tế, các biến kinh tế vĩ mô giải thích khoảng 35% việc lựa chọn
CTV của doanh nghiệp. Nhưng trong thời kỳ phục hồi, mức độ này chỉ còn 4%, tác
giả đưa ra các gợi ý chính sách để các CTCP niêm yết trên các sàn chứng khoán Việt
Nam đạt được CTV mục tiêu.
ii
LỜI CAM ĐOAN
********
Tôi tên là: Trần Thị Kim Oanh
Sinh ngày: 29 tháng 05 năm 1988 – Tại: Phú Yên
Quê quán: Hòa Vinh, Đông Hòa, Phú Yên
Hiện đang công tác tại: Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật TP.HCM – Số
215-217 đường Nguyễn Văn Luông, P. 11, Q. 6, TP. Hồ Chí Minh.
Là nghiên cứu sinh khóa 19 của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
Cam đoan đề tài: Cấu trúc vốn mục tiêu tại các Công ty cổ phần Việt Nam
trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới.
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng. Mã số: 62.340201
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TSKH. Nguyễn Ngọc Thạch
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
Tôi xin cam đoan luận án nghiên cứu này là kết quả làm việc của chính cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PSG. TSKH. Nguyễn Ngọc Thạch. Để hoàn thiện
luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của tập thể giảng viên
Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh và người hướng dẫn đã hết sức nhiệt
tình, sâu sát trong quá trình hướng dẫn tôi thực hiện luận án. Do đó, tôi xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc đến tập thể giảng viên Trường và người hướng dẫn.
Trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong
nhận được sự hướng dẫn thêm từ Quý Thầy/Cô, sự chia sẻ, đóng góp của các chuyên
gia để tôi có thể nghiên cứu tốt hơn nữa.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự này của tôi.
TP. HCM, ngày tháng năm 2017
Tác giả
TRẦN THỊ KIM OANH
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI ĐẦY ĐỦ KÝ HIỆU
VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT TIẾNG ANH
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á Asian Development Bank
Phương pháp phân tích phương Analysis of Variance ANOVA sai
BĐS Bất động sản
BCTC Báo cáo tài chính
CTCP Công ty cổ phần
CTV Cấu trúc vốn
CSTT Chính sách tiền tệ
CSTK Chính sách tài khóa
EBIT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
FED Cục Dự trữ Liên bang
FEM Mô hình tác động cố định Fixed effects model
Phương pháp bình phương bé Feasible Generalized least FGLS nhất tổng quát squares
GMM General Method of Moments
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
HNX Sàn chứng khoán Hà Nội
HOSE Sàn chứng khoán TP.HCM
IMF Quỹ tiền tệ Thế giới International Monetary Fund
MM Lý thuyết MM Modigliani and Miller theory
iv
Cơ quan nghiên cứu kinh tế National Bureau of Economic NBER quốc gia của Hoa Kỳ Research
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NSNN Ngân sách nhà nước
NVNH Nguồn vốn ngắn hạn
NVDH Nguồn vốn dài hạn
NNH Nợ ngắn hạn
NDH Nợ dài hạn
ODA Viện trợ phát triển chính thưc Official Development Assistant
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Organization for Economic OECD Cooperation and Development Kinh tế
Phương pháp bình phương nhỏ Ordinary Least Squares OLS nhất
Poodel OLS Mô hình dữ liệu gộp Poodel Ordinary Least Squares
Hồi quy ngưỡng của dữ liệu Panel Threshold Regression PTR bảng
POT Lý thuyết trật tự phân hạng Pecking order theory
TOT Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Trade – off theory
Panel VAR PVAR
Panel VECM PVECM
REM Mô hình tác động ngẫu nhiên Rem effects model
RD Nghiên cứu và phát triển Research And Development
SURE Seemingly Unrelated Regression
TTBĐS Thị trường bất động sản
v
TTCK Thị trường chứng khoán
TTTC Thị trường tài chính
TTTT Thị trường tiền tệ
TTTP Thị trường trái phiếu
TTTD Thị trường tín dụng
TCTD Tổ chức tín dụng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNV Tổng nguồn vốn
TTS Tổng tài sản
TSNH Tài sản ngắn hạn
TSDH Tài sản dài hạn
Tổ chức Phát triển công nghiệp United Nations Industrial UNIDO Liên hiệp quốc Development Organisation
VAR Mô hình tự hồi quy Vector Autoregression
VECM Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số Vector Error Correction Model
VCSH Vốn chủ sở hữu
VNINDEX Chỉ số chứng khoán Việt Nam
Phòng Thương mại và Công VCCI nghiệp Việt Nam
Chi phí sử dụng vốn bình quân Weighted Average Cost of WACC Capital
vi
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ...................................................................................... 1
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI ....................................................................... 1
1.1.1. Bối cảnh nghiên cứu trong nước và quốc tế .................................................... 1
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học ..................... 5
1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ........................................................ 8
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................... 8
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................... 9
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ................................................... 10
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 10
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 10
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................................... 10
1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN ................................ 11
1.5.1. Về mặt lý luận ................................................................................................ 11
1.5.2. Về mặt thực tiễn ............................................................................................. 13
1.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN .............................................................................. 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN
MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ .............................................................. 17
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH
TẾ .............................................................................................................................. 17
2.1.1. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn mục tiêu ........................................................... 17
2.1.1.1. Khái niệm cấu trúc vốn ................................................................................ 17
2.1.1.2. Cấu trúc vốn mục tiêu .................................................................................. 20
2.1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn ............................................... 22
2.1.1.4. Các lý thuyết và quan điểm khoa học về cấu trúc vốn, cấu trúc vốn mục tiêu
................................................................................................................................... 24
2.1.2. Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế ...................................... 32
2.1.2.1. Khái niệm chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế .............................................. 32
2.1.2.2. Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế ..................................................................... 34
vii
2.1.3. Mối quan hệ giữa suy thoái kinh tế và cấu trúc vốn mục tiêu ........................ 38
2.2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ...................................... 41
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của suy thoái kinh tế đến việc
lựa chọn cấu trúc vốn .............................................................................................. 41
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về xác định cấu trúc vốn mục tiêu ................... 49
2.2.3. Thảo luận các nghiên cứu trước ...................................................................... 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 56
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 57
3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ................................................................................ 57
3.2. MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU TRÚC
VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY
THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ................................................................................. 58
3.2.1. Mô hình và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 58
3.2.1.1. Mô hình nghiên cứu ..................................................................................... 58
3.2.1.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 59
3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu ..................................................................................... 60
3.3. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ
GIỚI ........................................................................................................................... 74
3.3.1. Mô hình nghiên cứu ........................................................................................ 74
3.3.2. Phương pháp xác định cấu trúc vốn mục tiêu ................................................. 75
3.4. MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU .................................................................... 76
3.4.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu ................................................................................ 76
3.4.2. Thống kê mô tả và các kiểm định cơ bản ........................................................ 77
3.4.2.1. Thống kê mô tả ............................................................................................. 77
3.4.2.2. Kết quả kiểm định tính dừng ........................................................................ 77
3.4.2.3. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến ................................................................. 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................ 79
viii
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN VÀ KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH
CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ...................................... 80
4.1. THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ........................................... 80
4.1.1. Suy thoái kinh tế thế giới ................................................................................ 80
4.1.2. Thực trạng cấu trúc vốn và các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế......................................................................... 83
4.1.2.1. Thực trạng cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy
thoái kinh tế ............................................................................................................... 83
4.1.2.2. Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các chỉ số tài
chính có liên hệ với cấu trúc vốn .............................................................................. 91
4.2. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU TRÚC VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ
THẾ GIỚI .................................................................................................................. 98
4.2.1. Xác định độ trễ tối ưu ...................................................................................... 98
4.2.2. Kiểm định tính ổn định trong mô hình ............................................................ 99
4.2.3. Kết quả ước lượng Mô hình 1a, 1b và 1c ...................................................... 100
4.2.3.1. Mô hình 1a ................................................................................................. 100
4.2.3.2. Mô hình 1b ................................................................................................. 109
4.2.3.3. Mô hình 1c .................................................................................................. 118
4.3. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI .............................. 121
4.3.1. Mô hình 2a .................................................................................................... 121
4.3.2. Mô hình 2b .................................................................................................... 123
4.3.3. Mô hình 2c ..................................................................................................... 125
4.4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 127
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 ...................................................................................... 135
ix
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU
TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ........................ 137
5.1. KẾT LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ............................ 137
5.1.1. Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn cấu trúc vốn của các
doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh mối quan hệ này với thời
kỳ phục hồi .............................................................................................................. 137
5.1.2. Tác động của các biến kinh tế vi mô đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của các
doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh với thời kỳ phục hồi .... 139
5.1.3. So sánh việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời
kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi ............................................................................. 140
5.1.4. Xác định cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ
suy thoái và thời kỳ phục hồi ................................................................................. 142
5.2. MỘT SỐ GỢI Ý ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU
TRÚC VỐN MỤC TIÊU TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ .............. 142
5.2.1. Đối với doanh nghiệp ................................................................................... 142
5.2.1.1. Thay đổi nhận thức của nhà quản trị, thành lập bộ phận chuyên trách và
ứng dụng phân tích định lượng xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu phù hợp với doanh
nghiệp ...................................................................................................................... 143
5.2.1.2. Thiết lập cấu trúc vốn theo ngưỡng mục tiêu phù hợp với từng nhóm doanh
nghiệp và từng thời kỳ của cục diện kinh tế .......................................................... 144
5.2.1.3. Một số gợi ý trong việc lựa chọn cấu trúc vốn để đạt mức mục tiêu cho các
doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế ........................................ 145
5.2.2. Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ............................................... 155
5.3. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO . 160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 ...................................................................................... 162
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................ 163
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
x
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: HỆ THỐNG CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, CẤU TRÚC VỐN
MỤC TIÊU VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN
PHỤ LỤC 2: TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH
TẾ VÀ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM
PHỤ LỤC 3: DANH MỤC CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 4: THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ KIỂM ĐỊNH CƠ
BẢN
PHỤC LỤC 5: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH 1A,
1B VÀ 1C
PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH 2A, 2B VÀ 2C
xi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn ...................................................... 19
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu đo lường CTV căn cứ theo chủ thể tài trợ ............................ 23
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu đo lường CTV căn cứ theo thời hạn hoàn trả ....................... 23
Bảng 2.4. Hàm ý từ các lý thuyết về tác động của suy thoái kinh tế đến CTV ........ 40
Bảng 3.1. Các biến tác động đến việc lựa chọn CTV trong mô hình ....................... 73
Bảng 3.2. Các mô hình trong luận án ....................................................................... 76
Bảng 3.3. Đo lường các biến trong mô hình.............................................................. 77
Bảng 4.1. Danh sách các doanh nghiệp có vốn lưu động ròng âm ........................... 89
Bảng 4.2. Kết quả ước lượng mô hình PVAR với biến phụ thuộc TDR ................ 100
Bảng 4.3. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1a) ........................................... 105
Bảng 4.4. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1b) ........................................... 114
Bảng 4.5. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1c) ........................................... 119
Bảng 4.6. Kết quả ước lượng Mô hình 2a .............................................................. 122
Bảng 4.7. Kết quả ước lượng Mô hình 2b .............................................................. 124
Bảng 4.8. Kết quả ước lượng Mô hình 2c .............................................................. 125
Bảng 4.9. Danh sách các doanh nghiệp có CTV trên ngưỡng CTV mục tiêu ..... 126
Bảng 4.10. So sánh CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam với các công
trình trước ............................................................................................................... 127
Bảng 4.11. So sánh kết quả nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô
đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam với các công trình trước .... 129
Bảng 4.12. Kết quả nghiên cứu tác động của việc lựa chọn CTV đến các biến kinh tế vĩ mô
tại Việt Nam với các công trình trước ......................................................................... 129
Bảng 5.1. So sánh sự khác nhau về việc lựa chọn cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp
Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi .......................................... 141
Bảng 5.2. So sánh tác động của việc lựa chọn cấu trúc vốn đến các biến kinh tế vĩ mô
trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi ............................................................ 141
xii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Giá trị doanh nghiệp theo Lý thuyết TOT ................................................ 29
Hình 2.2. Chu kỳ kinh tế .......................................................................................... 33
Hình 2.3. Hệ thống các mô hình chu kỳ kinh tế ....................................................... 34
Hình 4.1. Tăng trưởng kinh tế thế giới và một số khu vực trọng điểm .................... 82
Hình 4.2. Quy mô nguồn vốn trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam ............. 85
Hình 4.3. CTV của các doanh nghiệp Việt Nam ...................................................... 86
Hình 4.4. Cân đối tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam .................................. 88
Hình 4.5. Tỷ suất sinh lời (ROE) của các doanh nghiệp Việt Nam ......................... 92
Hình 4.6. Quy tài sản (SIZE) của các doanh nghiệp Việt Nam ............................... 93
Hình 4.7. Cơ cấu tài sản (TANG) của các doanh nghiệp Việt Nam ........................ 94
Hình 4.8. Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GRO) của các doanh nghiệp .................. 95
Việt Nam ................................................................................................................... 95
Hình 4.9. Rủi ro kinh doanh (VOL) của các doanh nghiệp Việt Nam ..................... 96
Hình 4.10. Khả năng thanh khoản (LIQ) của các doanh nghiệp Việt Nam ............. 97
Hình 4.11. Thuế TNDN phải nộp (MTR) của các doanh nghiệp Việt Nam ............ 98
Hình 4.12. Kết quả kiểm định nghiệm đa thức đặc trưng AR .................................. 99
Hình 4.13. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1a) ........................................ 105
Hình 4.14. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1b) ........................................ 114
Hình 4.15. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1c) ........................................ 120
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Bối cảnh nghiên cứu trong nước và quốc tế
Trong năm 2007, nền kinh tế thế giới bộc lộ những dấu hiệu bất ổn do sự xáo
trộn trên thị trường tài chính (TTTC) của các quốc gia, xuất phát từ khủng hoảng thị
trường tín dụng (TTTD) tại Mỹ. Tình trạng bất ổn trên TTTC Mỹ dẫn đến sự suy
giảm trong khu vực thực. Tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm và lan rộng trên phạm
vi toàn cầu, chu kỳ kinh tế thế giới chuyển từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái
(Wessel, 2010). Năm 2007, kinh tế thế giới tăng trưởng 4,31%, thấp hơn mức 4,38%
của năm 2006 nhưng vẫn cao hơn mức bình quân 3,9% trong 10 năm trở lại đây (IMF,
2008). Trong đó, các nền kinh tế phát triển, dẫn đầu là Mỹ bắt đầu tăng trưởng chậm
lại. Bước sang các năm 2008-2009, kinh tế thế giới tiếp tục suy giảm với diễn biến
phức tạp hơn do suy thoái kinh tế kéo dài và trở nên càng trầm trọng, dẫn đến khủng
hoảng kinh tế toàn cầu. Đáy của cuộc khủng hoảng này là năm 2009, khi tăng trưởng
kinh tế toàn cầu chỉ đạt -1,68%, mức thấp nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II
(IMF, 2009). Nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, các nước thuộc khu vực châu
Âu đã lâm vào suy thoái kinh tế, thương mại toàn cầu và thị trường chứng khoán
(TTCK) thế giới sụt giảm, giá cả quốc tế biến động bất thường, hàng loạt các định
chế tài chính lớn trên thế giới phá sản, giải thể hoặc sáp nhập. Năm 2010, kinh tế thế
giới có dấu hiệu phục hồi, sản xuất công nghiệp, thương mại đã tăng trưởng trở lại,
TTTC bắt đầu khôi phục. Tăng trưởng GDP thế giới đạt 4,35%, xấp xỉ bằng mức tăng
trưởng kinh tế của năm trước suy thoái (2006), mở đầu một pha mới của chu kỳ kinh
tế - pha phục hồi. Hầu hết kinh tế tại các khu vực đều phục hồi, Mỹ tăng trưởng
2,53%, các nước phát triển OECD đạt 2,93%, các nước châu Âu phục hồi chậm, đạt
2,08%. Một số nước khu vực châu Á đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, tương đương
7,27% cao hơn so với năm 2006 (IMF, 2010).
Suy thoái kinh tế thế giới gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát
triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, khiến quá trình phục hồi kinh tế thiếu bền
2
vững. Cụ thể, năm 2010, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn ẩn chứa
những rủi ro và bộc lộ các dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục như tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao,
nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu, tăng trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưa khôi
phục mức trung bình của thời kỳ trước suy thoái, sự thiếu hợp tác giữa các nền kinh tế
tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặc biệt tại
các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa (CSTK)
và chính sách tiền tệ (CSTT) làm suy giảm niềm tin vào chính sách kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, suy thoái kinh tế cũng như chu kỳ kinh tế xảy ra theo định kỳ. Đó
là quy luật không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường. Do đó, các doanh nghiệp
và quốc gia chủ động thực hiện các chính sách kinh tế để hạn chế những tổn thất do chu
kỳ kinh tế gây ra. Sau khi nền kinh tế vượt qua pha suy thoái và bước sang pha phục
hồi, để khắc phục những hậu quả này, các quốc gia trong đó có doanh nghiệp thường
thực hiện tái cấu trúc kinh tế và bên cạnh đó, việc điều chỉnh các thể chế tài chính toàn
cầu là điều tất yếu (Nguyễn Ngọc Thạch và Lý Hoàng Ánh, 2014).
Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển quy mô nhỏ, tham gia ngày càng
sâu và rộng vào hệ thống kinh tế thế giới. Vì vậy, suy thoái kinh tế thế giới kéo dài
đã gây những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
chậm lại. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2007-quý 4/2010), tăng
trưởng kinh tế Việt Nam bình quân đạt 6,12%/năm, thấp hơn so với thời kỳ trước suy
thoái kinh tế thế giới (quý 1/2000-quý 4/2005) với tốc độ bình quân đạt 6,88%/ năm.
Đặc biệt, từ quý 1/2008, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu giảm, chỉ đạt
7,52%, tiếp tục giảm ở các quý tiếp theo và chạm đáy của sự suy giảm tại quý 1/2009
với mức thấp nhất là 3,12%. Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giảm từ 9,58 tỷ USD vào
năm 2008 xuống còn 7,6 tỷ USD vào năm 2009, tương ứng với mức giảm 20,67%.
Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trở nên nghiêm trọng, nhất là trong thời kỳ
suy thoái kinh tế thế giới với mức nhập siêu trung bình đạt 14,4 tỷ USD. Chỉ xét riêng
năm 2008, thâm hụt cán cân thương mại là 18,03 tỷ USD, cao nhất trong 10 năm gần
đây. Lạm phát tăng liên tục đến mức kỷ lục trong vòng 10 năm qua, đạt đỉnh 27,73%
3
vào quý 3/2008, rủi ro tài chính tăng cao (IMF, 2007-2010). Sau thời gian tăng trưởng
nóng (2006-2007), TTCK Việt Nam đã bắt đầu sụt giảm và có những biến động khó
lường, chỉ số VNINDEX của TTCK Việt Nam đã chạm đáy ở mốc 234,66 điểm vào
ngày 24/02/2009 (CTCP Chứng Khoán Sài Gòn, 2006-2007). Suy thoái kinh tế thế
giới kéo dài gây bất ổn cho môi trường kinh tế vĩ mô - thị trường xuất khẩu bị thu
hẹp, dòng vốn đầu tư quốc tế và nhu cầu tiêu dùng của các nước giảm mạnh, tăng
trưởng kinh tế chậm, TTTC suy giảm, lạm phát tăng cao. Vì vậy, trong thời kỳ này
NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt thận trọng (NHNN Việt Nam bắt đầu điều chỉnh
tăng các loại lãi suất chỉ đạo, lãi suất huy động và cho vay tăng cao - cao nhất đạt
20,10% vào quý 3/2008). Bên cạnh đó, lãi suất cho vay tăng làm tăng chi phí hoạt
động của doanh nghiệp, trong khi các TCTD hạn chế cấp tín dụng nên doanh nghiệp
càng khó khăn trong huy động nguồn vốn này, dẫn đến tình hình sản xuất, kinh doanh
của các doanh nghiệp trong nước trì trệ. Theo VCCI (2010), đã có 47.000 doanh
nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động và tình trạng này kéo dài trong những năm tiếp
theo, ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi. Từ năm 2011 đến năm
2015, trung bình mỗi năm có khoảng 63.520 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt
động, tương ứng với tốc độ tăng bình quân 76,65% (VCCI, 2011-2015). Một trong
những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam
chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô kinh doanh, vốn đầu tư thấp, cơ cấu
tài chính chưa phù hợp, hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thanh toán và cạnh tranh
thấp. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, NHNN thực hiện CSTT thắt
chặt – điều chỉnh tăng lãi suất chỉ đạo, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%, nâng hệ
số rủi ro đối với cho vay BĐS và cho vay đầu tư chứng khoán lên 250%. Vì vậy, các
tổ chức tín dụng (TCTD) hạn chế cấp tín dụng, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín
dụng, chi phí tài chính tăng cao. Trong khi đó, khả năng sinh lời của doanh nghiệp
giảm, tình trạng mất khả năng thanh toán và mất cân đối tài chính càng nghiêm trọng.
Doanh nghiệp dễ dẫn đến việc phá sản, giải thể khi không thể cạnh tranh được trên
thị trường trong nước và quốc tế trong điều kiện khó khăn (VCCI, 2014). Vì vậy,
phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nguyên nhân này, cụ thể là liên quan đến
4
việc xác định ngưỡng CTV mục tiêu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV
của các doanh nghiệp Việt Nam khi nền kinh tế thế giới ở pha suy thoái và so sánh
với pha phục hồi. Từ đó, luận án gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam điều
chỉnh việc lựa chọn CTV của mình nhằm đạt được ngưỡng CTV mục tiêu, nâng cao
hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp.
Theo số liệu từ báo cáo tài chính (BCTC) của 82 CTCP niêm yết trên hai Sàn
Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX, mặc dù vốn kinh doanh của các doanh
nghiệp này tăng dần từ quý 1/2007 đến quý 2/2016, với tốc độ tăng bình quân là
3,48%, nhưng việc tăng quy mô này chủ yếu do sự gia tăng nợ phải trả - chiếm 51,07%
tổng nguồn vốn (TNV), trong đó nợ ngắn hạn (NNH) chiếm 62,40% nợ phải trả và
tiềm ẩn rủi ro cao. Mặc dù trong ngắn hạn, khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
này được đảm bảo, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh toán - chỉ số thanh
toán ngắn hạn giảm với tốc độ giảm bình quân 5,30% và có khoảng 23,17% số doanh
nghiệp nghiên cứu rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính kéo dài. Tình trạng này trở
nên thực sự nghiêm trọng trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, khi hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp khó khăn, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân hàng
năm thời kỳ này giảm mạnh với mức 1,88%. Theo đó, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
(VCSH) cũng có xu hướng giảm qua các năm với tốc độ giảm bình quân là 0,87%.
Hệ quả là hàng loạt doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với nợ đến hạn. Theo
số liệu thống kê của NHNN, tỷ lệ nợ xấu trung bình của toàn hệ thống ngân hàng giai
đoạn này chiếm 2,77% dư nợ với tốc độ tăng bình quân là 26,55%. Bên cạnh đó,
thông qua cơ chế lan truyền thông tin của Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn
(Banerjee, 1992; Chari và Kehoe, 2004), trước những khó khăn của doanh nghiệp,
các TCTD cơ cấu lại dư nợ và thu hẹp quy mô tín dụng, thêm vào đó TTCK, TTTP
trong nước cũng bị thu hẹp nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp
trở nên càng khó khăn.
Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế bất lợi như vậy, hầu hết các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch cụ thể và dài hạn về nguồn vốn mà việc lựa chọn
5
CTV chủ yếu theo quan điểm chủ quan, chưa thực sự dựa trên các lý thuyết CTV hiện
đại, gắn với các thời kỳ kinh tế cụ thể. Nhận định này được chứng minh bằng các số
liệu sau đây. Khi nền kinh tế thế giới trong thời kỳ suy thoái, có hơn 51,22% doanh
nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu, do đó, chưa phát huy được vai trò của
đòn cân nợ, nhưng ngược lại làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mặc
dù, khi nền kinh tế thế giới phục hồi, tình hình tài chính của doanh nghiệp bắt đầu cải
thiện, tuy nhiên số lượng doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu vẫn ở
mức cao 39,02%.
Mặt khác, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), các yếu tố kinh tế vĩ
mô chỉ giải thích 16,4% việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, kéo mức đóng góp này
thấp xuống trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi (4%). Trong khi đó, trong thời kỳ
suy thoái kinh tế thế giới, tỷ lệ đóng góp này đạt 35%. Điều này chứng tỏ, trong thời
kỳ suy thoái kinh tế thế giới, các nhà quản trị tài chính trở nên nhạy cảm hơn với các
diễn biến kinh tế vĩ mô trong việc lựa chọn nguồn vốn, nhưng trong thời kỳ kinh tế thế
giới phục hồi, trước triển vọng tăng trưởng, những biến động kinh tế vĩ mô bị các nhà
quản trị doanh nghiệp xem nhẹ. Đây có thể là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng hàng
loạt doanh nghiệp Việt Nam bị mất khả năng thanh toán không chỉ trong thời kỳ suy
thoái mà ngay cả khi nền kinh tế thế giới phục hồi. Nhiều doanh nghiệp quá khó khăn
buộc phải giải thể, ngừng hoạt động trong những năm này đã chứng minh điều đó. Như
vậy, trong thời kỳ suy thoái cũng như kinh tế phục hồi, các nhà quản trị doanh nghiệp
Việt Nam chưa xây dựng được CTV mục tiêu phù hợp với những điều kiện kinh tế
thay đổi để nâng cao hiệu quả hoạt động và gia tăng giá trị công ty.
1.1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học
Trong những thập kỷ qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về CTV được công
bố. Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào một số vấn đề quan trọng. CTV
của doanh nghiệp chịu sự tác động của các yếu tố vi mô (Ramzivà Tarazi, 2013; Amjad
và ctg, 2012; Hunjra và ctg, 2014). Trong khi Booth và ctg (2001), Chen (2003), Kayo
và Kimura (2011), Joeveer (2013) phân tích ảnh hưởng kết hợp của các yếu tố kinh tế
6
vi mô và những điều kiện kinh tế vĩ mô đến CTV. Tại Việt Nam, nghiên cứu các yếu
tố tác động đến CTV của doanh nghiệp được thực hiện bởi Đoàn Ngo ̣c Phi Anh (2010),
Nguyễn Thị Ngọc Lan và Nguyễn Tiến Dũng (2013), Dương Thị Hồng Vân (2014),
Võ Thị Quý (2014). Gần đây, một số công trình trong nước và nước ngoài nghiên cứu
tác động của CTV đến giá trị công ty hoặc xác định ngưỡng CTV mục tiêu của doanh
nghiệp được thực hiện bởi Ahmad và Abdullah (2012), Wang và Zhu (2014), Võ Hồng
Đức và Võ Tường Luân (2014), Quang và Xin (2015), Nguyễn Thành Cường (2015).
Từ thập niên 1970, trong bối cảnh suy thoái kinh tế diễn ra với tần suất cao,
cường độ mạnh và diễn biến phức tạp mà gây ra những hậu quả nặng nề đối với các
quốc gia và toàn thế giới, xuất hiện một số nghiên cứu gắn phân tích CTV với bối
cảnh các cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998 hay 2008-2009. Tuy nhiên, số lượng
công trình có tính hệ thống và giá trị khoa học cao chưa nhiều. Trong số các công
trình có giá trị ở nước ngoài, có thể kể đến Davis và Stone (2004), Ariff và ctg (2008),
Fosberg (2013), Alves và Francisco (2015), Altunok và Oduncu (2014), Iqbal và
Kume (2014). Còn tại Việt Nam, chỉ có Truong Hong Trinh và Nguyen Phuong Thao
(2015) đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu nêu trên tập trung
vào vấn đề xác định các yếu tố tác động đến CTV, trong đó sử dụng biến giả khủng
hoảng kinh tế để phân tích sự chênh lệch giữa CTV trung bình của thời kỳ khủng
hoảng kinh tế so với các thời kỳ trước và sau khủng hoảng. Tuy nhiên, các công trình
này chưa làm rõ các quy luật nền tảng của lý thuyết CTV trong bối cảnh chu kỳ kinh
tế: trong thời kỳ suy thoái kinh tế, khi các điều kiện kinh tế vi mô cũng như vĩ mô
thay đổi, các nguyên lý hành vi, trong đó CTV của các nhà quản trị doanh nghiệp
thay đổi như thế nào - theo hướng gia tăng sử dụng nợ hay hạn chế sử dụng nợ để
thích ứng với những điều kiện kinh tế cụ thể. Ngoài ra, các công trình này chưa phân
tích các nguyên lý hành vi của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế phục hồi với
những điều kiện kinh tế dần đi vào sự ổn định - các doanh nghiệp nên điều chỉnh CTV
như thế nào và ngưỡng CTV mục tiêu bằng bao nhiêu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để
mở rộng hoạt động sản xuất, phục vụ cho chu kỳ kinh tế mới. Đây là khoảng trống
khoa học trong nghiên cứu về CTV của các doanh nghiệp. Do đó, tác giả sử dụng mô
7
hình hồi quy ngưỡng (PTR) để xác định CTV mục tiêu trong các thời kỳ suy thoái và
thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới.
Mặt khác, về khía cạnh phương pháp luận, hầu hết các nghiên cứu trước đây và
hiện nay sử dụng các phương pháp ước lượng như Pooled OLS, FEM, FGLS, GMM
để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến CTV. Các phương pháp này được sử dụng để
phân tích tác động một chiều từ các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô đến CTV, trong khi
chưa phân tích được cơ chế tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến CTV của doanh
nghiệp cũng như chưa giải thích được các cú sốc kinh tế vĩ mô tác động như thế nào
đến hành vi điều chỉnh CTV của doanh nghiệp và độ dài thời gian của các tác động
này. Thật vậy, lý thuyết kinh tế (Lý thuyết Keynes, Lý thuyết bầy đàn và Lý thuyết tín
hiệu) cho thấy, mối quan hệ giữa CTV và các yếu tố kinh tế vĩ mô có thể là hai chiều.
Theo cơ chế phản hồi thông tin của Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn, ngoài sự
tác động của các biến kinh tế vĩ mô đến các chủ thể trong nền kinh tế thì các chủ thể
này (bao gồm doanh nghiệp) cũng có tác động trở lại đối với các biến kinh tế vĩ mô và
góp phần giải thích sự bất ổn của môi trường kinh tế vĩ mô. Cụ thể, trong bối cảnh suy
thoái kinh tế, các biến kinh tế vĩ mô biến động làm xói mòn lòng tin của các chủ thể
trong nền kinh tế - nhất là các nhà đầu cơ đồng loạt bán tháo các tài sản tài chính để
thực hiện nghĩa vụ của mình. Việc bán tháo các tài sản tài chính có thể làm giá trị của
chúng giảm mạnh, đặc biệt là trên TTCK và TTTP. Do đó, chính hành vi này góp phần
làm cho cuộc suy thoái xảy ra nhanh chóng và trở nên nghiêm trọng hơn. Hoặc theo Lý
thuyết tín hiệu (Asquith và Mullins, 1983), cho rằng việc doanh nghiệp tăng mức vay nợ
phát ra tín hiệu tốt về triển vọng kinh doanh của chúng trong tương lai, các nhà đầu tư
mua vào cổ phiếu và đẩy giá chứng khoán tăng lên. Ngược lại, việc doanh nghiệp phát
hành cổ phiếu được xem là tín hiệu không tốt về triển vọng kinh doanh, vì vậy, trong
trường hợp này, giá cổ phiếu thường giảm. Từ những lý thuyết trên có thể thấy, tồn tại
mối quan hệ hai chiều giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV của doanh
nghiệp. Mối quan hệ này chưa được các công trình trước đây, đặc biệt ở Việt Nam nghiên
cứu một cách đầy đủ. Đây là khoảng trống về phương pháp luận.
8
Gần đây, Khanna và ctg (2015) đã sử dụng phương pháp ước lượng của dữ
liệu thời gian trên dữ liệu bảng - PVAR để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa
việc lựa chọn CTV và các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát và chỉ
số chứng khoán. Đây là phương pháp tương đối mới ở nước ngoài, và tại Việt Nam
theo thống kê chưa đầy đủ của tác giả vẫn chưa có công trình nào sử dụng. Mục đích
của việc dùng phương pháp này là để phân tích một cách toàn diện sự tác động qua
lại giữa CTV của doanh nghiệp và các biến kinh tế vĩ mô cũng như phân tích cơ chế
truyền dẫn của cú sốc kinh tế vĩ mô đến CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Do
đó, tác giả dùng phương pháp PVAR để đạt được các mục tiêu nghiên cứu của luận
án và bổ sung khoảng trống trong các công trình trước.
Chính những lý do về mặt lý luận và thực tiễn nêu trên cho thấy tính cấp thiết
khi nghiên cứu về CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam gắn với bối cảnh
suy thoái kinh tế thế giới. Ngoài ra, để tăng giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu,
luận án xem xét vấn đề này trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi vì trong thời kỳ
này, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro tài chính, khả năng mất thanh
khoản cao, cần phải xây dựng CTV mục tiêu phù hợp để ổn định hoạt động kinh
doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện khả năng thanh khoản, tránh được nguy
cơ phá sản và tăng giá trị doanh nghiệp. Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài:
“Cấu trúc vốn mục tiêu tại các công ty cổ phần Việt Nam trong thời kỳ suy thoái
kinh tế thế giới”.
1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: luận chứng các cách tiếp cận lý luận và phương pháp
luận trong nghiên cứu CTV mục tiêu, và xây dựng các giải pháp để các CTCP niêm
yết tại Việt Nam đạt được CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Trong đó,
nội dung trọng yếu là xác định ngưỡng CTV mục tiêu cho các CTCP niêm yết tại Việt
Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới. Tuy nhiên, để đạt
được ngưỡng CTV mục tiêu, các CTCP niêm yết tại Việt Nam chú trọng không chỉ
9
đến các yếu tố nội tại mà còn các yếu tố kinh tế vĩ mô và tính chu kỳ của nền kinh tế.
Do đó, luận án nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế, các yếu tố kinh tế vi mô và
mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn CTV trong bối cảnh suy
thoái kinh tế thế giới và và so sánh với thời kỳ phục hồi.
- Mục tiêu cụ thể: Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát, các mục tiêu cụ
thể được đặt ra:
+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV
của các CTCP niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới và so
sánh với thời kỳ phục hồi.
+ Nghiên cứu tác động của yếu tố kinh tế vi mô đến việc lựa chọn CTV của các
CTCP niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới và so sánh với
thời kỳ phục hồi.
+ Phân tích sự khác biệt trong việc lựa chọn CTV của các CTCP niêm yết tại
Việt Nam giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới.
+ Xác định ngưỡng CTV mục tiêu của các CTCP niêm yết tại Việt Nam trong
thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới.
1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, luận án cần giải quyết năm câu hỏi nghiên cứu
chính sau đây:
(1) Tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn
CTV của các CTCP niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới hay
không? Chiều hướng và mức tác động như thế nào? So sánh các mối quan hệ trong thời
kỳ này với các mối quan hệ trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi?
(2) Các biến kinh tế vi mô nào thực sự tác động đến việc lựa chọn CTV của các
CTCP niêm yết tại Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới ? So sánh các tác
động trong thời kỳ này với các tác động trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi?
(3) Sự khác biệt như thế nào trong việc lựa chọn CTV của nhà quản trị tại các
CTCP niêm yết tại Việt Nam giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới?
10
(4) Tồn tại ngưỡng CTV mục tiêu tại các CTCP niêm yết tại Việt Nam trong
các thời kỳ suy thoái và phục hồi kinh tế thế giới hay không? Ngưỡng CTV mục tiêu
trong hai thời kỳ này là bao nhiêu?
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án xác định CTV mục tiêu của các CTCP niêm yết tại Việt Nam trong
thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2007-quý 4/2010) - gọi tắt là thời kỳ suy
thoái và so sánh với thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016) - gọi
tắt là thời kỳ phục hồi.
Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế thế giới và các
yếu tố kinh tế vi mô đến việc lựa chọn CTV của các CTCP niêm yết tại Việt Nam
cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV của các
CTCP niêm yết tại Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh với thời kỳ phục hồi.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án sử dụng dữ liệu bảng cân bằng được thu thập có chọn lọc từ các BCTC
của 82 CTCP phi tài chính đã niêm yết trên hai Sàn Giao dịch Chứng khoán HOSE
và HNX. Sau đây gọi tắt là các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp này có
đầy đủ BCTC, dữ liệu từ quý 1/2007 đến quý 2/2016 (82x38 = 3.116 quan sát) và
hoạt động liên tục trong thời gian nghiên cứu. Các BCTC này đã được công bố trên
trang web của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Nguồn dữ liệu kinh tế vĩ mô được tác giả thu thập từ các trang web của IMF,
ADB, AsianBondsOnline và NHNN.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu dựa vào dữ liệu nghiên cứu đã đề cập ở
trên, luận án sử dụng các phương pháp sau:
Luận án sử dụng các cách tiếp cận hệ thống và phương pháp luận duy vật biện
chứng. Trong khuôn khổ các phương pháp luận này, các phương pháp thống kê mô
tả, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch và quy nạp được sử dụng xuyên suốt toàn
bộ nội dung của luận án.
11
Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp định lượng hồi quy dữ liệu bảng cân
bằng được xử lý qua phần mềm Stata 14 để giải quyết các câu hỏi sau:
Đối với các câu hỏi (1), (2) và (3), luận án sử dụng mô hình véctơ tự hồi quy
cho số liệu hỗn hợp - PVAR được Love and Zicchino (2006) giới thiệu. Mô hình
PVAR do Love và Zicchino (2006) đề xuất dựa trên cơ sở các ứng dụng của GMM
sẽ đảm bảo tính thuần nhất của phương sai số dư, ngăn ngừa hiện tượng tự tương
quan và đồng thời sử dụng biến trễ làm biến công cụ nên phương pháp này bảo toàn
số liệu phù hợp với tính chất của dữ liệu nghiên cứu.
Đối với câu hỏi (4), luận án sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng của Hansen
(1999) cho dữ liệu bảng – PTR để xác định CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Ngoài ra, để kiểm định sự phù hợp
của ngưỡng CTV mục tiêu trong hai thời kỳ này, luận án sử dụng các kiểm định cần
thiết để lựa chọn mô hình và phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (FGLS)
cũng được áp dụng.
1.5. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, luận án đã có những đóng góp mới như sau:
1.5.1. Về mặt lý luận
Thứ nhất, hệ thống hóa những lý thuyết về CTV và CTV mục tiêu, phân tích
ưu điểm và nhược điểm của từng lý thuyết, khả năng vận dụng để nghiên cứu CTV
tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, trên cơ sở cách tiếp cận kết hợp các lý thuyết về CTV và các lý thuyết
chu kỳ kinh tế, tác giả phân tích hành vi điều chỉnh CTV mục tiêu của doanh nghiệp,
mối quan hệ giữa các thời kỳ bất ổn kinh tế (pha suy thoái và pha phục hồi) và CTV
của doanh nghiệp. Từ đó, tác giả xây dựng các giả thuyết nghiên cứu: (i) tác động của
suy thoái kinh tế thế giới đến việc lựa chọn CTV; (ii) tác động của các biến kinh tế vi
mô đến việc lựa chọn CTV; (iii) mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa
chọn CTV.
12
Thứ ba, kết quả nghiên cứu định lượng thông qua việc sử dụng mô hình PVAR
cho thấy, suy thoái kinh tế thế giới có tác động nghịch chiều đến CTV của các doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, việc xác định ngưỡng CTV mục tiêu trong hai thời kỳ cũng cho
kết quả tương tự, ngưỡng CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái thấp hơn so với
ngưỡng CTV mục tiêu trong thời kỳ phục hồi. Phát hiện này, theo nhận định của tác
giả, phù hợp với các lý thuyết CTV hiện đại như Lý thuyết đánh đổi CTV (TOT), Lý
thuyết chi phí đại diện, Lý thuyết tín hiệu và Lý thuyết chu kỳ kinh tế, Lý thuyết
Keynes cho rằng trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên ít sử dụng nợ.
Thứ tư, kết quả nghiên cứu của tác giả bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho
Lý thuyết TOT động. Cụ thể, lý thuyết TOT động chỉ ra rằng doanh nghiệp khó đạt
CTV mục tiêu ngay lập tức mà phải qua một quá trình điều chỉnh theo từng thời kỳ,
thời điểm cụ thể. Tuy nhiên, lý thuyết này không xác định việc điều chỉnh CTV mục
tiêu nhanh hay chậm trong từng thời kỳ, thời điểm. Đặc biệt, lý thuyết này chưa
nghiên cứu CTV mục tiêu gắn với tính chu kỳ của nền kinh tế, cụ thể các pha suy
thoái và pha phục hồi của chu kỳ kinh tế. Mặc dù vậy, luận án có kết quả tương đồng
với lý thuyết này là CTV mục tiêu không cố định mà thay đổi theo những bối cảnh
kinh tế khác nhau, cụ thể CTV mục tiêu khác nhau trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ
phục hồi - trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp có mức sử dụng nợ ít hơn so với
thời kỳ phục hồi.
Ngoài ra, luận án phát hiện rằng, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi,
các doanh nghiệp đều gia tăng sử dụng nợ. Tuy nhiên, trong thời kỳ suy thoái, các
doanh nghiệp có tốc độ sử dụng nợ tăng nhanh hơn so với thời kỳ phục hồi. Điều này
trái ngược với Lý thuyết Minsky (1975), Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn trong
thời kỳ này, áp lực thanh khoản lớn nên các chủ thể, đặc biệt các doanh nghiệp có xu
hướng tích trữ thanh khoản – tiền mặt. Do đó, về mặt lý luận các lý thuyết về chu kỳ
kinh tế đều cho rằng trong thời kỳ này, các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh giảm
sử dụng nợ. Nguyên nhân của tình trạng này, theo đánh giá của tác giả do mẫu nghiên
cứu, cụ thể là các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính tương đối yếu (bị mất
cân đối tài chính kéo dài, khả năng thanh toán và lợi nhuận giảm) nên thay vì giảm sử
13
dụng nợ thì phải điều chỉnh CTV theo hướng tăng nhanh nợ vay hơn so với thời kỳ
phục hồi để đảm bảo nguồn vốn thiếu hụt tạm thời. Qua đó có thể thấy, kết quả nghiên
cứu của luận án bổ sung các bằng chứng thực nghiệm cho Lý thuyết TOT, Lý thuyết
Keynes và Lý thuyết bầy đàn, trong thời kỳ suy thoái các doanh nghiệp thường có xu
hướng điều chỉnh giảm sử dụng nợ, tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp có khả năng
tài chính tương đối yếu chưa tự chủ được vốn như các doanh nghiệp Việt Nam thì xu
hướng điều chỉnh ngược lại. Đây là một đóng góp khoa học của luận án.
Thứ năm, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng chứng minh tồn tại
mối quan hệ qua lại giữa việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và các biến kinh tế vĩ
mô khi xem xét với trong bối cảnh của chu kỳ kinh tế. Điều này chứng tỏ tồn tại mối
quan hệ nhất định giữa các lý thuyết về CTV, CTV mục tiêu (Lý thuyết TOT, Lý
thuyết chi phí đại diện, Lý thuyết tín hiệu và Lý thuyết định điểm thị trường) và lý
thuyết chu kỳ kinh tế (Lý thuyết Keynes, Lý thuyết bất ổn của Minsky) mà hiện nay
có ít nghiên cứu thực nghiệm nào đề cập đến vấn đề này ngoài công trình của Khanna
và ctg (2015). Đây là một đóng góp khoa học của luận án.
1.5.2. Về mặt thực tiễn
Mặc dù phạm vi nghiên cứu của luận án gắn với bối cảnh suy thoái kinh tế thế
giới (2007-2010), tuy nhiên như trên đã phân tích suy thoái kinh tế cũng như chu kỳ
kinh tế xảy ra theo định kỳ, có tính quy luật không thể tránh khỏi. Do đó, những kết
quả nghiên cứu và gợi ý chính sách của luận án không những có ý nghĩa thực tiễn đối
với việc lựa chọn CTV để đạt được CTV mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
và cải thiện khả năng thanh toán của các doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh
tế thế giới (2007-2010) mà còn có ý nghĩa trong việc định hướng và dự báo cho những
cuộc suy thoái kinh tế của thế giới cũng như của Việt Nam xảy ra trong tương lai.
Thứ nhất, các doanh nghiệp Việt Nam duy trì CTV thực tế ở mức 51% và có
xu hướng tăng nhưng nghiêng về sử dụng NNH. Trong cơ cấu nợ, NNH chiếm trên
62,40% và nợ dài hạn (NDH) chiếm dưới 37,60%. Điều đó cho thấy, các doanh nghiệp
Việt Nam huy động chủ yếu vốn ngắn hạn (NVNH) từ bên ngoài mà chưa quan tâm
14
đúng mức đến việc sử dụng nguồn vốn dài hạn (NVDH) như TTCK, TTTP trong hoạt
động đầu tư. Điều này chứng tỏ, vốn huy động tại các doanh nghiệp Việt Nam chưa đa
dạng, theo đề xuất của tác giả, doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận nhiều nguồn vốn
huy động với chi phí sử dụng vốn thấp và có tính ổn định cao như thương phiếu, trái
phiếu, tài trợ thuê mua.
Thứ hai, trong ngắn hạn, khả năng thanh toán của các doanh nghiệp Việt
Nam vẫn đảm bảo, tuy nhiên tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối tài chính tại một số bộ
phận doanh nghiệp (chiếm 23,17% số doanh nghiệp nghiên cứu). Đây là nguyên
nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu gia tăng và số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động,
giải thể, phá sản tăng cao trong thời kỳ nghiên cứu. Do đó, theo tác giả, các doanh
nghiệp Việt Nam cần cơ cấu lại các khoản nợ và thanh lý tài sản dài hạn (TSDH)
của mình theo hướng hạn chế các khoản NNH, tăng dần các khoản NDH để đảm
bảo an toàn tài chính. Trong đó, doanh nghiệp nên ưu tiên việc phát hành NDH qua
TTTP, vì đây là thị trường có tiềm năng cung cấp NVDH lớn.
Thứ ba, CTV của doanh nghiệp Việt Nam chịu sự tác động của các biến vĩ mô
như TTTP, tăng trưởng kinh tế, TTTD và TTCK. Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ
nghiên cứu (quý 1/2007-quý 2/2016) và thời kỳ phục hồi, các biến kinh tế vĩ mô góp
phần giải thích lần lượt khoảng 16,4% và 4% vào việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong thời kỳ suy thoái, mức độ đóng góp này đạt 35%. Qua đó có thể thấy,
trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị của doanh nghiệp Việt Nam thận trọng hơn
đối với diễn biến kinh tế vĩ mô, tuy nhiên, khi nền kinh tế phục hồi thì các nhà quản trị
lại không quan tâm đúng mức đối với môi trường kinh tế vĩ mô. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam. Bên cạnh đó, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng có tác động nhất định
đến các biến vĩ mô. Do đó, theo tác giả, để đạt được CTV mục tiêu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động thì việc lựa chọn nguồn vốn của doanh nghiệp phải gắn chặt với điều
kiện kinh tế vĩ mô - chu kỳ kinh tế.
15
Thứ tư, kết quả nghiên cứu chứng minh rằng suy thoái kinh tế và khả năng sinh
lời có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Ngược lại, cơ cấu tài sản có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV. Riêng trong
thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp cần kiểm soát thêm vấn đề quy mô, tốc độ tăng trưởng
và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết Keynes
và Lý thuyết TOT vì trong thời kỳ suy thoái, do sự khó khăn chung của nền kinh tế,
các chủ thể kinh tế, đặc biệt các nhà quản trị doanh nghiệp lo ngại rủi ro ảnh hưởng
đến lợi nhuận kỳ vọng. Vì vậy, các doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp quy mô cũng
như hạn chế mở rộng thị phần. Ngược lại, khi nền kinh tế bắt đầu phục hồi, doanh
nghiệp cần mở rộng quy mô, tăng trưởng và khả năng thanh toán – để huy động vốn
một cách dễ dàng, đáp ứng nhu cầu hàng hóa của nền kinh tế và mục tiêu phát triển dài
hạn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong thời kỳ này, doanh nghiệp cần tính toán lại
các khoản thu nhập chịu thuế nhằm tiết kiệm số tiền thuế phải nộp, góp phần tăng vốn
kinh doanh. Mặt khác, các giải pháp cho doanh nghiệp cần đi kèm với gợi ý chính sách
nhà nước. Khi nền kinh tế phục hồi, Chính phủ cần điều chỉnh chính sách thuế theo
hướng giảm mức thuế phải nộp để tạo động lực cho doanh nghiệp phục hồi sau thời kỳ
suy thoái. Qua đó có thể thấy, việc lựa chọn CTV mục tiêu của doanh nghiệp không
chỉ gắn với điều kiện kinh tế vĩ mô mà còn phải phù hợp với các yếu tố nội tại của
doanh nghiệp như quy mô, cơ hội tăng trưởng, khả năng thanh toán, cơ cấu tài sản đầu
tư, kế hoạch kinh doanh trong từng giai đoạn phát triển cụ thể.
Thứ năm, bằng việc sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng tác giả xác định ngưỡng
CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái là 54,39%. Ngưỡng
CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ phục hồi là 59,66%. Mặt
khác, thông qua bộ lọc dữ liệu, luận án xác định, trong thời kỳ suy thoái, có 51,22% doanh
nghiệp trong mẫu nghiên cứu duy trì CTV lớn hơn CTV mục tiêu, còn khi nền kinh tế thế
giới phục hồi thì con số này giảm còn 39,02%. Điều đó cho thấy, việc sử dụng nguồn vốn
tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa hợp lý, một số doanh nghiệp vẫn chưa khai thác
hết lợi ích từ đòn cân nợ. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp để các doanh nghiệp Việt
Nam đạt được ngưỡng CTV mục tiêu tương ứng với từng nhóm doanh nghiệp.
16
1.6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án được cấu trúc thành 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn mục tiêu và suy thoái
kinh tế.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng cấu trúc vốn và kết quả xác định cấu trúc vốn mục tiêu tại
các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam đạt được
cấu trúc vốn mục tiêu trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới.
17
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU
VÀ SUY THOÁI KINH TẾ
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI
KINH TẾ
2.1.1. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn mục tiêu
2.1.1.1. Khái niệm cấu trúc vốn
Doanh nghiệp có thể huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho hoạt
động kinh doanh: lợi nhuận giữ lại, vốn cổ phần và vay nợ. CTV của doanh nghiệp
cho thấy cách thức, mức độ và cơ cấu tài trợ của doanh nghiệp đó. Tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau về CTV. Theo Ross và ctg (2003), Brigham và Houston (2009), CTV
của doanh nghiệp hay còn gọi là đòn bẩy tài chính là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ
và VCSH theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của
mình. Mcguigan và ctg (2006), Brealey và ctg (2008) định nghĩa, CTV là sự kết hợp
giữa NNH thường xuyên, NDH, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử
dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, theo Paramasvan và
Subramania (2008), CTV là sự kết hợp giữa việc sử dụng NDH và VCSH (bao gồm
vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường).
Tại Việt Nam, theo Trần Ngọc Thơ và ctg (2013), CTV là sự kết hợp của NNH
thường xuyên, NDH, vốn cổ phần ưu đãi và cổ phần thường được sử dụng để tài trợ
cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nguyễn Minh Kiều (2014) cho rằng, CTV
là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và VCSH trong TNV của doanh nghiệp tài trợ cho các
hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Các định nghĩa nêu trên cho thấy, có sự khác biệt giữa các quan điểm về CTV.
Tuy nhiên, cần một quan điểm thống nhất về CTV phù hợp với đặc thù các doanh
nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam. Theo kết quả thống kê từ BCTC của 82 CTCP
niêm yết tại Việt Nam, các doanh nghiệp này sử dụng chủ yếu là NNH, chiếm 62,40%
18
trong tổng nợ và chiếm 31,87% tổng tài sản (TTS). Như vậy, đối với các doanh nghiệp
Việt Nam, NNH là nguồn vốn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong cơ cấu nợ cũng như
nguồn vốn kinh doanh. Do đó, khi nghiên cứu về CTV tại các doanh nghiệp Việt
Nam, nếu theo quan điểm của Paramasvan và Subramania (2008) CTV là sự kết hợp
giữa việc sử dụng NDH và VCSH thì vẫn chưa thể lột tả hết tình trạng sử dụng nợ
của doanh nghiệp vì cần đánh giá trên cơ sở tổng nợ, bao gồm NNH và NDH. Vì vậy,
luận án sử dụng khái niệm CTV theo Ross và ctg (2003), Mcguigan và ctg (2006),
Brealey và ctg (2008), Brigham và Houston (2009), Nguyễn Minh Kiều (2014) và
điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp tại Việt Nam. Như vậy, CTV là
sự kết hợp giữa VCSH và nợ phải trả (bao gồm NNH và NDH) mà một doanh nghiệp
sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Các nguồn vốn tài trợ cho một doanh
nghiệp được chia thành hai loại, đó là nợ phải trả và VCSH. Cách phân loại này phù
hợp với cách phân loại tính chất nguồn vốn của Brealey và ctg (2008).
Nợ phải trả là các khoản tín dụng doanh nghiệp huy động từ các chủ thể trong
nền kinh tế và cam kết thanh toán nợ gốc, chi phí sử dụng nợ theo thời gian quy định.
Các hình thức biểu hiện của nợ phải trả là vốn vay, mượn từ bên ngoài hoặc thông
qua việc phát hành chứng khoán nợ. Căn cứ theo thời gian, nợ phải trả bao gồm NNH
và NDH (Bộ Tài chính, 2006).
NNH là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng
một năm, áp lực trả nợ cao. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có chi phí thấp và thường
được sử dụng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn (TSNH). NNH bao gồm các khoản
vay ngắn hạn, các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác.
NDH là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong
thời gian lớn hơn một năm hoặc hơn một chu kỳ kinh doanh, tính ổn định của nguồn
vốn tương đối cao. Tuy nhiên NDH, chi phí lớn và thường được sử dụng để tài trợ
cho TSDH hoặc một phần TSNH. NDH bao gồm vay NDH, các khoản phải trả thương
mại dài hạn và phải trả dài hạn khác.
19
Đối với doanh nghiệp, một trong những ưu điểm của việc tài trợ bằng nợ phải
trả (nợ phát sinh chi phí lãi) là chi phí lãi vay tạo ra lợi ích từ tấm chắn thuế cho doanh
nghiệp. Ngoài ra, việc sử dụng nợ giúp nhà quản trị thận trọng hơn trong việc đầu tư,
tránh đầu tư vào những dự án không hiệu quả. Ngược lại, nhược điểm của việc tăng tỷ
trọng nợ là doanh nghiệp chịu sự giám sát, quản lý tăng cường của các nhà đầu tư, chủ
thể cho vay và thị trường. Doanh nghiệp mất dần tính tự chủ về tài chính cũng như điều
hành. Mặt khác, áp lực trả nợ có thể dẫn đến kiệt quệ tài chính và mất thanh khoản.
VCSH là nguồn vốn do chủ sở hữu góp vào doanh nghiệp và doanh nghiệp
không phải cam kết thanh toán, nhưng họ kỳ vọng mang lại lợi ích từ hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. VCSH bao gồm phần sở hữu của cổ đông thiểu số, vốn góp,
các khoản dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối (Bộ Tài chính, 2006).
Đối với doanh nghiệp, việc tài trợ bằng VCSH có tính ổn định và tự chủ cao.
Vì vậy, sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro hơn so với việc tài trợ bằng nợ vay.
Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều nguồn vốn này làm tăng chi phí sử dụng vốn do không
được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Mặt khác, khi giá trị VCSH tăng đồng nghĩa
với số lượng cổ đông nhiều, áp lực về sự quản lý điều hành, giám sát hoạt động của
doanh nghiệp càng lớn.
Ngoài ra, nguồn vốn còn được tiếp cận theo thời hạn hoàn trả, bao gồm NVNH
và NVDH. Sự khác biệt giữa NVNH và NVDH được trình bày trong Bảng 2.1.
Bảng 2.1. So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn
Tiêu chí Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn và VCSH
1. Thời hạn hoàn trả
Trong vòng 1 năm, hoặc 1 chu kỳ kinh doanh
Trên 1 năm, hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh , hoặc không phải hoàn trả TSDH và TSNH 2. Đối tượng tài trợ TSNH
3. Chi phí sử dụng vốn Thấp 4. Tính ổn định Thấp Cao Cao
5. Tính linh hoạt Cao Thấp
Nguồn: Ross và ctg (2003);Bùi Hữu Phước (2011).
20
Như vậy, mỗi nguồn vốn đều có những ưu điểm và khuyết điểm. Nếu các nhà
quản trị có thể nhận thức tốt những vấn đề này và chú trọng đến những đặc điểm của
từng giai đoạn phát triển kinh tế thì sẽ lựa chọn được nguồn vốn phù hợp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
2.1.1.2. Cấu trúc vốn mục tiêu
Để nghiên cứu CTV mục tiêu thì trước hết cần tiếp cận khái niệm CTV tối ưu,
bởi lẽ hai thuật ngữ này có mối liên hệ nhất định. CTV tối ưu lần đầu tiên được đề
cập trong Lý thuyết truyền thống về CTV tối ưu (Optiomal Capital Structure). Theo
lý thuyết này, luôn tồn tại một CTV tối ưu cho phép tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
bằng cách kết hợp giữa nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định giúp tối thiểu hóa chi
phí sử dụng vốn bình quân (Durand, 1952; Ross và ctg, 2003; Paramasvan và
Subramania, 2008). Mặc dù, quan điểm này được phát biểu dựa trên một số giả định
không tồn tại trong thực thế nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ của các tác giả như
Solomon và Weston.
Quan điểm về CTV tối ưu cũng được đề cập trong Lý thuyết TOT tĩnh. Theo
Kraus và Litzenberger (1973), Jensen và Meckling (1976), Jensen (1986), trong quá
trình hoạt động, doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt được CTV tối ưu mà tại
đó, diễn ra một sự đánh đổi giữa lợi ích về thuế của nợ vay và chi phí kiệt quệ tài
chính (lợi ích cận biên cân bằng với chi phí cận biên). Ngoài ra, theo quan điểm này,
trong suốt thời gian hoạt động, doanh nghiệp chỉ có một CTV tối ưu duy nhất.
Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có khả năng xác
định được tất cả các khoản chi phí, đặc biệt chi phí kiệt quệ tài chính. Chỉ có những loại
chi phí kiệt quệ tài chính trực tiếp liên quan đến quá trình phá sản như chi phí luật sư, chi
phí pháp lý mới có thể quan sát và xác định được. Còn các loại chi phí kiệt quệ tài chính
gián tiếp khác như chi phí do mất cơ hội đầu tư (mất khách hàng, mất nhà cung cấp, mất
nhân viên giỏi, mất thời gian...) rất khó quan sát và xác định cụ thể.
21
Mặt khác, CTV chịu sự ảnh hưởng bởi các biến động của yếu tố vi mô cũng
như vĩ mô, khi các biến này thay đổi có thể tác động đến hoạt động, sản xuất, kinh
doanh và giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Do đó, việc xác định CTV tối ưu cho một
giai đoạn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp (điều này được giải thích chi tiết Mục
2.1.1.4). Vì vậy, các doanh nghiệp thường xác định một con số hoặc khoảng CTV
mục tiêu và xem như đây là CTV tối ưu mà doanh nghiệp cần phải thiết lập nhằm gia
tăng giá trị doanh nghiệp (Brigham và Houston, 2009). Vì vậy, theo Brigham và
Houston (2009), CTV mục tiêu là việc kết hợp giữa nợ vay, vốn cổ phần ưu đãi và cổ
phần phổ thông mà doanh nghiệp có kế hoạch để huy động khi cần thiết nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp.
Luận án cũng ủng hộ quan điểm cho rằng, xác định CTV tối ưu là vấn đề không
dễ dàng, nhất là trong bối cảnh bất ổn khi nền kinh tế đang phục hồi chưa bền vững,
môi trường kinh tế vĩ mô còn biến động nhiều. Do đó, trong phạm vi của luận án, tác
giả tập trung xác định CTV mục tiêu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, luận
án chia sẻ quan điểm về CTV mục tiêu của Brigham và Houston (2009). Theo tác giả
này, CTV mục tiêu là việc kết hợp giữa nợ, vốn cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần
thường tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng
giá trị doanh nghiệp.
Tóm lại, qua các định nghĩa nêu trên cho thấy có mối liên hệ giữa các định nghĩa
về CTV, CTV tối ưu và CTV mục tiêu. Tuy nhiên, CTV là sự kết hợp giữa VCSH và
nợ phải trả (bao gồm NNH và NDH) mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các
hoạt động của mình, bất kỳ doanh nghiệp nào có sử dụng nợ đều có khả năng tính toán
được chỉ tiêu này. Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều có hai mục tiêu chung - ngắn
hạn là tối đa hóa hiệu quả hoạt động và dài hạn tối đa hóa giá trị công ty (Matari và
cộng sự, 2014). Chính điều này làm cho các nhà quản trị cần phải thực hiện nhiều biện
pháp để đạt được hai mục tiêu trên, trong đó việc lựa chọn CTV tối ưu nhằm tối thiểu
hóa chi phí vốn, và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là biện pháp quan trọng và cần thiết.
Tuy nhiên, CTV cũng như CTV tối ưu ngoài sự tác động của các yếu tố vi mô còn chịu
sự tác động của các yếu tố vĩ mô, các yếu tố này biến động liên tục. Do đó, việc xác
22
định CTV tối ưu không phải là điều dễ dàng. Vì vậy, doanh nghiệp thường đặt ra cho
mình ngưỡng hoặc khoảng CTV mục tiêu mà tại đó làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng
vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng giá trị doanh nghiệp, gọi là CTV mục tiêu.
Tuy nhiên, CTV mục tiêu này cũng sẽ thay đổi theo thời gian, mỗi CTV mục tiêu chỉ
thể hiện phù hợp với giai đoạn này nhưng không phù hợp với giai đoạn khác. Mặt khác,
sự biến động trong môi trường kinh doanh có thể làm cho CTV thực tế của doanh
nghiệp rời xa CTV mục tiêu đã xác định, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải điều
chỉnh lại quy mô, cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, thị trường tiêu thụ, tốc độ tăng
trưởng, … nhằm đạt được CTV theo mục tiêu đã xác định. Do đó, phạm vi nghiên cứu
của luận án ngoài việc xác định CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam thì việc
xác định các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến quá trình điều chỉnh cũng như việc
lựa chọn CTV để đạt được CTV mục tiêu của doanh nghiệp cũng là điều cần thiết.
2.1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn
Sự kết hợp giữa nợ và VCSH trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp được đo lường
thông qua một trong các hệ số tài chính sau: tỷ số nợ, tỷ số VCSH, hệ số nợ trên VCSH
và hệ số đòn bẩy tài chính. Các chỉ tiêu này thể hiện mức độ đóng góp của các chủ thể
tài trợ khác nhau trong tổng vốn đầu tư, cho biết mức độ sử dụng nợ và khả năng đảm
bảo tự chủ tài chính của doanh nghiệp (được trình bày chi tiết Bảng 2.2). Một doanh
nghiệp có tài sản được tài trợ chủ yếu bằng VCSH thì tỷ số VCSH cao, tỷ số nợ thấp,
hệ số đòn bẩy tài chính thấp, theo đó hệ số nợ trên VCSH cũng thấp và ngược lại (Ngô
Kim Phượng, 2013).
Căn cứ thời hạn hoàn trả, nguồn vốn là sự kết hợp giữa NVNH và NVDH được
đo lường qua tỷ lệ NVNH trên TTS và tỷ lệ NVDH trên TTS. Nội dung chi tiết về
cách tính và ý nghĩa của các chỉ tiêu đo lường CTV ở khía cạnh này được thể hiện
trong Bảng 2.3.
23
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu đo lường CTV căn cứ theo chủ thể tài trợ
Nợ
Ý nghĩa Chỉ tiêu
TTS
Tỷ số nợ = x 100% Trong 100 đồng tổng vốn có bao nhiêu đồng là nợ, hay nói
cách khác là có bao nhiêu % tài sản được tài trợ bởi nợ.
VCSH
Tỷ số nợ lớn hơn 50% cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ.
TTS
Trong 100 đồng tổng vốn có bao nhiêu đồng là VCSH, Tỷ số VCSH = x
hay nói cách khác là có bao nhiêu % tài sản được tài trợ 100% bởi VCSH.
Tỷ số tự tài trợ lớn hơn 50% cho biết cơ cấu vốn nghiêng
về VCSH.
Nợ
Hệ số nợ trên VCSH = Một đồng VCSH thì “gánh” bao nhiêu đồng nợ. Hệ số nợ
VCSH
trên VCSH lớn hơn 1 cho biết cơ cấu vốn nghiêng về nợ, x 100%
khả năng thanh toán nợ thấp và ngược lại.
TTS
Hệ số đòn bẩy tài Tổng số vốn của DN gấp bao nhiêu lần so với VCSH. Hệ số
VCSH
đòn bẩy tài chính lớn hơn 2 cho biết cơ cấu nghiêng về nợ. chính = x 100%
Nguồn: Brigham và Houston (2009); Ngô Kim Phượng (2013).
Bảng 2.3. Các chỉ tiêu đo lường CTV căn cứ theo thời hạn hoàn trả
Chỉ tiêu Ý nghĩa
NNH
Tỷ lệ NVNH trên TNV = DN có bao nhiêu % tài sản được tài trợ bởi NVNH
TTS
(NVNH chiếm bao nhiêu % trong TNV). x 100%
VCSH+NDH
Tỷ lệ NVDH trên TNV = DN có bao nhiêu % tài sản được tài trợ bởi NVDH
TTS
(NVDH chiếm bao nhiêu % trong TNV). x 100%
Nguồn: Ngô Kim Phượng (2013).
Tiếp cận CTV theo thời hạn hoàn trả thông qua hai chỉ tiêu trên là cơ sở để đánh
giá mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và cơ cấu tài sản. Doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản cố
24
định trong TTS cao thì tỷ lệ NVDH trên TTS cũng phải cao, thậm chí phải cao hơn
nhằm đảm bảo an toàn, giảm thiểu rủi ro trong cơ cấu tài chính. Nếu doanh nghiệp có
tỷ lệ NVNH trên TTS lớn hơn tỷ trọng TSNH trong TTS, điều này cho thấy, cơ cấu tài
chính đang bị mất cân đối – vốn lưu động ròng âm, rủi ro thanh toán cao.
2.1.1.4. Các lý thuyết và quan điểm khoa học về cấu trúc vốn, cấu trúc vốn mục tiêu
CTV là một trong những vấn đề cốt lõi trong lĩnh vực quản trị tài chính doanh
nghiệp. Việc lựa chọn CTV phù hợp giúp doanh nghiệp đạt được CTV mục tiêu, cải
thiện được khả năng thanh toán, tiết kiệm được chi phí và năng cao hiệu quả hoạt
động, từ đó, tăng giá trị doanh nghiệp. Luận án hệ thống hóa các lý thuyết về CTV
và trên cơ sở đó, giới thiệu tổng quan các lý thuyết được áp dụng trong luận án. Đây
là cơ sở xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV và xác định CTV mục
tiêu cho các CTCP niêm yết tại Việt Nam.
Quan điểm truyền thống về CTV tối ưu
Nghiên cứu của Durand (1952), là công trình đầu tiên về CTV của doanh nghiệp.
Nghiên cứu này cho rằng giá trị doanh nghiệp bị tác động bởi CTV của chính doanh
nghiệp đó. Quan điểm truyền thống khẳng định, chi phí sử dụng nợ thấp hơn chi phí
sử dụng VCSH nhờ khoản tiết kiệm từ thuế. Vì vậy, chi phí sử dụng vốn bình quân
(WACC) giảm khi doanh nghiệp tăng sử dụng nợ. Ngoài ra, theo quan điểm này, tồn
tại một cơ cấu vốn tối ưu, tại đó làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp bằng cách kết hợp
giữa nợ và VCSH ở một tỷ lệ nhất định giúp tối thiểu hóa WACC, do đó, tối đa hóa giá
trị doanh nghiệp (Brealey và ctg, 2008). Tuy nhiên, quan điểm này cũng khuyến cáo,
khi tăng mức độ sử dụng nợ thì áp lực trả nợ cao, rủi ro tài chính lớn, tăng nguy cơ phá
sản. Vì vậy, các chủ sở hữu nâng suất sinh lời kỳ vọng nhằm bù đắp rủi ro tài chính
gây ra, theo đó, WACC cũng tăng.
Quan điểm truyền thống đã nhận được sự ủng hộ của Solomon và Weston. Tuy
nhiên, những lập luận theo quan điểm này tương đối đơn giản, chưa thuyết phục so với
các lý thuyết CTV khác và thậm chí bị bác bỏ, bởi vì không đủ cơ sở vững chắc. Vì
25
vậy, Lý thuyết MM ra đời trên cơ sở cung cấp bằng chứng cũng như bổ sung thêm
những khiếm khuyết mà quan điểm này còn thiết sót (Bringham và Houston, 2009).
Lý thuyết Modigliani và Miller (MM)
Lý thuyết hiện đại về CTV của Franco Modigliani và Merton Miller ra đời
năm 1958 và sau đó, tiếp tục được phát triển vào năm 1963. Đây được xem là một
trong những lý thuyết nền tảng của CTV. Lý thuyết MM được xây dựng dựa trên cơ
sở tồn tại hoạt động kinh doanh chênh lệch giá và một số giả thuyết không tồn tại như
TTTC hoàn hảo, các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường như nhau, doanh
nghiệp chia 100% lợi nhuận cho các chủ sở hữu và không có chi phí kiệt quệ tài chính
do sử dụng nợ.
Trên cơ sở các tiền đề này, Lý thuyết MM nghiên cứu tác động của CTV đến giá
trị doanh nghiệp trong hai trường hợp: môi trường kinh doanh không có thuế và môi
trường kinh doanh có thuế. Đối với trường hợp môi trường kinh doanh không có thuế
(Modigliani và Miller, 1958), lý thuyết này đưa ra kết luận, giá trị của doanh nghiệp
hay chi phí sử dụng vốn bình quân độc lập với CTV. Giá trị doanh nghiệp hay WACC
của doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị doanh nghiệp hay WACC của doanh nghiệp
không có vay nợ. Do đó, tỷ số nợ không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp cũng
như WACC. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không có CTV tối ưu cũng
như doanh nghiệp không thể tăng giá trị bằng cách thay đổi CTV.
Lý thuyết MM (1963) ra đời nhằm khắc phục những hạn chế của Lý thuyết MM
(1958) và bổ sung vai trò lợi ích của thuế đối với nợ. Trong môi trường kinh doanh
có thuế, giá trị doanh nghiệp tăng khi doanh nghiệp sử dụng nợ nhờ khoản tiết kiệm
từ lãi vay. Giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ lớn hơn giá trị doanh nghiệp không
có nợ đúng bằng giá trị hiện tại của khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay. Khi mức độ sử
dụng nợ tăng lên nhờ khoản tiết kiệm thuế từ lãi vay mà chi phí sử dụng nợ thực tế
của doanh nghiệp giảm. Do vậy, WACC của doanh nghiệp sử dụng nợ sẽ thấp hơn
WACC của doanh nghiệp không sử dụng nợ.
26
Mặc dù Lý thuyết MM đưa ra nhiều góc nhìn khác nhau về tác động của CTV
đến giá trị doanh nghiệp và WACC, nhưng lý thuyết này được xây dựng dựa trên các
tiền đề không thực tế. Đây là cơ sở cho sự ra đời của các lý thuyết hiện đại sau này.
Lý thuyết trật tự phân hạng (POT)
Lý thuyết POT được đề xuất lần đầu tiên bởi Donaldson (1961). Nghiên cứu
này đã đưa ra những bằng chứng cho thấy, các nhà quản trị ưu tiên sử dụng nguồn tài
trợ nội bộ và chỉ cần đến nguồn tài trợ bên ngoài (nợ và phát hành cổ phần mới) khi
nhu cầu vốn gia tăng vượt quá khả năng của doanh nghiệp. Quan điểm này tiếp tục
được phát triển bởi Ross (1977), Leland và Pyle (1977), Myers và Majluf (1984).
Theo Myers và Majluf (1984), các quyết định tài trợ của doanh nghiệp dựa trên cở sở
thông tin bất cân xứng giữa nhà quản trị và các nhà đầu tư bên ngoài. Theo ông, các
nhà quản trị nên ưu tiên sử dụng nguồn tài trợ bên trong hơn nguồn tài trợ bên ngoài,
và nếu phải lựa chọn nguồn vốn bên ngoài thì doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn nguồn
vốn theo hướng tối thiểu sự gia tăng chi phí do thông tin bất cân xứng. Cụ thể, đối
với nguồn tài trợ từ bên trong, nhà quản trị nên bắt đầu từ lợi nhuận giữ lại, đây là
nguồn vốn ít bị ảnh hưởng nhất bởi chi phí do thông tin, chi phí phát hành và ít rủi ro
nhất. Sau đó đến nợ và sự lựa chọn cuối cùng là vốn cổ phần phát hành mới - nguồn
vốn phải chịu chi phí cao nhất do thông tin bất cân xứng và chi phí phát hành.
Như vậy, Lý thuyết POT đề xuất thứ tự ưu tiên lựa chọn các nguồn tài trợ
nhưng không đề cập đến việc xác định có hay không có một CTV tối ưu cho doanh
nghiệp. Mặt khác, lý thuyết này cung cấp bằng chứng trong việc giải thích mối tương
quan nghịch giữa khả năng sinh lời và tỷ số nợ, tức là giải thích tại sao các doanh
nghiệp có khả năng sinh lời nhiều lại hạn chế vay nợ hơn các doanh nghiệp sinh lời
ít. Do đó, Lý thuyết POT không thay thế các lý thuyết khác mà bổ sung, làm rõ hơn
quyết định lựa chọn nguồn tài trợ của nhà quản trị tài chính.
Lý thuyết đánh đổi CTV (TOT)
Theo mô hình bổ sung của Lý thuyết MM (1963), doanh nghiệp khuyến khích
được sử dụng nợ vay để tiết kiệm thuế. Tuy nhiên, lý thuyết này được xây dựng trên cơ
sở các giả thuyết không thực tế, nhất là không có chi phí kiệt quệ tài chính do sử dụng
27
nợ. Kết luận này bị tuyệt đối hóa nên không hợp lý vì tồn tại nhiều yếu tố khiến ích lợi
của việc sử dụng nợ vay bị triệt tiêu và một trong số đó là nguy cơ phá sản. Giả thuyết
này bị bác bỏ trong Lý thuyết TOT. Lý thuyết TOT do Kraus và Litzenberger (1973)
khởi xướng và được biết đến Lý thuyết TOT tĩnh. Sau đó, tiếp tục phát triển ở nghiên
cứu của Myers (1984) và các công trình khác với Lý thuyết TOT động.
Lý thuyết TOT tĩnh
Kraus và Litzenberger (1973) đã đưa ra nhận xét rằng trong quá trình tồn tại
của mình thì doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt đến CTV tối ưu phản ánh một
sự đánh đổi giữa lợi ích từ thuế của nợ vay với chi phí kiệt quệ tài chính, và doanh
nghiệp chỉ có một CTV tối ưu duy nhất. Thật vậy, Hình 2.1 cho thấy, khi mức sử
dụng nợ của doanh nghiệp tăng lên và đạt đến điểm V*, tại đó chi phí kiệt quệ tài
chính hoàn toàn triệt tiêu lợi ích từ thuế của nợ vay và giá trị doanh nghiệp lớn nhất.
Điểm này được gọi là CTV tối ưu. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tiếp tục tăng mức sử
dụng nợ vượt qua điểm CTV tối ưu, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ dần vượt quá lợi ích
của thuế từ lãi vay. Do đó, từ điểm này trở đi việc gia tăng nợ vay sẽ làm giảm giá trị
doanh nghiệp. Lý thuyết này được ủng hộ bởi Jensen và Meckling (1976), Jensen
(1986). Như vậy, theo Lý thuyết TOT tĩnh, CTV tối ưu được xây dựng trên cơ sở cân
bằng giữa chi phí và lợi ích, hay nói một cách khác, CTV tối ưu tại điểm chi phí cận
biên bằng với lợi ích cận biên. Vì vậy, các nhà quản trị cần xác định chi phí và lợi ích
để lựa chọn nguồn tài trợ và cơ cấu vốn hợp lý để đạt CTV tối ưu. Tuy nhiên, trên
thực tế, doanh nghiệp rất khó xác định CTV tối ưu (Bringham và Houston, 2009) và
vấn đề này xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, trên thực tế, CTV chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố vi mô cũng như
vĩ mô thay đổi liên tục theo thời gian như biến động thị trường nguyên vật liệu đầu
vào, thị trường đầu ra và TTTC ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Do đó, việc doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt đến CTV tối ưu tại
một thời điểm nhất định là một thách thức. Theo Sheikh và Wang (2011), mặc dù có
nhiều nghiên cứu về CTV tối ưu, tuy nhiên vẫn không có phương pháp cụ thể nào
được phát triển nhằm hỗ trợ các nhà quản trị xác định được CTV tối ưu. Do đó, các
28
doanh nghiệp không thể xác định được một mức CTV tối ưu mà ước tính một con số
hoặc khoảng CTV của mình và sử dụng CTV này như một CTV mục tiêu và điều
chỉnh CTV thực tế theo mục tiêu trong dài hạn (Myers, 1984).
Thứ hai, CTV tối ưu của Lý thuyết TOT dạng tĩnh được xây dựng trên cơ sở
cân bằng giữa chi phí và lợi ích, hay nói một cách khác, CTV tối ưu tại điểm chi phí
cận biên bằng lợi ích cận biên (Hình 2.1). Như đã phân tích trên, trong thực tế không
phải lúc nào doanh nghiệp cũng có khả năng xác định hết tất cả các khoản chi phí,
đặc biệt chi phí kiệt quệ tài chính. Doanh nghiệp chỉ có thể xác định những loại chi
phí kiệt quệ tài chính trực tiếp liên quan đến quá trình phá sản. Còn các loại chi phí
kiệt quệ tài chính gián tiếp rất khó quan sát và xác định cụ thể.
Chính vì những lý do này, trên cơ sở phát triển Lý thuyết TOT tĩnh, năm 1984
đánh dấu của sự ra đời Lý thuyết TOT động (Myers,1984) và được sự ủng hộ của
Goldstein và Collin (2001), Frank và Goyal (2007).
Lý thuyết TOT động
Theo Myers (1984), doanh nghiệp có thể xác định CTV mục tiêu nhưng thay
đổi theo từng thời kỳ, do tác động của môi trường vi mô và vĩ mô, doanh nghiệp không
thể ngay lập tức hay nhanh chóng đạt đến CTV mục tiêu mà cần phải một quá trình
điều chỉnh dần. Do đó, trong ngắn hạn, CTV của doanh nghiệp dao động quanh mức
CTV mục tiêu đó và có xu hướng đạt đến mức hoặc khoảng mục tiêu trong dài hạn.
Hình 2.1 cho thấy, bên dưới điểm V1, mức sử dụng nợ rất thấp nên chi phí kiệt
quệ tài chính khá thấp, khả năng phá sản chưa cao. Tuy nhiên, từ điểm V1 đến V* ,
khi đó doanh nghiệp tăng dần mức sử dụng nợ, chi phí kiệt quệ tài chính bắt đầu tăng
lên và loại trừ dần lợi ích của thuế từ nợ vay nhưng không loại trừ hoàn toàn lợi ích
từ thuế. Do vậy, giá trị doanh nghiệp tiếp tục tăng nhưng tỷ lệ tăng giảm dần cùng
với việc gia tăng sử dụng nợ. Khi đạt đến mức sử dụng nợ tại điểm V*, chi phí kiệt
quệ tài chính cân bằng với lợi ích của thuế từ lãi vay. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp
tiếp tục tăng mức sử dụng vượt qua điểm điểm V*, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ dần
29
vượt lợi ích của thuế từ lãi vay, do đó, từ điểm này trở đi, việc tăng nợ vay sẽ làm
giảm giá trị doanh nghiệp.
Như vậy, theo lý thuyết TOT động, tại mỗi thời điểm hoặc thời kỳ nhất định,
doanh nghiệp thiết lập CTV mục tiêu là một mức (V*) hoặc một khoảng (từ điểm V1
đến V*) và việc lựa chọn CTV quanh mức mục tiêu đó. Nếu tỷ lệ nợ vay thấp hơn
mục tiêu thì doanh nghiệp tăng vốn bằng cách phát hành thêm nợ. Ngược lại, nếu tỷ
lệ nợ vay cao hơn mục tiêu thì vốn cổ phần sẽ được sử dụng. Đây là cơ sở để quyết
định CTV đúng đắn nhằm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, rủi ro tài chính và tăng
giá trị doanh nghiệp. Mặt khác, theo lý thuyết này, CTV mục tiêu khác nhau tại các
thời kỳ do sự biến động của các yếu tố vi mô, vĩ mô trong nền kinh tế cũng như sự
khác biệt về CTV mục tiêu giữa các quốc gia do môi trường thể chế, hệ thống tài
chính, mức thuế suất và luật phá sản.
Hình 2.1. Giá trị doanh nghiệp theo Lý thuyết TOT
Nguồn: Bearley và ctg(1984); Myer(1984).
Lý thuyết chi phí đại diện
Lý thuyết chi phí đại điện được đề xuất lần đầu bởi Jensen (1976). Chi phí đại
diện của VCSH phát sinh do bất cân xứng thông tin giữa người quản lý và chủ sở hữu
doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp có thể không đưa ra các quyết định vì lợi
ích của chủ sở hữu, thậm chí còn làm tổn hại những quyền lợi đó (ví dụ, người quản
30
lý không nỗ lực làm tăng giá trị doanh nghiệp, sử dụng tiền của doanh nghiệp cho
mục đích riêng). Để khắc phục những vấn đề đó, chủ sở hữu doanh nghiệp đề xuất
các biện pháp để giám sát và đảm bảo rằng các hành động của người quản lý phù hợp
với lợi ích của mình như yêu cầu báo cáo thường niên, tổ chức hội nghị thường niên,
thưởng cho ban giám đốc theo hiệu quả hoạt động. Từ đó, phát sinh chi phí đại diện
làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng. Theo Jensen (1976), cách để doanh nghiệp
giảm chi phí đại diện là tăng sử dụng nợ vay. Theo ông, khi tỷ trọng nợ tăng, nhà
quản lý phải thận trọng hơn trong việc lựa chọn CTV - các quyết định sử dụng vốn
vay và vay thêm nợ mới tạo áp lực cho nhà quản lý doanh nghiệp hành động hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, khi vay nợ tăng, doanh nghiệp lại phát sinh thêm chi phí đại diện
của vốn nợ do bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và các chủ nợ. Cổ đông của
doanh nghiệp là chủ sở hữu, có quyền quyết định các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, trong khi đó, chủ nợ chỉ là những người cho doanh nghiệp vay vốn và không
được quyền biểu quyết tại đại hội cổ đông. Chi phí đại diện phát sinh khi doanh
nghiệp tham gia các dự án đầu tư có lợi cho cổ đông hơn chủ nợ như đầu tư vào các
dự án rủi ro cao, kỳ vọng đem lại nhiều lợi ích cho cổ đông nhưng có thể gây thiệt
hại cho chủ nợ do nguy cơ phá sản tăng. Mức độ bất cân xứng thông tin giữa doanh
nghiệp và chủ nợ càng lớn thì chi phí đại diện của vốn nợ càng cao. Do đó, Lý thuyết
chi phí đại diện cho rằng, chi phí đại diện của VCSH có mối quan hệ thuận chiều với
CTV, trong khi chi phí đại diện của nợ vay có mối quan hệ nghịch chiều với CTV
của doanh nghiệp.
Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu cũng được phát triển dựa trên vấn đề bất cân xứng thông tin
giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư. Nhà đầu tư thường quan sát, phân tích các hành động
của nhà quản lý, từ đó suy luận ra các thông tin về tình hình hiện tại và triển vọng của
doanh nghiệp. Nhà đầu tư cho rằng doanh nghiệp sẽ tăng mức vay nợ khi họ kỳ vọng
lợi nhuận trong tương lai sẽ tăng lên hay nói một cách khác, động thái của việc vay
31
thêm vốn hoặc phát hành thêm trái phiếu được coi là một tín hiệu tốt về triển vọng kinh
doanh. Vì vậy, nhà đầu tư sẽ mua vào cổ phiếu và đẩy giá tăng lên.
Ngược lại, khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu cũng được coi là tín hiệu
không tốt về triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi lẽ, theo quan điểm của các
nhà đầu tư, một doanh nghiệp có triển vọng không tốt mới muốn được tài trợ bằng
vốn cổ phần nhằm mục đích chia sẻ những khoản thua lỗ của doanh nghiệp với các
nhà đầu tư mới. Do đó, việc phát hành cổ phiếu ra bên ngoài được xem là phát ra tín
hiệu không tốt về triển vọng doanh nghiệp. Kết quả là khi doanh nghiệp công bố việc
phát hành cổ phiếu mới, giá cổ phiếu thường giảm (Asquith và Mullins, 1983).
Lý thuyết định điểm thị trường
Lý thuyết này xuất phát từ nghiên cứu của Baker và Wugler (2002), cho rằng
sự khác biệt giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách chính là yếu tố quyết định việc
lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Khi hệ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách của
cổ phiếu (P/B) cao, nếu cần huy động thêm vốn thì doanh nghiệp thường phát hành
cổ phiếu, còn trong giai đoạn hệ số P/B thấp, họ thường lựa chọn phương thức vay
nợ. Chính điều này tác động lâu dài tới CTV của doanh nghiệp chứ không phải yếu
tố chi phí kiệt quệ tài chính hay trật tự phân hạng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau
đó đã phản bác kết quả của Baker và Wurgler (2002). Hovakimian (2004), Kayhan
và Titman (2004) đồng ý về tác động của lý thuyết này đến CTV của doanh nghiệp,
nhưng lại không tán thành khả năng tác động kéo dài như theo nghiên cứu của Baker
va Wurgler (2002). Theo các nghiên cứu này, định thời điểm thị trường có ý nghĩa
đối với CTV trong ngắn hạn, tuy nhiên trong dài hạn, doanh nghiệp có xu hướng cân
bằng lại về CTV mục tiêu, do đó, tác động này bị đảo ngược.
Trên cơ sở nghiên cứu các lý thuyết về CTV và CTV mục tiêu, tác giả phân
tích ưu và nhược điểm của từng lý thuyết CTV (Chi tiết Bảng 1.1 trong Phụ lục 1), đi
đến nhận định rằng, các lý thuyết bổ sung nhau và chưa có lý thuyết nào giải thích
được các quyết định về CTV của doanh nghiệp một cách đầy đủ, tổng quát nhất. Do
đó, CTV của các doanh nghiệp Việt Nam cần dựa trên cơ sở kết hợp từ các lý thuyết này.
32
2.1.2. Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế
2.1.2.1. Khái niệm chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế
Mặc dù đã xuất hiện rất nhiều nghiên cứu về chu kỳ kinh tế, cho đến nay vẫn
chưa tạo được sự đồng thuận về mặt khoa học liên quan tới khái niệm về chu kỳ kinh
tế, đặc biệt nguyên nhân của chu kỳ kinh tế. Theo Burns và Mitchell (1946), chu kỳ
kinh tế là một chu kỳ kinh doanh, bao gồm bốn pha lần lượt: suy thoái, khủng hoảng
– tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, theo một số quan điểm kinh tế hiện
đại, khủng hoảng theo nghĩa nền kinh tế trở nên tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các
nhà máy đóng cửa hàng loạt, … hiếm khi xảy ra. Bởi vì, khi suy thoái kéo dài ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, Chính phủ các nước thường hoạch định những
chính sánh can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra. Vì
thế, một số quan điểm mới mà tiêu biểu là Samuelson và Nordhalls (2007) cho rằng,
chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái,
phục hồi và hưng thịnh (Hình 2.2). Trong đó, pha suy thoái là sự suy giảm của tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp (tốc độ
tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý).
Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa
suy thoái kinh tế là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng
đến hơn một năm. Suy thoái kinh tế có thể liên quan tớ i sự suy giảm đồng thời nhiều
chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận doanh nghiệp và có thể gắn liền với lạm
phát hoặc giảm phát. Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh
tế (NBER, 2010).
Pha phục hồi là khi GDP bắt đầu tăng trở lại và tăng cho đến khi đạt bằng mức
GDP trước suy thoái kinh tế. Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác
định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tiếp kể từ
điểm đáy. Điểm ngoặt giữa hai pha suy thoái và pha phục hồi là đáy của chu kỳ kinh
tế (Samuelson và Nordhalls, 2007).
33
Pha hưng thịnh là khi GDP tăng lớn hơn mức GDP đạt lúc trước khi suy thoái
xảy ra thì nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh và pha hưng thịnh kết thúc bằng sự bắt
đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là
đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhalls, 2007).
Hình 2.2. Chu kỳ kinh tế
i
Phục hồi
Hưng Thịnh
Suy thoái
ế t h n k n ề N
Đỉnh
Thu hẹp
Đáy
Mở rộng
Thời gian
Nguồn: Samuelson và Nordhalls (2007).
Dựa trên những quan điểm trên và mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích
tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến CTV của doanh nghiệp Việt Nam, tác giả
thống nhất với quan điểm của Samuelson và Nordhalls (2007) và NBER cho rằng nền
kinh tế có ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, do hạn chế
về dữ liệu thu thập và tính chất của chu kỳ kinh tế thế giới – vừa kết thúc pha suy thoái
và đang dần phục hồi nhưng chưa đạt đến pha hưng thịnh. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu
của luận án chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hai pha suy thoái và pha phục hồi.
Chu kỳ kinh tế cũng như hiện tượng suy thoái kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng
đến doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu hệ thống các lý thuyết của chu kỳ kinh tế
và suy thoái kinh tế là nhiệm vụ quan trọng được các quốc gia quan tâm. Tuy nhiên,
những trường phái khác nhau đưa ra những cách giải thích khác nhau về suy thoái
kinh tế. Sau đây luận án trình bày quan điểm của một số trường phái cơ bản và từ đó,
tác giả vận dụng các lý thuyết này để giải thích các hành vi của các chủ thể trong nền
kinh tế gắn với suy thoái kinh tế.
34
2.1.2.2. Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế
Lý thuyết chu kỳ kinh tế có ba pha là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. Khởi
đầu của chu kỳ kinh tế là pha phục hồi tăng trưởng (đường dốc đi lên được trình bày
Hình 2.3) là sự tác động thuận chiều bởi các cú sốc ngoại sinh như công nghệ, tiền
lương, giá cả, CSTK, CSTT, … đến sự ổn định của các chỉ số tài chính và kinh tế vĩ
mô. Từ đó, càng củng cố niềm tin và kỳ vọng của người dân (bao gồm doanh nghiệp)
một cách thái quá vào tương lai, nền kinh tế sẽ tiếp tục phát triển, hưng thịnh hơn nữa
– pha hưng thịnh. Tuy nhiên, do niềm tin thái quá đó sẽ dẫn đến các hành vi sai lầm
và sau đó dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế toàn diện – pha suy thoái (đường dốc đi
xuống được trình bày Hình 2.3).
Hình 2.3. Hệ thống các mô hình chu kỳ kinh tế
Nguồn: Detzer và Herr (2014).
Theo lý thuyết trọng tiền, lịch sử các cuộc suy thoái kinh tế thường mở đầu
với một tỷ lệ lãi suất thấp, trong khi tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao. Theo Lý thuyết
đầu tư quá mức, chính sự chênh lệch này là động cơ làm cho khu vực doanh nghiệp
35
gia tăng sản suất. Doanh nghiệp không ngừng huy động vốn để mở rộng sản xuất kinh
doanh, đầu tư phát triển khoa học công nghệ, mua sắm tài sản cố định để tiếp tục cải
thiện lợi nhuận. Mặt khác, theo Lý thuyết bầy đàn và Lý thuyết tiêu dùng yếu
(Banerjee, 1992; Chari và Kehoe, 2004), trong giai đoạn tăng trưởng do cơ chế phản
hồi khách quan, niềm tin của người tiêu dùng vào nền kinh tế thịnh vượng nên nhu
cầu tiêu dùng theo đó cũng tăng lên. Vì vậy, giá trị của hàng hóa không ngừng tăng
lên, lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung
tăng một cách đáng kể. Cũng theo hai lý thuyết này, nhà đầu tư tăng cường các nguồn
vốn đầu tư với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao trong tương lai, theo đó giá cả của các
loại tài sản cũng tăng lên. Bên cạnh đó, theo Diamon và Dybvig (1983), trong khu
vực tài chính thông qua cơ chế lan truyền thông tin về sự phát triển của khu vực thực,
do đó, kênh tín dụng sẽ mở rộng, trong khi phí bảo hiểm rủi ro của khoản vay thấp.
Từ đó, dẫn đến việc tăng giá cả hàng hóa, giá cả của các loại tài sản cao hơn so với
giá trị thực của nó (nhất là tài sản tài chính, tài sản thế chấp), theo đó lạm phát cũng
tăng cao. Khi đó TTTC đã tiềm ẩn những bất ổn và có dấu hiệu của sự suy thoái (chủ
yếu do thị trường tài sản và TTTD gây ra).
Theo Lý thuyết Marx, khi nền kinh tế suy thoái thì các dấu hiệu trên biến thiên
theo chiều ngược lại với khi nền kinh tế phục hồi. Kết quả của sự tăng trưởng không
bền vững là làm cho hệ thống tài chính, kinh tế vĩ mô di chuyển từ trạng thái ổn định
sang trạng thái bất ổn (thường được gọi là khoảnh khắc Minsky). Theo Lý thuyết
Minsky (1975), khi tình hình tài chính bất ổn thì các khoản nợ trong nền kinh tế bộc lộ
các rủi ro tiềm ẩn trước đó, đặc biệt là việc định giá tài sản ở mức cao so với thực tế và
những khoản vay dưới chuẩn. Do đó, ngân hàng và các TCTD sẽ hạn chế cấp tín dụng,
cơ cấu lại các khoản vay hoặc gia tăng điều kiện cho vay. Khi các hoạt động đầu cơ
chứng khoán, BĐS và các thị trường tài sản khác bị “đóng băng”, lợi nhuận từ các dự
án đầu tư không như kỳ vọng, doanh nghiệp cũng như hộ gia đình cá nhân không thể
trả nợ, sẽ dẫn đến sự mất khả năng chi trả.
Theo Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn (Banerjee, 1992; Chari và Kehoe,
2004) thì cơ chế phản hồi khách quan và chủ quan được kích hoạt. Trước những thông
36
tin về cuộc suy thoái tài chính đến gần (suy thoái trong TTTD và BĐS), các nhà đầu
cơ, các chủ thể trong nền kinh tế buộc phải đồng loạt bán tháo các tài sản để thực hiện
nghĩa vụ tài chính của mình. Vấn đề quá nhiều nhà đầu tư bán cùng một lúc có thể
làm giá trị các loại tài sản tài chính giảm mạnh và dẫn đến một sự sụp đổ nhanh chóng
TTTD và TTBĐS. Mặt khác, các ngân hàng hạn chế cấp tín dụng, cơ cấu lại các
khoản vay hoặc siết chặt các điều kiện cho vay, càng làm cho doanh nghiệp khó khăn
hơn. Ngoài ra, trong thời kỳ này, thông qua cơ chế lan truyền thông tin phản ánh về
sự khó khăn của nền kinh tế lòng tin bị xói mòn và mức độ không chắc chắn gia tăng
bao trùm lên các chủ thể.
Bên cạnh đó, do sự thiếu hụt về nguồn vốn, đầu tư và nhu cầu tiêu dùng sẽ suy
giảm, theo Lý thuyết tiêu dùng yếu, trong thời kỳ này phần trăm tiết kiệm trong tổng
thu nhập sẽ tăng, “tiền giữ trong túi” (Nguyễn Ngọc Thạch và Lý Hoàng Ánh, 2014).
Theo đó giá trị hàng hóa giảm, có thể dẫn đến giảm phát. Trong thời kỳ này, doanh
nghiệp kinh doanh thua lỗ bắt đầu cắt giảm chi phí, đầu tiên là chi phí lao động nên
tỷ lệ thất nghiệp tăng. Nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt
của các doanh nghiệp và lan truyền trên toàn diện. Theo Lý thuyết Keynes, nếu không
còn đủ dòng tiền chảy vào nền kinh tế để giúp cho quá trình tái tài trợ thì tình trạng
suy thoái kinh tế kéo dài và kết quả là cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, chu kỳ kinh
tế khép lại.
Do đó, nhằm hạn chế những mất mát do suy thoái kinh tế gây ra, Chính phủ
có thể thực hiện CSTT thắt chặt bằng cách tăng lãi suất nhằm hạn chế việc tiếp tục
vay mượn để mở rộng kinh doanh, đầu tư do chi phí lãi vay tăng cao, lợi nhuận kỳ
vọng thấp, giá tài sản có thể ngừng gia tăng hơn nữa và điều này có thể dẫn đến các
vấn đề về nhà đầu cơ, hoặc thay đổi kỳ vọng của nhà đầu tư, nền kinh tế bị thu hẹp.
Tuy nhiên, theo trường phái Tân cổ điển, nguyên nhân của sự thu hẹp quy mô
đầu tư của các nhà đầu tư cũng như sự không sẵn sàng tiêu dùng của hộ gia đình là
vì họ dự đoán thuế sẽ cao hơn trong tương lai vì thâm hụt ngân sách lớn của Chính
37
phủ. Do đó, để hạn chế tình trạng này, Chính phủ các quốc gia cần kiểm soát các vấn
thu, chi ngân sách nhà nước và điều chỉnh chính sách thuế.
Ngoài ra, trong điều kiện các quốc gia có mối quan hệ với nhau chặt chẽ và
trở nên phụ thuộc lẫn nhau đã dẫn đến quá trình toàn cầu hóa gia tăng mạnh mẽ như
hiện nay. Vì vậy, suy thoái kinh tế kéo dài và nghiêm trọng dẫn đến khủng hoảng
kinh tế và lan truyền sang các nước khác, phạm vi toàn cầu. Đây là xu hướng đồng
bộ hóa chu kỳ kinh tế. Điều này được thể hiện ở cả ba khía cạnh – nền kinh tế, xã hội
và chính trị. Trong phạm vi luận án nghiên cứu về khía cạnh kinh tế. Cơ chế lan
truyền về khía cạnh kinh tế chủ yếu thông qua sự dịch chuyển bằng kênh thương mại
trực tiếp và dòng vốn đầu tư quốc tế. Đối với kênh thương mại trực tiếp, do tổng cầu
của các quốc gia suy thoái kinh tế sụt giảm mạnh, theo đó hàng hóa nhập khẩu cũng
giảm tương ứng. Từ đó, ảnh hưởng mạnh nhất đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của
các nước nhất là các nước có quan hệ thương mại quốc tế lớn với quốc gia bị suy
thoái kinh tế. Tuy nhiên, theo Kindleberger (1996), thông thường cơ chế lan truyền
chu kỳ kinh tế từ một nước phát triển sang các quốc gia đang phát triển không phải
thông qua các kênh thương mại trực tiếp mà chủ yếu thông qua kênh đầu tư. Dòng
vốn đầu tư quốc tế dịch chuyển từ các quốc gia có chu kỳ kinh tế ở pha suy thoái sang
các quốc gia có chu kỳ kinh tế ở pha phục hồi hoặc hưng thịnh. Kết quả của quá trình
này là tại các quốc gia đang bị suy thoái kinh tế, sự thiếu hụt nguồn vốn nước ngoài
dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai, mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngoại tệ,
dẫn đến sự mất giá của đồng nội tệ. Trường hợp này thường xảy ra tại các nước đang
phát triển thường rơi vào tình trạng bị đô la hóa cao (Herr, 2008).
Mặc dù, các trường phái khác nhau có các hướng tiếp cận khác nhau nhưng
chúng không mâu thuẫn nhau và đóng vai trò là một nội dung trong hệ thống lý thuyết
hoàn chỉnh về chu kỳ kinh tế. Do đó, trong nội dung tiếp theo, luận án sẽ vận dụng kết
hợp các lý thuyết này với các lý thuyết CTV hiện đại nhằm phân tích mối quan hệ giữa
suy thoái kinh tế và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp.
38
2.1.3. Mối quan hệ giữa suy thoái kinh tế và cấu trúc vốn mục tiêu
Trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo, không có chi phí giao dịch, chi phí
kiệt quệ tài chính và chi phí tài chính là như nhau thì CTV không ảnh hưởng đến giá
trị doanh nghiệp (Modigliani và Miller, 1958; Modigliani và Miller, 1963). Theo quan
điểm này, phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây
là môi trường lý tưởng không có trong thực tế. Do đó, quan điểm này đã được Jensen
và Meckling (1976), Titman (1984), Myer và Majluf (1984) mở rộng và họ chứng
minh rằng môi trường không hoàn hảo có ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV của
doanh nghiệp. Điều này được thể hiện càng rõ nét hơn trong thời kỳ suy thoái, khi sự
bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng – tăng trưởng kinh tế, dòng vốn đầu tư và lợi nhuận doanh
nghiệp giảm, tình trạng thất nghiệp tràn lan và có thể đi liền với lạm phát hoặc giảm
phát, làm xói mòn lòng tin của các chủ thể trong nền kinh tế dẫn đến sự bất cân xứng
thông tin, do đó, chi phí kiệt quệ tài chính gia tăng. Đây là yếu tố quan trọng giải thích
hành vi của doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong nền kinh tế cũng như là nguyên
nhân dẫn đến sự khó khăn về tài chính, mất khả năng thanh toán buộc hàng loạt doanh
nghiệp phải giải thể, phá sản. Qua đó, có thể thấy Lý thuyết MM có quan điểm đơn
giản trong việc nghiên cứu CTV với các giả định không tồn tại.
Mối quan hệ giữa suy thoái kinh tế và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp
được nghiên cứu thông qua các biến kinh tế vĩ mô, chủ yếu qua ba kênh tăng trưởng
GDP, kênh thị trường tài sản (TTCK, TTT BĐS và TT ngoại hối), kênh thị trường nợ
(TTTT và TTTP). Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả tập trung phân tích sự
tác động này thông qua tăng trưởng GDP và TTTC là TTCK, TTTP và TTTD.
Đối với tăng trưởng kinh tế:
Trong thời kỳ suy thoái, nhu cầu tiêu dùng giảm, lợi nhuận của doanh nghiệp
giảm. Vì vậy, theo hàm ý của Lý thuyết POT, trong thời kỳ này, doanh nghiệp sử
dụng nợ bên ngoài nhiều hơn. Tuy nhiên, việc các doanh nghiệp tăng sử dụng nợ có
tác động nghịch chiều đến nền kinh tế, nhất là trong thời kỳ suy thoái, vì việc vay nợ
nhiều hơn càng gây khó khăn cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khủng hoảng
39
kinh tế dễ dàng xảy ra hơn (Randveer và ctg, 2011). Điều này hàm ý, việc lựa chọn
CTV của doanh nghiệp có tác động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, theo hàm ý của TOT, khi nền kinh tế bị suy thoái, chi phí kiệt quệ và
chi phí phá sản tăng, rủi ro phá sản càng cao. Nên doanh nghiệp cần sử dụng vốn cổ
phần nhiều hơn thay vì sử dụng vốn nghiêng về nợ. Nhưng theo Lý thuyết trọng tiền,
khi doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư lớn (tăng cường vay nợ) sẽ mở rộng quy mô
kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học công nghệ, mua sắm tài sản cố định cải thiện
năng suất lao động, hiệu quả hoạt động, từ đó, góp phần tăng trưởng kinh tế.
Từ những quan điểm trên có thể thấy, tồn tại mối quan hệ tác động qua lại
thuận chiều hoặc nghịch chiều giữa tăng trưởng kinh tế với việc lựa chọn CTV của
doanh nghiệp.
Đối với TTCK:
Theo hàm ý của Lý thuyết tín hiệu, trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên tăng
phát hành vốn cổ phần để chia sẻ khó khăn cho nhà đầu tư, nghĩa là doanh nghiệp hạn
chế sử dụng nợ. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới góp phần làm giảm
giá cổ phiếu vì việc này phát ra tín hiệu không tốt về doanh nghiệp. Ngược lại, theo Lý
thuyết định điểm thị trường, trong thời kỳ suy thoái, tính thanh khoản của TTCK giảm
mạnh, giá cả của cổ phiếu được định giá thấp hơn giá trị thực, chi phí nợ trở nên thấp chi
phí vốn, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ (Crotty, 2009).
Đối với TTTP và TTTD:
Khi suy thoái kinh tế xảy ra, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sụt giảm
mạnh và tính thanh khoản thấp, dẫn đến sự suy giảm chất lượng tín dụng, tăng nợ xấu.
Hệ quả là các nhà đầu tư, TCTD có tâm lý lo ngại rủi ro và khả năng thanh toán tác
động đến điều kiện cấp tín dụng, việc cơ cấu lại nợ, tăng lãi suất cho vay để bù đắp
rủi ro do thị trường gây ra, chi phí tài chính trở nên đắt đỏ hơn (Cornett và ctg, 2011).
Bên cạnh đó, trong bối cảnh suy thoái kinh tế, lạm phát thường tăng. Do đó, nhằm hạn
chế thiệt hại do suy thoái gây ra ở mức thấp nhất, NHTW thường có xu hướng duy trì
CSTT thắt chặt. Berger và Udell (2002), Mateut và ctg (2006) chứng minh rằng các
cú sốc trong hệ thống ngân hàng tác động rõ rệt đến việc lựa chọn CTV của doanh
40
nghiệp. Guariglia và Mateut (2010) nhấn mạnh rằng hơn một nửa số doanh nghiệp
nhỏ NVNH được tài trợ từ ngân hàng. Do đó, dư nợ cho vay của các TCTD giảm làm
giảm dòng vốn đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là ảnh hưởng đến CTV và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp (Holmstrom và Tirole, 1997; Bruno và Clovis, 2009).
Mặt khác, theo hàm ý của Lý thuyết TOT động, CTV mục tiêu có thể đạt được
bằng cách cân bằng các khoản lợi ích từ vay nợ với chi phí nợ (Myers, 1984). Trong
thời kỳ suy thoái, nguy cơ phá sản phát sinh làm tăng chi phí nợ. Do vậy, trong thời
kỳ này, chi phí nợ thường vượt quá những lợi ích từ việc tăng nợ. Hàm ý rằng trong
thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên giảm mức sử dụng nợ. Lý thuyết chi phí đại diện
có cùng quan điểm với Lý thuyết TOT. Lý thuyết này cho rằng trong thời kỳ thị
trường khó khăn, thường phát sinh vấn đề bất đối xứng thông tin giữa các nhà đầu tư,
chủ nợ và doanh nghiệp, nhà quản trị. Do đó, theo hai lý thuyết này, doanh nghiệp
nên hạn chế sử dụng nợ và đòn bẩy tài chính có tác động nghịch chiều đến hiệu quả
hoạt động, giá trị của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thông qua cơ chế điều tiết của thị
trường của TTTP và kênh tín dụng, các nhà quản trị tăng các khoản NNH trong khi
giảm lớn NDH. Từ đó, cũng tác động đến TTTP và kênh tín dụng (Fosberg năm 2013;
Custódio và ctg, 2013).
Bảng 2.4. Hàm ý từ các lý thuyết về tác động của suy thoái kinh tế đến việc
lựa chọn CTV
Lý thuyết về CTV
Tác động suy thoái kinh tế đến CTV - Lý thuyết TOT
Lý thuyết POT +
Lý thuyết chi phí đại diện -
Lý thuyết tín hiệu -
Lý thuyết định điểm thị trường +
Ghi chú: (+) tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều.
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
41
2.2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của suy thoái kinh tế đến
việc lựa chọn cấu trúc vốn
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã đưa ra nhiều quan điểm về các
yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Các nghiên cứu này tập
trung vào các khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố
Ramzivà Tarazi, 2013; Amjad và ctg, 2012; Hunjra và ctg, 2014). Các nghiên cứu này
vi mô (Ross, 1977; Titman và Wessels, 1988; Chen và ctg, 1997; Chen, 2003;
tập trung vào vấn đề xác định các yếu tố vi mô tác động đến việc lựa chọn CTV, đó
là: khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, độ tuổi, tốc độ tăng trưởng, cấu trúc tài
sản, chi phí phá sản, tấm chắn thuế và khả năng thanh toán.
Thứ hai, các nghiên cứu của Rajan và Jingales (1995), Wald (1999), Booth
và ctg (2001), Deesomsak và ctg (2004), Jong và ctg (2008), Antoniou và ctg (2008),
Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011), Oztekin (2013), Khanna và ctg (2015) phân tích tác
động kết hợp của các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô như đặc trưng thể chế quốc gia,
hệ thống pháp lý, đặc điểm kinh tế vĩ mô, sự phát triển của TTTC đối với việc lựa
chọn CTV của doanh nghiệp.
Booth và ctg (2001) nghiên cứu CTV tại 10 nước phát triển trong giai đoạn
1980-1990. Dữ liệu thu thập từ các BCTC của 5.281 doanh nghiệp, kỹ thuật xử lý dữ
liệu bảng cố định FEM. Kết quả cho thấy, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp được
giải thích bởi cơ cấu tài sản, thuế TNDN, lợi nhuận trên tài sản, quy mô doanh nghiệp.
Ngoài ra, cơ cấu vốn của một doanh nghiệp có liên quan chặt chẽ với các yếu tố khác
thuộc về thể chế quốc gia như điều kiện kinh tế vĩ mô, vốn của TTTC, hệ thống thuế
TNDN. Mặt khác, trong cùng một quốc gia, sự thay đổi của môi trường vĩ mô và định
hướng của quốc gia trong các thời kỳ khác nhau ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV của
doanh nghiệp.
42
Deesomsak và ctg (2004) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn
CTV của các doanh nghiệp tại bốn quốc gia châu Á – Thái Bình Dương có môi trường
thể chế, pháp luật và tài chính khác nhau. Mẫu khảo sát bao gồm 1.527 doanh nghiệp
niêm yết trên TTCK của Thái Lan, Malaysia, Singapore và Úc, trong giai đoạn 1993-
2001. Thông qua việc sử dụng mô hình Poodel OLS và FEM, kết quả nghiên cứu cho
thấy, CTV của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố vi mô như cấu trúc tài sản,
quy mô, lợi nhuận, lá chắn thuế phi nợ, tính thanh khoản và biến động doanh thu. Công
trình này phát hiện khủng hoảng tài chính 1997-1998 đã có ảnh hưởng đáng kể nhưng
khác nhau đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp trong khu vực.
Jong và ctg (2008) đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố vi mô và vĩ mô
trong việc lựa chọn CTV của 11.845 doanh nghiệp ở 42 quốc gia phát triển và đang
phát triển, trong giai đoạn 1997-2001. Sử dụng dữ liệu bảng cân bằng và mô hình
SURE - Seemingly Unrelated Regression. Kết quả công trình cho thấy, việc lựa chọn
CTV của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố tài sản cố định, rủi ro kinh
doanh, quy mô, tăng trưởng, lợi nhuận và các yếu tố vĩ mô như TTCK, TTTP và tăng
trưởng kinh tế. Đồng thời nghiên cứu cũng chứng minh sự tác động của yếu tố vi mô
đến việc lựa chọn CTV là khác nhau giữa các quốc gia. Các yếu tố phản ánh đặc trưng
quốc gia có tác động vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đến việc lựa chọn CTV của các
doanh nghiệp.
Antoniou và ctg (2008) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV
của các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường vốn (Anh và Hoa Kỳ) và ngân hàng
(Pháp, Đức và Nhật Bản). Dữ liệu nghiên cứu là BCTC của các doanh nghiệp tài
chính tại năm quốc gia Pháp, Đức, Nhật, Anh và Mỹ. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng
động SYS-GMM. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đòn bẩy tài chính được ảnh hưởng thuận
chiều bởi cơ cấu tài sản và quy mô, nhưng chịu tác động tiêu cực bởi lợi nhuận, cơ
hội tăng trưởng và EPS. Ngoài ra, đòn bẩy tài chính cũng bị ảnh hưởng bởi các điều
kiện thị trường như môi trường kinh tế, hệ thống thuế, các mối quan hệ tín dụng, sự
phát triển của thị trường vốn và mức độ bảo hộ của Chính phủ. Kết quả cũng chứng
43
minh rằng, các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh đòn bẩy tài chính để đạt tỷ lệ
đòn bẩy mục tiêu, nhưng các doanh nghiệp Pháp thì có tốc độ điều chỉnh nhanh nhất,
còn ngược lại, các doanh nghiệp Nhật - điều chỉnh chậm nhất.
Sbeiti (2010) nghiên cứu tác động của TTCK đến việc lựa chọn CTV tại ba
nước Kuwait, Saudi Arabia và Oman. Dữ liệu thu thập từ BCTC của 142 doanh
nghiệp, trong giai đoạn 1998-2005. Kỹ thuật xử lý trên dữ liệu bảng là FEM và GMM.
Kết quả cho thấy, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp này được giải thích bởi
các yếu tố như tính thanh khoản, cơ cấu tài sản và lợi nhuận tác động tiêu cực đến
đòn bẩy tài chính, trong khi quy mô doanh nghiệp có tác động thuận chiều đến đòn
bẩy tài chính. Ngoài ra, TTCK là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV
của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy, tại Kuwait và Saudi Arabia, các chỉ số của TTCK
có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV, ngụ ý rằng TTCK ở các nước này trở
nên phát triển hơn và là công cụ để tăng nguồn tài chính của doanh nghiệp bằng cách
phát hành cổ phiếu và giảm sự phụ thuộc vào nợ, tính thanh khoản được cải thiện.
Nor và ctg (2011) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV và sự
tồn tại CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Đông Nam Á. Dữ liệu nghiên cứu 1.515
doanh nghiệp tại ba quốc gia Malaysia, Singapore, Thái Lan. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng
động SYS-GMM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp trong khu vực luôn
điều chỉnh CTV theo CTV mục tiêu, phù hợp với Lý thuyết TOT động. Các yếu tố thể
chế quốc gia như mức độ phát triển TTCK, phát triển TTTP, tăng trưởng kinh tế, lãi suất
và quản trị đất nước cũng là các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp trong khu vực.
Oztekin (2013) nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của
101.204 doanh nghiệp lớn trên 37 quốc gia, trong giai đoạn 1991-2006. Kỹ thuật xử lý
dữ liệu bảng động SYS-GMM. Kết quả cho thấy môi trường thể chế ảnh hưởng đến
việc cân bằng giữa chi phí nợ và lợi ích, do đó sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV -
tốc độ điều chỉnh và trạng thái cân bằng của CTV mục tiêu của doanh nghiệp khác
nhau giữa các quốc gia, những quốc gia có môi trường vĩ mô và hệ thống tài chính tốt
44
sẽ có tốc độ điều chỉnh nhanh hơn. Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho
thấy: doanh nghiệp có quy mô lớn và ngành công nghiệp cạnh tranh thì sử dụng nợ
cao; doanh nghiệp có lợi nhuận nhiều hơn có xu hướng sử dụng nợ ít; doanh nghiệp
hoạt động trong môi trường lạm phát có xu hướng sử dụng nợ thấp.
Khanna và ctg (2015) nghiên cứu tác động của các yếu tố vĩ mô – tăng trưởng
kinh tế, lạm phát và chỉ số chứng khoán đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Dữ
liệu thu thập từ BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Bombay, trong giai
đoạn 1991-2013. Kỹ thuật xử lý PVAR/VECM trên dữ liệu bảng. Kết quả cho thấy
rằng, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô là nguyên nhân dẫn đến sự thay
đổi trong việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp trong dài hạn cũng như ngắn hạn, phù
hợp với Lý thuyết định điểm thị trường. Ngoài ra, nghiên cứu chứng minh có sự khác
biệt trong quyết định này theo quy mô của doanh nghiệp (lớn, vừa và nhỏ) và lĩnh vực
kinh doanh. Các doanh nghiệp với quy mô lớn có đòn bẩy tài chính khá nhạy với chu
kỳ kinh tế khi sự tăng trưởng kinh tế dẫn đến sự gia tăng sử dụng nợ (Lý thuyết TOT).
Trong khi đó các doanh nghiệp quy mô vừa có xu hướng sử dụng lợi nhuận giữ lại
nhiều hơn (Lý thuyết POT) và ngược lại, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ huy động
nguồn vốn từ VCSH nhiều hơn (Lý thuyết định điểm thị trường).
Thứ ba, nhiều công trình nghiên cứu tác động của các yếu tố đặc trưng doanh
nghiệp, đặc trưng ngành nghề đến việc lựa chọn CTV. Clayton (2009), Kayo và
Kimura (2011) phân tích tác động của yếu tố đặc trưng ngành nghề kinh doanh bao
gồm mức độ cạnh tranh của ngành, mức độ đảm bảo tăng trưởng bền vững của ngành
và mức độ rủi ro kinh doanh của ngành đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp.
Andani và Al-hassan (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV
của các doanh nghiệp niêm yết và chưa niêm yết tại Ghana. Trong đó, tiêu biểu nhất
là Kayo và Kimura (2011) ngoài việc phân tích tác động của các yếu tố về doanh
nghiệp và yếu tố thuộc về quốc gia của 40 nước trên thế giới, còn đánh giá sự tác
động của các yếu tố đặc trưng ngành nghề kinh doanh đến việc lựa chọn CTV của
doanh nghiệp. Tác giả sử dụng mô hình FEM để đánh giá tầm quan trọng của từng
45
nhóm yếu tố nói trên và kết luận 78% việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp được
quyết định bởi điều kiện thị trường tại từng thời điểm nghiên cứu (bao gồm ngành và
quốc gia) và các yếu tố vi mô của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu ủng hộ công
trình của Jong và ctg (2008), các yếu tố phản ánh đặc trung quốc gia và các yếu tố
ngành có ảnh hưởng gián tiếp nhất định đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp
thông qua sự ảnh hưởng đến các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV. Kết quả
nghiên cứu còn khẳng định rằng có sự khác biệt đáng kể về việc lựa chọn CTV của
các doanh nghiệp giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Các nghiên cứu tại Việt Nam có thể được phân thành ba nhóm. (i) Nghiên cứu
các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp như Đoàn Ngo ̣c Phi
Anh (2010), Dương Thị Hồng Vân (2014), Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim
Oanh (2015). (ii) Nghiên cứu mang tính liên ngành, trong đó Nguyen Thanh Cuong
và Nguyen Thị Canh (2012) nghiên cứu CTV của các doanh nghiệp thủy sản, Nguyễn
Thị Ngọc Lan và Nguyễn Tiến Dũng (2013) nghiên cứu các doanh nghiệp thuộc tập
đoàn dầu khí Việt Nam. (iii) Nghiên cứu liên quan đến hành vi của nhà quản trị tài
chính như Lê Đạt Chí (2013) phát hiện yếu tố hành vi của nhà quản trị có ảnh hưởng
đáng kể đến việc lựa chọn CTV. Võ Thị Quý (2014) chứng minh sự tồn tại của Lý
thuyết hành vi trong việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp BĐS tại Việt Nam.
Ngoài ra, Võ Xuân Vinh (2014), nghiên cứu cấu trúc sở hữu và CTV tại các doanh
nghiệp trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2006-2012.
Các nghiên cứu lý luận và thực nghiệm việc lựa chọn CTV được trình bày trên
có nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong những thập niên vừa qua, suy
thoái kinh tế diễn ra với tần suất cao, cường độ mạnh và phức tạp gây ra những hậu
quả nặng nề đối với nhiều quốc gia. Nhưng còn ít các công trình phân tích tác động
của khủng hoảng tài chính (2008-2009) và pha suy thoái kinh tế (2007-2010) đã ảnh
hưởng đến đến khu vực thực và nền kinh tế của các nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam. Do vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích tác động của suy
thoái kinh tế thế giới đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp Việt Nam bằng cách
46
so sánh sự khác nhau trong việc lựa chọn CTV giữa hai pha của chu kỳ kinh tế (pha
suy thoái và pha phục hồi). Để nghiên cứu mối quan hệ này, luận án xem xét ảnh
hưởng của các yếu tố nội tại, đặc biệt tình hình tài chính của doanh nghiệp và môi
trường kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, để
đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả tìm hiểu các nghiên cứu có giá trị liên quan.
Davis và Stone (2004), nghiên cứu việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và
sự bất ổn tài chính. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ BCTC của các doanh nghiệp
phi tài chính tại 29 quốc gia trong OECD, giai đoạn 1970-1990. Khủng hoảng xảy ra
có tác động tiêu cực đến đầu tư tư nhân, hàng tồn kho, tín dụng của ngân hàng, giá trị
vốn hóa của TTTP, giá cổ phiếu, tín dụng thương mại và nợ nước ngoài. Nhưng chịu
ảnh hưởng mạnh nhất là các nước thị trường mới nổi trong khối OECD. Ngoài ra,
nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng về tác động của khủng hoảng tài chính đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp và tình hình tài chính của các quốc gia, mức đòn bẩy
tài chính trung bình của doanh nghiệp khác nhau rõ rệt giữa các nhóm nước, lĩnh vực
kinh doanh và TTTC. Mặt khác, nghiên cứu cũng tìm thấy, trong bối cảnh khủng
hoảng tài chính, việc phát hành trái phiếu có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn
CTV, nhất là tại các nước phát triển OECD có mức độ bảo hiểm cao.
Ariff và ctg (2008) đạt mục đích nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa
chọn CTV của doanh nghiệp trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998.
Dữ liệu thu thập từ 182 doanh nghiệp của 7 nước. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng cân
bằng GMM. Kết quả nghiên cứu khẳng định, doanh nghiệp khó có thể đạt CTV tối
ưu tại bất kỳ thời điểm nào. Do đó, doanh nghiệp chỉ có thể nhận diện các yếu tố tác
động đến việc lựa chọn CTV tối ưu chứ không thể xác định được mức CTV tối ưu.
Ngoài ra, nghiên cứu này ước tính được tốc độ điểu chỉnh CTV để đạt được CTV
mục tiêu. Như vậy, kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng cuộc khủng hoảng làm
thay đổi CTV mục tiêu của doanh nghiệp và ủng hộ kết quả của Deesomsak và ctg
(2004) cho rằng quá trình điều chỉnh CTV để đạt được CTV mục tiêu diễn ra tại các
nước đang phát triển chậm hơn so với các nước phát triển do TTTD thiếu hiệu quả.
47
Hơn nữa, tốc độ điều chỉnh được chứng minh phụ thuộc vào tính chất của nguồn vốn
sử dụng, tức là phụ thuộc vào NDH hoặc NNH. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này,
Zarebski và Dimovski (2012) đã nghiên cứu CTV của các doanh nghiệp BĐS tại Úc
trước và sau khi cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 và cho kết quả tương tự.
Fosberg (2013) khám phá cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 đã ảnh hưởng
lớn đến nguồn vốn và TTTD ở Hoa Kỳ. Dữ liệu thu thập trong giai đoạn 2005-2010. Kỹ
thuật Pooled OLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chính khiến các
doanh nghiệp phải tăng lượng NNH trên tài sản từ 1,3% năm 2006 lên 2,2% năm 2008
và giảm dần từ cuối năm 2009. Nguyên nhân của sự tăng đột biến trong nợ vay ngắn hạn
là việc giảm các khoản tài chính phải trả từ nhà cung cấp và sự suy giảm trong NVDH
(bao gồm NDH và VCSH). Mặt khác, trong thời gian khủng hoảng, doanh nghiệp có xu
hướng thanh lý bớt tài sản cố định để giảm áp lực về NDH.
Altunok và Oduncu (2014) tập trung nghiên cứu vai trò của đòn bẩy tài chính
trong việc tăng trưởng doanh thu trước cuộc suy thoái kinh tế thế giới của 250 doanh
nghiệp phi tài chính tại Thổ Nhĩ Kỳ, trong giai đoạn quý 3/2003-quý 4/2009. Dữ liệu
thu thập dạng dữ liệu bảng cân bằng. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng Pooled OLS và tùy
chọn robust. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến
tăng trưởng doanh thu. Do đó, trong thời kỳ suy thoái, nếu doanh nghiệp tăng sử dụng
nợ có thể làm tăng mức độ bất ổn cho nền kinh tế. Hơn nữa, sự tăng trưởng nhanh
chóng của các đòn bẩy có thể là nguyên nhân dẫn đến những cuộc suy thoái kinh tế sắp
tới. Vì vậy, chính sách an toàn vĩ mô, có thể được thực hiện để kiểm soát sự tăng trưởng
nhanh chóng của đòn bẩy tài chính, góp phần ổn định tài chính. Ngoài ra, mức độ tác
động tiêu cực của cuộc suy thoái kinh tế thế giới khác nhau giữa các doanh nghiệp tùy
thuộc vào mức sử dụng nợ, quy mô, thời gian hoạt động, cơ cấu tài sản, thị phần xuất
khẩu và các yếu tố ngành.
Iqbal và Kume (2014) nghiên cứu tác động của khủng hoảng kinh tế gần đây
(2008 – 2009) đến CTV của 1.748 doanh nghiệp tại Anh, 1.622 tại Pháp và 1.345
Đức. Kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng FEM. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đòn bẩy tăng trong
48
giai đoạn (2006-2007) và trong cuộc khủng hoảng (2008-2009), và sau đó giảm dần
trong thời hậu khủng hoảng (2010-2011) năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, doanh
nghiệp có CTV thấp hơn so với CTV trung bình ngành thì có xu hướng tăng dần sử
dụng nợ trong giai đoạn trong và sau khủng hoảng. Ngược lại, tại các doanh nghiệp
có CTV cao hơn so với tỷ lệ cơ cấu vốn trung bình ngành trong giai đoạn trước khủng
hoảng các nhà quản trị giảm đáng kể tỷ lệ đòn bẩy, đặc biệt là trong giai đoạn hậu
khủng hoảng, chủ yếu là do sự thay đổi của chủ sở hữu.
Alves và Francisco (2015) nghiên cứu tác động của môi trường thể chế, điều
kiện vĩ mô đến CTV của doanh nghiệp tại 43 quốc gia trong giai đoạn khủng hoảng
kinh tế vừa qua – bắt đầu từ khủng hoảng bong bóng BĐS, khủng hoảng cho vay dưới
chuẩn cho đến khủng hoảng nợ công ở châu Âu. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật xử lý
dữ liệu bảng FEM. Kết quả cho thấy, nợ công và số dư tài khoản của quốc gia là yếu
tố thể hiện sự thịnh vượng của quốc gia. Do đó, đây là cơ sở củng cố thêm niềm tin
cho doanh nghiệp khi đưa ra quyết định quan trọng về đòn bẩy tài chính. Cụ thể, khi
niềm tin vào nền kinh tế đang hưng thịnh thì các doanh nghiệp tăng sử dụng nợ để tái
đầu tư, đặc biệt là các khoản NNH rủi ro thanh khoản khá cao. Đây là mầm móng của
những cuộc khủng hoảng – khủng hoảng cho vay dưới chuẩn và khủng hoảng BĐS.
Do đó, khi điều kiện vĩ mô thay đổi, niềm tin của người dân và nhà đầu tư dần giảm
sút, tăng trưởng kinh tế giảm sẽ dẫn đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn và khủng
hoảng BĐS, nguồn vốn đầu tư trên các TTTC bị thu hẹp. Vì vậy, các tổ chức tài chính,
ngân hàng, thậm chí doanh nghiệp phải cơ cấu lại nguồn vốn, các khoản tín dụng của
mình theo hướng tăng sử dụng NNH hơn NDH. Nhìn chung, nghiên cứu chỉ ra rằng
môi trường thể chế và biến số vĩ mô tác động đến việc lựa chọn CTV nhưng mức độ
tác động khác nhau giữa các quốc gia.
Các nghiên cứu thực nghiệm trên phân tích đã cung cấp bằng chứng cho thấy
cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu vừa qua đã ảnh hưởng đến các nước phát triển, đang
phát triển, trong đó có Việt Nam. Mặc dù, những năm gần đây, Việt Nam có nhiều
công trình nghiên cứu về việc lựa chọn CTV. Nguyen Thanh Cuong và Nguyen Thị
49
Canh (2012) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp chế biến thủy sản, so sánh với các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp
chế biến khác. Với việc sử dụng phương pháp - phân tích phương sai ANOVA và
kiểm định giả thuyết trung bình, kết quả cho thấy, việc lựa chọn CTV khác nhau giữa
các doanh nghiệp ngành chế biến thủy sản và các ngành chế biến khác. Lê Đạt Chí
(2013) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV của các nhà quản
trị tài chính tại Việt Nam với kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng cố định FEM. Kết quả nghiên
cứu đã tìm ra rằng bên cạnh các yếu tố vĩ mô là thuế, lạm phát thì các yếu tố nội tại
bên trong doanh nghiệp và hành vi của nhà quản trị cũng có ảnh hưởng đáng kể đến
quyết định tài chính của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhìn chung, vấn đề lựa chọn CTV
trong bối cảnh suy thoái kinh tế được rất ít công trình nghiên cứu.
Theo lược khảo của tác giả, cho đến thời điểm hiện tại, chỉ có công trình của
Truong Hong Trinh và Nguyen Thao Phuong (2015) về tác động của khủng hoảng
kinh tế đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Dữ liệu thu
thập từ BCTC 265 doanh nghiệp niêm yết, trong giai đoạn 2006-2013. Kỹ thuật xử
lý dữ liệu bảng cân bằng FEM và REM. Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa đòn
bẩy và quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng doanh nghiệp, lợi nhuận, tài sản hữu hình
trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế (2008-2009). Kết quả cho thấy, lợi nhuận và tài
sản hữu hình có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV, nhất là trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế. Ngược lại, quy mô doanh nghiệp có tác động thuận chiều đến
việc lựa chọn CTV.
2.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về xác định cấu trúc vốn mục tiêu
Lin (2007) phân tích tác động CTV lên giá trị doanh nghiệp của 272 doanh
nghiệp niêm yết tại TTCK Đài Loan trong giai đoạn 1997-2005. Nghiên cứu này đã
áp dụng mô hình hồi quy ngưỡng PTR để xem xét có tồn tại một CTV mục tiêu đối
với các doanh nghiệp. Chỉ số Tobin’s Q được sử dụng như biến đại diện cho giá trị
doanh nghiệp. CTV được đo lường bằng tổng nợ trên TTS. Kết quả nghiên cứu này
50
chỉ ra rằng để đảm bảo và nâng cao giá trị của doanh nghiệp, CTV mục tiêu nên thuộc
khoảng (48,92%; 49,55%).
Tương tự, Nieh và ctg (2008) áp dụng PTR để nghiên cứu CTV mục tiêu cho
143 doanh nghiệp điện tử niêm yết tại TTCK Đài Loan trong giai đoạn 1999-2004. Kết
quả cho thấy, có một hiệu ứng ngưỡng duy nhất của CTV lên giá trị doanh nghiệp được
đại diện bởi lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE). Hơn nữa, dựa trên kết quả kết hợp của
ROE và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), nghiên cứu cho thấy rằng, để đảm bảo khả
năng thanh toán và nâng cao giá trị của doanh nghiệp, CTV mục tiêu của các doanh
nghiệp ngành diện tử niêm yết tại TTCK Đài Loan nên thuộc khoảng (12,37%; 28,70%).
Cheng và ctg (2010) sử dụng PTR để nghiên cứu tác động CTV lên hiệu quả
hoạt động của 650 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Trung Quốc trong giai đoạn
2001 - 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CTV mục tiêu thấp hơn 53,97%, tức là
trong phạm vi này, vay nợ có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhưng
hiệu quả hoạt động bắt đầu giảm khi CTV thuộc khoảng (53,97; 70,48%) và việc sử
dụng nợ tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động khi CTV thuộc khoảng (70,48;
75,26%) hoặc trên 75,26%.
Lin và Chang (2011) sử dụng dữ liệu bảng của 196 doanh nghiệp niêm yết
tại Đài Loan trong giai đoạn 1993-2005. Biến phụ thuộc là Tobin’s Q đại điện cho
giá trị doanh nghiệp, biến độc lập là CTV được đo lường bằng tỷ lệ nợ trên TTS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, CTV mục tiêu của các doanh nghiệp này nằm trong
khoảng (9,86%; 33,33%).
Ahmad và Abdullah (2012) sử dụng PTR để nghiên cứu tác động của CTV lên
hiệu quả hoạt động của 467 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Malaysia trong giai
đoạn 2005-2009. Nghiên cứu cũng sử dụng ROE đại diện cho giá trị doanh nghiệp,
CTV đo lường bằng tổng nợ trên TTS. Kết quả nghiên cứu phát hiện, hiệu ứng đơn
ngưỡng và CTV mục tiêu của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Malaysia nên
dưới 64,33%.
Wang và Zhu (2014) nghiên cứu tác động của CTV đến hiệu quả hoạt động,
cơ hội đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc. Dữ liệu bảng thu thập từ 1.002 doanh
51
nghiệp trong giai đoạn 2003-2011 với phương pháp nghiên cứu PTR, kết quả cho
thấy CTV mục tiêu của các doanh nghiệp này là 47,64%.
Berzkalne (2015) sử dụng PTR để phân tích mối quan hệ giữa CTV và hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết tại Baltic. Nghiên cứu này dựa trên các
dữ liệu từ BCTC của 58 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2005-2013. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, đối với các doanh nghiệp nhỏ, CTV mục tiêu là 24,64%; còn
đối với các doanh nghiệp vừa - CTV mục tiêu dưới 62,97% và đối với các doanh
nghiệp lớn - dưới 61,19%.
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, nghiên cứu về mối quan hệ giữa
CTV với hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp hoặc xác định ngưỡng CTV mục
tiêu đã được thực hiện bởi một số tác giả. Đỗ Văn Thắng và Trịnh Quang Thiều
(2010) nghiên cứu mối quan hệ thực nghiệm giữa giá trị doanh nghiệp (Tobin’s Q)
và CTV của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu bảng không cân bằng của 159 doanh
nghiệp phi tài chính trong giai đoạn 2006–2009. Bằng mô hình hồi quy phi tuyến với
phương pháp Pooled OLS, kết quả nghiên cứu cho thấy, CTV mục tiêu của các doanh
nghiệp là điểm mà tại đó, tỷ số nợ trên VCSH là 105%. Võ Xuân Vinh và Nguyễn
Thành Phú (2014) nghiên cứu tác động của tỷ lệ nợ vay đến giá trị doanh nghiệp của
244 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh trong
giai đoạn 2008-2012. Bằng mô hình PTR, kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy,
CTV mục tiêu của doanh nghiệp trong ngành thương mại thuộc khoảng (15,87%;
44,52%), ngành BĐS - (41,02%; 73,00%), ngành vận tải - nhỏ hơn 79,66% và ngành
xây dựng - nhỏ hơn 61,28%. Ngoài ra, không xác định được CTV mục tiêu cho một
số nhóm ngành khác. Gần đây, Nguyễn Thành Cường (2015) nghiên cứu tác động
của CTV lên giá trị doanh nghiệp chế biến thủy sản khu vực Nam Trung bộ. Mẫu
khảo sát là 22 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn
2005-2012. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng tĩnh. Mục tiêu của nghiên cứu là phân
tích các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV và tác động của CTV đến giá trị doanh
52
nghiệp. Để tiến hành nghiên cứu, tác giả sử dụng hai mô hình. Mô hình các yếu tố tác
động đến CTV bao gồm ba biến phụ thuộc nợ trên TTS, NNH trên TTS, NDH trên
TTS và tám biến độc lập là quy mô, cơ cấu tài sản, cơ hội tăng trưởng, khả năng sinh
lời, tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh, gánh nặng lãi vay, thuế TNDN. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, yếu tố khả năng sinh lời, tài sản cố định hữu hình, cơ hội tăng trưởng,
tính thanh khoản, rủi ro kinh doanh có tác động nghịch chiều đến CTV và ngược lại,
quy mô tài sản, gánh nặng lãi vay tác động thuận chiều. Đối với mô hình này, tác giả
sử dụng ba phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM và REM. Bằng mô hình PTR,
tác giả đo giá trị của doanh nghiệp với hai chỉ tiêu ROE và BVE, các biến ngưỡng CTV
được tính như tổng nợ trên TTS. Nghiên cứu đã xác định ngưỡng nợ mục tiêu của các
chế biến thủy sản khu vực Nam Trung bộ là 57.39%. Quang và Xin (2015) sử dụng mô
hình phi tuyến để đo lường tác động của cơ cấu vốn đến hiệu suất tài chính của các
doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu này sử dụng cơ sở dữ liệu từ BCTC của các doanh
nghiệp nhà nước niêm yết trên Sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2006-2012. Bằng
các ước lượng FEM và REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy, CTV mục tiêu (đo bằng tỷ
lệ NDH trên VCSH) thuộc khoảng (4%; 70,3%).
2.2.3. Thảo luận các nghiên cứu trước
Thứ nhất, về mục tiêu nghiên cứu, nhìn chung, các nghiên cứu đã chứng minh
tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và khủng hoảng
kinh tế trong những thập niên gần đây (các cuộc khủng hoảng 1997-1998 và 2008-
2009). Tuy nhiên, số lượng công trình công bố chưa nhiều và còn khoảng trống khoa
học. Hai cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Việc lựa chọn
CTV là một trong những quyết định tài chính quan trọng của doanh nghiệp vì ảnh hưởng
đến khả năng thanh khoản, hiệu quả hoạt động cũng như giá trị của công ty. Theo lược
khảo của tác giả, từ sau hai cuộc khủng hoảng kinh tế (1997-1998 và 2008-2009), tại
Việt Nam chỉ có một công trình của Truong Hong Trinh và Nguyen Phuong Thao
(2015) nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV trong bối cảnh khủng
53
hoảng kinh tế 2008-2009. Tuy nhiên, công trình này cũng như một số công trình ở nước
ngoài nghiên cứu về việc lựa chọn CTV gắn với bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chủ yếu
tập trung vào vấn đề xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV nhưng lại
chưa chỉ rõ trong bối cảnh nền kinh tế và TTTC khó khăn, chi phí sử dụng vốn cao, chi
phí kiệt quệ tài chính tăng thì doanh nghiệp nên điều chỉnh hành vi liên quan đến việc
lựa chọn CTV và xây dựng ngưỡng CTV mục tiêu như thế nào cho phù hợp với bối
cảnh hiện tại. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng năng lực quản trị tài chính của
các doanh nghiệp Việt Nam.
Cụ thể các nghiên cứu, chưa gợi ý cho doanh nghiệp nên điều chỉnh CTV như
thế nào để đạt được CTV mục tiêu nhằm kiểm soát chi phí sử dụng vốn và nâng cao
hiệu quả hoạt động; hoặc dự báo cho doanh nghiệp những ảnh hưởng liên quan đến
việc lựa chọn CTV do sự biến động của các cú sốc vĩ mô gây ra, từ đó, hàm ý chính
sách cho doanh nghiệp đưa ra quyết định lựa chọn nguồn vốn như thế nào để đảm
bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đây là một khoảng trống
trong nghiên cứu về CTV của các doanh nghiệp tại Việt Nam cũng như ở nước ngoài.
Vì vậy, nhằm lấp khoảng trống khoa học này, mục tiêu của luận án là giải quyết ba
vấn đề chính sau: (i) xác định ngưỡng CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái và thời
kỳ phục hồi. Trên cơ sở đó, luận án gợi ý cho các doanh nghiệp thiết lập CTV mục
tiêu phù hợp với từng thời kỳ; (ii) nghiên cứu sự khác biệt trong việc lựa chọn CTV
của các nhà quản trị doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái và so sánh với thời kỳ phục
hồi nhằm bổ sung các lý luận mới cho lý thuyết CTV hiện đại; (iii) nghiên cứu mối
quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô, tác động của các biến kinh tế vi mô đến việc lựa
chọn CTV của doanh nghiệp. Từ đó, xác định các yếu tố vi mô tác động như thế nào
đến CTV và dự báo chiều hướng cũng như ước lượng mức tác động của các cú sốc
vĩ mô đến việc lựa chọn CTV mục tiêu của doanh nghiệp.
Thứ hai, về phương pháp nghiên cứu, hầu hết các nghiên cứu hiện nay sử dụng
chủ yếu các phương pháp ước lượng như Pooled OLS, FEM, FGLS, GMM để nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến CTV (Chi tiết Bảng 1.2. tại Phục lục 1). Riêng đối với
các nghiên cứu về CTV trong bối cảnh suy thoái kinh tế, các công trình thường sử
54
dụng phương pháp ước lượng OLS và FEM. Các phương pháp này cho phép nghiên
cứu tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến việc lựa chọn CTV. Tuy nhiên, theo
cơ chế phản hồi thông tin của Keynes và Lý thuyết bầy đàn, ngoài sự tác động của
các biến vĩ mô đến các chủ thể trong nền kinh tế thì các chủ thể này (bao gồm doanh
nghiệp) cũng tác động trở lại các biến vĩ mô và góp phần giải thích cho sự bất ổn của
môi trường kinh tế vĩ mô. Qua đó có thể thấy, tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa các
biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Tuy nhiên, vì các công
trình nghiên cứu trước đây bỏ qua vấn đề này, đây là khe hở trong phương pháp
nghiên cứu. Gần đây Khanna và ctg (2015) đã sử dụng các phương pháp ước lượng
của dữ liệu thời gian trên dữ liệu bảng như PVAR/PVECM trên cơ sở mô hình VAR
cổ điển để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa việc lựa chọn CTV và các yếu tố
kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát và chỉ số chứng khoán. Đây là phương
pháp tương đối mới ở nước ngoài và theo thống kê chưa đầy đủ của tác giả tại Việt
Nam chưa có nghiên cứu nào sử dụng. Do đó, để đạt mục tiêu là phân tích sự khác biệt
về việc lựa chọn CTV giữa hai thời kỳ cũng như phân tích mối quan hệ tác động qua
lại giữa việc lựa chọn CTV và các biến số vĩ mô, dự báo biến động của CTV dưới tác
động của các cú sốc vĩ mô, trên cơ sở kế thừa các mô hình và phân tích phương pháp
áp dụng của các nghiên cứu trước, luận án sử dụng mô hình PVAR dựa trên cở sở ứng
dụng các kỹ thuật của GMM do Love và Zicchino (2006) đề xuất vẫn chưa có công
trình liên quan nào sử dụng ở Việt Nam. Ngoài ra, việc sử dụng mô hình này để nghiên
cứu phù hợp với mẫu nghiên cứu có thời gian tương đối ngắn khi luận án chia mẫu
nghiên cứu thành hai thời kỳ suy thoái từ quý 1/2007 đến quý 4/2010 (T=16 kỳ) và thời
kỳ phục hồi từ quý 1/2011 đến quý 2/2016 (T=22 kỳ).
Ngoài ra, để phục vụ mục tiêu nghiên cứu là xác định CTV mục tiêu trong thời kỳ
suy thoái và thời kỳ phục hồi của chu kỳ kinh tế thế giới, luận án đã sử dụng mô hình
PTR. Mô hình này đã được Hansen (1999) đề xuất và những năm gần đây, mới được sử
dụng trong việc xác định CTV mục tiêu ở nước ngoài – khởi đầu là Lin (2007). Tại Việt
Nam, việc sử dụng mô hình PTR để nghiên cứu về CTV vẫn còn tương đối mới, gần đây
chỉ có Võ Xuân Vinh và Nguyễn Thành Phú (2014), Nguyễn Thành Cường (2015) sử
55
dụng. Vì vậy, nếu xét về phương pháp nghiên cứu thì luận án vẫn đảm bảo tính mới và
không trùng lắp với các nghiên cứu trước đây.
Thứ ba, xét về phạm vi không gian và thời gian. Căn cứ vào Bảng 1.3 tại Phụ lục
1, luận án vẫn đảm bảo tính không trùng lắp với các nghiên cứu trong nước và nước
ngoài. Hầu hết các công trình nghiên cứu về CTV đều gắn với bối cảnh khủng hoảng
kinh tế/ khủng hoảng tài chính, tức là dáy của cuộc suy thoái (sử dụng biến giả để phân
tích sự khác nhau giữa hai mốc thời gian là trước và sau khủng hoảng) tại các quốc gia
khác nhau. Cụ thể, ở nước ngoài, Fosberg (2012), Iqbal và Kume (2014) nghiên cứu
về việc lựa chọn CTV trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế 2008-2009 thông qua biến
giả thời gian (D = 1 đối với giai đoạn 2008-2009). Còn tại Việt Nam, hiện nay chỉ có
công trình của Truong Hong Trinh và Nguyen Phuong Thao (2015) có liên quan đến
đề tài, mẫu nghiên cứu 265 doanh nghiệp với mục đích nghiên cứu các yếu tố vi mô
tác động đến việc lựa chọn CTV trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế 2008-2009. Theo
thống kê chưa đầy đủ của tác giả, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu CTV
gắn với cả thời kỳ suy thoái kinh tế - pha suy thoái để đánh giá một cách đầy đủ tác
động của cuộc suy thoái kinh tế đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Do đó, trong
phạm vi của luận án ngoài việc nghiên cứu tác động của thời kỳ suy thoái tác động đến
việc lựa chọn CTV, luận án còn xác định các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV
và ngưỡng CTV mục tiêu của 82 CTCP niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán
tại Việt Nam, hoạt động liên tục trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), dữ
liệu thu thập được chia thành hai thời kỳ tương ứng với hai pha của chu kỳ kinh tế thế
giới – pha suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và pha phục hồi (quý 1/2011-quý
2/2016). Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm phạm vi về không gian và
thời gian cũng không có tính trùng lắp.
Những phân tích trên chứng tỏ luận án có đối tượng, mục tiêu, phương pháp,
phạm vi nghiên cứu khác so với các nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Ngoài ra,
luận án còn đảm bảo tính mới, tính khoa học và tính ứng dụng cao, nhất là trong bối
cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi chưa bền vững, tiềm ẩn những rủi ro do
doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn chưa hợp lý gây ra.
56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trên cơ sở hệ thống hóa các lý thuyết về CTV, CTV mục tiêu, phân tích ưu và
nhược điểm của từng lý thuyết, kết hợp các lý thuyết về CTV với các lý thuyết chu
kỳ chu kỳ kinh tế. Luận án phân tích các nguyên lý hành vi điều chỉnh CTV hoặc việc
lựa chọn CTV để đạt được CTV mục tiêu của doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái
và so sánh với thời kỳ phục hồi.
Mặt khác, thông qua việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu thực nghiệm về việc
lựa chọn CTV trong bối cảnh suy thoái kinh tế, luận án xác định khoảng trống khoa
học của các công trình trước – hướng tiếp cận, mục tiêu, phương pháp đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, từ đó, xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và xây dựng mô
hình kinh tế lượng phù hợp đối với đặc điểm cơ sở dữ liệu của các doanh nghiệp Việt
Nam ở Chương 3.
Bên cạnh đó, thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu có giá trị, tác giả đã khái
quát các phương pháp luận của các công trình trước đây. Từ đó, phân tích ưu và nhược
điểm của từng phương pháp, trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã lựa chọn
phương pháp nghiên cứu PVAR và PTR để đảm bảo tính mới về phương pháp luận
và đạt được các mục tiêu nghiên cứu.
57
CHƯƠNG 3:
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, luận án xây dựng thiết kế nghiên
cứu bao gồm hai nội dung chính.
Nội dung thứ nhất, giải quyết ba câu hỏi sau: (1) Tồn tại mối quan hệ tác
động qua lại giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV; (2) Xác định các
yếu tố kinh tế vi mô tác động đến việc lựa chọn CTV; (3) Sự khác biệt giữa việc lựa
chọn CTV của nhà quản trị trong thời kỳ suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và thời
kỳ phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016). Luận án sử dụng mô hình PVAR, phân rã
phương sai và hàm phản ứng đẩy (IRF).
Nội dung thứ hai, kết quả nội dung thứ nhất cho thấy, tồn tại sự khác biệt trong
việc lựa chọn CTV giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi của chu kỳ kinh tế thế
giới. Từ đó, khẳng định CTV mục tiêu của mỗi thời kỳ là khác nhau, vì vậy, luận án
sử dụng PTR để xác định CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong hai
thời kỳ này, trả lời cho câu hỏi thứ (4).
Hình 3.1. Thiết kế nghiên cứu
CTV mục tiêu tại các CTCP Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới
PTR
Tác động suy thoái kinh tế thế giới đến việc lựa chọn CTV CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi.
PVAR
- Sự khác biệt việc lựa chọn CTV trong hai thời kỳ của chu kỳ kinh tế;
Mối quan hệ giữa việc lựa chọn CTV và các biến kinh tế vĩ mô
- Tác động của các biến vi mô đến việc lựa chọn CTV.
58
3.2. MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU
TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
3.2.1. Mô hình và phương pháp nghiên cứu
3.2.1.1. Mô hình nghiên cứu
Mô hình PVAR trong thời kỳ suy thoái (1a) và thời kỳ phục hồi (1b) với độ trễ
k có dạng như sau:
𝒀𝒊𝒕 = µ𝟎 + 𝑨𝟏𝒀𝒊𝒕−𝟏+ 𝑨𝟐𝒀𝒊𝒕−𝟐+…+𝑨𝒌𝒀𝒊𝒕−𝒌+𝛃𝐱𝐗𝐢𝐭 + 𝒆𝒊𝒕, Ɐ i = 1, 2,..,N; t = 1, 2,..,T (1a, 1b)
Mô hình PVAR để phân tích sự khác biệt giữa việc lựa chọn CTV trong thời
kỳ suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và thời kỳ phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016),
hay là phân tích tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến việc lựa chọn CTV, với
độ trễ k được viết như sau:
𝒀𝒊𝒕 = µ𝟎 + 𝑨𝟏𝒀𝒊𝒕−𝟏+ 𝑨𝟐𝒀𝒊𝒕−𝟐+…+𝑨𝒌𝒀𝒊𝒕−𝒌+𝛃𝐱𝐗𝐢𝐭 + 𝐃 + 𝒆𝒊𝒕 (1c)
Trong đó:
𝑌𝑖𝑡 =(𝑇𝐷𝑅𝑖𝑡, 𝐺𝐷𝑃𝑖𝑡, 𝐼𝑁𝐹𝑖𝑡, 𝑅𝐴𝑇𝐸𝑖𝑡, 𝑉𝑁𝐼𝑖𝑡, 𝐵𝑂𝑁𝐷𝑖𝑡) là véctơ ngẫu nhiên cấp
(1x6) biến phụ thuộc;
𝑌𝑖𝑡−𝑝 là các véctơ cấp (1x6) biến phụ thuộc trễ;
𝐴1, 𝐴2, …, 𝐴𝑘 là các ma trận cấp (kxk);
Xit là các véctơ ngoại sinh cấp (1xƖ), bao gồm tài sản cố định (TANG), khả năng
thanh toán ngắn hạn (LIQ), quy mô công ty (SIZE), tốc độ tăng trưởng của công ty
(GRO), rủi ro kinh doanh (VOL), khả năng sinh lợi (ROE) và thuế TNDN (MTR);
Bx là các ma trận (Ɩxk) hệ số ước lượng;
D là biến giả DUMMY, D=0 khi kinh tế thế giới phục hồi, D=1 trong thời
gian suy thoái kinh tế thế giới;
2).
𝑒𝑖𝑡 là hiệu ứng tác động cố định do đặc trưng của doanh nghiệp không quan sát
được và hiệu ứng không đổi theo thời gian, eit|yit-1 ~ N(0,𝛿𝑖
59
3.2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô hình VAR cổ điển được áp dụng cho số liệu chuỗi thời gian dừng và không
đồng liên kết, bắt nguồn từ nghiên cứu của (The Sims, 1980) về cơ chế truyền dẫn của
các yếu tố kinh tế vĩ mô. Eakin và ctg (1988) tiếp tục đề xuất mô hình VAR dùng để xử
lý trong dữ liệu bảng (PVAR). Tuy nhiên, PVAR do ông đề xuất chủ yếu dựa trên cở
sở mô hình VAR cổ điển nên vẫn tồn tại: (i) do có sự hiện hữu của biến trễ phụ thuộc
trong phương trình nhưng mô hình VAR cổ điển lại sử dụng phương pháp cổ điển (OLS)
để ước lượng nên ngay cả khi N lớn và T lớn thì mô hình này vẫn gây hậu quả là tham
số ước lượng bị lệch (Judson và Owen, 1999); (ii) khi xử lý VAR với các độ trễ đã được
lựa chọn thì sẽ bị mất một số lượng lớn các quan sát do dữ liệu bị thu hẹp.
Để khắc phục các nhược điểm này, luận án sử dụng mô hình véctơ tự hồi quy
cho số liệu hỗn hợp (PVAR) được Love và Zicchino (2006) giới thiệu. Love và
Zicchino (2006), mô hình PVAR kết hợp giữa kỹ thuật VAR cổ điển, trong đó tất cả
các biến số được coi là có tính nội sinh dựa trên kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng, trong đó
bao gồm hiệu ứng không đổi theo thời gian và hiệu ứng không đổi theo số liệu chéo.
Hiệu ứng không đổi theo thời gian và hiệu ứng không đổi cho mỗi doanh nghiệp được
xử lý bằng cách biến đổi tất cả biến trong mô hình thành sai phân – GMM đối với trị
số trung bình của các kỳ tương lai, do đó, hạn chế vấn đề bị mất quan sát. Đây gọi là
quá trình biến đổi Helmert – quá trình này loại bỏ sai phân trực giao tịnh tiến (forward
orthogonal deviations) tính từ trị số trung bình của các điểm quan sát tương lai cho
mỗi doanh nghiệp. Quá trình này được giới thiệu bởi Arellano và Bover (1995), được
sử dụng ngay cả khi T cố định và N lớn nhưng vẫn cho kết quả ít bị thiên lệch hơn
đối với mô hình PVAR dựa trên VAR cổ điển. Vì vậy, khi sử dụng mô hình PVAR
dựa trên cơ sở các ứng dụng của GMM, thông qua quá trình trên đảm bảo tính thuần
nhất của phương sai số dư, ngăn ngừa hiện tượng tự tương quan. Mặt khác, giữ
nguyên được tính trực giao giữa biến được chuyển dạng với biến giải thích trễ, tạo
điều kiện cho việc dùng biến trễ làm biến công cụ nhờ loại bỏ sự tự tương quan giữa
biến công cụ và số dư. Một lợi ích nữa của phương pháp này là sự bảo toàn số liệu,
60
quá trình tính toán được áp dụng cho tất cả các điểm quan sát trừ điểm quan sát cuối
cùng cho mỗi doanh nghiệp nên giảm được hiện tượng mất số liệu.
3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các lý thuyết về CTV (Lý thuyết MM, Lý thuyết POT,
Lý thuyết TOT tĩnh, Lý thuyết TOT động, Lý thuyết chi phí đại diện, …), lý thuyết
chu kỳ kinh tế (Lý thuyết Minsky, Lý thuyết Keynes, Lý thuyết bầy đàn, …) và các
nghiên cứu thực nghiệm về việc lựa chọn CTV tại một số nước có môi trường kinh
doanh, cơ sở dữ liệu tương đồng với Việt Nam như Ozkan (2001), Deesomsak và ctg
(2004), Ariff (2008), Antoniou và ctg(2008), Sbeiti (2010), Booth và ctg (2001), Nor
và ctg(2011), Kayo và Kimura (2011), Oztekin (2013), Khanna và ctg (2015), luận
án xây dựng các giả thuyết nghiên cứu về tác động của suy thoái kinh tế, các yếu tố
vi mô và mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn CTV trong mô
hình 1a, 1b và 1c như sau:
Cấu trúc vốn (TDR)
Mối quan hệ giữa nợ và VCSH trong CTV của doanh nghiệp được đo lường
thông qua một trong các hệ số tài chính như tỷ số nợ, tỷ số VCSH, hệ số nợ trên
VCSH và hệ số đòn bẩy tài chính. Trong đó, tỷ số nợ (TDR) được đo lường bằng tổng
nợ trên TTS, phản ánh tình trạng sử dụng nợ của doanh nghiệp, bao gồm NDH và
NNH. Do đó, đây là thước đo cơ bản về việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và là
biến số phù hợp được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố đến việc lựa chọn
CTV. Chỉ tiêu này được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm như
Deesomask (2004), Ariff (2008), Jong và ctg (2008), Antoniou và ctg(2008), Iqbal và
Kume (2014), Balios và ctg (2016). Mặt khác, như đã phân tích trên, do đặc điểm các
doanh nghiệp Việt Nam và mẫu nghiên cứu của luận án với việc sử dụng chủ yếu
NNH chiếm 62,40% trong tổng nợ, tương ứng 31,87% trong TNV. Vì vậy, luận án
sử dụng biến này làm biến nội sinh trong mô hình PVAR 1a, 1b và 1c (Bảng 3.2).
Mặt khác, như phân tích ở Mục 2.2.2 để nghiên cứu tác động của việc lựa chọn
CTV đến hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp hoặc xác định CTV mục tiêu. Một
61
số công trình của Nieh và ctg (2008), Cheng và ctg (2010), Ahmad và Abdullah
(2012), Wang và Zhu (2014), Berzkalne (2015) đã sử dụng biến TDR vừa là biến độc
lập, vừa là biến ngưỡng để xác định ngưỡng CTV mục tiêu. Do đó, để trả lời cho câu
hỏi số (4) xác định ngưỡng CTV mục tiêu, luận án cũng đã sử dụng biến này để đưa
vào mô hình 2a, 2b và 2c (Bảng 3.2.).
Suy thoái kinh tế thế giới (D)
Như Mục 2.1.3 đã phân tích, suy thoái kinh tế thế giới đã tác động đến các yếu tố
vi mô và thông qua các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế, TTCK,
TTTP và TTTD làm thay đổi việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Kayo và Kimura
(2011) đã chứng minh suy thoái kinh tế đã gây ra những thay đổi đáng kể trong việc
lựa chọn CTV của nhà quản trị. Theo hàm ý của Lý thuyết POT và Lý thuyết định điểm
thị trường, trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên tăng cường sử dụng nợ để đáp
ứng nhu cầu vốn bị thiếu hụt. Ngược lại, theo hàm ý của Lý thuyết TOT, Lý thuyết tín
hiệu và Lý thuyết chi phí đại diện, doanh nghiệp nên hạn chế sử dụng nợ và tăng cường
sử dụng vốn cổ phần nhằm đảm bảo an toàn tài chính.
Trong giai đoạn 2007-2010, nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng
bởi suy thoái kinh tế thế giới, dẫn đến sự biến động mạnh các yếu tố kinh tế vĩ mô, từ
đó, tác động đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên
quan đến vấn đề này tại Việt Nam chưa được chú trọng, gần đây chỉ có Truong Hong
Trinh và Nguyen Phuong Thao (2015) nhưng vẫn tồn tại khoảng trống khoa học trong
lĩnh vực này. Do đó, luận án sử dụng biến giả suy thoái kinh tế thế giới (D=1) trong
mô hình để phân tích sự khác biệt trong việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt
Nam trong bối cảnh nền kinh tế nước này bị ảnh hưởng bởi suy thoái và phục hồi kinh
tế thế giới (D=0). Trên cơ sở nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến
việc lựa chọn CTV ở Bảng 2.4. của Mục 2.1.3, tác giả xây dựng giả thuyết suy thoái
kinh tế thế giới có tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV.
62
Tăng trưởng kinh tế (GDP)
Theo Akinlo và ctg (2011), tốc độ tăng trưởng kinh tế được xem là thước đo sự
phát triển kinh tế của quốc gia. Khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu tiêu dùng của
người dân tăng và điều này tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng
theo Lý thuyết POT, khi lợi nhuận của doanh nghiệp được cải thiện, nếu phát sinh
nhu cầu vốn thì đây là nguồn vốn được ưu tiên lựa chọn và doanh nghiệp chỉ mở rộng
sang nguồn vốn bên ngoài khi nhu cầu vốn vượt quá khả năng của VCSH. Điều này
hàm ý rằng, lợi nhuận có tác động nghịch chiều với việc lựa chọn CTV của doanh
nghiệp. Bên cạnh đó, Myers (1977) lập luận, về mối quan hệ nghịch chiều giữa tăng
trưởng và đòn bẩy từ quan điểm của chi phí đại diện. Khi nền kinh tế tăng trưởng,
doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng lớn, có thể điều chỉnh CTV về trạng thái mục
tiêu linh hoạt hơn, do đó chuyển giao tài sản từ chủ nợ cho các cổ đông (Lim, 2012).
Một số nghiên cứu thực nghiệm khác cũng có cùng kết quả như Kayo và Kimura
(2011), Joeveer (2013), Masoud (2014). Ngược lại, khi suy thoái kinh tế thế giới xảy
ra, nền kinh tế khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
Vì vậy, theo hàm ý của Lý thuyết POT, doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ bên ngoài
nhiều hơn, phù hợp với nghiên cứu của Ariff (2008).
Mặt khác, theo Lý thuyết TOT, trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, chi phí kiệt
quệ tài chính thấp, rủi ro phá sản chưa cao, do đó, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ
nhằm tận dụng lợi ích từ tấm chắn thuế. Quan điểm này nhận được sự đồng thuận của
Booth và ctg (2001), Jong và ctg (2008), Kayo và Kimura (2011), Nor và ctg (2011),
Khanna và ctg (2015). Ngược lại, khi suy thoái kinh tế xảy ra, chi phí kiệt quệ và chi
phí phá sản tăng, rủi ro phá sản cao. Vì vậy, doanh nghiệp nên sử dụng vốn cổ phần
nhiều hơn thay vì sử dụng vốn nghiêng về nợ vay. Quan điểm này nhận được sự ủng
hộ của Davis và Stone (2004), Alves và Francisco (2015).
Phân tích trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tác động đến việc lựa
chọn CTV của doanh nghiệp, nhưng chiều hướng tác động (thuận hay nghịch chiều) tùy
thuộc vào mức độ tăng trưởng của nền kinh tế theo các quan điểm khác nhau. Vì vậy,
63
luận án sử dụng biến số tốc độ tăng trưởng kinh tế để đưa vào mô hình nghiên cứu tại
Việt Nam với kỳ vọng tăng trưởng kinh tế có tác động thuận chiều hay nghịch chiều đến
việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Lạm phát (INF)
Lạm phát là một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự ổn định kinh tế vĩ mô của
một quốc gia. Trong thời kỳ tăng trưởng, các biến kinh tế vĩ mô, trong đó có tỷ lệ lạm
phát được kiểm soát ở mức phù hợp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, chi phí
kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản của doanh nghiệp thấp. Do đó, theo Lý thuyết
TOT, doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ. Như vậy, theo Lý thuyết TOT, lạm phát và
việc lựa chọn CTV có mối quan hệ thuận chiều. Kết quả này phù hợp với Frank và
Goyal (2007), Masoud (2014), Joeveer (2013), Tongkong và ctg (2013), Baltaci và
Ayaydin (2014), Khanna và ctg (2015). Ngược lại, khi nền kinh tế bị suy thoái, tâm
lý lo ngại rủi ro, sự mất lòng tin vào các tài sản tài chính, lạm phát tăng, chi phí kiệt
quệ tài chính và rủi ro phá sản theo đó cũng tăng. Do đó, theo lý thuyết TOT, doanh
nghiệp nên hạn chế sử dụng nợ, phù hợp với nghiên cứu của Baltaci và Ayaydin
(2014), Zhang và Mirza (2015).
Mặt khác, trong thời kỳ nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp, lợi nhuận từ hoạt
động của doanh nghiệp cao, theo đó giá của tài sản tài chính tăng, giá trị cổ phiếu trên
thị trường được định giá cao hơn so với giá trị thực của nó. Theo Lý thuyết định điểm
thị trường, doanh nghiệp nên phát hành cổ phiếu nhằm huy động nguồn vốn có chi
phí thấp. Vì vậy, doanh nghiệp tăng cường sử dụng vốn cổ phần và hạn chế sử dụng
nợ. Theo hàm ý của lý thuyết này, lạm phát và việc lựa chọn CTV có mối quan hệ
nghịch chiều. Kết quả này phù hợp với Masoud (2014), Khanna và ctg (2015).
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng
bởi suy thoái kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế chậm lại, chỉ số lạm phát có diễn
biến phức tạp. Do đó, luận án chọn biến lạm phát để đưa vào mô hình, được đo lường
bằng tốc độ tăng CPI trong năm với kỳ vọng biến này có tác động thuận chiều hoặc
nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
64
Thị trường tín dụng (RATE)
TTTD đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho các chủ thể trong
nền kinh tế, nhất là doanh nghiệp. Lãi suất cho vay là một trong các chỉ tiêu để đo
lường sự phát triển của TTTT nói chung và điều kiện phát triển của TTTD nói riêng.
Do đó, luận án sử dụng lãi suất cho vay trung bình để đại diện cho sự phát triển của
TTTD. Khi TTTD phát triển, điều kiện cho vay dễ dàng hơn, lãi suất cho vay trung
bình có xu hướng giảm và dư nợ tín dụng tăng, đáp ứng nhu cầu đầu tư của nền kinh
tế. Ngược lại, khi điều kiện của TTTD thu hẹp, nghĩa là các TCTD nâng cao điều
kiện cho vay, lãi suất cho vay tăng nhằm kiểm soát dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Thật vậy, theo Bokpin (2009), Bas và ctg(2009), lạm phát và lãi suất là các yếu tố
quyết định đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp.
Theo Lý thuyết MM (1963), doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ vì tiết kiệm được
khoản thuế TNDN từ lãi vay. Hàm ý rằng khi TTTD thu hẹp, doanh nghiệp nên tăng
sử dụng nợ nhằm tranh thủ được lợi ích từ thuế, phù hợp với Allayannis và ctg (2003),
Zerriaa và Noubbigh (2015). Tuy nhiên, theo Lý thuyết TOT, các nhà quản trị tin
rằng tồn tại CTV mục tiêu nhằm tăng giá trị doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp nên
tăng sử dụng nợ ở mức hợp lý với chi phí hợp lý để cân bằng giữa lợi ích và chi phí
của nợ. Do đó, trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, lãi suất cho vay hấp dẫn, các doanh
nghiệp có xu hướng tăng sử dụng nợ nhằm tận dụng chi phí sử dụng vốn thấp. Hàm
ý rằng, TTTD tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV. Một số nghiên cứu thực
nghiệm của Barry (2008), Antoniou và ctg(2008), Bas (2009), Nor và ctg (2011),
Masoud (2014), Haron và Ibrahim (2012) cũng đồng thuận với quan điểm này.
Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, lãi suất cho vay tăng và chi phí kiệt quệ tài
chính tăng, TTTD bị thu hẹp, theo Lý thuyết TOT, doanh nghiệp có xu hướng hạn
chế sử dụng nợ nhằm kiểm soát các chi phí phát sinh, hạn chế rủi ro phá sản. Bên
cạnh đó, theo Lý thuyết chi phí đại diện, khi nền kinh tế khó khăn, tồn tại sự mất cân
xứng thông tin giữa ngân hàng và doanh nghiệp nên chi phí đại diện tăng cao. Vì vậy,
65
theo hai lý thyết này, trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên hạn chế sử dụng nợ,
phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nor và ctg (2011).
Tại Việt Nam, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nên đã có những thời
kỳ mặt bằng lãi suất trên thị trường biến động bất thường và gây ra xáo trộn nền kinh
tế. Vì vậy, lãi suất cho vay bình quân được đưa vào mô hình để đại diện cho sự phát
triển của TTTD với kỳ vọng TTTD phát triển (lãi suất cho vay thấp) có tác động thuận
chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thị trường chứng khoán (LNVNI)
Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, TTCK phát triển, quy mô của thị trường lớn,
tính thanh khoản của thị trường cao, rủi ro kinh doanh và chi phí đại diện thấp, tỷ suất
sinh lời cao, việc huy động vốn dễ dàng hơn, các doanh nghiệp có xu hướng tăng sử
dụng vốn cổ phần nhằm mục đích hưởng lợi từ việc nhà đầu tư định giá cao hơn giá trị
thực. Do đó, theo Lý thuyết định điểm thị trường, doanh nghiệp ưu tiên phát hành cổ
phiếu, do đó có một sự sụt giảm tương đối tỷ lệ nợ trong CTV. Một số nghiên cứu thực
nghiệm ủng hộ quan điểm này được công bố bởi Faulkender và Petersen (2006), Jong
và ctg (2008), Booth (2001), Nor và ctg (2011), Masoud (2014), Khanna và ctg (2015).
Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, giá trị của tài sản tài chính, niềm tin của nhà đầu
tư trong nước và nước ngoài sụt giảm. Do đó, tính thanh khoản của TTCK thấp, giá trị
cổ phiếu giảm hơn so với giá trị vốn có của nó, khi đó chi phí sử dụng nợ thấp hơn so
với chi phí sử dụng vốn, hàm ý rằng trong thời kỳ này, doanh nghiệp nên tăng sử dụng
nợ. Nghiên cứu của Alves và Francisco (2015) trong bối cảnh khủng hoảng tài chính
cũng cho kết quả tương tự. Như vậy, sự phát triển của TTCK luôn có mối quan hệ nghịch
chiều với việc lựa chọn CTV đúng với các thời kỳ của chu kỳ kinh tế.
Tại Việt Nam thời kỳ 2007-2010, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới
nên TTCK Việt Nam có xu hướng giảm, giá cổ phiếu bị sụt giảm mạnh, nhiều CTCP
khó huy động vốn để thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Vì vậy, TTCK được đo lường
bằng chỉ tiêu LN(VNINDEX) và đưa vào mô hình với kỳ vọng yếu tố này tác động
nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
66
Thị trường trái phiếu (BOND)
Như đã phân tích trên, khi nền kinh tế tăng trưởng, lợi nhuận của doanh nghiệp
tăng, giá trị của các tài sản tài chính tăng, kỳ vọng của các nhà đầu tư về sự phát triển
của thị trường lớn, TTTP phát triển, quy mô của thị trường lớn, lãi suất hấp dẫn. Vì
vậy, doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn từ thị trường này. Mặt khác, theo Lý thuyết
TOT, trong điều kiện thị trường lý tưởng - chi phí nợ thấp hơn chi phí vốn, chi phí
kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản thấp doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ. Tương
tự, theo Lý thuyết chi phí đại diện, khi nền kinh tế tăng trưởng chi phí đại diện thấp,
hàm ý doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ. Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của
Frank và Goyal (2007), Jong và ctg (2008), Haron và ctg (2012), Masoud (2014).
Trong thời kỳ suy thoái, theo cơ chế lan truyền thông tin về sự khó khăn của
khu vực thực ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường này, gia tăng
sự lo ngại rủi ro. Vì vậy, quy mô của thị trường giảm, các nhà đầu tư cơ cấu cấu lại
danh mục đầu tư, lãi suất trên thị trường này tăng để bù đắp rủi ro do thị trường gây
ra, chi phí tài chính trở nên đắt đỏ hơn (Cornett và ctg, 2011). Bên cạnh đó, do sự khó
khăn về hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đối mặt với sự gia tăng chi phí tài
chính và rủi ro phá sản. Theo Lý thuyết TOT, doanh nghiệp nên hạn chế sử dụng nợ,
quan điểm này nhận được sự ủng hộ của Nor và ctg (2011).
Vì vậy, yếu tố TTTP được đưa vào mô hình với kỳ vọng có tác động thuận chiều
với việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, để đo lường yếu
tố này, luận án sử dụng chỉ tiêu tổng vốn hóa TTTP trên GDP (Jong và ctg, 2008;
Nor và ctg, 2011; Haron và ctg, 2012).
Khả năng sinh lời (ROE)
Các lý thuyết về CTV bảo vệ những quan điểm khác nhau về tác động của khả
năng sinh lời đến việc lựa chọn CTV. Theo Lý thuyết TOT, doanh nghiệp có lợi
nhuận cao sử dụng nợ nhiều hơn, dễ hưởng lợi ích cao từ tấm chắn thuế và nguy cơ
phá sản thấp. Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm này, chẳng hạn Antoniou và ctg
(2008), Sbeiti (2010), Gygax và ctg (2013), Haron và Ibrahim(2012). Các nghiên cứu
67
về việc lựa chọn CTV trong thời kỳ suy thoái cũng đồng thuận với quan điểm trên
như Ariff (2008), Fosberg (2012), Rehman và Rehman (2014), Iqbal và Kume (2014).
Ngược lại, Lý thuyết POT hàm ý, mối quan hệ tiêu cực giữa lợi nhuận và việc lựa
chọn CTV. Các doanh nghiệp có lợi nhuận cao không phải phụ thuộc quá nhiều vào
nguồn vốn bên ngoài. Doanh nghiệp ưu tiên sử dụng các quỹ nội bộ tạo ra khi có sẵn và
sử dụng nợ khi nguồn tài trợ từ bên trong bị thiếu hụt. Một số nghiên cứu thực nghiệm
ủng hộ quan điểm này là Booth và ctg (2001), Chen (2003), Deesomask và ctg (2004),
Jong và ctg (2008), Akinlo và ctg (2011), Kayo và Kimura (2011), Masoud (2014),
Tongkong và ctg (2013). Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu về việc lựa chọn CTV
trong bối cảnh suy thoái như Nor và ctg (2011), Zarebski và Dimovski (2012), Alves và
Francisco (2015), Proenca và ctg (2014), Balios và ctg (2016).
Vì vậy, luận án đưa yếu tố này vào mô hình với kỳ vọng khả năng sinh lời có tác
động thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt
Nam và chỉ tiêu này được xác định bằng lợi nhuận sau thuế trên VCSH.
Mặt khác, như phân tích ở Mục 2.2.2 để nghiên cứu tác động của việc lựa chọn
CTV đến hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp hoặc xác định CTV mục tiêu. Một
số công trình của Nieh và ctg (2008), Cheng và ctg (2010), Ahmad và Abdullah
(2012), Wang và Zhu (2014), Berzkalne (2015) đã sử dụng chỉ tiêu ROE để đại diện
cho hiệu quả hoạt động hoặc giá trị doanh nghiệp. Do đó, để xác định ngưỡng CTV
mục tiêu trong mô hình 2a, 2b và 2c (Bảng 3.2.) trên cơ sở kế thừa các công trình này
luận án cũng sử dụng biến này làm biến phụ thuộc để đưa vào mô hình nghiên cứu.
Cơ cấu tài sản (TANG)
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp có thể được dùng để thế chấp cho các khoản
nợ, do đó đây là chỉ tiêu đo lường mức độ an toàn của các khoản nợ (Fama và French,
2002). Theo giải thích của Lý thuyết POT và Lý thuyết TOT, các doanh nghiệp có
TSCĐ lớn có lợi hơn khi phát hành nợ có đảm bảo hoặc vay nợ có tài sản thế chấp.
Bởi lẽ, việc phát hành nợ bằng tài sản thế chấp tránh được một số chi phí liên quan
đến việc phát hành chứng khoán (Myers và Majluf, 1984). Mặt khác, doanh nghiệp
68
có giá trị TSCĐ cao thể hiện năng lực tài chính mạnh và khả năng đảm bảo nợ vay
tốt, do đó có thể mong đợi một mức lãi suất thấp hơn (Baker và Martin, 2011). Quan
điểm này phù hợp với một số nghiên cứu liên quan đến thời kỳ tăng trưởng như
Deesomsak (2004), Masoud (2014), Antoniou và ctg (2008), Nor và ctg (2011),
Tongkong và ctg (2013). Mặt khác, kết quả này nhận sự ủng hộ của hầu hết các công
trình nghiên cứu gắn với thời kỳ suy thoái như Ariff (2008), Fosberg (2013), Alves
và Francisco (2015), Iqbal và Kume (2014).
Tuy nhiên, theo Lý thuyết chi phí đại diện, doanh nghiệp có cơ cấu TSCĐ thấp,
chi phí khấu hao và chi phí hoạt động thấp. Do đó, để giới hạn chi phí lương, thưởng
dành cho nhà quản lý, chủ doanh nghiệp có thể chọn mức nợ cao. Khi mức nợ vay
cao, các nhà quản lý có xu hướng tiết kiệm chi phí nhiều hơn, hạn chế tiêu hao các
chi phí dành cho nhà quản lý. Lý thuyết này hàm ý, tồn tại mối tương quan nghịch
giữa cơ cấu tài sản và việc lựa chọn CTV (Titman và Wessels 1988). Quan điểm này
nhận được sự ủng hộ của Booth và ctg (2001), Sheikh và Wang (2011), Nor và ctg
(2011). Một số nghiên cứu liên quan đến thời kỳ suy thoái cũng ủng hộ quan điểm
này như Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015), Balios và ctg (2016).
Tại Việt Nam, tài sản thế chấp là căn cứ quan trọng để NHTM xem xét khi cấp
tín dụng. Do vậy, biến cơ cấu tài sản được đo lường bằng tỷ trọng TSCĐ trên TTS
với kỳ vọng tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Khả năng thanh khoản ngắn hạn (LIQ)
Theo Lý thuyết POT, khi có nhu cầu vốn, các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn
tài chính nội bộ từ lợi nhuận giữ lại hơn là nguồn vốn từ bên ngoài. Vì vậy, các doanh
nghiệp có lợi nhuận giữ lại cao, tài sản lưu động đủ để tài trợ cho các khoản đầu tư thì
các doanh nghiệp này sẽ không có nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài. Điều này hàm ý
rằng, tồn tại mối quan hệ nghịch chiều giữa khả năng thanh khoản và việc lựa chọn
CTV. Quan điểm này cũng được ủng hộ bởi Lý thuyết chi phí đại diện. Myers và Rajan
(1998) cho rằng doanh nghiệp duy trì tài sản có tính lỏng cao có xu hướng sử dụng các
69
tài sản này để phục vụ cho lợi ích của các chủ doanh nghiệp. Nhưng hạn chế lợi ích của
các chủ nợ, do đó chi phí đại diện tăng cao, các chủ nợ bên ngoài sẽ hạn chế số tiền tài
trợ nợ cho doanh nghiệp. Một số nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ quan điểm này, chẳng
hạn Deesomask và ctg (2004), Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011), Haron và ctg (2012),
Tongkong và ctg (2013), Masoud (2014), Nguyễn Thành Cường (2015) và phù hợp với
kết quả nghiên cứu về CTV trong thời kỳ suy thoái của Zarebski và Dimovski (2012).
Tuy nhiên, Lý thuyết TOT cho rằng, những doanh nghiệp có tính thanh khoản
cao, chi phí kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản thấp thường duy trì một tỷ số nợ cao
hơn. Điều này hàm ý rằng, mối quan hệ thuận chiều giữa tính thanh khoản và việc lựa
chọn CTV. Một số nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ quan điểm này, chẳng hạn Andani
và Al-hassan (2012), Handoo và ctg (2014), và kết quả nghiên cứu của Proenca và ctg
(2014), Zhang và Mirza (2015) về CTV trong bối cảnh suy thoái kinh tế.
Tại Việt Nam, nghiên cứu thực nghiệm của Dzung và ctg (2012), Trần Hùng
Sơn (2013), Nguyễn Thành Cường (2015) đã phát hiện mối quan hệ nghịch chiều
giữa tính thanh khoản và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Vì vậy, luận án đưa
biến khả năng thanh khoản vào mô hình, được đo lường dựa trên tỷ số NNH trên
TSNH với kỳ vọng khả năng thanh khoản tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều
đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Quy mô công ty (SIZE)
Theo Lý thuyết TOT, doanh nghiệp có quy mô lớn thường được kỳ vọng có khả
năng vay nợ và sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Theo lý thuyết này, các doanh nghiệp
lớn thường có rủi ro phá sản và chi phí phá sản thấp, do đó, có khả năng đàm phán cao
với các TCTD. Theo Lý thuyết chi phí đại diện, những doanh nghiệp có quy mô lớn
thường có tính minh bạch cao nên giảm thiểu được vấn đề bất cân xứng thông tin và
giảm chi phí đại điện khi vay vốn. Do đó, doanh nghiệp có xu hướng nghiêng về sử
dụng nợ vay. Quan điểm này nhận được sự đồng thuận từ Chen (2003), Deesomask và
ctg (2004), Antoniou và ctg (2008), Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011), Gygax và ctg
(2013), Nurlayli và ctg (2013), Masoud (2014). Một số công trình nghiên cứu về CTV
70
trong bối cảnh suy thoái kinh tế có kết quả tương tự như Ariff (2008), Iqbal và Kume
(2014), Alves và Francisco (2015), Balios và ctg (2016).
Ngược lại, theo Lý thuyết POT, doanh nghiệp có quy mô lớn thường có danh tiếng
và có thời gian hoạt động dài. Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp thường cao và có thể
dễ dàng phát hành cổ phiếu hơn các doanh nghiệp nhỏ. Quan điểm này được giải thích
bởi Fama và Jensen (1983), Titman và Wessels (1988) vận dụng cho thời kỳ nền kinh tế
tăng trưởng. Còn liên quan đến thời kỳ suy thoái, có các công trình của Voutsinas và
Werner (2011), Fosberg (2013), Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015).
Do vậy, yếu tố quy mô doanh nghiệp được đưa vào mô hình nghiên cứu tại Việt
Nam và đo lường bằng chỉ tiêu LN(TTS) với kỳ vọng quy mô doanh nghiệp tác động
thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Tốc độ tăng trưởng (GRO)
Các lý thuyết về CTV đưa ra các giải thích khác nhau về mối liên hệ giữa cơ hội
tăng trưởng của doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính. Lý thuyết chi phí đại diện cho rằng,
hai biến số này có quan hệ nghịch chiều. Theo lý thuyết này, khi các doanh nghiệp
đang trong thời kỳ tăng trưởng cao và có nhiều cơ hội đầu tư, dòng tiền tự do thường
thấp và vấn đề xung đột lợi ích giữa người quản lý với các cổ đông ít gay gắt. Trong
thời kỳ này, việc sử dụng nợ thường gây nên vấn đề đầu tư dưới mức (Stulz,1990), vì
vậy, doanh nghiệp có xu hướng sử dụng VCSH nhiều hơn. Ngược lại, khi cơ hội tăng
trưởng ít, dòng tiền tự do dư thừa, có thể gây ra những vấn đề về chi phí đại diện như
lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức và thù lao cho nhà quản lý tăng thêm. Trong trường
hợp này, việc sử dụng nợ vay làm tăng khả năng giám sát hiệu quả của các nhà quản
lý (Jensen, 1986). Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của Deesomask và ctg (2004),
Antoniou và ctg (2008), Haron và ctg (2012), Nor và ctg (2011), Masoud (2014), khi
nghiên cứu việc lựa chọn CTV trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng và của Proenca và ctg
(2014), Rehman và Rehman (2014), Zhang và Mirza (2015), Balios và ctg (2016) có
kết quả tương tự khi nghiên cứu về thời kỳ suy thoái.
71
Ngược lại, theo Lý thuyết POT, doanh nghiệp có nhiều cơ hội đầu tư có nhu
cầu vốn lớn, tuy nhiên nếu nguồn vốn nội bộ không đáp ứng đủ thì sẽ sử dụng nợ
nhiều hơn. Mặt khác, theo Lý thuyết tín hiệu, doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng
cao, lợi nhuận trong tương lai tăng. Do đó, các nhà quản lý nên tăng sử dụng nợ nhằm
phát ra tín hiệu tốt về triển vọng của doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mua vào cổ phiếu
và đẩy giá tăng lên. Như vậy, hai lý thuyết này đều hàm ý mối quan hệ cùng chiều
giữa tăng trưởng doanh nghiệp và việc lựa chọn CTV. Kết quả này được ủng hộ bởi
Booth (2001), Ozkan (2001), Nor và ctg (2011), Nurlaily và ctg (2013). Một số kết
quả nghiên cứu của Fosberg (2012), Alves và Francisco (2015), Iqbal và Kume
(2014) gắn với thời kỳ suy thoái cũng có kết quả tương đồng.
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, cơ hội tăng trưởng có
quan hệ thuận chiều với việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, chẳng hạn, Tran Dinh
Khoi Nguyen và ctg (2006), Biger và ctg (2008), Nguyen và ctg (2012). Tuy nhiên,
một số nghiên cứu khác cho thấy, tồn tại mối quan hệ nghịch chiều như Nguyễn
Thành Cường (2015), Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim Oanh (2015). Do đó,
luận án đưa biến tăng trưởng doanh nghiệp vào mô hình nghiên cứu với kỳ vọng biến
này có tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp Việt Nam và được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu.
Rủi ro kinh doanh (VOL)
Theo Lý thuyết TOT, do mỗi ngành có đặc thù kinh doanh riêng nên các ngành
khác nhau chịu những rủi ro kinh doanh khác nhau. Rủi ro kinh doanh là việc xem
xét sự không chắc chắn về dòng thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp (thay đổi của doanh thu, giá bán, chi phí, ...). Do đó, nếu rủi ro kinh doanh
tăng thì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thấp, chi phí phá sản tăng, các vấn
đề về chi phí đại diện liên quan đến việc sử dụng nợ vay cũng phức tạp hơn. Do đó,
doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nợ vay ít hơn. Một số nghiên cứu thực nghiệm
ủng hộ quan điểm này, chẳng hạn Booth và ctg (2001), Faulkender và Petersen
(2005), Jong và ctg (2008), Gygax và ctg (2013), Tongkong và ctg (2013).
72
Trong thời kỳ suy thoái, một số lượng lớn các doanh nghiệp phải đối mặt với sự
khó khăn của hoạt động kinh doanh, dòng thu nhập không ổn định và không có khả
năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, rủi ro phá sản cao hơn nên chúng sử dụng nợ
ít hơn. Về phía ngân hàng, khi suy thoái kinh tế xảy ra, ngân hàng cơ cấu lại các
khoản nợ, tăng điều kiện cấp tín dụng, tăng lãi suất cho vay để bù đắp rủi ro và thu
hẹp quy mô tín dụng. Do đó, hầu hết các nghiên cứu về CTV trong thời kỳ suy thoái
đều có kết quả tương đồng với quan điểm rủi ro kinh doanh tác động nghịch chiều
đến việc lựa chọn CTV, cụ thể Iqbal và Kume (2014).
Vì vậy, luận án đưa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu với kỳ vọng biến này
có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam và
chỉ tiêu này đo lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận trước thuế và lãi vay
trên TTS.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (MTR)
Theo Lý thuyết MM (1963), doanh nghiệp có mức thuế suất cao thường sử dụng
nhiều nợ vay để tận dụng lá chắn thuế từ lãi vay. Điều này cho thấy mối quan hệ
thuận chiều giữa thuế TNDN và việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Một số nghiên
cứu thực nghiệm ủng hộ quan điểm này, chẳng hạn Booth và ctg (2001), Jong và ctg
(2008), Afza và Hussain(2011), Fosberg (2012), Alves và Francisco (2015), Iqbal và
Kume (2014), Proenca và ctg (2014), Nguyễn Thành Cường (2015).
Do đó, luận án sử dụng chỉ tiêu thuế suất bình quân được đo lường bằng tỷ lệ
giữa thuế TNDN phải nộp trong năm chia cho tổng lợi nhuận trước thuế đạt được
trong cùng kỳ để đánh giá ảnh hưởng của thuế TNDN đến việc lựa chọn CTV và kỳ
vọng biến này tác động cùng chiều với việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp
Việt Nam.
73
Bảng 3.1. Các biến tác động đến việc lựa chọn CTV trong mô hình
Biến độc lập
Ký hiệu
Lý thuyết
Tác giả
Kỳ vọng
+
TDRit-1
Độ trễ của biến phụ thuộc
Antoniou (2008), Ariff (2008), Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011), Khanna và ctg (2015).
POT
-
GDP it-1
Ariff (2008), Khanna và ctg (2015).
Độ trễ của tốc độ trưởng kinh tế thực
+
TOT, chi phí đại diện
TOT
+
INF it-1
Độ trễ của tỷ lệ lạm phát
-
Jong và ctg (2008), Khanna và ctg (2015). Tongkong và ctg (2013), Khanna và ctg (2015). Masoud (2014), Khanna và ctg (2015).
Định điểm thị trường
POT, TOT
-
RATE it-1
Antoniou (2008), Nor và ctg (2011), Haron và Ibrahim (2012).
Độ trễ của lãi suất cho vay bình quân
+
MM
Độ trễ TTCK
-
LN(VNI) it-1
Định điểm thị trường
Độ trễ TTTP
+
BOND it-1
TOT, chi phí đại điện
Cơ cấu tài sản
TOT, POT
+
TANG it
-
Chi phí đại diện
Allayannis và ctg (2002), Zerriaa và Noubbigh (2015). Jong và ctg(2008), Alves và Francisco (2015), Khanna và ctg (2015). Jong và ctg (2008), Nor và ctg (2011), Masoud (2014). Antoniou (2008), Nor và ctg (2011), Ariff (2008). Nor và ctg (2011), Zhang và Mirza (2015), Balios và ctg (2016), Truong Hong Trinh và Nguyen Thao Phuong (2015).
-
Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011).
LIQ it
POT, chi phí đại điện
Khả năng thanh toán
+
TOT
-
POT
SIZE it
Quy mô công ty
+
TOT, chi phí đại diện
Proença và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015). Proença và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015). Ariff (2008), Balios và ctg (2016), Truong Hong Trinh và Nguyen Thao Phuong (2015).
+
POT
GRO it
Tốc độ tăng trưởng
-
Chi phí đại điện
-
TOT
VOL it
Rủi ro kinh doanh
-
POT
ROE it
Khả năng sinh lời
+
TOT
Thuế TNDN
+
MM, TOT
MTR it
(2013), Alves
+
D it
POT, định điểm thị trường.
Biến giả suy thoái kinh tế 2007-2010
Nor và ctg(2011), Alves và Francisco (2015). Proença và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015), Balios và ctg (2016). Proença và ctg (2014), Balios và ctg (2016). Nor và ctg (2011), Proença và ctg (2014), Balios và ctg (2016), Truong Hong Trinh và Nguyen Thao Phuong (2015). Antoniou (2008), Ariff (2008), Fosberg (2013), Rehman và Rehman (2014), Iqbal và Kume (2014). Jong và ctg (2008), Nguyễn Thành Cường (2015), Zhang và Mirza (2015). Fosberg và Francisco (2015), Iqbal và Kume (2014), Rehman và Rehman (2014), Proenca và ctg (2014)
-
Zarebski và Dimovski (2012), Rehman và Rehman (2014)
TOT, chi phí đại diện.
74
Ghi chú: (+) tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều.
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
3.3. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH
TẾ THẾ GIỚI
3.3.1. Mô hình nghiên cứu
Theo Lý thuyết TOT, CTV mục tiêu của doanh nghiệp được xác định bằng sự
đánh đổi giữa lợi ích tấm chắn thuế của nợ và các chi phí liên quan đến việc vay nợ.
Hàm ý của lý thuyết này là tồn tại một CTV mục tiêu, mà tại đó làm tăng hiệu quả
hoạt động. Mặt khác, kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã vận dụng lý
75
thuyết hồi quy ngưỡng của Hansen (1999) để xác định CTV mục tiêu nhằm tăng hiệu
quả hoạt động cũng như giá trị doanh nghiệp, cụ thể công trình của Cheng (2010),
Nieh và ctg (2004), Nieh và ctg (2008), Lin (2007), Wang và ctg (2014), Nguyễn
Thành Cường (2015). Do đó, để phù hợp với mục đích nghiên cứu, tác giả cũng sử
dụng mô hình hồi quy này để xác định CTV mục tiêu trong bối cảnh suy thoái và
phục hồi kinh tế thế giới. Đây là cơ sở để gợi ý chính sách cho các doanh nghiệp Việt
Nam đạt được CTV mục tiêu.
Mô hình hồi quy ngưỡng xác định CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái (2a),
thời kỳ phục hồi (2b) và trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) (2c) như sau:
𝑹𝑶𝑬𝐢𝐭 = 𝛃𝟎 + 𝛃𝟏𝐓𝐃𝐑𝐢𝐭I(𝐓𝐃𝐑𝐢𝐭 ≤ γ)+ 𝛃𝟐𝐓𝐃𝐑𝐢𝐭I(𝐓𝐃𝐑𝐢𝐭> γ)+ 𝛃𝐱𝐗𝐢𝐭 + 𝐞𝐢𝐭 (2a) (2b)(2c)
Trong đó:
Biến phụ thuộc là biến khả năng sinh lời (ROE);
Biến ngưỡng TDRit, TDRit vừa là biến độc lập; γ là giá trị của ngưỡng ước tính;
Các biến kiểm soát (Xit) bao gồm: tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát
(INF), lãi suất (RATE), TTCK (VNI), TTTP (BOND), cơ cấu tài sản (TANG), khả
năng thanh toán ngắn hạn (LIQ), quy mô doanh nghiệp (SIZE), tốc độ tăng trưởng
của doanh nghiệp (GRO), rủi ro kinh doanh (VOL) và thuế TNDN (MTR).
2)
Các hệ số ước lượng 𝛽1, 𝛽2 tương ứng với các ngưỡng khác nhau.
Sai số (eit) được giả định là độc lập và có phân phối chuẩn eit~ N(0,𝛿𝑖
3.3.2. Phương pháp xác định cấu trúc vốn mục tiêu
Theo Hansen (1999), giả định các biến kiểm soát trong mô hình được giả định
ngoại sinh và sử dụng phương pháp tác động cố định - FEM để ước lượng mô hình
hồi quy ngưỡng. Tuy nhiên trong thực tế, các biến này có thể bị tự tương quan,
phương sai thay đổi và nội sinh dẫn đến việc ước lượng các tham số có thể bị chệch.
Để khắc phục vấn đề này, Wang và Lin (2010) đề xuất mô hình hồi quy ngưỡng với
biến ngưỡng nội sinh áp dụng cho dữ liệu bảng. Gần đây, Seo và Shin (2014), đã đưa
ra mô hình bảng dữ liệu bảng động với tác động ngưỡng và vấn đề nội sinh. Tuy
nhiên, Wang và Lin (2010), Seo và Shin (2014) đều là những nghiên cứu đang trong
76
quá trình tranh luận. Do đó, mặc dù phương pháp này còn có những hạn chế nhất định
về mặt giả định, luận án sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng của Hansen (1999) với
phương pháp tác động cố định, kỳ vọng tìm ra giá trị ngưỡng trong thời kỳ suy thoái
và thời kỳ phục hồi.
Bảng 3.2. Các mô hình trong luận án
Mô hình Thời kỳ
Mô hình 1a 1b 1c
2a Q1/2007- Q4/2010 γ)+
2b Q1/2011- Q2/2016 γ)+
2c Q1/2007- Q2/2016 γ)+
𝑌𝑖𝑡 = µ0 + 𝐴1𝑌𝑖𝑡−1+ 𝐴2𝑌𝑖𝑡−2+…+𝐴𝑘𝑌𝑖𝑡−𝑘+βxXit + 𝑒𝑖𝑡 Q1/2007-Q4/ 2010 𝑌𝑖𝑡 = µ0 + 𝐴1𝑌𝑖𝑡−1+ 𝐴2𝑌𝑖𝑡−2+…+𝐴𝑘𝑌𝑖𝑡−𝑘+βxXit+ 𝑒𝑖𝑡 Q1/2011-Q2/2016 Q1/2007- Q2/2016 𝑌𝑖𝑡 = µ0 + 𝐴1𝑌𝑖𝑡−1+ 𝐴2𝑌𝑖𝑡−2+…+𝐴𝑘𝑌𝑖𝑡−𝑘+βxXit + D + 𝑒𝑖𝑡 𝑅𝑂𝐸it = β0 + β1TDRitI(TDRit ≤ β2TDRitI(TDRit> γ)+ βxXit + eit 𝑅𝑂𝐸it = β0 + β1TDRitI(TDRit ≤ β2TDRitI(TDRit> γ)+ βxXit + eit 𝑅𝑂𝐸it = β0 + β1TDRitI(TDRit ≤ β2TDRitI(TDRit> γ)+ βxXit + eit
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
3.4. MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.4.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu
Luận án sử dụng dữ liệu bảng cân bằng được thu thập có chọn lọc từ các BCTC
của 82 CTCP phi tài chính được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX
có đầy đủ dữ liệu từ quý 1/2007 đến quý 2/2016 (82x38 = 3.116 quan sát) và hoạt
động liên tục trong giai đoạn nghiên cứu. Các BCTC này đã được công bố trên các
trang web của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Ngoài ra, nguồn dữ liệu kinh tế vĩ mô được tác giả thu thập từ các trang web
của IMF, ADB, AsianBondsOnline.
77
Bảng 3.3. Đo lường các biến trong mô hình
Đo lường Nguồn dữ liệu
CTCP Chứng Khoán Sài Gòn
Nợ phải trảit/TNVit TSCĐit/TTSit TSNHit/NNHit Ln(TTSit) (Doanh thuit- Doanh thuit-1)/Doanh thuit-1 Độ lệch chuẩn (EBITit/ TTSit) Lợi nhuận sau thuếit/VCSH bình quânit Thuế TNDNit/Lợi nhuận trước thuếit
(GDPt–GDPt−1)/GDPt−1 (CPIt–CPIt−1)/CPIt−1 Lãi vay bình quân các ngân hàngt
ADB IFS – IMF IFS – IMF AsianBondsOnline Ký hiệu TDR TANG LIQ SIZE GRO VOL ROE MTR LNVNI Ln(VNINDEXt) GDP INF RATE BOND Giá trị vốn hóa của thị trường trên GDPt
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
3.4.2. Thống kê mô tả và các kiểm định cơ bản
3.4.2.1. Thống kê mô tả
Phụ lục 4 thể hiện kết quả mô tả giá trị trung bình theo quý của các biến được
đưa vào nghiên cứu. Kết quả Phụ lục 4 cho thấy, CTV, rủi ro kinh doanh, tốc độ tăng
trưởng, khả năng thanh toán, lãi suất và lạm phát biến động mạnh trong thời kỳ suy thoái
nhưng khá ổn định trong thời kỳ phục hồi. Các biến quy mô doanh nghiệp, cơ cấu tài
sản, TTTP có xu hướng giảm nhẹ từ quý 1/2011 đến quý 2/2016, còn ngược lại, biến
tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng nhưng không ổn định.
3.4.2.2. Kết quả kiểm định tính dừng
Ước lượng mô hình VAR hay PVAR đều yêu cầu các chuỗi dữ liệu đảm bảo tính
dừng. Từ bộ dữ liệu đã có, phương pháp ADF (Augmented Dickey-Fuller) trên dữ liệu
bảng được sử dụng để kiểm định tính dừng của dữ liệu. Kết quả kiểm định cho thấy, tất
cả các biến đều dừng tại bậc I (0) với mức ý nghĩa 1%. Tuy nhiên, hầu hết các biến đều
dừng có tính xu thế phù hợp với đặc điểm của thu thập dữ liệu theo quý và đặc thù của
nền kinh tế Việt Nam đang là nước đang phát triển. Do đó, để tránh tình trạng bị bỏ sót
biến có thể dẫn đến kết quả hồi quy giả mạo, tác giả đưa biến quý vào mô hình nhằm
78
kiểm soát hiện tượng này, đồng thời khắc phục tính mùa vụ của dữ liệu. Chi tiết về kiểm
định tính dừng của các biến được trình bày trong Phụ lục 4.
3.4.2.3. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Phụ lục 4 mô tả kết quả kiểm định đa cộng tuyến được sử dụng để xem xét mối
quan hệ giữa các biến phụ thuộc và các biến kiểm soát. Ngoài ra, trong trường hợp các
biến độc lập có mối tương quan cao thì đây là dấu hiệu của đa cộng tuyến, do đó, đây là
một cơ sở để tác giả điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu. Kết quả kiểm định cho thấy,
các biến INF, GDP và RATE bị tương quan mạnh (lớn hơn 87%). Vì vậy, sau khi tiến
hành thực hiện hồi quy phụ lần lượt các biến này với biến phụ thuộc, kết quả chỉ có biến
INF là không có ý nghĩa thống kê. Đây là cơ sở tác giả tiếp tục lựa chọn các biến RATE
và GDP đưa vào mô hình nghiên cứu ở Chương 4.
79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên cơ sở các lý thuyết về CTV, kết hợp với lý thuyết chu kỳ kinh tế và sơ
khảo các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả thiết lập mô hình và các giả thiết nghiên
cứu. Mô hình PVAR được xây dựng bao gồm các biến nội sinh - CTV và các biến vĩ
mô (tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, điều kiện TTCK và TTTP) và các
biến ngoại sinh - tám biến kinh tế vi mô: cơ cấu tài sản, khả năng thanh toán ngắn
hạn, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, rủi ro kinh doanh và thuế TNDN.
Mặt khác, để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sơ khảo các phương
pháp nghiên cứu trong các công trình có liên quan. Từ đó, tác giả lựa chọn các mô
hình phù hợp (bao gồm mô hình PVAR dựa trên các ứng dụng của GMM và PTR)
nhưng vẫn đảm bảo tính mới của luận án. PVAR dựa trên cơ sở các ứng dụng của
GMM, thông qua quá trình trên đảm bảo tính thuần nhất của phương sai số dư, ngăn
ngừa hiện tượng tự tương quan và bảo toàn số liệu khắc phục được hiện tượng mất
quan sát. Luận án sử dụng PVAR để trả lời cho câu hỏi (1), (2) và (3) của nghiên cứu.
Ngoài ra, mô hình PTR của Hansen (1999) để xác định ngưỡng CTV mục tiêu trong
thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới để trả lời cho câu hỏi (4).
Cuối cùng, luận án phân tích cơ sở chọn biến và cách đo lường các biến trong
mô hình nghiên cứu; mô tả nguồn gốc thu thập dữ diệu; kết quả thống kê sơ bộ và
một số kiểm định cơ bản – kiểm định tính dừng và kiểm định đa cộng tuyến. Kết quả
kiểm định tính dừng cho thấy, tất cả các biến đều dừng tại bậc I(0). Kết quả kiểm
định đa cộng tuyến cho thấy, các biến INF, GDP và RATE bị tương quan mạnh nhưng
sau khi tiến hành thực hiện hồi quy phụ, biến INF lại không có ý nghĩa thống kê. Do
đó, biến INF bị loại bỏ khỏi mô hình nghiên cứu. Đây là cơ sở quan trọng để luận án
tiến hành phân tích thực trạng và phân tích định lượng, ước lượng các hệ số hồi quy
ở Chương 4.
80
CHƯƠNG 4:
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN VÀ KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC
VỐN MỤC TIÊU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
4.1. THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
4.1.1. Suy thoái kinh tế thế giới
Suy thoái kinh tế thế giới có nguồn gốc từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ,
bắt đầu từ năm 2007, bùng nổ từ ngày 15/9/2008 và kéo dài đến năm 2010 (Orlowski,
2008; IMF, 2008; Logan, 2014). Khởi đầu là tình trạng thua lỗ kéo dài của Lehman
Brothers Holdings, từ đó nhanh chóng lan rộng, trở thành khủng hoảng tài chính rồi
kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Mỹ và châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tiếp đến là
một số nước có thị trường vốn liên thông với Mỹ, châu Âu chịu ảnh hưởng trực tiếp và
cuối cùng là TTTC các nước châu Á, Nam Mỹ cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Tính cho
đến nay, có 14 ngân hàng, công ty bảo hiểm lớn ở Mỹ và châu Âu phá sản (Ngân hàng
Lehman Brothers), bị quốc hữu hoá (công ty bảo hiểm AIG của Mỹ; ngân hàng
Northern Rocks, ngân hàng Bradford và Bingley của Anh; ngân hàng Fortis, Dexia của
Bỉ) hoặc bị các ngân hàng khác mua lại (Bear Stearns, Merrill Lynch, Wachovia,
Washington Mutual). Tại châu Á, ngày 8/10/2008, hàng loạt các chỉ số chứng khoán
tại các nước khu vực này sụt giảm nghiêm trọng. Chỉ số Nikkei 255 của Nhật Bản giảm
xuống còn 9.253,32 điểm, đây là mức thấp nhất kể từ năm 1987. Chỉ số Hangseng của
Hồng Kông giảm 5,2%, chỉ số Sensex của Ấn Độ giảm 4,3%, chỉ số Kospi của Hàn
Quốc giảm 5,8%, chỉ số Shanghai Composite của Trung Quốc giảm 3,04%.
Mặt khác, sự khó khăn của khu vực tài chính đã ảnh hưởng đến khu vực thực.
Tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2007 đã bắt đầu có dấu hiệu sụt giảm với tốc độ
tăng đạt 4,31%, thấp hơn so với năm 2006. Một cuộc suy thoái kinh tế mới đã bắt đầu
sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1997-1998. Sự sụt giảm này kéo dài đến năm 2008 và
trầm trọng nhất là vào năm 2009, khi tăng trưởng kinh tế bị âm và chạm đáy cuộc
khủng hoảng kinh tế đã xảy ra. Năm 2009, tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt - 1,68%,
81
mức thấp nhất kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mỹ có mức tăng trưởng -2,78%,
còn các nước thuộc Liên minh châu Âu là - 4,39%. Các nước phát triển OECD có tốc
độ tăng trưởng giảm rõ rệt -3,54%. Riêng các nước châu Á bị ảnh hưởng ít hơn bởi cuộc
suy thoái này, năm 2007 tăng trưởng kinh tế giữ ở mức cao tăng 6,71% so với năm 2006,
con số này bắt đầu chậm lại và chạm đáy vào năm 2007 đạt 1,32%. Tương tự như các nước
châu Á, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng cao đạt 7,13% so với năm 2006 và chạm
đáy vào năm 2009 ở mức tăng trưởng 5,40% (IMF, 2006-2009).
Sau sự sụt giảm mạnh vào năm 2009, kinh tế toàn cầu tăng trưởng trở lại trong
năm 2010. Đây là kết quả của những nỗ lực của Chính phủ các nước về kích thích và
hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khó khăn. Kinh tế thế giới đã tạm vượt qua giai đoạn khó
khăn, sản xuất công nghiệp, thương mại đã tăng trưởng trở lại, TTTC bắt đầu hồi
phục và ổn định hơn trong năm 2010. Năm 2010, tăng trưởng GDP thế giới đạt 4,35%
xấp xỉ tốc độ tăng trưởng kinh tế trước khi suy thoái (năm 2006). Hầu hết các nền
kinh tế tại các khu vực đều phục hồi, Mỹ tăng trưởng 2,53%, các nước thuộc Liên
minh châu Âu phục hồi chậm đạt 2,08%. Một số nước khu vực châu Á đạt mức tăng
trưởng kinh tế cao đạt 7,27% cao hơn so với năm 2006. Tuy nhiên, sự hồi phục này
vẫn ở mức khiêm tốn, ẩn chứa những rủi ro và bộc lộ dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục.
Đó là tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao ở các nền kinh tế phát triển, nguy cơ vỡ nợ công ở
châu Âu đe dọa sự hồi phục kinh tế do các gói kích thích kinh tế phải cắt giảm, tăng
trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưa hồi phục trở lại mức trung bình trước
suy thoái kinh tế, sự thiếu hợp tác giữa các nền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ
xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặc biệt tại các nước đang phát triển),
sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa CSTK và CSTT bộc lộ làm suy giảm niềm tin vào
chính sách vĩ mô.
Từ những phân tích trên cho thấy, cuộc suy thoái năm 2007-2010, mở đầu là
khủng hoảng tài chính Mỹ. Theo xu hướng toàn cầu và đồng bộ hóa chu kỳ kinh tế nên
khi xảy ra suy thoái tại một quốc gia hoặc khu vực lan rộng đến các quốc gia, các khu
vực khác, trong đó có Việt Nam. Việt Nam là nước đang phát triển và chưa có quan hệ
chặt chẽ với Mỹ cũng như các nước đang bị suy thoái nên sự ảnh hưởng của cuộc suy
82
thoái kinh tế toàn cầu tác động đến Việt Nam với độ trễ nhất định khoảng một năm –
tăng trưởng kinh tế Việt Nam bắt đầu chậm lại vào năm 2008. Tuy nhiên, luận án
nghiên cứu việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế
giới. Do đó, để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu và phản ánh trọn vẹn tính chu kỳ kinh tế
thế giới, luận án xác định thời kỳ suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và thời kỳ phục
hồi (quý 1/2011-quý 2/2016). Cách xác định này cũng được các nghiên cứu thực
nghiệm của Orlowski (2008), IMF (2008) và Logan (2014).
8.00
6.00
4.00
2.00
0.00
P D G %
-2.00
-4.00
Thời kỳ suy thoái
Thời kỳ phục hồi
-6.00
Châu Á
2007 6.71
2008 3.58
2009 1.32
2010 7.27
2011 4.52
2012 4.72
2013 4.51
2014 4.00
2015 3.89
Liên mnh châu Âu
3.12
0.50
-4.39
2.08
1.76
-0.48
0.19
1.36
1.95
Mỹ
1.78
-0.29
-2.78
2.53
1.60
2.22
1.49
2.43
2.43
Việt Nam
7.13
5.66
5.40
6.42
6.24
5.25
5.42
5.98
6.68
Thế giới
4.31
1.84
-1.68
4.35
3.13
2.48
2.40
2.63
2.47
Hình 4.1. Tăng trưởng kinh tế thế giới và một số khu vực trọng điểm
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của IMF (2000-2015).
Như đã phân tích trên, suy thoái kinh tế Mỹ 2007-2010 đã lan truyền sang các
nước, ảnh hưởng đến các khu vực và thậm chí là cả thế giới. Cơ chế tác động này
thông qua các kênh: kênh thương mại quốc tế (xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ),
kênh đầu tư (dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp), từ đó dẫn đến sự biến động các
yếu tố vĩ mô – tăng trưởng kinh tế, lạm phát, TTTP, TTCK, TTTD. Nhưng sự ảnh
hưởng của suy thoái đến các nền kinh tế của các nước là khác nhau, phụ thuộc vào
mức độ hội nhập của các nền kinh tế đó với nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng
không nằm ngoài những tác động đó. Cụ thể, tác động của suy thoái kinh tế thế giới
83
đến nền kinh tế và các biến vĩ mô của Việt Nam đã được tác giả trình bày chi tiết tại
Phụ lục 2.
Tuy nhiên, nhìn chung trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, nền kinh tế và
hệ thống tài chính của Việt Nam cũng chịu những tác động nghiêm trọng. Trong thời
kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế Việt Nam chậm lại, song vẫn ở mức khá cao so với
các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, khi nền bắt đầu phục hồi trở lại thì
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phục hồi chậm hơn so với nhiều nước trên thế giới.
Điều này chứng tỏ, sức chịu đựng của nền kinh tế Việt Nam yếu, chất lượng tăng
trưởng kinh tế chưa cao. Lạm phát liên tục tăng cao và kéo dài trong nhiều năm để
lại những hệ lụy cho nền kinh tế. Nhập siêu luôn ở mức cao, làm mất cân đối nghiêm
trọng cán cân vãng lai, cán cân thanh toán, giảm dữ trữ ngoại tệ và gây sức ép phá giá
đồng nội tệ. Dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhất là FDI giảm mạnh. Trong bối cảnh tình
hình vĩ mô bất ổn TTTP, TTCK bị sụt giảm nghiêm trọng, tác động đến nguồn vốn
kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, nhằm điều tiết quá trình lạm phát nên các loại
lãi suất chỉ đạo cũng được NHNN điều chỉnh tăng liên tục. Bên cạnh đó, Chính phủ,
NHNN đã ban hành các quy định nhằm giảm lượng tiền trong lưu thông. Vì vậy, đã
làm cho lãi suất cho vay tăng cao, tăng trưởng tín dụng sụt giảm mạnh, nguồn vốn đầu
tư của nền kinh tế bị thiếu hụt, ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn CTV của các
doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, nội dung tiếp theo luận án khái quát thực trạng CTV
tại các doanh nghiệp Việt Nam.
4.1.2. Thực trạng cấu trúc vốn và các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp
Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế
4.1.2.1. Thực trạng cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ
suy thoái kinh tế
Theo Hình 4.2 cho thấy, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), quy
mô nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam tăng với tốc độ tăng bình
quân đạt 3,53%. Trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam có tốc độ tăng
vốn bình quân 5,70% và mức này cao hơn so với thời kỳ phục hồi - tốc độ tăng trưởng
vốn chậm, đạt 2,21%. Điều này cho thấy, mặc dù bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế
84
thế giới nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn mở rộng quy mô kinh doanh, duy trì
mức tăng trưởng vốn ổn định, còn khi nền kinh tế thế giới phục hồi, các doanh nghiệp
Việt Nam hạn chế mở rộng quy mô. Xu hướng này trái ngược với các lý thuyết về
chu kỳ kinh tế - Lý thuyết Minsky, Lý thuyết Keynes, Lý thuyết bầy đàn và Lý thuyết
tiêu dùng yếu, trong thời kỳ suy thoái nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội giảm, lợi
nhuận giảm, doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp quy mô hoạt động để hạn chế rủi ro.
Có bốn nguyên nhân của xu hướng này. (i) do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam là
nước đang phát triển và chưa có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Mỹ cũng như các nước
đang bị suy thoái kinh tế. Do đó, tác động của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam có độ trễ, chậm hơn so với các nước có quan hệ trực tiếp
chặt chẽ như châu Âu, Nam Mỹ. Năm 2007, kinh tế thế giới có dấu hiệu suy giảm
nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng cao, tổng sản phẩm
trong nước đạt 7,13% so với năm 2006, đứng vị trí thứ ba về tốc độ tăng GDP năm
2007 giữa các nước châu Á. Sự sụt giảm này kéo dài đến năm 2008 và đáy của cuộc
suy thoái này là năm 2009. Năm 2009, tăng trưởng kinh tế thế giới - 1,68% (thấp nhất
kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ II). Trong khi đó, tăng trưởng Việt Nam chậm lại
nhưng vẫn ở mức khá cao là 5,4% (IMF, 2007-2009); (ii) Mặc dù, trong thời kỳ suy
thoái nhưng tổng số FDI giải ngân của Việt Nam tăng qua các năm. Đây cũng là tiền
đề làm cho quy mô vốn của nền kinh tế cũng như nguồn vốn kinh doanh của các
doanh nghiệp Việt Nam được mở rộng. Cụ thể, trong thời kỳ (2006-2010), Việt Nam
gia nhập WTO, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, do đó, việc
thu hút các nhà đầu tư quốc tế đạt kết quả cao. Riêng năm 2008, tổng số FDI giải
ngân đạt 9,58 tỷ USD, cao nhất trong mười năm gần đây (IMF, 2007-2010). (iii) Thời
kỳ này đánh dấu sự phát triển của TTTC Việt Nam. TTCK tăng trưởng mạnh, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng huy động được nguồn vốn kinh doanh thông qua
phát hành cổ phiếu. Chỉ số VNINDEX đạt đỉnh là 1.158,9 điểm vào ngày 05/3/2007,
tăng xấp xỉ gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006. Bên cạnh sự phát triển của TTCK Việt
Nam, TTTP cũng đạt những kết quả nhất định với giá trị vốn hóa của thị trường tăng
qua các năm. Năm 2007, giá trị vốn hóa đạt 531.996 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với
85
năm 2006. Từ năm 2008 đến năm 2010, giá trị vốn hóa của thị trường tiếp tục tăng,
đạt lần lượt 858.798 tỷ đồng, 898.620 tỷ đồng và 1.173.946 tỷ đồng (CTCP Chứng
Khoán Sài Gòn, 2007-2010). (iv) Tăng trưởng tín dụng tiếp tục tăng, dư nợ tín dụng
thời kỳ suy thoái luôn duy trì ở mức cao, chiếm 99,05% GDP, tương ứng với tốc độ
tăng trưởng trung bình đạt 28,86%. Đây là các tiền đề cho doanh nghiệp mở rộng quy
mô hoạt động ngay cả khi suy thoái kinh tế thế giới đang diễn ra (NHNN, 2007-2010).
Tuy nhiên, qua đó thể hiện năng lực quản trị tài chính, dự báo và xây dựng kế hoạch
kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam mang tính ngắn hạn, tạm thời. Mặt khác,
việc xây dựng chiến lược kinh doanh còn dựa theo quan điểm chủ quan, chưa gắn với
môi trường vĩ mô, chu kỳ kinh doanh trong nước cũng như thế giới.
2000.00
1800.00
1600.00
1400.00
1200.00
1000.00
800.00
G N Ồ Đ Ỷ T
600.00
400.00
200.00
0.00
2007Q1 2007Q4 2008Q1 2008Q4 2009Q1 2009Q4 2010Q1 2010Q4 2011Q1 2011Q4 2012Q1 2012Q4 2013Q1 2013Q4 2014Q1 2014Q4 2015Q1 2015Q4 2016Q1
VCSH 243.06 373.63 383.27 378.51 383.05 446.34 458.07 522.12 529.83 540.28 555.65 580.24 607.87 651.35 659.94 726.64 739.84 813.49 835.53
NDH 128.46 122.87 141.38 175.57 180.07 187.27 192.51 219.99 215.00 257.14 251.47 248.09 245.34 228.41 225.30 196.97 214.56 279.78 266.01
NNH 133.34 155.22 185.38 180.29 179.32 262.76 254.86 338.25 381.01 404.79 400.67 450.58 470.52 544.88 532.17 596.64 573.25 602.02 617.05
TNV 505.45 652.73 712.31 740.13 747.04 904.17 913.55 1090.13 1136.65 1213.05 1218.85 1292.31 1340.68 1442.99 1433.46 1543.71 1551.01 1695.46 1718.60
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Hình 4.2. Quy mô nguồn vốn trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo Hình 4.3, cơ cấu nguồn vốn nghiêng về sử dụng nợ, tỷ số nợ luôn duy trì ở
mức 51,07%, với tốc độ tăng bình quân trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016)
là 3,57%, trong đó chủ yếu do tăng NNH với tốc độ 4,50% - chiếm 62,40% nợ phải
trả. Tuy nhiên, khi xét về tỷ trọng nguồn vốn trong từng thời kỳ - trong thời kỳ suy
thoái, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn giữ tỷ số nợ bình quân đạt 48,39% thấp hơn so
với mức sử dụng nợ 53,02% nguồn vốn trong thời kỳ phục hồi. Trong đó, NNH chiếm
55,20% nợ phải trả trong thời kỳ suy thoái và trong thời kỳ phục hồi tỷ trọng này là
67,64%. Điều này có thể được giải thích theo Lý thuyết trạng thái bất ổn của Minsky
86
(1975). Trong thời kỳ suy thoái, nền kinh tế bộc lộ các rủi ro tiềm ẩn, ngân hàng và các
TCTD hạn chế cấp tín dụng, cơ cấu lại các khoản vay theo hướng tăng các khoản vay
ngắn hạn, hạn chế các khoản vay dài hạn hoặc thắt chặt hơn điều kiện cho vay, doanh
nghiệp gặp khó khăn trong vấn đề huy động vốn từ bên ngoài. Vì vậy, trong thời kỳ
này mức sử dụng nợ vẫn thấp hơn so với trong thời kỳ phục hồi. Mặt khác, xét về tốc
độ tăng sử dụng nợ, trong thời kỳ suy thoái, chỉ số này tại các doanh nghiệp Việt Nam
đạt 5,26% cao hơn so với thời kỳ phục hồi (chỉ số này là 2,79%). Riêng NNH tăng
6,40% cao hơn so với thời kỳ phục hồi. Thực trạng này trái ngược với quan điểm của
Lý thuyết Minsky và Lý thuyết Keynes, trong thời kỳ suy thoái nền kinh tế khó khăn,
bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn dẫn đến chi phí tài chính tăng và áp lực thanh khoản lớn.
Do đó, trong thời kỳ này, theo hàm ý các lý thuyết này doanh nghiệp nên ưu tiên hạn
chế đầu tư và mở rộng quy mô, đặc biệt điều chỉnh giảm sử dụng nợ (điều này được
tác giả tiếp tục phân tích rõ hơn ở kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong Chương 4).
100%
90%
80%
Hình 4.3. CTV của các doanh nghiệp Việt Nam
48.20
57.40 54.13 51.92 51.89 50.23 51.03 48.79 47.56 45.43 43.90 45.94 46.60 46.41 47.16 48.59 49.21 47.99 48.62
70%
60%
50%
40%
26.38
24.36 24.00 29.06 27.90 31.03 33.52 33.37 32.87 34.87 35.10 37.76 37.12 38.65 36.96 35.51 35.90
23.78 26.02
30%
20%
25.42
10%
18.82 19.85 23.72 24.10 20.71 21.07 20.18 18.92 21.20 20.63 19.20 18.30 15.83 15.72 12.76 13.83 16.50 15.48
0%
LDR
SDR
VCSH/TTS
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Nhìn chung, quy mô nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam có
xu hướng tăng, tăng mạnh nhất trong thời kỳ suy thoái. Xu hướng này trái ngược với
các lý thuyết, nhưng phù hợp với điều kiện tại Việt Nam - tăng trưởng kinh tế có độ
87
trễ và phản ứng chậm trước biến động của thế giới. Việc tăng quy mô này chủ yếu do
sử dụng nợ - CTV nghiêng về sử dụng nợ, nhất là các khoản NNH. Ưu điểm của việc
duy trì CTV này của các doanh nghiệp Việt Nam là cơ cấu tài chính có tính linh hoạt
cao và tiết kiệm chi phí sử dụng vốn. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có tính ổn định
thấp làm cho các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với rủi ro thanh toán cao, đặc
biệt là trong thời kỳ suy thoái, nhu cầu tích trữ thanh khoản của nền kinh tế cao.
Mặt khác, nếu đánh giá về mặt cân đối tài chính thì cơ cấu vốn và cơ cấu tài
sản của các doanh nghiệp Việt Nam chưa phù hợp. NVDH (bao gồm VCSH và NDH)
luôn duy trì ở mức cao, bình quân 67,25% nguồn vốn. Trong đó, VCSH chiếm
48,93% TTS, hầu như đủ tài trợ cho TSDH (TSDH chiếm 46,32% TTS), còn nợ vay
dài hạn chủ yếu tài trợ cho TSNH. Vì vậy, vốn lưu động ròng ở mức cao luôn đạt
18,32% TTS. Do đó, mặc dù NNH có xu hướng tăng nhưng cơ cấu tài chính vẫn cân
đối, đảm bảo khả năng thanh khoản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu sử dụng NVDH
để tài trợ cho TSNH, đặc biệt là NDH - nợ vay sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn tăng,
giảm tính linh hoạt của cấu trúc tài chính và dễ xảy ra tình trạng dư thừa vốn.
Hình 4.4 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có cơ cấu tài chính cân
đối qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ quý 1/2010 đến quý 4/2012, sau
thời kỳ suy thoái kéo dài tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính của 21,95% các
doanh nghiệp Việt Nam trở nên càng khó khăn, bị rơi vào tình trạng mất cân đối tài
chính, vốn lưu động ròng âm (được thể hiện chi tiết tại Bảng 4.1). Đây là kết quả của
việc hạn chế về năng lực quản trị tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam. Theo lý
thuyết chu kỳ kinh tế trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp nên hạn chế đầu tư và mở
rộng quy mô, đặc biệt là việc mở rộng bằng cách tăng sử dụng nợ trong khi chi phí
tài chính cao. Tuy nhiên, Hình 4.2 và Hình 4.3 lại cho thấy kết quả quản trị của các
doanh nghiệp Việt Nam trái ngược với điều này - các doanh nghiệp Việt Nam vẫn
duy trì mức tăng trưởng và mở rộng quy mô vốn với tốc độ tăng bình quân 3,53%.
Mức tăng này là do tăng nợ phải trả - chủ yếu NNH với tốc độ tăng 6,40%. Đây là
nguồn vốn có tính ổn định không cao nhưng lại được dùng để đầu tư cho tài sản có tính
chất dài hạn, khả năng thanh khoản thấp. Mặc dù, như phân tích trên đã cung cấp bằng
88
chứng cho rằng suy thoái kinh tế thế giới tác động đến nền kinh tế Việt Nam có một
độ trễ nhất định. Tuy nhiên, điều này cũng không thể bao biện cho việc lựa chọn CTV
mang tính mạo hiểm như hiện nay.
Nhận định này tiếp tục được khẳng định hơn nữa ở Bảng 4.9 của Mục 4.3, kết
quả xác định ngưỡng CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi cho
thấy, trong thời kỳ suy thoái, có hơn 51,22% số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên
cứu có CTV mục tiêu lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu, do đó, chưa phát huy được lợi
ích từ việc sử dụng nợ, ngược lại làm giảm hiệu quả hoạt động và tăng rủi ro tài chính
cho doanh nghiệp. Mặc dù, trong thời kỳ phục hồi con số này được cải thiện nhưng
vẫn ở mức cao khoảng 39,02% sử dụng nợ trên ngưỡng CTV mục tiêu. Qua đó cũng
cho thấy, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam chưa linh hoạt cũng
như chưa có kế hoạch việc lựa chọn CTV cụ thể ứng phó kịp thời với những biến
động của môi trường kinh doanh trong nước và thế giới, chưa xác định ngưỡng CTV
mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời đảm bảo được khả năng thanh
toán của mình.
1200.00
ĐVT: Tỷ đồng
1000.00
800.00
600.00
400.00
200.00
0.00
Hình 4.4. Cân đối tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam
2007Q1 2007Q4 2008Q1 2008Q4 2009Q1 2009Q4 2010Q1 2010Q4 2011Q1 2011Q4 2012Q1 2012Q4 2013Q1 2013Q4 2014Q1 2014Q4 2015Q1 2015Q4 2016Q1
NVDH 371.52 496.50 524.66 554.09 563.12 633.60 650.58 742.11 744.84 797.41 807.12 828.33 853.21 879.77 885.24 923.61 954.40 1093.27 1101.54
VCSH 243.06 373.63 383.27 378.51 383.05 446.34 458.07 522.12 529.83 540.28 555.65 580.24 607.87 651.35 659.94 726.64 739.84 813.49 835.53
TSDH 239.19 325.30 347.81 384.64 369.21 437.01 442.15 549.51 562.67 599.91 594.08 578.95 588.29 620.32 618.68 630.19 648.63 748.62 775.48
NDH
128.46 122.87 141.38 175.57 180.07 187.27 192.51 219.99 215.00 257.14 251.47 248.09 245.34 228.41 225.30 196.97 214.56 279.78 266.01
Nguồn:Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
89
Bảng 4.1. Danh sách các doanh nghiệp có vốn lưu động ròng âm
THỜI KỲ SUY THOÁI THỜI KỲ PHỤC HỒI
STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 STT MCK BCC BHS CII HJS HRC KHP L10 LAF MEC MHC MCK MHC PTS SD9 SFI SGD SJD SJS TS4 TTC TYA STT 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 STT MCK MCK PNC 11 AGF SD9 12 BCC SJD 13 CII SJS 14 CYC SMC 15 DIC TCR 16 GMC TMC 17 HBC TS4 18 HJS L10 LBM Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Từ những hạn chế kể trên dẫn đến sự mất cân đối tài chính, làm cho khả năng
thanh toán của doanh nghiệp sụt giảm nghiêm trọng, số lượng doanh nghiệp giải thể,
tạm ngừng hoạt động tăng ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã phục hồi. Theo Tổng
cục Thống kê, năm 2010 đã có 47.000 doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động
và tình trạng này tiếp tục kéo dài cho đến những năm sau ngay cả khi nền kinh tế thế
giới đã có dấu hiệu phục hồi. Từ năm 2011 đến năm 2015, trung bình mỗi năm có
khoảng 63.520 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động, tương ứng với tốc độ
tăng bình quân 76,65%.
Kết quả phân tích thực trạng việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt
Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới đã cho thấy việc lựa chọn CTV tồn tại
một số vấn đề sau:
Thứ nhất, quy mô nguồn vốn của các doanh nghiệp Việt Nam tăng dần qua
các năm, thậm chí trong thời kỳ suy thoái còn tăng cao hơn so với thời kỳ phục hồi.
Điều này chưa phù hợp với lý thuyết chu kỳ kinh tế và lý thuyết CTV, vì trong điều
kiện nền kinh tế khó khăn, doanh nghiệp nên thu hẹp quy mô hoạt động để phù hợp
với những biến động của môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, nguyên nhân của tình
trạng này là do nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái kinh tế thế giới
với độ trễ nhất định – suy thoái kinh tế thế giới bắt đầu từ năm 2007 nhưng đến quý
90
1/2008 tăng trưởng kinh tế Việt Nam mới có dấu hiệu tăng trưởng chậm, do đó, doanh
nghiệp vẫn duy trì mục tiêu mở rộng quy mô mà chưa lường trước những thay đổi
trong môi trường kinh tế trong nước và quốc tế.
Thứ hai, cùng với sự gia tăng về nguồn vốn thì nợ phải trả của doanh nghiệp
cũng tăng đáng kể. Tỷ số nợ chiếm 51,07% TNV, doanh nghiệp có cơ cấu tài chính
nghiêng về sử dụng nợ. Tỷ số nợ tăng qua các năm với tốc độ tăng bình quân trong
toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) là 3,57%. Trong đó, tăng mạnh nhất là trong
thời kỳ suy thoái với mức tăng bình quân 5,18%, cao hơn so với thời kỳ phục hồi.
Điều này chứng tỏ việc gia tăng nguồn vốn kinh doanh chủ yếu do tăng sử dụng nợ,
áp lực trả nợ khá cao nhất là trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, phục hồi chưa bền
vững, tiềm ẩn rủi ro tái suy thoái. Ngoài ra, điều này cung cấp bằng chứng chứng
minh năng lực quản trị tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam bị hạn chế.
Thứ ba, CTV của các doanh nghiệp Việt Nam nghiêng về sử dụng NNH. NNH
chiếm trên 55,20% nợ phải trả và tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bình quân
4,50%. Trong đó, tăng mạnh nhất là trong thời kỳ suy thoái với tốc độ tăng NNH bình
quân đạt 6,40%, cao hơn so với pha phục hồi. Việc tăng NNH - nợ vay ngắn hạn để tài
trợ cho TSDH, tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối tài chính và mất khả năng thanh khoản
cao. Mặt khác, điều này thể hiện sự phụ thuộc của doanh nghiệp Việt Nam vào kênh
tín dụng là chính mà chưa quan tâm đến việc nghiên cứu, đa dạng hóa các kênh huy
động vốn khác như TTTP, tín dụng thương mại.
Thứ tư, mặc dù trong ngắn hạn, khả năng thanh toán của các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn đảm bảo, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn sự mất cân đối tài chính tại một số
doanh nghiệp. Tình trạng này trở nên nghiêm trọng nhất là trong thời kỳ suy thoái với
số lượng doanh nghiệp mất cân đối chiếm đến 24,39% số lượng mẫu nghiên cứu. Mặc
dù, tình trạng này đã được cải thiện trong thời kỳ phục hồi nhưng ở vẫn ở mức cao
21,95% số lượng mẫu nghiên cứu. Đây là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao
và số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, phá sản tăng mạnh trong những
năm gần đây, thậm chí khi nền kinh tế thế giới đã phục hồi.
91
Thứ năm, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam dựa trên các
nguyên tắc nhất định của quản trị tài chính hiện đại, tuy nhiên tính linh hoạt chưa cao,
việc quản trị tài chính vẫn mang tính chủ quan và nhất thời, dựa trên nhận định chủ
quan, kinh nghiệm là chính, chưa dự báo và theo sát diễn biến của môi trường vĩ
mô trong nước và chu kỳ kinh tế thế giới. Vì vậy, việc sử dụng nợ vay của các
doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự hiệu quả, rủi ro mất thanh khoản cao, chưa
xây dựng được kế hoạch lựa chọn CTV một các cụ thể, điều này tác động giảm
đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
4.1.2.2. Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các chỉ số tài
chính có liên hệ với cấu trúc vốn
Luận án phân tích thực trạng CTV cũng như mối quan hệ của CTV với các chỉ
tiêu tài chính như khả năng sinh lời, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, rủi ro
kinh doanh, cơ cấu tài sản, khả năng thanh toán và thuế TNDN bình quân.
Khả năng sinh lời (ROE)
Khả năng sinh lời được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên VCSH. Đây là
tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
có khả năng sinh lời cao chứng tỏ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp hiệu quả. Do đó, luận án phân tích tiêu chí này thông qua chỉ tiêu ROE, từ đó
đánh giá hiệu quả sử dụng nợ của doanh nghiệp.
Hình 4.5 cho thấy, sự biến động của ROE phản ánh theo xu hướng biến động
của chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ suy thoái, ROE có xu hướng giảm mạnh với tốc độ
giảm bình quân hàng năm là 0,87% nhưng ROE vẫn đạt ở mức bình quân 4,02%.
Năm 2008, khả năng sinh lời bị sụt giảm do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc suy thoái
kinh tế thế giới. Đến năm 2009, nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, nhưng
các doanh nghiệp Việt Nam đều công bố mức lợi nhuận rất cao, ROE cũng bắt đầu cải
thiện (Võ Thị Thúy Anh, 2010). Tuy nhiên, tình trạng này chỉ xảy ra trong thời gian
ngắn (quý 1/2009-quý 3/2009), khi tình trạng suy thoái kinh tế thế giới kéo dài và tiềm
ẩn những rủi ro như khủng hoảng nợ công châu Âu. Do đó, ROE của doanh nghiệp
giảm mạnh vào quý 3/2009. Nguyên nhân của vấn đề này là trong năm 2009 nhằm
92
giảm thiểu những hệ lụy của cuộc suy thoái kinh tế thế giới gây ra, Chính phủ Việt
Nam đã sử dụng ba gói kích thích: (i) cùng với CSTT mở rộng, lãi suất cho vay giảm
từ 20,10% vào quý 3/2008 xuống còn 9,54% vào quý 1/2009, Chính phủ còn tung ra
gói hỗ trợ lãi suất 4% để kích thích chi đầu tư đối với doanh nghiệp; (ii) Chính phủ ban
hành chương trình giảm, giãn thuế bao gồm: giảm, gia hạn nộp thuế thu nhập - thuế
suất thuế TNDN giảm từ 28% (năm 2008) xuống còn 25% (năm 2009) và giảm thuế
giá trị gia tăng đối với một số hàng hóa, dịch vụ; (iii) ngày 12/5/2009, Chính phủ tung
ra gói kích cầu có giá trị 143 nghìn tỷ đồng, sau đó tăng lên 160 nghìn tỷ đồng. Thông
qua ba gói kích cầu trên, Chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn
ngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá
thành sản phẩm, lợi nhuận của doanh nghiệp được cải thiện.
Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, mặc dù được cải thiện nhưng vẫn duy trì sự
sụt giảm - tốc độ giảm ROE bình quân hàng năm đạt 0,22%, ROE bình quân đạt ở mức
3,20%. Bắt đầu quý 1/2012 thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mới bắt đầu tăng
trưởng ổn định trở lại. Ngoài ra, Hình 4.5 cho thấy, khả năng sinh lời và CTV của các
doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng biến động nghịch chiều nhau phù hợp với kết
luận của Lý thuyết POT.
% (ROE)
TDR
GDP
ROE
% (TDR/GDP) 60.00
7.00
6.11
6.00
50.00
5.23
4.89
5.00
40.00
5.19
4.30
4.00
3.32
30.00
3.38
3.00
3.792.74
20.00
2.57
2.00
2.53
10.00
1.00
0.00
0.00
3 Q 9 0 0 2
2 Q 1 1 0 2
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
4 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
2 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Hình 4.5. Tỷ suất sinh lời (ROE) của các doanh nghiệp Việt Nam
93
Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Hình 4.6 cho thấy, quy mô tài sản các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng
tăng trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), phù hợp với sự gia tăng nguồn
vốn kinh doanh với tốc độ tăng bình quân 3,53% (được trình bày chi tiết tại mục
4.1.2.1). Nguồn vốn tài trợ cho sự gia tăng này chủ yếu là sử dụng nợ (tỷ số nợ bình
quân tăng 3,57%), huy động từ tín dụng của ngân hàng và TTTP. Kênh huy động từ
vốn cổ phần có xu hướng giảm mạnh phù hợp với biến động của TTCK. Ngoài ra, Hình
4.6 chưa thể hiện rõ xu hướng biến động giữa hai biến quy mô tài sản và CTV, do đó, mối
quan hệ này tiếp tục được tác giả phân tích ở Mục 4.2.
LNVNI/SIZE
% 140.00
8.00
7.00
120.00
Hình 4.6. Quy tài sản (SIZE) của các doanh nghiệp Việt Nam
6.51
6.27
5.90
6.00
5.57
6.10
100.00
5.33
6.02
5.85
5.00
80.00
4.00
56.10
60.00
51.80
49.49
3.00
40.00
42.60
2.00
20.00
1.00
BOND
TDR
SIZE
LNVNI
Dư nợ tín dụng/GDP
0.00
0.00
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
4 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
2 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
2 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng Khoán Sài Gòn.
Cơ cấu tài sản (TANG)
Theo Hình 4.7, cùng với việc tăng về quy mô thì giá trị tài sản cũng như tỷ trọng
TSCĐ trong TTS của các doanh nghiệp Việt Nam tăng đáng kể. Tuy nhiên, giá trị
TSCĐ tăng thấp hơn so với TTS. Do đó, mặc dù trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-
quý 2/2016), TSCĐ trung bình đạt 321,74 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân là 1,37%.
Tuy nhiên, tỷ trọng TSCĐ chiếm 30% TTS và có xu hướng giảm nhẹ với tốc độ giảm
bình quân của toàn bộ thời kỳ này là 0,68%. Trong khi đó, NVDH chiếm 67,25% TTS,
có xu hướng giảm với tốc độ giảm bình quân 0,46%, tỷ số NDH giảm mạnh 1,31% và
tỷ số VCSH giảm 0,09%. Số liệu trên chứng tỏ, nguyên nhân của việc giảm tỷ trọng
TSCĐ chủ yếu là sự sụt giảm NVDH, nhất là NDH. Tuy nhiên, việc giảm TSCĐ không
94
đáng kể so với sự giảm NVDH. Điều này cho thấy, trong thời kỳ này, các doanh nghiệp
Việt Nam có dấu hiệu gia tăng sự mất cân đối tài chính – tình trạng NNH dùng để tài
trợ cho TSCĐ, TSDH gia tăng. NNH là nguồn vốn có tính ổn định không cao nhưng
lại được sử dụng để tài trợ cho sự gia tăng TSCĐ có tính thanh khoản thấp, chưa tương
thích về kỳ hạn, rủi ro mất khả năng thanh toán cao. Mặt khác, qua Hình 4.7 chưa cho
thấy rõ xu hướng biến động giữa cơ cấu tài sản và CTV, do đó, để phân tích mối quan
hệ này cần dựa vào kết quả phân tích định lượng ở Mục 4.2.
% 70.00
SIZE 7.00
60.00
6.00
50.00
5.00
Hình 4.7. Cơ cấu tài sản (TANG) của các doanh nghiệp Việt Nam
49.58
48.09
46.61
40.00
4.00
30.33
29.15
29.42
28.49 29.20
28.25
28.40
3.00
30.00
28.24
27.91
26.43
23.50
24.10
2.00
20.00
22.88
20.18
10.00
1.00
TDR
LDR
TANG
SIZE
Hệ số tự tài trợ
0.00
0.00
1 Q 1 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
4 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
2 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
2 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Cơ hội tăng trưởng (GRO)
Cơ hội tăng trưởng được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh
nghiệp Việt Nam. Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp Việt Nam. Qua Hình 4.8 có thể thấy, tốc độ tăng trưởng doanh thu
của các doanh nghiệp Việt Nam khá nhạy cảm với tốc độ tăng trưởng kinh tế, điều này
phù hợp với lý thuyết chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng doanh thu
bình quân đạt 0,18% và tốc độ tăng trưởng doanh thu sụt giảm mạnh với tốc độ giảm
1,88%. Tương tự, trong thời kỳ phục hồi, tốc độ tăng trưởng doanh thu tăng đáng kể
với tốc độ tăng đạt 0,08 và giữ ổn định ở mức trung bình 0,62%.
95
Bên cạnh đó, qua Hình 4.8 tuy chiều hướng tác động giữa tăng trưởng doanh
thu và CTV chưa rõ nét nhưng có thể thấy rằng tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa
tăng trưởng doanh thu và CTV, phù hợp với giải thích của Lý thuyết POT. Điều này
sẽ được kiểm chứng dựa trên kết quả phân tích định lượng ở Mục 4.2.
Hình 4.8. Tốc độ tăng trưởng doanh thu (GRO) của các doanh nghiệp
90.00
Việt Nam
75.20
75.15
73.96
72.65
80.00
TDR
GDP
GRO
67.28
70.00
60.00
50.00
32.65
40.00
28.13
%
25.51
24.15
22.77
30.00
15.42
13.20
20.00
4.98
10.00
12.27
8.02
3.71
1.68
0.00
-10.00
1 Q 0 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
4 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
2 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
2 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
-8.26 2 1 Q Q 2 2 1 1 0 0 2 2
-20.00
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Rủi ro kinh doanh (VOL)
Rủi ro kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh sự khó khăn của doanh nghiệp có thể
gặp phải trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, bao gồm yếu tố chủ quan do doanh
nghiệp chưa quản lý tốt các khoản chi phí hoạt động và khách quan do sự tác động
của môi trường kinh doanh đến chi phí đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp. Do đó,
tương tự chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, rủi ro kinh doanh cũng nhạy
cảm với các yếu tố kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái, lạm phát tăng cao,
giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, chi phí tài chính trở nên đắt đỏ làm cho chi
phí hoạt động của doanh nghiệp tăng, trong khi tổng cầu của xã hội lại giảm. Vì vậy,
rủi ro hoạt động của doanh nghiệp tăng trong thời kỳ này, đỉnh điểm rơi vào thời điểm
quý 4/2009 chênh lệch giữa EBIT/TTS thực tế so với EBIT/TTS trung bình lên đến
0,0418. Tuy nhiên, tình hình này được cải thiện khi nền kinh tế thế giới bắt đầu phục
hồi rủi ro kinh doanh duy trì ở mức trung bình là 0,0292 (Hình 4.9). Ngoài ra, căn cứ
96
vào Hình 4.9 cũng chưa cho thấy rõ xu hướng biến động giữa rủi ro kinh doanh và
CTV, điều này tiếp tục được giải thích ở Mục 4.2.
%
VOL
0.045
60.00
0.041
0.040
0.037
50.00
0.037
0.036
0.034
0.038
0.035
0.033
40.00
0.035
0.029
0.030
0.032
0.032
30.00
24.51
0.029
0.025
0.026
0.025
20.00
0.020
10.66
10.00
0.015
6.71
0.00
0.010
-10.00
0.005
VOL
TDR
INF
RATE
0.000
-20.00
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Hình 4.9. Rủi ro kinh doanh (VOL) của các doanh nghiệp Việt Nam
Khả năng thanh khoản (LIQ)
Nhìn chung, khả năng thanh toán trong ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt
Nam khá tốt mà thể hiện qua chỉ tiêu thanh toán hiện hành luôn lớn hơn 1 và chỉ tiêu
này có xu hướng được cải thiện. Trong thời kỳ suy thoái, khả năng thanh toán ngắn
hạn của các doanh nghiệp Việt Nam giảm với tốc độ giảm bình quân hàng năm là
5,30% nhưng chỉ tiêu này vẫn duy trì ở mức trung bình là 2,30 lần. Tình hình này tiếp
tục được cải thiện trong thời kỳ phục hồi, khả năng thanh toán tiếp tục tăng với tốc độ
tăng bình quân hàng là 4,76%, chỉ số khả năng thanh toán trung bình đạt 5,37 lần.
Điều này được giải thích như sau, trong thời kỳ suy thoái, sự bất ổn tài chính vĩ mô
làm cho các nhà đầu tư có tâm lý lo ngại rủi ro. Vì vậy, các nhà đầu tư cơ cấu lại danh
mục đầu tư, hạn chế đầu tư vào các tài sản tài chính và các tài sản có kỳ hạn dài. Mặt
khác, đối với khu vực ngân hàng, các TCTD cơ cấu lại các khoản vay, hạn chế cấp tín
dụng, gia tăng điều kiện cho vay. Do đó, trong thời kỳ suy thoái, ngân hàng hạn chế
cấp tín dụng và TTCK, TTTP khó khăn, khả năng tích trữ thanh khoản của doanh
nghiệp thấp hơn so với thời kỳ phục hồi. Thật vậy, nhìn chung trong thời kỳ phục hồi,
97
khả năng thanh toán của các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng, nhưng vẫn có
một số thời kỳ, khả năng thanh toán giảm - bắt đầu từ quý 4/2012, chỉ số này giảm
liên tục từ 7,38 lần xuống còn 4,72 lần vào quý 1/2014. Điều này thể hiện, năng lực
tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam chưa ổn định, việc quản trị tài chính vẫn
mang tính chủ quan và nhất thời, chưa xây dựng kế hoạch tài chính cụ thể. Tuy nhiên,
trong ngắn hạn, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đảm bảo khả năng thanh toán tương
đối tốt.
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về chiều hướng tác động giữa khả năng thanh
khoản và CTV của các doanh nghiệp Việt Nam, Hình 4.10 vẫn chưa cho thấy rõ xu
hướng biến động giữa hai chỉ tiêu này, điều này tiếp tục được giải thích ở Mục 4.2.
Lần (LIQ)
%
LIQ
TDR
INF
RATE
9.00
60.00
8.45
7.38
8.00
50.00
7.00
40.00
6.00
5.10
30.00
5.00
20.00
4.72
3.36
4.00
10.00
3.00
0.00
2.00
2.66
-10.00
1.00
1.69
1.18
0.00
-20.00
3 Q 0 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
4 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
2 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
2 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
1 Q 3 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Hình 4.10. Khả năng thanh khoản (LIQ) của các doanh nghiệp Việt Nam
Thuế suất thuế TNDN bình quân (MTR)
Thuế TNDN bình quân được đưa vào mô hình nhằm đánh giá tác động của lá
chắn thuế đến CTV của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được đo lường thông qua chỉ tiêu
tỷ lệ giữa thuế TNDN phải nộp trong năm chia cho lợi nhuận trước thuế. Qua Hình
4.11, xu hướng tác động giữa thuế suất thuế TNDN bình quân và CTV của các doanh
98
nghiệp Việt Nam chưa nhất quán. Do đó, nghiên cứu tác động của thuế suất thuế
TNDN bình quân đến CTV cần dựa vào kết quả phân tích định lượng ở Mục 4.2.
%
TDR
RATE
MTR
60.00
50.00
40.00
30.00
21.00
18.93
20.00
16.95
14.53
10.00
13.92
0.00
-10.00
4 Q 8 0 0 2
1 Q 3 1 0 2
1 Q 7 0 0 2
2 Q 7 0 0 2
3 Q 7 0 0 2
4 Q 7 0 0 2
1 Q 8 0 0 2
2 Q 8 0 0 2
3 Q 8 0 0 2
1 Q 9 0 0 2
2 Q 9 0 0 2
3 Q 9 0 0 2
4 Q 9 0 0 2
1 Q 0 1 0 2
2 Q 0 1 0 2
3 Q 0 1 0 2
4 Q 0 1 0 2
1 Q 1 1 0 2
2 Q 1 1 0 2
3 Q 1 1 0 2
4 Q 1 1 0 2
1 Q 2 1 0 2
2 Q 2 1 0 2
3 Q 2 1 0 2
4 Q 2 1 0 2
2 Q 3 1 0 2
3 Q 3 1 0 2
4 Q 3 1 0 2
1 Q 4 1 0 2
2 Q 4 1 0 2
3 Q 4 1 0 2
4 Q 4 1 0 2
1 Q 5 1 0 2
2 Q 5 1 0 2
3 Q 5 1 0 2
4 Q 5 1 0 2
1 Q 6 1 0 2
2 Q 6 1 0 2
-20.00
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Hình 4.11. Thuế TNDN phải nộp (MTR) của các doanh nghiệp Việt Nam
4.2. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU TRÚC VỐN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI
KINH TẾ THẾ GIỚI
4.2.1. Xác định độ trễ tối ưu
Trước khi tiến hành ước lượng PVAR, cần xác định độ trễ tối ưu để sử dụng
trong các hệ phương trình. Andrews và Lu (2001) đề xuất sử dụng MMSC (The
moment model selection criteria) dựa trên hệ số xác định CD, thống kê J và tương
ứng với J-Pvalue của Hansen (1982). Chỉ tiêu J cũng tương tự các tiêu chí khác
thường được sử dụng để lựa chọn độ trễ tối ưu như các tiêu chí AIC (Akaike
information criteria), BIC (the Bayesian information Criteria), HQIC (The Hannan-
Quinn information criteria). Kết quả kiểm định trong Phụ lục 4 cho thấy, độ trễ tối
ưu của mô hình PVAR trong thời kỳ suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) là độ trễ 2.
Mô hình PVAR trong thời kỳ phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016) và toàn bộ thời kỳ
(quý 1/2007-quý 2/2016) đều có độ trễ tối ưu là 3. Từ đó, rút ra kết luận đối với mô
99
hình 1a, chọn độ trễ tối đa là lag (2), mô hình 1b và mô hình 1c, chọn độ trễ tối đa là
lag (3). Nội dung chi tiết được trình bày ở Phụ lục 4.
4.2.2. Kiểm định tính ổn định trong mô hình
Nghiên cứu tiến hành các kiểm định nhằm đảm bảo tính ổn định và thoả mãn
các yêu cầu của PVAR. Kết quả kiểm định nghiệm đặc trưng AR trong Hình 4.12
cho thấy, tất cả các nghiệm của đa thức đặc trưng trong các Mô hình 1a, 1b và 1c
đều nằm trong vòng tròn đơn vị và điều này phản ánh mô hình PVAR đảm bảo tính
ổn định, bền vững.
Hình 4.12. Kết quả kiểm định nghiệm đa thức đặc trưng AR
Mô hình 1a Mô hình 1b Mô hình 1c
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn
100
4.2.3. Kết quả ước lượng Mô hình 1a, 1b và 1c
Bảng 4.2. Kết quả ước lượng mô hình PVAR với biến phụ thuộc TDR
Chỉ tiêu Mô hình 1a Mô hình 1b Mô hình 1c
0,722*** [7,99] - 0,0726*** [2,85] -0,495*** [-5,03] -0,0316 [-0,56] 0,105 [0,84] -0,0549* [-1,50] 0,219 [1,06] 0,0369* [0,62] -0,0356* [-1,91] 0,00186* [0,46] 0,0810* [1,67] 0,000261* [0,93]
0,726*** [8,30] -0,178*** [-3,74] 3,597*** [5,35] 1,231*** [4,90] 2,669*** [3,53] -0,251** [-2,05] -0,26 [-1,12] -0,328*** [-3,09] -0,131 [-1,63] -0,00804** [-2,07] 0,299*** [2,85] -0,00202* [1,53] 1.230 1.722 L.TDR 0,754*** [23,02] - 0,0193** L.LNVNI [2,10] L.BOND 0,262*** [4,30] L.RATE 0,0826** [2,44] -0,357*** L.GDP [-3,14] ROE -0,0873*** [-3,48] VOL - 0,223** [2,08] -0,0084 SIZE [-0,31] MTR -0,0214 [-1,38] GRO 0,00590*** [2,72] TANG 0,0852*** [2,58] LIQ -0,000766*** [-3,30] DYMMY -0,0142*** [-2,79] N 2.952 Ghi chú: *, **, *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10%, 5%, 1%; [] là giá trị của sai số chuẩn.
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
4.2.3.1. Mô hình 1a
Bảng 4.2. cho thấy trong thời kỳ suy thoái, việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp Việt Nam chịu sự tác động mạnh bởi các biến kinh tế vĩ mô như TTTP
(BOND), tăng trưởng kinh tế (GDP), TTTD (RATE), TTCK (LNVNI) và hầu hết các
biến này đều có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Trong đó, TTTP, tăng trưởng kinh tế,
101
TTTD có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, còn biến
TTCK (LNVNI) tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV.
Tiếp theo, luận án tiến hành phân tích hàm phản ứng đẩy nhằm phân tích cơ
chế tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp
thông qua các biến kinh tế vĩ mô của Việt Nam và dự báo chiều hướng tác động của
việc lựa chọn CTV khi xảy ra các cú sốc kinh tế vĩ mô (Chi tiết được thể hiện qua
Hình 4.13).
Mối quan hệ giữa TTTP (BOND) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy của các biến trong Mô hình 1a cho thấy,
khi TTTP được mở rộng thêm một độ lệch chuẩn, nghĩa là giá trị vốn hóa của TTTP
trên GDP tăng thêm 1%, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tăng sử dụng nguồn vốn
này, TDR tăng 3,597% trong quý 1. Nguyên nhân của vấn đề này là trong thời kỳ suy
thoái, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam khó khăn, tính thanh
khoản của thị trường thấp, tâm lý tích trữ thanh khoản tăng, nhu cầu vốn lớn. Mặt
khác, theo Lý thuyết TOT, khi TTTP được cải thiện thì chi phí nợ thấp hơn chi phí
vốn, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ. Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của Davis
và Stone (2004), Frank và Goyal (2007), Jong và ctg (2008), Nor và ctg (2011), Haron
và ctg (2012), Masoud (2014). Tuy nhiên, hiện tượng này xảy ra trong ngắn hạn (1
quý) và tắt dần ở quý 4. Bởi lẽ, theo cơ chế phản hồi thông tin về sự khó khăn chung
của nền kinh tế, khu vực thực tác động trở lại khu vực tài chính, ảnh hưởng đến tâm
lý của nhà đầu tư, tính thanh khoản của thị trường sụt giảm, lợi nhuận kỳ vọng và chi
phí sử dụng vốn tăng để bù đắp rủi ro do thị trường gây ra. Khi đó, các doanh nghiệp
Việt Nam bắt đầu gặp khó khăn trong việc huy động vốn từ thị trường này nên tác động
của cú sốc TTTP giảm dần.
Ngược lại, doanh nghiệp cũng là một chủ thể trong nền kinh tế, vừa là đơn vị đi
vay và cho vay, do đó, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp phần nào tác động đến
TTTC nói chung và TTTP nói riêng. Trong thời kỳ suy thoái, nguy cơ phá sản tăng làm
tăng chi phí nợ, doanh nghiệp hạn chế sử dụng nợ và lựa chọn cơ cấu nguồn vốn phù
102
hợp. Mặt khác, thông qua cơ chế điều tiết của thị trường các nhà quản trị sẽ tăng các
khoản NNH trong khi giảm mạnh NDH (Fosberg, 2013; Custódio và ctg, 2013). Ngoài
ra, Altunbas (2009) đã chứng minh các doanh nghiệp lớn có khả năng huy động vốn
trên TTTP và vay nợ tốt hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đối với
các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, khả năng phải đối mặt với căng thẳng tài chính lớn,
do đó sẽ khó huy động vốn từ việc phát hành trái phiếu. Vì vậy, khi doanh nghiệp tăng
sử dụng nợ dẫn đến sự sụt giảm nhất định trong TTTP. Hai quan điểm trên cho thấy,
việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng tác động trở lại TTTP. Cụ thể, khi CTV của
các doanh nghiệp Việt Nam tăng thêm một độ lệch chuẩn tác động tức thời làm cho
TTTP giảm 0,012% tại mức ý nghĩa 5% và việc này chỉ kéo dài đến quý 5. Qua đó có
thể thấy, trong thời kỳ này, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và trái phiếu doanh
nghiệp đóng vai trò nhất định đối với TTTP.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (GDP) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy cho thấy, GDP Việt Nam tác động thuận
chiều đến việc lựa chọn CTV. Cụ thể, khi tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng thêm một
độ lệch chuẩn thì các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng sử dụng nợ thêm
2,669% và việc tăng thêm sử dụng nợ này sẽ bắt đầu giảm dần từ quý 3. Điều này hàm
ý rằng, trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng thêm 1%, nhu cầu
tiêu dùng tăng, các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng sản xuất, nhu cầu vốn tăng
2,669%. Trong khi lợi nhuận doanh nghiệp vẫn ở mức thấp, nếu nguồn vốn nội bộ
không đáp ứng đủ nhu cầu thì doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốn từ bên ngoài. Kết
quả này phù hợp với nghiên cứu của Ariff (2008) khi tác giả này phân tích các yếu tố
tác động đến việc lựa chọn CTV trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á 1997-
1998. Tuy nhiên, kết quả này trái ngược với Davis và Stone (2004) trong phân tích
CTV của doanh nghiệp và sự bất ổn tài chính giai đoạn 1970-1990, Alves và Francisco
(2015) trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2008-2009.
Ngược lại, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ thêm một độ lệch
chuẩn, áp lực trả nợ bắt đầu tăng lên, nhất là trong thời kỳ suy thoái, chi phí sử dụng
103
nợ, chi phí kiệt quệ tài chính và phá sản tăng cao, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, tăng trưởng kinh tế giảm 0,009% tại mức ý
nghĩa 5% và việc này kéo dài trong 3 quý sau khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng
sử dụng nợ. Mặt khác, khi các doanh nghiệp tăng cường sử dụng nợ, làm cho tín dụng
tư nhân trong nền kinh tế cũng tăng lên đáng kể. Randveer và ctg (2011) đã chứng
minh đối với những quốc gia có mức độ nợ tư nhân cao hoặc bùng nổ tín dụng có tác
động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế. Điều này được thể hiện rõ trong thời kỳ
suy thoái, khi mức độ sử dụng nợ tăng làm cho nền kinh tế dễ dàng chạm đáy, khủng
hoảng kinh tế xảy ra nhanh hơn. Điều này hàm ý rằng, việc sử dụng nợ của doanh
nghiệp có mối quan hệ nghịch chiều với tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ giữa TTTD (RATE) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ suy thoái, TTTD thu hẹp, dư nợ tín
dụng giảm, điều kiện cho vay khó khăn, lãi suất cho vay tăng thêm một độ lệch chuẩn
nhưng vẫn tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Cụ thể, khi
lãi suất cho vay tăng thêm 1% doanh nghiệp tăng sử dụng nợ thêm 1,231% có ý nghĩa
tại mức 5% và việc tăng này kéo dài cho đến 6 quý, tắt sau 9 quý kể từ khi xảy ra cú
sốc tăng lãi suất. Điều này hàm ý rằng, khi TTTD khó khăn, xảy ra một cú sốc về tăng
lãi suất, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn giữ kỳ vọng về tăng lợi nhuận nhờ tận dụng
lợi ích về tấm chắn thuế, do đó, sử dụng nợ nhiều hơn, phù hợp với Lý thuyết MM và
Allayannis và ctg (2003), Barry (2008), Antoniou và ctg (2008), Bas (2009), Nurlayli
và ctg (2013), Masoud (2014), Võ Thị Thúy Anh và ctg (2014), Zerriaa và Noubbigh
(2015). Tuy nhiên, việc tăng sử dụng nợ như vậy bất lợi đối với doanh nghiệp khi nền
kinh tế khó khăn, chi phí kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản tăng. Bên cạnh đó, theo
Lý thuyết chi phí đại diện, khi nền kinh tế khó khăn, tồn tại sự mất cân xứng thông tin
giữa ngân hàng và doanh nghiệp nên chi phí đại diện khá cao. Nhưng doanh nghiệp
vẫn tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, điều này thể hiện tín dụng vẫn là kênh huy động truyền
thống của các doanh nghiệp Việt Nam và mức độ phụ thuộc vào thị trường này khá
lớn. Ngoài ra, phân tích trên cho thấy CTV của các doanh nghiệp Việt Nam khá bảo
104
thủ, phản ứng chậm trước các biến động của thị trường, nhất là TTTD. Cụ thể, từ quý
6 trở đi doanh nghiệp có xu hướng giảm dần sử dụng nợ và cú sốc lãi suất không còn
tác động đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp ở quý 9. Thật vậy, kết quả phân
tích thống kê mô tả cho thấy, dư nợ tín dụng trong thời kỳ suy thoái luôn duy trì ở mức
cao, chiếm 88,89% GDP, tương ứng với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 11,94%.
Ngược lại, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng mức sử dụng nợ thêm 1% có
tác động làm tăng dư nợ tín dụng và góp phần cải thiện TTTD, cụ thể ngay lập tức
làm giảm 0,005% lãi suất cho vay. Tuy nhiên, việc giảm này chỉ phản ứng trong thời
gian ngắn sau đó lãi suất cho vay tăng trở lại, thị trường này lại tiếp tục bị chi phối
bởi CSTT thắt chặt của NHNN, phù hợp với nhận định khi phân tích thống kê mô tả
và đặc điểm chính sách tại Việt Nam.
Mối quan hệ giữa TTCK (LNVNI) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Khi TTCK Việt Nam tăng trưởng thêm một độ lệch chuẩn thì nhà quản trị giảm
sử dụng nợ, TDR giảm 0,178%, có ý nghĩa thống kê tại mức 1% và việc giảm sử dụng
nợ này kéo dài sau 3 quý kể từ khi xảy ra cú sốc trong TTCK Việt Nam. Hàm ý rằng,
khi TTCK Việt Nam phát triển, giá trị vốn hóa của thị trường tăng, doanh nghiệp dễ
dàng tiếp cận với nguồn vốn này. Mặt khác, theo Lý thuyết định điểm thị trường, khi
TTCK phát triển, giá cổ phiếu tăng, doanh nghiệp ưu tiên nguồn vốn từ bên ngoài
bằng cách phát hành cổ phiếu. Kết quả này phù hợp với Faulkender và Petersen
(2006), Jong và ctg (2008), Booth (2001), Nor và ctg (2011), Masoud (2014), Khanna
và ctg(2015), Alves và Francisco (2015).
Ngược lại, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ thêm một độ lệch
chuẩn có tác động nghịch chiều đến TTCK. Cụ thể, khi xảy ra cú sốc về TDR thì ngay
lập tức làm cho TTCK giảm 0,126%, có ý nghĩa thống kê tại mức 5% và việc giảm
này chỉ kéo dài trong thời gian ngắn (1 quý kể từ khi xảy ra cú sốc do TDR). Điều
này được giải thích bởi Lý thuyết Minsky và Lý thuyết bầy đàn, trong thời kỳ suy
thoái, nền kinh tế khó khăn, doanh nghiệp phát hành nợ sẽ làm tăng chi phí tài chính
và nguy cơ phá sản cao. Do đó, trong thời kỳ này, các nhà đầu tư khá thận trọng trong
105
các quyết định đầu tư, điều này hàm ý việc lựa chọn CTV có tác động nghịch chiều
đến TTCK.
Hình 4.13. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1a)
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Ngoài ra, để đo lường sự đóng góp của các biến kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn
CTV của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái, luận án tiến hành phân rã
phương sai của TDR, với kết quả như sau:
Bảng 4.3. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1a)
TDR LNVNI BOND RATE GDP
1 0,8905 0,6771 0,6058 0,5832 0,5512 0 0,0001 0,0012 0,0018 0,0158 0,0454 0 0,0992 0,2793 0,3319 0,3309 0,3272 0 0,0007 0,0028 0,0100 0,0169 0,0173 0 0,0095 0,0396 0,0506 0,0532 0,0589 Kỳ 1 2 4 6 8 10
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
106
Kết quả phân tích phân rã phương sai của TDR trong thời kỳ suy thoái được trình
bày trong Bảng 4.3, cho thấy, sự thay đổi của TDR được giải thích bởi các yếu tố kinh tế
vi mô khoảng 65%, còn lại 35% được giải thích bởi các biến số kinh tế vĩ mô. Trong đó,
TTTP giải thích được 28,4% vào sự thay đổi của biến TDR, TTCK - 1,2%, TTTD - 1,0%
và tăng trưởng kinh tế - 4,4%. Qua đó có thể thấy, trong thời kỳ suy thoái, môi trường vĩ
mô của Việt Nam biến động mạnh, tác động nhất định đến việc lựa chọn CTV của các
doanh nghiệp Việt Nam. Như đã phân tích trên, tồn tại mối quan hệ giữa việc lựa chọn
CTV với các biến kinh tế vĩ mô trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới. Tuy nhiên, việc
lựa chọn CTV ngoài phụ thuộc vào các cú sốc kinh tế vĩ mô, còn bị chi phối bởi các
yếu tố nội tại của doanh nghiệp.
CTV (TDR) kỳ trước có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV của kỳ
sau. Điều này hàm ý rằng việc tăng sử dụng nợ kỳ trước làm tăng sử dụng nợ 0,726%
ở kỳ sau, phù hợp với nghiên cứu của Antoniou và ctg (2008), Ariff (2008), Sbeiti
(2010), Nor và ctg (2011), Khanna và ctg (2015).
Khả năng sinh lời (ROE) được sử dụng để đại diện cho biến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ROE có tác động nghịch chiều với việc lựa
chọn CTV và có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Mối tương quan âm chỉ ra rằng các
doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao có xu hướng vay nợ ít hơn. Điều này hàm ý, lợi nhuận
giữ lại đóng vai trò quan trọng nhất định trong việc hình thành nguồn VCSH của
doanh nghiệp. Kết quả này được giải thích bởi Lý thuyết POT, phù hợp với nhận định
khi phân tích thực trạng và các nghiên cứu thực nghiệm của Nor và ctg (2011),
Proenca và ctg (2014), Balios và ctg (2016), Truong Hong Trinh và Nguyen Phuong
Thao (2015). Tuy nhiên, kết quả này cũng cho thấy, việc sử dụng nợ của doanh nghiệp
chưa hiệu quả và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có tác động nghịch chiều với việc lựa chọn CTV
của doanh nghiệp và có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Hàm ý rằng, trong thời kỳ suy
thoái, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường sử dụng vốn cổ phần nhiều hơn sử
dụng nợ, tức là quy mô doanh nghiệp tương quan nghịch chiều so với nợ vay. Thật
vậy, các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có thời gian hoạt động lâu, lợi nhuận
107
và VCSH lớn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này có khuynh hướng công bố thông
tin ra ngoài nhiều hơn các doanh nghiệp nhỏ và dễ dàng phát hành cổ phần ra thị
trường nên thường ít vay nợ. Kết quả này tương đồng với Voutsinas và Werner
(2011), Fosberg (2012), Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza (2015) khi họ nghiên
cứu mối quan hệ này trong thời kỳ suy thoái.
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (GRO) được đại diện bởi tốc độ tăng trưởng
doanh thu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng trưởng có tác động nghịch chiều
với việc lựa chọn CTV. Điều này hàm ý rằng, đối với những doanh nghiệp có tốc độ
tăng trưởng cao, có nhiều cơ hội đầu tư, dòng tiền tự do thường thấp và vấn đề xung
đột lợi ích giữa người quản lý với các cổ đông bớt căng thẳng. Trong thời kỳ suy thoái,
việc sử dụng nợ thường gây nên vấn đề đầu tư dưới mức (Stulz,1990), vì thế các doanh
nghiệp Việt Nam có xu hướng sử dụng vốn cổ phần nhiều hơn. Kết quả này phù hợp
với giải thích của Lý thuyết chi phí đại diện và Proenca và ctg (2014), Rehman và
Rehman (2014), Zhang và Mirza (2015), Balios và ctg (2016) khi họ nghiên cứu mối
quan hệ này trong thời kỳ suy thoái.
Cơ cấu tài sản (TANG) được đo lường bằng tỷ lệ giá trị TSCĐ trên TTS. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, cơ cấu tài sản có tác động cùng chiều với việc lựa chọn CTV của
các doanh nghiệp Việt Nam tại mức ý nghĩa 1%. Thật vậy, các doanh nghiệp có TSCĐ
lớn khi phát hành nợ có đảm bảo hoặc vay nợ có tài sản thế chấp sẽ dễ dàng hơn và
được hưởng các chính sách tốt hơn (Baker và Martin, 2011). Kết quả này phù hợp với
giải thích của các Lý thuyết POT, TOT và một số công trình khác, đặc biệt các công
trình nghiên cứu gắn với phân tích bối cảnh suy thoái kinh tế như Ariff (2008), Fosberg
(2012), Alves và Francisco (2015), Iqbal và Kume (2014). Tuy nhiên, kết quả này lại
trái ngược với Lý thuyết chi phí đại diện. Theo lý thuyết này, doanh nghiệp có TSCĐ
ít thường có chi phí khấu hao và chi phí hoạt động thấp, do đó, có thể chọn mức nợ cao
để đặt áp lực lên các nhà quản lý cần phải tiết kiệm các khoản chi phí dành cho bộ phận
quản lý hơn nữa (Proenca và ctg, 2014; Zhang và Mirza, 2015; Balios và ctg, 2016).
Đây là bằng chứng cho thấy trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam chưa
kiểm soát tốt các khoản chi phí, đặc biệt là chi phí quản lý và quản lý tốt danh mục đầu
108
tư của mình – thanh lý bớt TSCĐ nhằm gia tăng khả năng thanh toán (Drucker, 1980).
Nhưng ngược lại, để duy trì khả năng thanh toán, các doanh nghiệp Việt Nam lại tiếp
tục đầu tư thêm TSCĐ nhằm dễ dàng hơn trong việc phát hành nợ, bù đắp cho các
khoản thiếu hụt tài chính tạm thời. Điều này phản ánh thực trạng năng lực quản trị tài
chính tại các doanh nghiệp Việt Nam tương đối yếu, phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn
bên ngoài.
Khả năng thanh toán (LIQ) được đo lường dựa trên tỷ lệ giữa TSNH trên NNH.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng thanh toán có tác động nghịch chiều với việc
lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp
Việt Nam có tính thanh khoản cao thường duy trì một lượng TSNH khá lớn. Do đó,
khi phát sinh nhu cầu vốn, các nhà quản trị ưu tiên lựa chọn nguồn vốn từ nội bộ, điều
này được giải thích của Lý thuyết POT, Lý thuyết chi phí đại diện và các nghiên cứu
gắn với thời kỳ suy thoái như Zarebski và Dimovski (2012), Proenca và ctg (2014),
Zhang và Mirza (2015). Tuy nhiên, theo kết quả phân tích thực trạng trong Mục
4.1.2.2, trong thời kỳ suy thoái, chỉ số thanh toán ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt
Nam giảm mạnh - tốc độ giảm bình quân 5,30%, TSNH bị giới hạn. Do đó, để đáp
ứng nhu cầu vốn, các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ. Kết quả này trái ngược
với lý thuyết chu kỳ kinh tế trong thời kỳ suy thoái, khả năng thanh toán của doanh
nghiệp giảm nên hạn chế sử dụng nợ. Như vậy, theo hàm ý của lý thuyết này, khả
năng thanh toán tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV. Tuy nhiên, kết quả phân
tích các chỉ số tài chính cho thấy, trong thời kỳ này các doanh nghiệp Việt Nam có khả
năng tài chính tương đối yếu – bị mất cân đối tài chính kéo dài, khả năng thanh toán,
tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận có xu hướng giảm. Thay vì lựa chọn CTV
theo hướng giảm sử dụng nợ nhưng trong điều kiện năng lực tài chính yếu và áp lực
thanh khoản quá lớn, tình trạng mất khả năng chi trả, phá sản càng cao, các doanh
nghiệp tăng nợ vay. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, đây là giải pháp mang tính
nhất thời, nên hạn chế sử dụng. Bởi lẽ, trong thời kỳ suy thoái, nếu các doanh nghiệp
bổ sung nguồn vốn thiếu hụt bằng cách sử dụng nợ vay thì chỉ giải quyết được vấn
đề tài chính một cách tức thời và điều này làm áp lực tài chính của doanh nghiệp
109
không những không cải thiện mà càng nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, thay vào đó
doanh nghiệp nên kiểm soát tốt các khoản chi phí và tăng cường các khoản thu nhập
bất thường từ thanh lý bớt tài sản không cần thiết (Drucker, 1980).
Tóm lại, trong thời kỳ suy thoái, các biến kinh tế vĩ mô tác động nhất định đến
việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó, TTTP và tăng trưởng
kinh tế có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, còn biến
TTTD và TTCK (LNVNI) có tác động nghịch chiều. Ngược lại, việc lựa chọn CTV
cũng có tác động tương đối yếu đến các biến kinh tế vĩ mô. Cụ thể, khi doanh nghiệp
Việt Nam tăng sử dụng nợ có tác động thuận chiều đến TTTD, nhưng ngược lại, có tác
động nghịch chiều đến TTCK, TTTP và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, kết quả cũng cho
thấy, các biến kinh tế vĩ mô cũng góp phần giải thích 35% vào sự thay đổi CTV của các
doanh nghiệp Việt Nam, trong đó TTTP khoảng 28,4%, TTCK khoảng 1,2%,TTTD
1,0% và tăng trưởng kinh tế 4,4%. Bên cạnh đó, việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp Việt Nam còn được giải thích bởi các biến như độ trễ CTV kỳ trước và cơ cấu
tài sản có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV, còn khả năng sinh lời, quy mô
doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và khả năng thanh toán có tác động nghịch chiều. Các
biến rủi ro kinh doanh và thuế TNDN bình quân không tác động đến việc lựa chọn CTV.
4.2.3.2. Mô hình 1b
Bảng 4.2 cho thấy, trong thời kỳ phục hồi, việc lựa chọn CTV của các doanh
nghiệp Việt Nam cũng chịu sự tác động từ các biến kinh tế vĩ mô nhưng số lượng các
biến và mức tác động cũng giảm dần. Cụ thể, trong thời kỳ này, việc lựa chọn CTV
của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự tác động nghịch chiều của TTTP và TTCK
tại mức ý nghĩa 1%. Các biến còn lại như TTTD, tăng trưởng kinh tế có tác động rất
yếu, không đáng kể đến việc lựa chọn CTV.
Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy nhằm phân tích cơ chế tác động của các
biến kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam và dự báo
chiều hướng tác động của các biến này đến việc lựa chọn CTV khi xảy ra các cú sốc
kinh tế vĩ mô (Chi tiết được thể hiện qua Hình 4.14).
110
Mối quan hệ giữa TTTP (BOND) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy của các biến trong Mô hình 1b cho thấy, khi
TTTP được mở rộng thêm một độ lệch chuẩn, các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam
giảm sử dụng nợ 0,495%. Điều này hàm ý rằng, trong thời kỳ phục hồi, các biến kinh
tế vĩ mô Việt Nam bắt đầu ổn định, TTTP được cải thiện, giá trị vốn hóa của TTTP
trên GDP tăng thêm 1% thì các doanh nghiệp Việt Nam giảm sử dụng nợ và xu hướng
này kéo dài cho đến 10 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng của TTTP. Kết quả này trái
ngược so với kết quả nghiên cứu trong bối cảnh suy thoái kinh tế, Lý thuyết TOT và
Lý thuyết chi phí đại diện, nhưng phù hợp với Kayo và Kimura (2011), Võ Thị Thúy
Anh và ctg (2014). Kết quả này được giải thích là do đặc thù TTTP của các nước đang
phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng - TTTP chủ yếu trái phiếu Chính phủ. Thật
vậy, Hình 4.4 của Phục lục 4 cho thấy, trong thời kỳ này, mặc dù giá trị vốn hóa của
TTTP Việt Nam tăng nhưng chủ yếu do sự tăng lên về quy mô của trái phiếu Chính
phủ. Cụ thể, giá trị vốn hóa của trái phiếu Chính phủ tăng từ 13,68% GDP trong bối
cảnh suy thoái kinh tế, còn trong thời kỳ phục hồi, giá trị vốn hóa của trái phiếu Chính
phủ đạt đến 19,03% GDP. Tuy nhiên, có sự sụt giảm nhẹ về quy mô của trái phiếu
doanh nghiệp, giá trị vốn hóa của trái phiếu doanh nghiệp giảm từ 1,01% GDP xuống
còn 0,92% GDP. Điều này phản ánh thực trạng quy mô của TTTP Việt Nam hiện nay
nhỏ, sản phẩm chưa đa dạng. TTTP chưa thực sự là kênh huy động vốn quan trọng của
doanh nghiệp mà sản phẩm chủ yếu của thị trường này là trái phiếu Chính phủ chiếm
95,4% giá trị thị trường.
Ngược lại, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam cũng tác động
đến TTTP. Khi xảy ra cú sốc tăng TDR thêm một độ lệch chuẩn làm cho TTTP giảm
0,103% và xu hướng này bắt đầu tắt dần ở quý thứ 6, có ý nghĩa tại mức 5%. Kết quả
này được giải thích bằng ba lý do. (i) Tín dụng từ các TCTD là kênh huy động vốn
truyền thống của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, trong thời kỳ này, TTTD tăng
trưởng trở lại nên có sự chuyển dịch trong việc sử dụng nguồn vốn từ TTTP sang thị
trường này. Thật vậy, lãi suất cho vay bắt đầu giảm từ 20,1% vào quý 3/2008 (mức
cao nhất trong thời kỳ suy thoái) xuống còn 18,02% vào quý 3/2011 (mức cao nhất
111
trong thời kỳ phục hồi) và có xu hướng giảm dần, ổn định ở mức 6,96% từ quý 4/2015
cho đến nay. Bên cạnh đó, cùng với CSTT nới lỏng, các TCTD bắt đầu mở rộng tín
dụng. Theo số liệu thống kê từ NHNN trong thời kỳ phục hồi, dư nợ tín dụng toàn hệ
thống trung bình là 3.540.047 tỷ đồng, chiếm 100,58% GDP, cao hơn so với thời kỳ
suy thoái đạt 1.581.477 tỷ đồng, tương ứng 99,05% GDP. (ii) Mục 4.1.2.1 đã phân
tích, do đặc điểm các doanh nghiệp Việt Nam có vốn VCSH khá dồi dào, trung bình
chiếm 48,93% TTS, trong khi TSDH chiếm 46,32% TTS. Vì vậy, nhu cầu huy động
nguồn vốn trung và dài hạn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Do đó,
các doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên huy động nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, có
chi phí sử dụng vốn thấp hơn. (iii) Suy thoái kinh tế thế giới kéo dài và có tác động
dai dẳng đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam. Theo số liệu thống
kê từ NHNN, khi nền kinh tế phục hồi, tỷ lệ nợ xấu trung bình là 3,37% tổng dư nợ,
cao hơn so với thời kỳ suy thoái, tỷ lệ nợ xấu chiếm 2,02% tổng dư nợ. Điều đó đã
phát ra tín hiệu lo ngại về khả năng thanh khoản của TTTC, nhất là đối với TTTP khi
sản phẩm của thị trường này chủ yếu là trái phiếu dài hạn, rủi ro tương đối cao. Như
vậy, nguyên nhân của mối quan hệ nghịch chiều này xuất phát từ đặc thù TTTP,
TTTD Việt Nam và việc sử dụng vốn chưa hợp lý của các doanh nghiệp Việt Nam.
Xu hướng này không phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Trong thời gian tới,
đặc biệt là khi nền kinh tế phục hồi bền vững và việc gia nhập chính thức các hiệp
định thương mại (FTA, TPP và AEC) sẽ là những nhân tố quan trọng trong việc thúc
đẩy sản xuất trong nước, nhu cầu huy động vốn cho việc mở rộng kinh doanh, đầu tư
vào các dự án có quy mô và dài hạn ngày càng tăng, TTTP sẽ phát triển hơn.
Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (GDP) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy cho thấy, khi tăng trưởng kinh tế Việt Nam
tăng thêm một độ lệch chuẩn, các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ tương ứng
0,105% ở quý 1 và tắt dần từ quý 6. Điều này hàm ý rằng, khi nền kinh tế phục hồi,
tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng thêm 1%, nhu cầu tiêu dùng tăng, doanh nghiệp mở
rộng sản xuất, nhu cầu vốn tăng cao. Mặt khác, trong thời kỳ này, chi phí kiệt quệ tài
chính thấp, rủi ro phá sản giảm, do đó, các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ
112
nhằm tận dụng lợi ích từ tấm chắn thuế. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết TOT và
Booth và ctg (2001), Jong và ctg (2008), Kayo và Kimura (2011), Nor và ctg (2011),
Khanna và ctg (2015).
Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, khi doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ
thêm một độ lệch chuẩn, tăng trưởng kinh tế tăng 0,026% ở quý 1 và tắt hẳn sau 2 quý
kể từ khi xảy ra cú sốc trong TDR, có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Điều đó hàm ý
rằng, trong thời kỳ này, việc tăng sử dụng nợ giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng
quy mô và cơ hội đầu tư phục vụ cho chu kỳ kinh doanh mới, góp phần cải thiện nền
kinh tế. Tuy nhiên, mức tác động này tương đối yếu và diễn ra trong thời gian ngắn.
Mối quan hệ giữa TTTD (RATE) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ phục hồi, TTTD thu hẹp, lãi suất cho
vay tăng thêm một độ lệch chuẩn thì các doanh nghiệp Việt Nam hạn chế sử dụng nợ
vay 0,312% có ý nghĩa tại mức 5% và việc này kéo dài cho đến 6 quý kể từ khi xảy ra
cú sốc tăng lãi suất. Điều này hàm ý, khi TTTD khó khăn, chi phí sử dụng nợ tăng hơn
chi phí sử dụng vốn, các doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên sử dụng vốn cổ phần thay vì
sử dụng nợ. Mặt khác, kết quả này cũng phù hợp với Lý thuyết POT và Lý thuyết TOT,
trong thời kỳ này lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, vì vậy, khi phát sinh nhu cầu vốn
thứ tự ưu tiên lựa chọn nguồn vốn tài trợ của doanh nghiệp đầu tiên là nguồn vốn huy
động từ bên trong. Như vậy, TTTD có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV của
các doanh nghiệp Việt Nam. Một số nghiên cứu thực nghiệm của Barry (2008),
Antoniou và ctg (2008), Bas (2009), Nor và ctg (2011), Masoud (2014), Haron và
Ibrahim (2012), Nor và ctg (2011) đồng thuận với quan điểm này.
Ngược lại, khi doanh nghiệp Việt Nam tăng mức sử dụng nợ thêm 1% lập tức
cải thiện TTTD, lãi suất cho vay giảm 0,014% ở quý 1 và việc này kéo dài sau 8
quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng TDR. Qua đó có thể cho thấy, trong thời kỳ phục
hồi, TTTD Việt Nam bắt đầu được cải thiện, thông qua cơ chế điều tiết cung – cầu,
lãi suất cho vay cũng được giảm đáng kể. Mặt khác, trong thời kỳ này, lạm phát
được giữ ở mức ổn định và NHNN bắt đầu thực hiện các CSTT nới lỏng. Cụ thể,
tổng hợp số liệu từ NHNN (quý 1/2007-quý 2/2016), lạm phát từ 27,73% vào quý
113
3/2008 giảm xuống còn 22,53% vào quý 3/2011 và ổn định ở mức 4,2% cho đến
nay. Lãi suất chỉ đạo bắt đầu giảm và giữ ở mức ổn định nhằm giảm mặt bằng lãi
suất, phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Từ đó,
đã làm cho mặt bằng lãi suất cho vay giảm từ 20,1%/năm (quý 3/2008) xuống còn
ở mức 6,96%/năm (quý 4/2015).
Mối quan hệ giữa TTCK (LNVNI) và việc lựa chọn CTV (TDR)
Khi TTCK tăng thêm một độ lệch chuẩn, doanh nghiệp hạn chế sử dụng nợ
0,073% và việc giảm sử dụng nợ này kéo dài trong thời gian khá ngắn, sau 2 quý kể
từ khi xảy ra cú sốc. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết định điểm thị trường và các
nghiên cứu thực nghiệm của Jong và ctg (2008), Alves và Francisco (2015), Võ Thị
Thúy Anh và ctg (2014), Khanna và ctg (2015).
Ngược lại, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ thêm một độ lệch
chuẩn tác động nghịch chiều đến TTCK. Cụ thể, khi xảy ra cú sốc về TDR thì TTCK
giảm 0,030%, có ý nghĩa thống kê tại mức 5% và tắt dần sau 2 quý kể từ khi xảy ra
cú sốc do TDR. Kết quả này trái ngược so với Lý thuyết tín hiệu, tuy nhiên xét trong
bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi thì khá phù hợp. Bởi lẽ, như đã phân tích trên, trong
thời kỳ này, kinh tế thế giới phục hồi nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro cao. Theo Lý thuyết
Minsky và Lý thuyết bầy đàn, trong thời kỳ nền kinh tế bất ổn, doanh nghiệp phát
hành nợ sẽ làm tăng chi phí tài chính và nguy cơ phá sản cao. Vì vậy, trong thời kỳ
này, các nhà đầu tư khá thận trọng trong các quyết định đầu tư, điều này hàm ý việc
lựa chọn CTV tác động nghịch chiều đến TTCK.
114
Hình 4.14. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1b)
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Ngoài ra, để đo lường đóng góp của các biến kinh tế vĩ mô trong việc lựa chọn
CTV của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ phục hồi, luận án tiến hành phân
rã phương sai của TDR và kết quả như sau (Bảng 4.4):
Bảng 4.4. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1b)
TDR LNVNI BOND RATE GDP
Kỳ 1 2 4 6 8 10 0 0,0076 0,0152 0,0175 0,0174 0,0173 0 0,0003 0,0015 0,0027 0,0036 0,0040 1 0,9853 0,9707 0,9634 0,9607 0,9599 0 0,0027 0,0038 0,0038 0,0038 0,0039
0 0,0040 0,0089 0,0126 0,0145 0,0149 Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
115
Kết quả phân tích phân rã phương sai của TDR trong thời kỳ phục hồi được trình
bày trong Bảng 4.4 cho thấy, các biến kinh tế vĩ mô giải thích 4% sự thay đổi của
TDR, trong đó TTCK giải thích khoảng 1,8%, tăng trưởng kinh tế - 1,4%, TTTP -
0,4%, và lãi suất cho vay - 0,4%. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ phục hồi, việc lựa
chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam ít chịu sự tác động bởi các biến kinh tế vĩ
mô hơn so với trong thời kỳ suy thoái. Còn 96% là do sự tác động của các yếu tố nội
tại của doanh nghiệp. Trong đó, biến TDR kỳ trước có tác động thuận chiều, còn các
biến như khả năng sinh lời, cơ cấu tài sản tác động nghịch chiều đến TDR. Chiều
hướng tác động này được duy trì trong cả thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi.
CTV (TDR) kỳ trước có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của kỳ
sau. Điều này hàm ý rằng việc tăng sử dụng nợ kỳ trước làm tăng sử dụng nợ 0,722%
ở kỳ sau, phù hợp với Nor và ctg (2011), Võ Thị Thúy Anh và ctg (2014), Khanna và
ctg (2015). Trong thời kỳ suy thoái, CTV kỳ trước tác động đến việc lựa chọn CTV
kỳ sau là 0,726%. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị doanh
nghiệp Việt Nam có tốc độ điều chỉnh tăng sử dụng nợ nhanh hơn so với trong thời
kỳ phục hồi. Kết quả này phù hợp với nhận định được rút ra từ phân tích thống kê mô
tả ở Mục 4.1.2.1, tốc độ tăng bình quân sử dụng nợ thời kỳ suy thoái là 5,18% cao
hơn so với tốc độ tăng sử dụng nợ 2,79% trong thời kỳ phục hồi. Kết quả này trái
ngược với Lý thuyết Minsky và Lý thuyết Keynes, trong thời kỳ suy thoái, nền kinh
tế khó khăn, bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn dẫn đến chi phí tài chính tăng và áp lực thanh
khoản lớn. Do đó, trong thời kỳ này, doanh nghiệp nên hạn chế đầu tư, mở rộng quy
mô và hạn chế vay nợ. Qua đó có thể thấy tồn tại hai vấn đề: (i) điều này củng cố thêm
cho nhận định việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam còn cảm tính, thiếu
sự gắn kết với điều kiện vĩ mô, chu kỳ kinh tế và năng lực quản trị tài chính của các
doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế; (ii) khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam tương đối yếu - tỷ số nợ chiếm chiếm 51,07% TNV, trong đó chủ yếu NNH chiếm
62,40% nợ phải trả và tiềm ẩn rủi ro cao. Chỉ số thanh toán ngắn hạn giảm với tốc độ
giảm bình quân 5,30% và có khoảng 23,17% số doanh nghiệp nghiên cứu rơi vào tình
trạng mất cân đối tài chính kéo dài. Trong khi đó, các chỉ số về khả năng hoạt động
116
giảm mạnh, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân giảm 1,88%, ROE có tốc độ giảm
bình quân là 0,87%. Do đó, trong thời kỳ suy thoái, mặc dù áp lực thanh khoản lớn, chi
phí sử dụng vốn lại cao nhưng để đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt tạm thời, duy trì khả
năng thanh toán, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải bổ sung bằng cách tăng cường
vay nợ. Qua đó, có thể thấy, các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn vốn
bên ngoài.
Về khả năng sinh lời (ROE) có tác động nghịch chiều với việc lựa chọn CTV
và có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Kết quả này phù hợp với kết quả khi tác giả
nghiên cứu trong thời kỳ suy thoái.
Về cơ cấu tài sản (TANG) có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV,
phù hợp với các nghiên cứu gắn với thời kỳ phục hồi của Deesomsak (2004),
Masoud (2014), Antoniou và ctg (2008), Nor và ctg (2011), Tongkong và ctg
(2013). Kết quả này có thể được giải thích bằng các Lý thuyết POT, TOT và lý
thuyết chu kỳ kinh tế. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ phục hồi, các doanh nghiệp
Việt Nam có chiến lược quản trị tương đối tốt, phù hợp với điều kiện trong và
ngoài nước.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV
của doanh nghiệp và có ý nghĩa thống kê tại mức 10%, phù hợp với Lý thuyết TOT,
Lý thuyết chi phí đại diện và Lý thuyết Keynes. Hàm ý rằng, trong thời kỳ phục hồi,
tổng cầu tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp được cải thiện. Vì vậy, các doanh nghiệp
mở rộng quy mô hoạt động nhằm chuẩn bị cho chu kỳ kinh doanh mới, nhu cầu vốn
cao. Khi nhu cầu vốn vượt quá khả năng của mình, doanh nghiệp sẽ phát hành nợ
hoặc vay nợ từ các TCTD, việc này thường dễ dàng đối với doanh nghiệp có quy mô
lớn. Bởi lẽ, các doanh nghiệp này có thời gian hoạt động lâu, lợi nhuận cao, rủi ro
phá sản thấp và thông tin về công ty được công bố một cách minh bạch, đầy đủ. Quan
điểm này phù hợp với Booth và ctg (2001), Vătavu (2012), Tran Dinh Khoi Nguyen
và Ramachandran (2006), Trần Hùng Sơn (2013). Tuy nhiên, kết quả này trái ngược
với kết quả nghiên cứu trong thời kỳ suy thoái, khi chi phí tài chính và rủi ro tài chính
117
cao nên các doanh nghiệp có quy mô lớn thường sử dụng lợi nhuận giữ lại và vốn cổ
phần nhiều hơn.
Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp (GRO) có tác động thuận chiều đến việc
lựa chọn CTV. Điều này phù hợp với Lý thuyết POT, Lý thuyết tín hiệu và Lý thuyết
Keynes, nhưng trái ngược với kết quả nghiên cứu trong thời kỳ suy thoái. Theo các
lý thuyết này, trong thời kỳ phục hồi, tổng cầu tăng, doanh nghiệp có cơ hội tăng
trưởng cao, lợi nhuận trong tương lai tăng. Do đó, các nhà quản lý nên tăng sử dụng
nợ nhằm phát ra tín hiệu tốt về triển vọng của doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mua vào
cổ phiếu và đẩy giá tăng lên. Kết quả này được giải thích bởi Booth (2001), Ozkan
(2001), Nor và ctg (2011), Nurlaily và ctg (2013).
Khả năng thanh toán (LIQ) có tác động thuận chiều với việc lựa chọn CTV của
các doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp với Lý thuyết TOT. Theo lý thuyết này doanh
nghiệp có tính thanh khoản cao, chi phí kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản thấp
thường duy trì một tỷ số nợ cao hơn. Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của Andani
và Al-hassan (2012), Handoo và ctg (2014). Tuy nhiên, kết quả này trái ngược với
kết quả nghiên cứu trong thời kỳ suy thoái. Bởi lẽ, trong thời kỳ suy thoái, theo Lý
thuyết Minsky và Lý thuyết Keynes, tình hình môi trường tài chính bất ổn, chi phí
kiệt quệ tài chính và rủi ro phá sản cao, các TCTD hạn chế cấp tín dụng và gia tăng
điều kiện cho vay. Vì vậy, trong thời kỳ này, khả năng thanh khoản tác động nghịch
chiều với việc lựa chọn CTV.
Ngoài ra, trong thời kỳ này, thuế suất thuế TNDN bình quân (MTR) tác động
nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Hàm ý rằng, trong thời kỳ
phục hồi, việc giảm nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp tác động tích cực đến việc lựa
chọn CTV, giúp doanh nghiệp giảm áp lực thanh toán và gia tăng sử dụng nợ đáp ứng
nhu cầu nguồn vốn nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Quan điểm này
phù hợp với Jong và ctg (2007), Gharaibeh và Najjar (2007), Gungoraydinoglu và
Oztekin (2011), Gygax và ctg (2011), Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến
(2014). Những năm gần đây, để hỗ trợ quá trình phục hồi sau thời kỳ suy thoái, Việt
Nam đã liên tục điều chỉnh CSTK theo hướng tăng cường tiềm lực tài chính cho
118
doanh nghiệp thông qua việc giảm bớt nghĩa vụ thuế, tạo thêm nguồn lực cho doanh
nghiệp để tái đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh. Cụ thể, Quyết định số
12/2010/QĐ-TTg về việc gia hạn nộp thuế TNDN và Quyết định số 21/2011/QĐ-
TTg về việc giãn thời hạn nộp thuế TNDN một năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghị định số
218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ về thuế TNDN đã giảm mức thuế
suất phổ thông từ mức 25% xuống 22% từ ngày 01/01/2014 và theo mức 20% từ ngày
01/01/2016, áp dụng mức thuế suất 20% từ ngày 01/7/2013 đối với doanh nghiệp có
quy mô vừa và nhỏ.
Tóm lại, trong thời kỳ phục hồi, các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam không
còn nhạy cảm với các cú sốc kinh tế vĩ mô như trong thời kỳ suy thoái, các biến kinh
tế vĩ mô tác động yếu đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong
đó, TTTP và TTCK có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV, nhưng tăng
trưởng kinh tế và TTTD có tác động thuận chiều. Ngược lại, việc lựa chọn CTV của
các doanh nghiệp Việt Nam cũng có tác động yếu đến các biến kinh tế vĩ mô Việt
Nam. Cụ thể, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ có tác động thuận
chiều đến TTTD và tăng trưởng kinh tế, nhưng tác động nghịch chiều đến TTTP và
TTCK. Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy, các biến kinh tế vĩ mô góp phần giải thích
được 4% vào sự thay đổi CTV của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó, TTCK -
1,8%, tăng trưởng kinh tế - 1,4%, TTTP - 0,4% và TTTD - 0,4%. Bên cạnh đó, CTV
của các doanh nghiệp Việt Nam còn được giải thích bởi các biến như độ trễ CTV kỳ
trước, cơ cấu tài sản, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh toán
có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV và khả năng sinh lời, biến thuế suất
thuế TNDN bình quân có tác động nghịch chiều. Còn biến rủi ro kinh doanh không
tác động đến việc lựa chọn CTV.
4.2.3.3. Mô hình 1c
Kết quả nghiên cứu chứng minh tồn tại sự khác biệt về việc lựa chọn CTV của
các nhà quản trị doanh nghiệp giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Chênh lệch
CTV bình quân trong thời kỳ suy thoái so với thời kỳ phục hồi là – 0,0142%. Hàm ý
119
rằng trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam ít sử dụng nợ hơn so với thời
kỳ phục hồi, tương ứng với lượng giảm là 0,0142% và tăng sử dụng lợi nhuận giữ lại
với vốn cổ phần. Thật vậy, kết quả này khẳng định thêm lần nữa những nhận định
được rút ra từ phân tích thống kê mô tả, nợ phải trả bình quân thời kỳ suy thoái chiếm
48,39% nguồn vốn và tỷ lệ này tăng đáng kể khi nền kinh tế phục hồi đạt 53,02%
nguồn vốn. Kết quả này phù hợp với Lý thuyết Keynes và Lý thuyết TOT, Lý thuyết
chi phí đại diện và nghiên cứu của Pattani và Vera (2011), Voutsinas và Werner
(2011), Zarebski và Dimovski (2012), Akbar (2013), Rehman và Rehman (2014).
Tương tự, Mô hình 1a và Mô hình 1b, tác giả tiến hành phân tích hàm phản ứng
đẩy nhằm phân tích cơ chế tác động của các cú sốc kinh tế vĩ mô đến việc lựa chọn
CTV và dự báo chiều hướng tác động của việc lựa chọn CTV khi xảy ra các cú sốc
này trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), được thể hiện qua Hình 4.15.
Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành phân rã phương sai của TDR trong thời kỳ này (Bảng
4.5.) để phân tích mức độ đóng góp của các biến vĩ mô tác động đến việc lựa chọn
CTV của các doanh nghiệp Việt Nam.
Bảng 4.5. Phân rã phương sai của TDR (Mô hình 1c)
Kỳ TDR LNVNI BOND RATE GDP
1 1 0 0 0 0
2 0,9789 0,0004 0,0201 0,0002 0,0004
4 0,8959 0,0014 0,0940 0,0008 0,0079
6 0,8058 0,0084 0,1467 0,0009 0,0383
8 0,7579 0,0137 0,1522 0,0008 0,0754
10 0,7513 0,0137 0,1415 0,0019 0,0916
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Nhìn chung, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp và sự biến động của môi
trường vĩ mô có mối quan hệ nhất định. Tuy nhiên, mối quan hệ này khá yếu và chưa
rõ ràng. Cụ thể, biến vĩ mô TTTP có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của
doanh nghiệp, còn lại các biến tăng trưởng kinh tế, TTCK, TTTD tác động nghịch
chiều. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy, các biến vĩ mô góp phần giải thích được 16,4%
120
sự thay đổi việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Trong đó, TTTP giải thích khoảng
11,5%, tăng trưởng kinh tế - 4,2%, TTCK - 0,8% và TTTD - 0,1%. Còn 83,6% là do
sự tác động của các yếu tố nội tại bên trong của doanh nghiệp Việt Nam như biến độ
trễ CTV kỳ trước, cơ cấu tài sản, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp có tác động
thuận chiều đến việc lựa chọn CTV và các biến khả năng sinh lời, rủi ro kinh doanh,
khả năng thanh toán có tác động nghịch chiều, còn lại các biến thuế TNDN bình quân,
quy mô doanh nghiệp không tác động đến việc lựa chọn CTV.
Hình 4.15. Phân tích hàm phản ứng xung (Mô hình 1c)
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trên cho thấy, có sự khác biệt trong việc lựa chọn
CTV của doanh nghiệp giữa hai thời kỳ. Vì vậy, nội dung tiếp theo luận án tập trung
tìm kiếm ngưỡng CTV mục tiêu cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy
121
thoái và thời kỳ phục hồi. Từ đó gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam đạt
được CTV mục tiêu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh
nghiệp.
4.3. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI
4.3.1. Mô hình 2a
Bằng phương pháp bootstrap thực hiện vòng lập 300 lần, kết quả cho thấy
thống kê F1 thu được 53,22 >F1% =17,77 và giá trị thống kê p-value là 0,000 nhỏ hơn
mức ý nghĩa 1% nên bác bỏ giả thiết H0 (H0 không tồn tại giá trị ngưỡng). Từ đó, kết
luận tồn tại hiệu ứng đơn ngưỡng. Tương tự, luận án tiến hành kiểm định sự tồn tại
của ngưỡng đôi, kết quả thu được F2 là 18,00 >F1% =17,44 và giá tị thống kê p-value
là 0,010 bằng mức ý nghĩa 1% nên kết luận tồn tại hiệu ứng ngưỡng đôi.
Bảng 4.6 cho thấy, với độ tin cậy là 95% thì giá trị ngưỡng ước tính của CTV
mục tiêu là 32,78% và 54,39%. Đồng thời, qua Bảng 4.6 cho ta thấy, khi tỷ số nợ
(TDR) nhỏ hơn 32,78%, hệ số ước lượng 𝛽^0 là 0,2286 và có ý nghĩa thống kê ở mức
1%. Điều này hàm ý rằng, khi tỷ số nợ nhỏ hơn 32,78% thì việc tăng tỷ số nợ thêm
1% làm cho khả năng sinh lời của doanh nghiệp tăng 22,86%. Khi tỷ số nợ nằm trong
khoảng 32,78% < TDR ≤ 54,39%, hệ số ước lượng 𝛽^1 là 0,1147 và có ý nghĩa thống
kê ở mức 1%, chứng tỏ khi tỷ số nợ tăng lên 1% thì hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp tăng 11,47%. Tuy nhiên, khi tỷ số nợ tiếp tục tăng lên và vượt qua ngưỡng
54,39%, việc tăng sử dụng nợ không còn góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động, chiều
hướng tác động này không rõ ràng thậm chí có thể tác động nghịch chiều đến hiệu
quả hoạt động. Như vậy, CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời
kỳ suy thoái nên duy trì ở mức không lớn hơn 54,39% nhưng tốt nhất là mức dưới
32,78% sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao.
122
Bảng 4.6. Kết quả ước lượng Mô hình 2a
Biến ngưỡng Giá trị ngưỡng/ Hệ số hồi quy P-value
1. Kiểm định tác động ngưỡng
1.1. Kiểm định tác động đơn ngưỡng
54,39 0,0000 TDR
1.2. Kiểm định tác động ngưỡng đôi
32,78 - 54,39 0,0100 TDR
2. Kết quả kiểm định hệ số hồi quy mô hình hồi quy ngưỡng
0,2286 0,0000
0,1147 0,0000
0,0099 0, 6700 𝛽^0 𝛽^1 𝛽^2
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn.
Mô hình hồi quy ngưỡng đôi (2a) được viết lại như sau:
ROEit = -0,224 + 0,2286TDRit (TDRit ≤ 32,78%) + 0,1147TDRit (32,78% 54,39%) + 0,0099TDRit (TDRit>54,39%) Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên mô hình hồi quy ngưỡng vẫn tồn tại một số vấn đề như chưa khắc phục được hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan, nội sinh nên kết quả ước lượng có thể bị chệch. Do đó, để kết quả nghiên cứu đủ bằng chứng thực nghiệm và đáng tin cậy, tác giả tiến hành kiểm định lại kết quả trên bằng cách sử dụng biến giả TARGET_RECESSION = 0 đối với các doanh nghiệp có CTV không lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu 54,39% và TARGET_RECESSION = 1 đối với các doanh nghiệp có CTV lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu 54,39% (Chi tiết phụ lục 6). Ban đầu, luận án sử dụng kỹ thuật xử lý hồi quy dữ liệu bảng với cả 3 mô hình Pooled OLS, FEM và REM. Sau khi hồi quy bằng mô hình Pooled OLS, FEM và REM, tác giả tiến hành thực hiện 3 kiểm định để tìm ra mô hình phù hợp. Kiểm định Chow với thống kê F để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và FEM. Kết quả cho thấy giá trị p-value nhỏ hơn mức ý nghĩa 1% nên kết luận chọn mô hình FEM. Kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình FEM và REM. Kết quả giá trị p-value 123 nhỏ hơn mức ý nghĩa 1% nên kết luận chọn mô hình FEM. Kiểm định Breush – Pagan để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và REM. Kết quả giá trị p-value nhỏ hơn 1% nên lựa chọn mô hình REM. Kết quả kiểm định 3 mô hình trên mâu thuẫn nhau, thêm vào đó việc phần dư của mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan nên luận án ưu tiên sử dụng mô hình FEM và phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục hiện tượng này (Damodar và Dawn, 2009). Kết quả ước lượng để nghiên cứu sự khác nhau về khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động giữa doanh nghiệp có TDR ≤ 54,39% (TARGET_RECESSION = 0) với các doanh nghiệp có TDR > 54,39% (TARGET_RECESSION = 1), chênh lệch khả năng sinh lời bình quân của doanh nghiệp có TDR > 54,39% so với doanh nghiệp có TDR ≤ 54,39% là -0,0358. Điều này hàm ý rằng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có CTV từ dưới ngưỡng CTV mục tiêu cao hơn so với các doanh nghiệp có CTV lớn hơn CTV mục tiêu - đối với các doanh nghiệp có CTV vượt qua ngưỡng 54,39%, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ thêm 1% sẽ tác động làm cho khả năng sinh lời giảm 3,58% so với các doanh nghiệp có CTV từ CTV mục tiêu trở xuống. Qua đó càng củng cố thêm kết luận tồn tại CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái và CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ này nên xây dựng không lớn hơn 54,39%. 4.3.2. Mô hình 2b Bằng kỹ thuật xử lý tương tự như trên, kết quả Bảng 4.7 cho thấy, với độ tin cậy là 95% thì giá trị ngưỡng CTV mục tiêu là 48,96% và 59,66% . Đồng thời, qua Bảng 4.7 cho ta thấy, khi tỷ số nợ nhỏ hơn 48,96%, hệ số ước lượng 𝛽^0 là 0,1022 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Điều này hàm ý rằng, khi tỷ số nợ nhỏ hơn 48,96% thì việc tăng sử dụng nợ thêm 1% làm cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng 10,22%. Khi tỷ số nợ nằm trong khoảng 48,96% < TDR ≤ 59,66%, hệ số ước lượng 𝛽^1 là 0,0421 và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, chứng tỏ khi tỷ số nợ tăng lên 1% thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng 4,21%. Tuy nhiên, khi tỷ số nợ tiếp tục tăng lên và vượt qua ngưỡng 59,66% thì việc tăng sử dụng nợ không còn góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động mà tác động nghịch chiều đến hiệu quả hoạt động 124 với hệ số ước lượng 𝛽^2 là – 0,0801. Hàm ý rằng, khi tỷ số nợ lớn hơn 59,66% nếu doanh nghiệp tiếp tục tăng sử dụng nợ thêm 1% làm giảm 8,01% hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ phục hồi nên duy trì ở mức không lớn hơn 59,66% nhưng tốt nhất là mức dưới 48,96% sẽ mang lại hiệu quả hoạt động cao. Bảng 4.7. Kết quả ước lượng Mô hình 2b Biến ngưỡng Giá trị ngưỡng/ Hệ số hồi quy P-value 1. Kiểm định tác động ngưỡng
1.1. Kiểm định tác động đơn ngưỡng TDR 59,66 0,000 1.2. Kiểm định tác động ngưỡng đôi TDR 48,96 – 59,66 0,020 2. Kết quả kiểm định hệ số hồi quy mô hình hồi quy ngưỡng 0,1022
0,0421
-0,0801 𝛽^0
^1
𝛽^2 0,000
0,089
0,001
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. Mô hình hồi quy ngưỡng đôi (2b) được viết lại như sau: ROEit = 0,033+ 0,1022TDRit (TDRit ≤ 48,96%) + 0,0421TDRit (48,96% 59,66%) - 0,0801TDRit (TDRit>59,66%) Tương tự, để kiểm định lại kết quả trên, luận án sử dụng biến giả TARGET_RECOVERY = 0 đối với các doanh nghiệp có CTV không lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu 59,66% và TARGET_RECOVERY = 1 đối với các doanh nghiệp có CTV lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu. Luận án cũng sử dụng các kỹ thuật xử lý dữ liệu bảng và lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp. Kết quả kiểm định mô hình FEM được lựa chọn, và phát hiện phần dư của mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan nên luận án ưu tiên sử dụng phương pháp ước lượng FGLS để khắc phục hiện tượng này. 125 Kết quả ước lượng để nghiên cứu sự khác nhau về khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động giữa doanh nghiệp có TDR ≤ 59,66% (TARGET_RECOVERY = 0) và các doanh nghiệp có TDR > 59,66% (TARGET_RECOVERY = 1), chênh lệch về khả năng sinh lời bình quân giữa doanh nghiệp có TDR > 59,66% và doanh nghiệp có TDR ≤ 59,66% là -0,0426. Điều này hàm ý rằng, đối với các doanh nghiệp có CTV vượt qua ngưỡng 59,66% thì khi chúng gia tăng sử dụng nợ thêm 1% tác động làm cho khả năng sinh lời giảm 4,26% so với các doanh nghiệp có CTV từ mức mục tiêu trở xuống. Khám phá củng cố thêm kết luận tồn tại CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ phục hồi và trong thời kỳ này từ 59,66% trở xuống (Chi tiết Phụ lục 6). 4.3.3. Mô hình 2c Tương tự, bằng kỹ thuật xử lý tương tự như trên, kết quả cho thấy, CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) nên được duy trì ở mức không lớn hơn 59,81% nhưng tốt nhất là mức dưới 40,98% vì mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất (Chi tiết Phụ lục 6). Bảng 4.8. Kết quả ước lượng Mô hình 2c Giá trị ngưỡng/ Hệ số hồi quy P-value Biến ngưỡng 1. Kiểm định tác động ngưỡng 1.1. Kiểm định tác động đơn ngưỡng 59,81 0,0000 TDR 1.2. Kiểm định tác động ngưỡng đôi 40,98 – 59,81 0,0067 TDR 2. Kết quả kiểm định hệ số hồi quy mô hình hồi quy ngưỡng 0,1113 0,000 0,0604 0,000 -0,0174 0,169 𝛽^0
𝛽^1
𝛽^2 Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. 126 Mô hình hồi quy ngưỡng đôi (2c) được viết lại như sau: ROEit = 0,0496+ 0,1113TDRit (TDRit ≤ 40,98%) + 0,0604TDRit (40,98% 59,81%) - 0,0174TDRit (TDRit>59,81%) Trên cơ sở kết quả xác định ngưỡng CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, thông qua bộ lọc dữ liệu luận án đã phát hiện: (i) trong thời kỳ suy thoái, khoảng 51,22% số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có CTV mục tiêu lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu; (ii) trong thời kỳ phục hồi, khoảng 39,02% sử dụng nợ trên ngưỡng CTV mục tiêu. Danh sách các doanh nghiệp có CTV trên ngưỡng CTV mục tiêu trong hai thời kỳ được trình bày tại Bảng 4.9. Bảng 4.9. Danh sách các doanh nghiệp có CTV trên ngưỡng CTV mục tiêu THỜI KỲ SUY THOÁI THỜI KỲ PHỤC HỒI STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21 MCK
AGF
ALT
BBS
BCC
BHS
CII
CLC
CYC
DIC
DRC
GMC
HAP
HAX
HBC
HJS
HMC
KHP
L10
LAF
LBM
MEC STT
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42 MCK
MHC
PET
PJT
PNC
PPC
PTS
RAL
S99
SD9
SFI
SGD
SJD
SJE
SMC
TAC
TMC
TNA
TS4
TTC
TYA
UNI STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21 MCK
AGF
BBS
BCC
BHS
CII
CLC
CYC
DIC
GIL
GMC
HAX
HBC
HJS
HMC
L10
LAF
MEC
PAC
PET
PNC
PPC STT
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32 MCK
RAL
SD9
SJ1
SJE
SJS
SMC
TAC
TCR
TNA
TS4
TTC Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. 127 4.4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 4.10 dưới đây trình bày tổng hợp, so sánh kết quả xác định CTV mục tiêu của luận án với các công trình đã được công bố ở những quốc gia khác nhau. Bảng 4.10. So sánh CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam với các công trình trước Công trình Mô hình 2a Mô hình 2b Mô hình 2c CTV ≤ 54,39% CTV ≤ 59,66% CTV ≤ 59,81% Luận án - CTV ≤ 56,67% (Võ Hồng Đức và Võ Việt Nam Tường Luân, 2014); - CTV ≤ 57,39% (Nguyễn Thành Chưa tìm thấy Chưa tìm thấy Cường, 2015); - CTV ≤ 70,3% (Quang và Xin, 2015). Nước ngoài Doanh nghiệp vừa và nhỏ CTV ≤ 62,29%; doanh nghiệp Chưa tìm thấy lớn CTV ≤ 61.19% (Berzkalne, 2015) - CTV ≤ 64,33% (Ahmad và Abdullah, 2012); Chưa tìm thấy - CTV ≤ 47,64% (Wang và Zhu, 2014). Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. Bảng 4.10 cho thấy, CTV mục tiêu đối với thời kỳ suy thoái là 54,39% khá tương đồng với các công trình tại Việt Nam nhưng có sự chênh lệch so với các công trình ở nước ngoài có cùng thời gian nghiên cứu. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch không lớn, nguyên nhân có sự khác nhau về kết quả nghiên cứu do thời gian thực hiện không trùng khớp, quy mô, số lượng mẫu cũng như các yếu tố đặc thù của doanh nghiệp và thể chế quốc gia có sự khác biệt. Tương tự, khi xác định CTV mục tiêu trong thời kỳ phục hồi và toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) thì CTV mục tiêu lần lượt là 59,66% và 59,81%. Theo lược khảo của tác giả, hiện tại trong nước và nước ngoài vẫn chưa có công trình nghiên cứu CTV mục tiêu trong hai thời kỳ này, chỉ có Berzkalne (2015) xác định 128 CTV mục tiêu của 58 CTCP niêm yết tại Baltic, giai đoạn 2005-2013 (bao gồm cả thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi). Kết quả nghiên cứu này cho thấy, CTV mục tiêu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ là không lớn hơn 62,97% và đối với các doanh nghiệp lớn là không lớn hơn 61,19%, có sự chênh lệch so với kết quả nghiên cứu của luận án do những điều kiện khách quan như phân tích trên chi phối. Kết quả hồi quy PVAR cho thấy, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như TTTP, tăng trưởng kinh tế, TTTD và của TTCK. Cụ thể, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) các biến kinh tế vĩ mô giải thích được 16,4% CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời kỳ suy thoái, vai trò này càng thể hiện mạnh mẽ hơn, đóng góp 35%, tuy nhiên mức đóng góp này sụt giảm còn 4% trong thời kỳ phục hồi. Qua đó có thể thấy, trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam khá thận trọng đối với các biến động môi trường kinh tế vĩ mô trong việc lựa chọn CTV. Tuy nhiên, khi suy thoái kinh tế thế giới qua đi hoặc xét trong dài hạn thì các yếu tố kinh tế vĩ mô chưa được các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam quan tâm đúng mức. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khi nền kinh tế thế giới phục hồi nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn trong tình trạng khó khăn về tài chính, khả năng thanh khoản thấp và số lượng doanh nghiệp buộc phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động tăng. Ngược lại, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng tác động nhất định đến các biến kinh tế vĩ mô. Việc lựa chọn CTV có tác động nghịch chiều đến TTTP và TTCK, ngược lại tác động thuận chiều đến TTTD. Chiều hướng tác động này duy trì trong cả thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Riêng biến tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ suy thoái việc lựa chọn CTV tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, ngược lại trong thời kỳ phục hồi thì chiều hướng này là thuận chiều. 129 Bảng 4.11. So sánh kết quả nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam với các công trình trước Việt Nam Kết quả nghiên cứu của tác giả
Mô hình 1a Mô hình 1b Mô hình 1c
+ + + Nước
ngoài
+ + Biến độc
lập
L.TDR +
-
- -
+
- -
-
- +/-
+/-
+/- +
+
- L.GDP
L.RATE
L.LNVNI -
+ +
+ -
+/- +
+/- +
+ L.BOND
TANG + - - +/- - LIQ + N/A + +/- - SIZE +
- +
N/A +/-
+/- +/-
+/- -
N/A GRO
MTR N/A
- +/-
- +/-
+/- N/A
- VOL
ROE -
-
- + +/- Suy thoái
kinh tế Ghi chú: (+) là tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều, (N/A) không có ý nghĩa. Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. Bảng 4.12. Kết quả nghiên cứu tác động của việc lựa chọn CTV đến các biến kinh tế vĩ mô tại Việt Nam với các công trình trước Việt Nam Nước ngoài Biến phụ
thuộc Kết quả nghiên cứu của tác giả
Mô hình 1a Mô hình 1b Mô hình 1c L.GDP - + Chưa nghiên cứu - - L.RATE - - Chưa nghiên cứu + + L.LNVNI - - Chưa nghiên cứu + + L.BOND - - Chưa nghiên cứu - - Ghi chú: (+) là tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều. Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn 130 Kết quả phân tích IRF cho thấy, khi xảy ra cú sốc về vĩ mô, đều có thể dự báo chiều hướng tác động và mức tác động của chúng đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Đối với TTTP, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) và ngay cả trong thời kỳ suy thoái, TTTP có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời kỳ suy thoái, nếu TTTP Việt Nam phát triển, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ thêm 0,3597% và kéo dài 4 quý kể từ khi xảy ra cú sốc. Trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), TTTP tăng thêm 1% thì các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ thêm 0,181% và kéo dài 3 quý kể từ khi xảy ra cú sốc. Điều đó cho thấy, trong thời kỳ suy thoái, TTTP đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các doanh nghiệp Việt Nam cải thiện nguồn vốn kinh doanh khi các nguồn vốn khác khó tiếp cận. Ngoài ra, khi xét mối quan hệ này trong thời kỳ phục hồi, TTTP có tác động nghịch chiều đến việc sử dụng nợ, CTV giảm 0,495%, phản ứng này kéo dài đến 10 quý. Điều này chứng tỏ, khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp Việt Nam ít quan tâm đến việc huy động vốn từ thị trường này. Ngược lại, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam cũng tác động nghịch chiều đến TTTP Việt Nam, tuy nhiên mức độ tác động yếu và duy trì trong thời gian ngắn hơn so với tác động của thị trường này đến việc lựa chọn CTV. Trong thời kỳ phục hồi, mức độ tác động này mạnh và kéo dài, khi xảy ra một cú sốc tăng sử dụng nợ làm cho TTTP giảm 0,103% và việc tăng này kéo dài trong 6 quý. Điều này chứng tỏ, khi nền kinh tế phục hồi, CSTT bắt đầu nới lỏng thì có sự dịch chuyển nợ từ TTTP sang kênh tín dụng khá lớn, phù hợp với thực trạng tại Việt Nam - kênh tín dụng là kênh huy động vốn truyền thống. Đối với tăng trưởng kinh tế, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) tăng trưởng kinh tế Việt Nam có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, khi xét riêng từng thời kỳ cụ thể như trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi thì mối quan hệ này là thuận chiều. Nhất là trong thời kỳ suy thoái, mặc dù nền kinh tế khó khăn nhưng việc tăng trưởng GDP làm tăng 131 2,669% vay nợ và duy trì trong thời gian ngắn 3 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng sử dụng nợ. Trong khi đó, trong thời kỳ phục hồi, một cú sốc tăng trưởng kinh tế làm cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng nợ thêm 0,105% và việc tăng này kéo dài 6 quý, lâu hơn so với trong thời kỳ suy thoái. Điều này phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Do nền kinh tế Việt Nam ít phụ thuộc trực tiếp vào nền kinh tế của các nước phát triển, phản ứng của thị trường Việt Nam khá chậm so với diễn biến của tình hình kinh tế thế giới, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái cũng là thời điểm Việt Nam vừa gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu tăng khá mạnh, tăng trưởng kinh tế được cải thiện, tuy nhiên tình trạng này chỉ duy trì trong thời gian ngắn. Ngược lại, nhìn chung việc các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ sẽ góp phần tăng tín dụng trong khu vực tư nhân và trong dài hạn, đây là gánh nặng của nền kinh tế. Do đó, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) và nhất là thời kỳ suy thoái thì việc tăng sử dụng nợ có tác động nghịch chiều đến nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế giảm 0,009% nhưng hiện tượng này chỉ xảy ra trong thời gian ngắn 3 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng nợ. Tuy nhiên, trong thời kỳ phục hồi, chu kỳ kinh tế mới được bắt đầu thì việc tăng nợ làm lưu thông nguồn vốn, góp phần đẩy mạnh đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của xã hội được cải thiện. Đây là động lực làm cho nền kinh tế tiếp tục phát triển, khi xảy ra cú sốc tăng nợ làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 0,105% và việc này kéo dài trong 6 quý kế từ khi xảy ra cú sốc. Đối với TTTD, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) và thời kỳ suy thoái, lãi suất cho vay biến động cùng chiều với việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Điều này hàm ý, khi TTTD bị thu hẹp, dư nợ tín dụng giảm, lãi suất cho vay tăng tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối quan hệ nghịch chiều giữa TTTD với việc lựa chọn CTV. Đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái, khi lãi suất cho vay tăng thêm một độ lệch chuẩn sẽ làm cho các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ thêm 1,231% và việc tăng sử dụng nợ này bắt đầu giảm dần vào quý 6. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, khi xảy ra cú sốc tăng lãi suất, TTTD thu hẹp thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng giảm sử dụng nợ tương ứng 0,314% và việc 132 giảm này cũng kéo dài trong 6 quý kể từ khi xảy ra cú sốc đo tăng lãi suất. Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) và thời kỳ suy thoái, TTTD tác động nghịch chiều đến việc sử dụng nợ của doanh nghiệp, tuy nhiên mối quan hệ này thuận chiều trong thời kỳ phục hồi. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, việc tăng sử dụng nợ góp phần làm giảm lãi suất cho vay, mở rộng dư nợ tín dụng tạo điều kiện cho TTTD phát triển. Điều này hàm ý, việc lựa chọn CTV có tác động thuận chiều đến TTTD. Trong đó, tác động mạnh nhất là trong thời kỳ phục hồi, khi xảy ra cú sốc tăng sử dụng nợ làm cho lãi suất giảm, TTTD được phát triển thêm 0,014%, tuy nhiên phản ứng này khá chậm, kéo dài trong 8 quý. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ làm lãi suất giảm, tạo điều kiện cho TTTD phát triển thêm 0,005%, tuy nhiên đây là phản ứng tức thời và tắt trong thời gian ngắn 1 quý. Điều này phù hợp với bối cảnh kinh tế Việt Nam là trong thời kỳ suy thoái Chính phủ, NHNN kiểm soát chặt chẽ các yếu tố kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lãi suất và tăng trưởng tín dụng. Nhưng xét trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), khi các doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ, làm cho dư nợ tín dụng của nền kinh tế tăng, TTTD phát triển và tuân thủ theo sự điều tiết quan hệ cung - cầu của thị trường là chính. Do đó, mặt bằng lãi suất cho vay giảm xuống 0,030%, tuy nhiên việc này cũng chỉ xảy ra trong thời gian ngắn 2 quý từ khi xảy ra cú sốc tăng sử dụng nợ. Kết quả này phù hợp với đặc điểm nền kinh tế Việt Nam, phát triển theo cơ chế thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước. Đối với TTCK, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, khi TTCK phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam tăng huy động nguồn vốn cổ phẩn và giảm sử dụng nợ. Biện pháp này được các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng khá phổ biến trong thời kỳ suy thoái. Khi TTCK tăng thêm một độ lệch chuẩn thì sẽ làm các doanh nghiệp Việt Nam giảm sử dụng nợ 0,178%. Kết quả này trái ngược so với các lý thuyết chu kỳ kinh tế, khi suy thoái kinh tế xảy ra, giá trị của tài sản tài chính giảm, TTTC suy thoái doanh nghiệp khó khăn trong vấn đề phát hành cổ phần mới nhưng phù hợp với điều kiện tại Việt Nam. Trong thời kỳ này, nền 133 kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng có độ trễ bởi suy thoái kinh tế thế giới và TTCK trong giai đoạn 2007-2008 tăng trưởng nóng, chỉ số VNINDEX đạt mức đỉnh là 1158,9 điểm vào ngày 05/3/2007. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, việc tăng sử dụng nợ có tác động nghịch chiều đến TTCK. Nhất là trong thời kỳ suy thoái, khi xảy ra cú sốc về TDR thì ngay lập tức làm cho TTCK giảm 0,126% và việc giảm này chỉ kéo dài trong thời gian ngắn (1 quý kể từ khi xảy ra cú sốc do TDR). Tình hình này đã được cải thiện khi nền kinh tế thế giới phục hồi phát ra tín hiệu tốt về sự phát triển của thị trường, nên việc tăng sử dụng nợ ít tác động đến TTCK. Cụ thể, khi doanh nghiệp tăng sử dụng nợ thêm một độ lệch chuẩn làm cho TTCK giảm 0,030% và tắt dần sau 5 quý kể từ khi xảy ra cú sốc do TDR. Kết quả này trái ngược so với Lý thuyết tín hiệu, tuy nhiên phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chưa bền vững như hiện nay. Tuy nhiên, khi xét trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), việc tăng sử dụng nợ hoặc phát hành thêm trái phiếu có tác động thuận chiều đến TTCK. Bởi lẽ, đây là tín hiệu tốt về triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp. Khi đó, các nhà đầu tư sẽ đón nhận thông tin phát hành thêm cổ phiếu như là một tín hiệu cổ phiếu đang được định giá cao, sẽ đẩy giá cổ phiếu tăng cao. Do đó, việc tăng sử dụng nợ có tác động thuận chiều đến TTCK. Cụ thể, cú sốc tăng sử dụng nợ góp phần làm tăng trưởng TTCK thêm 0,235% và việc này được kéo dài trong thời gian 5 quý. Ngoài ra, kết quả ước lượng mô hình PVAR cũng cho thấy, tồn tại sự khác nhau trong việc lựa chọn CTV giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, chênh lệch CTV bình quân của thời kỳ suy thoái so với thời kỳ phục hồi là - 0.0142. Hàm ý trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nợ ít hơn 0,0142% so với thời kỳ phục hồi. Bên cạnh đó, nhìn chung trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), CTV kỳ trước tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của kỳ sau. Trong thời kỳ suy thoái, CTV kỳ trước tác động thuận chiều và điều chỉnh 0,726% việc lựa chọn CTV 134 của kỳ sau, còn trong thời kỳ phục hồi, con số này là 0,722%. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị điều chỉnh CTV khá nhanh và nhanh hơn so với thời kỳ phục hồi. Kết quả này đã khẳng định lại kết quả của Lý thuyết TOT, CTV mục tiêu của doanh nghiệp thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên, lý thuyết này chưa chỉ rõ tốc độ điều chỉnh, mức điều chỉnh và chiều hướng điều chỉnh về CTV mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, kết quả nghiên cứu bổ sung nhận định của Lý thuyết TOT như sau: trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị đẩy mạnh tốc độ điều chỉnh CTV với tốc độ 0,726%. Ngoài ra, CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng là không lớn hơn 54,39% và thấp hơn CTV mục tiêu trong thời kỳ phục hồi là 59,81%. Mặt khác, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), độ trễ của CTV kỳ trước, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu tài sản có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Các biến khả năng sinh lời, rủi ro kinh doanh, khả năng thanh toán có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả cho thấy có sự khác biệt về chiều hướng và mức tác động của các biến này giữa thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Trong thời kỳ suy thoái, độ trễ của biến CTV kỳ trước và cơ cấu tài sản có tác động thuận chiều, còn biến khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV. Chiều hướng tác động này tiếp tục được duy trì trong thời kỳ phục hồi. Tuy nhiên, trong thời kỳ phục hồi, do điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi hơn, nên các biến như quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán và tốc độ tăng trưởng chuyển từ tác động nghịch chiều trong thời kỳ suy thoái sang có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trong thời kỳ phục hồi các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tính toán lại các khoản thu nhập chịu thuế cũng như Chính phủ cần xây dựng chính sách thuế hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua thời kỳ khó khăn do suy thoái và đạt được CTV mục tiêu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động. 135 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 Kết quả phân tích thực trạng CTV cho thấy, cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp Việt Nam nghiêng về sử dụng nợ, tỷ số nợ luôn duy trì ở mức 51,07%, tăng qua các năm với tốc độ bình quân trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) là 3,57%, trong đó, chủ yếu do tăng NNH với tốc độ 4,50%. Nếu xét về tốc độ tăng sử dụng nợ, trong thời kỳ suy thoái, con số này đạt 5,26% cao hơn so với thời kỳ phục hồi. Còn nếu xét về tỷ trọng nguồn vốn, trong thời kỳ suy thoái, tỷ số nợ bình quân đạt 48,39% thấp hơn so với mức sử dụng nợ 53,02% nguồn vốn trong thời kỳ phục hồi. Mặt khác, nếu đánh giá về mặt cân đối tài chính thì các doanh nghiệp Việt Nam có vốn lưu động ròng khá lớn. Tuy nhiên, cơ cấu vốn và cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp Việt Nam có những dấu hiệu bất ổn. Điều này được minh chứng, trong thời kỳ suy thoái, số lượng doanh nghiệp bị mất cân đối chiếm đến 24,39% và tình trạng này mặc dù được cải thiện nhưng vẫn ở mức cao chiếm 21,95% số lượng doanh nghiệp nghiên cứu. Kết quả hồi quy PVAR cung cấp bằng chứng cho thấy, tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam và các biến kinh tế vĩ mô. Việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như TTTP, tăng trưởng kinh tế, TTTD và TTCK. Ngược lại, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng tác động đến các biến kinh tế vĩ mô. Trong thời kỳ suy thoái, các biến kinh tế vĩ mô giải thích được 35% việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Còn trong thời kỳ phục hồi, mức đóng góp này là 4%. Bên cạnh đó, kết quả PVAR cũng cho thấy, khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều và cơ cấu tài sản tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV. Riêng trong thời kỳ suy thoái, các biến quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV và biến thuế TNDN không tác động đến CTV. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, các biến quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản lại có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV và biến thuế TNDN tác động nghịch chiều. Mặt khác, khi so sánh sự khác nhau trong việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Nếu xét về hành vi 136 điều chỉnh CTV của các doanh nghiệp Việt Nam, CTV kỳ trước có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của của kỳ sau. Cụ thể, trong thời kỳ suy thoái, CTV kỳ trước tác động làm điều chỉnh tăng 0,726% CTV của kỳ sau, nhưng trong thời kỳ phục hồi thì mức tác động này giảm còn 0,722%. Nếu xét về mức sử dụng nợ bình quân, trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nợ ít hơn 0,0142% so với thời kỳ phục hồi. Kết quả PTR cho thấy, CTV mục tiêu đối với thời kỳ suy thoái là 54,39% và có hơn 51,22% số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu có CTV mục tiêu lớn hơn ngưỡng CTV mục tiêu. CTV mục tiêu trong thời kỳ phục hồi là 59,66% và có khoảng 39,02% sử dụng nợ trên ngưỡng CTV mục tiêu. 137 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 5.1. KẾT LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI 5.1.1. Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh mối quan hệ này với thời kỳ phục hồi Kết quả hồi quy PVAR cho thấy, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô như TTTP, tăng trưởng kinh tế, TTTD và TTCK. Ngược lại, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp cũng tác động đến các biến kinh tế vĩ mô Việt Nam (Bảng 5.1 và Bảng 5.2). Trong thời kỳ suy thoái, các biến kinh tế vĩ mô giải thích được 35% việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam, cao hơn so với trong thời kỳ phục hồi với mức đóng góp là 4%. Khám phá này chỉ ra rằng, trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị của doanh nghiệp Việt Nam khá thận trọng với các yếu tố kinh tế vĩ mô, nhưng khi nền kinh tế thế giới phục hồi chưa bền vững thì các yếu tố này chưa được các nhà quản trị quan tâm đúng mức. Điều này chứng tỏ, CTV của các doanh nghiệp Việt Nam mang tính nhất thời, dựa trên quan điểm chủ quan, kinh nghiệm là chính mà chưa theo sát diễn biến của môi trường vĩ mô trong nước và chu kỳ kinh tế thế giới. Đối với TTTP, trong thời kỳ suy thoái, TTTP có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. TTTP Việt Nam phát triển, doanh nghiệp tăng sử dụng nợ thêm 0,3597% và kéo dài 4 quý kể từ khi xảy ra cú sốc. Ngược lại, khi nền kinh tế thế giới phục hồi, TTTP có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV - CTV giảm 0,495%, phản ứng này kéo dài đến 10 quý. Điều này chứng tỏ, khi 138 nền kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp Việt Nam ít quan tâm đến việc huy động vốn từ thị trường này. Bên cạnh đó, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam có tác động nghịch chiều đến TTTP và mức tác động này chỉ duy trì trong thời gian ngắn. Nguyên nhân là do TTTD vẫn là kênh huy động truyền thống của các doanh nghiệp Việt Nam nên có sự dịch chuyển từ việc phát hành nợ sang tín dụng trực tiếp từ các TCTD. Qua đó có thể thấy, các doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động đa dạng hóa nguồn vốn huy động. Mặt khác, do đặc điểm TTTP Việt Nam chủ yếu là trái phiếu Chính phủ (chiếm 88,25%), còn lại là trái phiếu doanh nghiệp (AsianBondsOnline, 2007-2015). Vì vậy, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp có tác động yếu, thậm chí ảnh hưởng nghịch chiều đến TTTP. Đối với tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, tăng trưởng kinh tế có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế tăng làm cho doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ lên 2,669%, cao hơn so với thời kỳ phục hồi (mức tăng này là 0,105%). Điều này được giải thích dựa trên các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, trong thời kỳ này mới gia nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu tăng và tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam với độ trễ nhất định nên các doanh nghiệp chưa nắm bắt kịp thời diễn biến của tình hình kinh tế thế giới. Bên cạnh đó, trong thời kỳ suy thoái, việc tăng nợ có tác động nghịch chiều đến tăng trưởng kinh tế, giảm 0,009% nhưng hiện tượng này chỉ xảy ra trong thời gian ngắn 3 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng nợ. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, việc tăng sử dụng nợ góp phần mở rộng thêm quy mô của nền kinh tế, tổng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của quốc gia tăng 0,026% nhưng chỉ kéo dài trong thời gian ngắn 2 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng nợ. Đối với TTTD, trong thời kỳ suy thoái, thị trường này có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. TTTD thu hẹp, tức có nghĩa lãi suất cho vay tăng thêm một độ lệch chuẩn thì doanh nghiệp cũng sử 139 dụng nợ thêm 1,231% và kéo dài 9 quý kể từ khi xảy ra cú sốc tăng lãi suất. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, TTTD có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Khi lãi suất cho vay tăng thêm một độ lệch chuẩn, nghĩa là TTTD bị thu hẹp, khi đó việc sử dụng nợ của doanh nghiệp giảm 0,312% và kéo dài sau 6 quý kể từ khi xảy ra cú sốc về việc tăng lãi suất. Bên cạnh đó, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam có tác động thuận chiều đến TTTD, việc tăng sử dụng nợ góp phần làm giảm lãi suất cho vay làm cho TTTD phát triển nhưng mức tác động tương đối yếu. Trong thời kỳ phục hồi, tăng sử dụng nợ góp phần phát triển thị trường này 0,005% và chỉ xảy ra trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, trong thời kỳ phục hồi con số này là 0,014% và kéo dài 8 quý. Điều này phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam là nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường nhưng có sự điều tiết của Nhà nước, nhất là trong thời kỳ suy thoái, vai trò này càng được Nhà nước phát huy với tần suất nhanh và tác động mạnh hơn. Đối với TTCK có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, khi TTCK phát triển, các doanh nghiệp Việt Nam tăng huy động nguồn vốn cổ phần và giảm sử dụng nợ. Nhất là trong thời kỳ suy thoái, TTCK tăng thêm một độ lệch chuẩn thì sẽ làm giảm sử dụng nợ 0,178%, mạnh hơn so với thời kỳ phục hồi. Bên cạnh đó, trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi, việc tăng sử dụng nợ có tác động nghịch chiều đến TTCK. Trong thời kỳ suy thoái, việc tăng sử dụng nợ góp phần giảm sự phát triển của TTCK là 0,126% kéo dài thời gian ngắn 1 quý. Riêng trong thời kỳ phục hồi, mức giảm này là 0,030% và tắt dần sau 5 quý. 5.1.2. Tác động của các biến kinh tế vi mô đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh với thời kỳ phục hồi Kết quả hồi quy PVAR cho thấy, các biến kinh tế vi mô cũng tác động đến việc lựa chọn CTV tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. 140 Biến khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều và cơ cấu tài sản tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV. Ngoài ra, trong thời kỳ suy thoái, các biến quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV và biến thuế TNDN không tác động. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, các biến như quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản lại có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV và biến thuế TNDN tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV. 5.1.3. So sánh việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi Kết quả ước lượng mô hình PVAR cũng cho thấy, tồn tại sự khác nhau trong việc lựa chọn CTV trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Trong thời kỳ suy thoái, các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng nợ ít hơn 0,0142% so với thời kỳ phục hồi. Mặt khác, tốc độ điều chỉnh CTV trong thời kỳ suy thoái nhanh hơn so với tốc độ điều chỉnh trong thời kỳ phục hồi. Trong thời kỳ suy thoái, quyết định CTV của kỳ trước tác động làm điều chỉnh tăng 0,726% CTV của kỳ sau, nhưng trong thời kỳ phục hồi thì mức tác động này giảm còn 0,722%. 141 Bảng 5.1. So sánh sự khác nhau về việc lựa chọn cấu trúc vốn tại các
doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi Thời kỳ suy thoái Thời kỳ phục hồi Biến độc
lập (quý 1/2007 - quý 4/2010) (quý 1/2011 - quý 2/2016) 1. Chênh lệch CTV bình quân trong thời kỳ suy thoái so với thời kỳ phục hồi DUMMY - 2. Điểm khác nhau + L.BOND - + L.RATE - - SIZE + - GRO + - LIQ + N/A MTR - 3.Điểm giống nhau L.TDR + L.LNVNI - L.GDP + ROE - + TANG
Ghi chú: (+) là tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều, (N/A) không có ý nghĩa. Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. Bảng 5.2. So sánh tác động của việc lựa chọn cấu trúc vốn đến các biến kinh tế
vĩ mô trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi Biến độc
lập Thời kỳ suy thoái
(quý 1/2007 - quý 4/2010) Thời kỳ phục hồi
(quý 1/2011 - quý 2/2016) - + -
-
- 1. Điểm khác nhau
L.GDP
2. Điểm giống nhau
L.RATE
L.LNVNI
L.BOND Ghi chú: (+) là tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều. Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. 142 5.1.4. Xác định cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi Ngưỡng CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái là 54,39%. Theo đó, kết quả cho thấy, trong thời kỳ này, khoảng 48,78% doanh nghiệp Việt Nam có CTV không lớn hơn 54,39% nên đã phát huy được hiệu ứng tích cực của đòn cân nợ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Khoảng 51,22% số doanh nghiệp Việt Nam có CTV mục tiêu lớn hơn 54,39% nên chưa phát huy được vai trò của đòn cân nợ nên làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngưỡng CTV mục tiêu của các doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ phục hồi và trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) lần lượt là 59,66% và 59,81%. Cũng theo kết quả này, có thể thấy, có khoảng 60,98% các số doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ này đã phát huy được hiệu ứng tích cực của đòn cân nợ, trong khi số còn lại khoảng 39,02% sử dụng nợ trên ngưỡng CTV mục tiêu. 5.2. MỘT SỐ GỢI Ý ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ 5.2.1. Đối với doanh nghiệp Phân tích thực trạng CTV của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh suy thoái và phục hồi kinh tế thế giới cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh do những biến động bất lợi từ môi trường kinh doanh, khi nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi suy thoái kinh tế thế giới kéo dài. Mặt khác, tác động của suy thoái kinh tế thế giới bộc lộ càng rõ những hạn chế trong việc lựa chọn CTV và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam, thể hiện ở những khía cạnh sau: (i) việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam mang tính chủ quan, chưa gắn liền với phân tích, dự báo điều kiện môi trường kinh doanh cũng như việc xây dựng CTV hầu như chưa thực sự dựa trên các lý thuyết CTV và lý thuyết chu kỳ kinh tế làm luận cứ khoa học; (ii) chưa xây dựng CTV mục tiêu phù hợp với doanh nghiệp; (iii) nợ phải trả tăng qua các năm, tập trung chủ yếu NNH; (iv) vẫn còn số lượng lớn các doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính (chiếm 143 23,76% số lượng doanh nghiệp thống kê); (v) hình thức huy động vốn thiếu đa dạng, chủ yếu là kênh tín dụng. Vì vậy, nghiên cứu CTV mục tiêu tại các doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề cần thiết giúp các doanh nghiệp hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp. Do đó, từ những kết quả nghiên cứu ở Chương 4, tác giả đề xuất một số giải pháp việc lựa chọn CTV cho các doanh nghiệp Việt Nam để đạt được CTV mục tiêu trong thời kỳ suy thoái (2007-2010). Mặt khác, các giải pháp này không những có ý nghĩa thực tiễn đối với suy thoái kinh tế thế giới (2007-2010) mà còn có ý nghĩa trong việc định hướng và dự báo cho những cuộc suy thoái kinh tế của thế giới cũng như của Việt Nam xảy ra trong tương lai. 5.2.1.1. Thay đổi nhận thức của nhà quản trị, thành lập bộ phận chuyên trách và ứng dụng phân tích định lượng xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu phù hợp với doanh nghiệp Mặc dù, hầu hết các nhà quản trị doanh nghiệp đều nhận thức tầm quan trọng của xây dựng CTV mục tiêu trong điều kiện hiện nay, tại một số doanh nghiệp, việc này thực hiện chủ yếu theo trên kinh nghiệm, ý chí chủ quan mà chưa dựa trên những nguyên tắc, lý thuyết hiện đại cũng như phân tích, dự báo điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, việc lựa chọn CTV chỉ là để giải quyết các vấn đề trước mắt về thanh khoản - trong thời kỳ suy thoái, chi phí tài chính cao nhưng để tích trữ thanh khoản, đáp ứng nhu cầu vốn thiếu hụt tạm thời, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn bất chấp việc tăng sử dụng nợ mà chưa xác định rõ chiến lược dài hạn. Cách quản trị này không mang lại hiệu quả, thậm chí còn phát sinh các vấn đề mới do việc lựa chọn nguồn vốn không có chọn lọc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động, tình hình tài chính và khả năng thanh khoản của doanh nghiệp. Vấn đề lựa chọn CTV của doanh nghiệp phải được các nhà quản trị nhận thức và quan tâm đúng mức, xây dựng kế hoạch cụ thể và có bộ phận chuyên trách hỗ trợ, tư vấn trong quá trình thực hiện. Ngoài ra, việc xây dựng CTV mục tiêu phải dựa trên các mô hình, phương pháp ước lượng từ các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, áp dụng vào từng trường hợp cụ thể của doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp có kế 144 hoạch lựa chọn CTV phù hợp để đạt được CTV mục tiêu đã xác định, đồng thời thích ứng với từng giai đoạn phát triển của doanh ngiệp hoặc dự báo những vấn đề có thể phát sinh, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như rủi ro trong tương lai. 5.2.1.2. Thiết lập cấu trúc vốn theo ngưỡng mục tiêu phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp và từng thời kỳ của cục diện kinh tế Việc xác định CTV mục tiêu phải được xây dựng trên cơ sở đặc thù của mỗi doanh nghiệp, gắn với tình hình thực tế của doanh nghiệp và từng thời kỳ cụ thể của nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, luận án có thể chia thành ba nhóm doanh nghiệp như sau: Đối với nhóm các doanh nghiệp có CTV thấp hơn ngưỡng CTV mục tiêu (thời kỳ suy thoái là 54,39% và trong thời kỳ phục hồi là 59,66%), doanh nghiệp cần xây dựng chính sách nguồn vốn theo hướng tăng sử dụng nợ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế, vấn đề lựa chọn nguồn vốn để đạt ngưỡng CTV mục tiêu càng trở nên cần thiết và doanh nghiệp nên xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm ứng phó kịp thời với các biến động của kinh tế vĩ mô như các diễn biến tăng trưởng kinh tế, TTCK, TTTP và TTTD. Tuy nhiên, qua kết quả phân tích thực trạng có thể thấy, CTV của các doanh nghiệp Việt Nam nghiêng về sử dụng NNH, do đó theo tác giả, để đảm bảo doanh nghiệp không bị mất cân đối tài chính nhưng vẫn tận dụng được lợi ích từ nợ vay, đối với nhóm các doanh nghiệp này, nên ưu tiên sử dụng NDH bằng cách vay NDH từ các TCTD hoặc phát hành trái phiếu trên TTTP. Đối với nhóm các doanh nghiệp có CTV cao hơn CTV mục tiêu, nên tăng cường sử dụng vốn cổ phần và hạn chế sử dụng nợ (Danh sách các doanh nghiệp này được trình bày trong Bảng 4.9). Tuy nhiên, việc tăng cường vốn cổ phần không phải là điều dễ dàng trong bối cảnh suy thoái và phục hồi nền kinh tế thế giới chưa bền vững, tính thanh khoản của TTCK mặc dù được cải thiện nhưng ở mức chậm. Do đó, đối với nhóm doanh nghiệp này, cần tiến hành cơ cấu lại vấn đề tài chính theo hướng sau: (i) vận dụng Lý thuyết POT điều chỉnh để phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp, cụ thể ưu tiêu sử dụng nguồn vốn từ việc tích lũy lợi nhuận giữ lại, tiếp theo là phát hành vốn 145 cổ phần; (ii) cơ cấu lại danh mục nợ, hạn chế sử dụng NNH, gia tăng sử dụng NDH và giảm sử dụng các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn cao. Đối với các doanh nghiệp có CTV cao hơn CTV mục tiêu (được trình bày trong Bảng 4.9) và bị mất cân đối tài chính (được trình bày trong Bảng 4.1), đặc biệt là các doanh nghiệp có mã chứng khoán là BCC, CII, HJS, L10, SD9, … bị mất cân đối tài chính trong thời gian dài và tỷ số nợ luôn duy trì ở mức cao, các nhà quản trị nên cẩn trọng trong việc lựa chọn nguồn vốn. Theo tác giả, các doanh nghiệp này cần: (i) cơ cấu lại danh mục tài sản đầu tư tương thích với cơ cấu nguồn vốn, thanh lý bớt các TSCĐ không cần thiết; (ii) tăng cường các NVDH, trong đó đầu tiên nên tăng cường nguồn vốn từ việc tích lũy lợi nhuận giữ và VCSH (iii) giảm sử dụng nợ, trong đó ưu tiên giảm các khoản NNH và các khoản nợ có chi phí tài chính cao. 5.2.1.3. Một số gợi ý trong việc lựa chọn cấu trúc vốn để đạt mức mục tiêu cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế Trên cơ sở các kết luận được trình bày ở Mục 5.1, luận án đề xuất một số giải pháp việc lựa chọn CTV cho các doanh nghiệp Việt Nam để đạt được CTV mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng đến tăng giá trị doanh nghiệp như sau: Thứ nhất, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn của doanh nghiệp theo hướng giảm bớt nợ vay, tận dụng tối đa các nguồn vốn chiếm dụng và tăng cường sử dụng các công cụ tài chính. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào nguồn vốn tín dụng từ các TCTD. Tuy nhiên, ngày nay, bên cạnh nguồn vốn này và phát hành cổ phiếu, trên TTTC Việt Nam đã xuất hiện nhiều công cụ tài chính và tài chính trung gian (phát hành thương phiếu, phát hành trái phiếu, thuê tài chính, …) có thể giúp doanh nghiệp huy động vốn nhàn rỗi của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, do năng lực của doanh nghiệp, thói quen trong huy động vốn và tâm lý thận trọng khi tiếp cận những hình thức huy động vốn mới, các doanh 146 nghiệp Việt Nam bỏ lỡ cơ hội sử dụng nguồn vốn với chi phí thấp và phù hợp với đặc thù như thương phiếu, trái phiếu và cho thuê tài chính. Thương phiếu là khoản vay NNH của doanh nghiệp thông qua quá trình thương mại. Đó là chứng nhận nợ có thời hạn ngắn, thường là 30-90 ngày, không cần tài sản đảm bảo mà doanh nghiệp phát hành dựa trên uy tín, quy mô hoạt động và sự nổi tiếng. Ưu điểm của thương phiếu là lãi suất thấp vì doanh nghiệp thường dùng hạn mức tín dụng được cấp bởi TCTD để đảm bảo thanh toán khi thương phiếu đến hạn, dẫn đến rủi ro thanh toán thấp. Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu, không thể không tận dụng những hình thức tài trợ thương mại quốc tế ngày càng được nhiều ngân hàng trong nước áp dụng như: chiết khấu thương phiếu, cầm cố giấy tờ có giá, các loại thư tín dụng (L/C), bao thanh toán. Đây là những phương tiện thuận lợi và hữu ích đối với các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu vì chúng giúp hạn chế rủi ro trong giao dịch và thanh toán quốc tế, đồng thời cho phép doanh nghiệp chủ động hơn khi thiếu hụt nguồn vốn tạm thời. Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu nên chủ động tìm hiểu về những hình thức tài trợ thương mại quốc tế này và lựa chọn hình thức phù hợp. Một trong những hình thức huy động vốn quan trọng mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa khai thác triệt để là huy động vốn qua việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Đây là NVDH với chi phí sử dụng vốn ổn định và hợp lý, phù hợp với đặc thù các CTCP niêm yết trên sàn chứng khoán có quy mô lớn, nhiều dự án đầu tư. Ngoài ra, việc huy động nguồn vốn này cũng là giải pháp hữu hiệu khi các TCTD không đáp ứng đủ nhu cầu vay lớn và dài hạn, nhất là trong thời kỳ suy thoái với đặc điểm là chi phí sử dụng vốn cao và điều kiện cho vay khắt khe. Trên thực tế, việc huy động vốn qua TTTP còn khó khăn vì thị trường vẫn trong giai đoạn sơ khai, sản phẩm chủ yếu là trái phiếu Chính phủ, tính thanh khoản trên thị trường thấp, quy mô các doanh nghiệp chưa lớn để tiếp cận hình thức huy động vốn này, thói quen sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Do đó, cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan Nhà nước và nỗ lực về phía doanh nghiệp. Riêng về phía doanh nghiệp, cần có phương án đầu tư khả thi, định hướng phát triển cụ thể, đảm bảo năng lực tài chính, và khả năng hoàn trả 147 gốc và lãi cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần xác định mức lãi suất hợp lý, loại hình trái phiếu phù hợp nhằm tăng tính hấp dẫn của trái phiếu đối với các nhà đầu tư. Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khó có thể phát hành trái phiếu, có thể cân nhắc tìm đến những quỹ đầu tư hoặc các công ty đầu tư mạo hiểm vì đây là những trung gian tài chính sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm đầu tư vào các doanh nghiệp nhỏ hoặc các doanh nghiệp mới thành lập nếu các dự án của doanh nghiệp đủ hấp dẫn. Điều này giúp doanh nghiệp đa dạng hóa cơ cấu tài trợ, hạn chế rủi ro và giảm chi phí tài trợ. Bên cạnh đó, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, khai thác, xây dựng có nhu cầu đầu tư TSCĐ vào các dự án lớn, lợi nhuận kỳ vọng cao. Tuy nhiên, do một số lý do khách quan, các doanh nghiệp này khó tiếp cận các nguồn vốn từ TTTP và các TCTD. Vì vậy, nên sử dụng phương thức tài trợ thuê mua thông qua các công ty tài chính cho thuê TSCĐ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí tài chính nhưng vẫn đảm bảo tính hiệu quả của dự án. Thứ hai, việc lựa chọn CTV theo hướng gia tăng nợ dài hạn, đảm bảo sự an toàn và ổn định về nguồn tài trợ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nợ phải trả của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tăng, trong đó chủ yếu là tăng sử dụng nợ vay ngắn hạn và loại nợ này chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nợ. Điều đó phản ánh mức độ rủi ro cao trong quyết định tài trợ của các doanh nghiệp Việt Nam. Sử dụng nợ vay quá mức trong đầu tư tài chính, kinh doanh BĐS là nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối tài chính, mất khả năng thanh khoản, hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam phải tạm ngừng hoạt động hoặc phá sản trong thời gian vừa qua. Mục tiêu cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp là chủ động kiểm soát nợ, giảm tỷ số nợ, đa dạng hóa nguồn tài trợ đồng thời tăng tỷ trọng NDH để đảm bảo an toàn tài chính. Trong đó, doanh nghiệp nên ưu tiên tập trung vào việc phát hành NDH qua TTTP, vì đây là thị trường có tiềm năng cung cấp NVDH lớn. 148 Thứ ba, việc lựa chọn CTV gắn với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm chứng minh, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp có tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều với việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Vì vậy, theo tác giả, các doanh nghiệp Việt Nam cần xem CTV là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển ngắn hạn và cả dài hạn của mình. CTV của doanh nghiệp xuất phát từ các yếu tố nội tại buộc doanh nghiệp phải điều chỉnh CTV mục tiêu để phù hợp với quy mô tăng trưởng, các giai đoạn trong quá trình phát triển của chu kỳ kinh doanh và tình hình tài chính của mình. Theo Aswath Damadaran (1997), quá trình hình thành và phát triển của mỗi doanh nghiệp thường được chia thành 4 giai đoạn: khởi nghiệp, phát triển, bão hòa và suy thoái. Trong mỗi giai đoạn cụ thể, CTV thường có những đặc điểm riêng biệt. Các doanh nghiệp cần nhận định được đặc trưng nguồn vốn trong từng giai đoạn để việc lựa chọn CTV hợp lý và xác định CTV mục tiêu phù hợp nhằm mang lại hiệu quả hoạt động cao nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Thứ tư, việc lựa chọn CTV theo hướng gia tăng VCSH và năng lực tự tài trợ của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào khả năng sinh lời và TTCK. Khả năng sinh lời của doanh nghiệp và TTCK có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, hàm ý rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận cao sẽ chủ động hơn trong vấn đề tài chính (cải thiện tính thanh khoản, phụ thuộc ít vào nợ vay và nguồn vốn huy động từ bên ngoài). Tương tự, các doanh nghiệp có năng lực tài chính tốt, dễ dàng phát hành cổ phiếu để huy động nguồn vốn, do đó có xu hướng giảm sử dụng nợ vay. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp đang bị mất cân đối tài chính (Bảng 4.1) thì việc hạn chế sử dụng nợ, gia tăng VCSH là cần thiết. Chính vì vậy, để đạt được CTV mục tiêu thì việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam phải theo hướng tăng sử dụng VCSH phù hợp với mục tiêu phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp. 149 Để tăng VCSH, trước hết các doanh nghiệp cần tận dụng triệt để nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại. Đây là nguồn lực tài chính giúp doanh nghiệp chủ động đáp ứng nhu cầu vốn, nắm bắt kịp thời các cơ hội đầu tư, giữ được quyền kiểm soát và áp lực trả nợ. Tuy nhiên, để có thể khai thác được nguồn vốn này, các doanh nghiệp Việt Nam cần thực hiện các biện pháp tăng trưởng doanh thu, tiết kiệm chi phí hoạt động cũng như nghĩa vụ thuế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và có chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý nhằm đẩy mạnh tích lũy lợi nhuận để tái đầu tư. Bên cạnh, việc huy động tối đa nguồn vốn bên trong từ lợi nhuận giữ lại, các doanh nghiệp cần tìm phương án hiệu quả nhất để huy động VCSH từ bên ngoài như phát hành cổ phiếu, vốn góp liên doanh, liên kết. Việc huy động vốn từ phát hành cổ phiếu rộng rãi trên TTCK trong điều kiện hiện nay còn một số khó khăn do TTCK Việt Nam còn nhiều biến động và chưa thực sự hồi phục sau thời kỳ suy thoái. Vì vậy, trong điều kiện Việt Nam vẫn đang là thị trường đầu tư khá hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, theo tác giả, các doanh nghiệp Việt Nam có thể xem xét khai thác nguồn vốn từ các nhà đầu tư tiềm năng thông qua hình thức phát hành riêng lẻ nhằm thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Hình thức này giúp doanh nghiệp có khả năng huy động khối lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể tiếp cận với công nghệ hiện đại và kỹ thuật quản lý từ các nhà sản xuất có kinh nghiệm của nước ngoài. Điều này được kỳ vọng có tác động thuận chiều đến việc tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, mỗi hình thức huy động đều có những điểm bất lợi riêng, đối với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp bị mất quyền kiểm soát, thay đổi trong chính sách điều hành cũng như quản lý, do đó, doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố liên quan để ra quyết định cho phù hợp. Như vậy, doanh nghiệp sẽ chủ động và dự báo trước các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Thứ năm, việc lựa chọn CTV gắn liền với việc cơ cấu lại các danh mục đầu tư, TSCĐ của doanh nghiệp Tại Việt Nam hiện nay, các TCTD sử dụng các hình thức bảo đảm nợ vạy là biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được 150 các khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng. Do đó, TSCĐ của doanh nghiệp là một trong những tài sản được dùng để thế chấp các khoản nợ. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp có TSCĐ lớn thì dễ dàng trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng cũng như phát hành nợ có đảm bảo hoặc vay nợ có tài sản thế chấp với chi phí tài chính thấp, lãi suất ưu đãi hơn. Mặt khác, hàm ý lý thuyết chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế phục hồi, doanh nghiệp nên ưu tiên sử dụng chiến lược đầu tư, trong đó có đầu tư mở rộng quy mô hoạt động và TSCĐ. Do đó, theo tác giả trong dài hạn hoặc trong thời kỳ phục hồi các doanh nghiệp Việt Nam nên ưu tiêu sử dụng chiến lược đầu tư - đẩy mạnh hoạt động đầu tư, nhất là ưu tiên đầu tư TSCĐ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã chứng minh năng lực quản trị tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái khá hạn chế - tăng TSCĐ để dễ dàng huy động nguồn vốn từ phát hành nợ, bù đắp cho các khoản thiếu hụt về tài chính của mình. Điều này trái với quan điểm của Lý thuyết chu kỳ kinh tế. Do đó, theo tác giả, các doanh nghiệp Việt Nam cần quản lý danh mục TSCĐ của mình tốt hơn – bằng cách lập kế hoạch đầu tư, mua sắm TSCĐ hàng năm và có chính sách quản lý tài khoản khấu hao phù hợp. Định kỳ doanh nghiệp cần kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng tài sản, kịp thời thanh lý các tài sản không cần thiết nhằm tăng NVDH cũng như đảm bảo nhu cầu thanh toán tạm thời của mình. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần lưu ý việc đầu tư TSCĐ phải dựa trên kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình, tình hình tài chính, điều kiện môi trường kinh doanh và điều kiện vĩ mô tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp có CTV trên ngưỡng CTV mục tiêu và đang có tình hình tài chính khó khăn, mất cân đối tài chính (được trình bày tại Bảng 4.1) thì việc cơ cấu lại danh mục đầu tư là cần thiết, ưu tiên hàng đầu trước khi thực hiện cơ cấu nguồn vốn. Các doanh nghiệp cũng cần lưu ý, việc tăng đầu tư vào TSCĐ phải gắn liền với việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo hướng hạn chế sử dụng NNH mà tăng cường 151 nguồn vốn tài trợ dài hạn để đảm bảo tính cân bằng giữa cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản, tránh tình trạng như hiện nay việc sử dụng NNH để tài trợ cho hoạt động đầu tư TSCĐ. Điều này có thể dẫn đến tình trạng mất cân đối tài chính và rủi ro mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Do đó, các biện pháp đặt ra khi gia tăng đầu tư TSCĐ phải gắn liền với điều chỉnh cơ cấu vốn theo hướng gia tăng NVDH. Thứ sáu, việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp phải đảm bảo phù hợp với sự biến động của môi trường kinh doanh, gắn với chu kỳ kinh tế Việt Nam và thế giới. Môi trường kinh doanh là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp. Khi môi trường kinh doanh biến động, doanh nghiệp cần điều chỉnh hoạt động của mình để tránh những tác động nghịch chiều đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thật vậy, kết quả nghiên cứu đã chứng minh, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) các yếu tố kinh tế vĩ mô đóng góp 16,4% vào việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái mức đóng góp này lên đến 35% và trong thời kỳ phục hồi con số này giảm còn 4%. Mặt khác, kết quả nghiên cứu cho thấy, trong từng pha của chu kỳ kinh tế thế giới, các biến kinh tế vi mô có chiều hướng có tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam - trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới các biến như quy mô, tốc độ tăng trưởng, khả năng thanh khoản tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV, nhưng trong thời kỳ phục hồi, các biến này lại có tác động thuận chiều. Do đó, trong từng thời kỳ thì để đạt được CTV mục tiêu thì việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp cũng phải gắn với môi trường kinh doanh, chu kỳ kinh tế trong nước và thế giới. Vì vậy, việc lựa chọn CTV các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý hai vấn đề sau: Một là, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sau rộng vào kinh tế khu vực và thế giới việc nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại đang tạo áp lực lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, chu kỳ kinh tế thế giới tác động mạnh đến chu kỳ tăng trưởng của Việt Nam. Trước thực tế đó, việc lựa chọn nguồn vốn các doanh nghiệp Việt Nam phải gắn liền với mục tiêu nâng cao năng 152 lực cạnh tranh, khắc phục khó khăn trong hoạt động kinh doanh, từng bước lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính. Một trong những nhân tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam là vấn đề vốn, quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, kỹ thuật công nghệ hiện đại, năng lực sản xuất và cải tiến chất lượng sản phẩm. Trong đó, cần nhất nâng cao năng lực về vốn và khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Hai là, kinh tế thế giới phục hồi nhưng tiềm ẩn rủi ro, ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, gây ra những khó khăn trong hoạt động kinh doanh cũng như tiến trình cơ cấu nguồn vốn của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, để đảm bảo năng lực tài chính vững mạnh qua đó tạo sự ổn định trong hoạt động của mình, các doanh nghiệp Việt Nam cần có chính sách cơ cấu nguồn vốn phù hợp và có chiến lược dài hạn nhằm tăng cường năng lực tự chủ tài chính, khả năng thanh khoản của mình, ưu tiên đầu tiên là từ tích lũy lợi nhuận giữ lại cũng như tận dụng mọi cơ hội tăng vốn cổ phần từ bên ngoài. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với khó khăn trong việc huy động vốn, đặc biệt từ TTCK. Do đó, cần thiết có sự hỗ trợ về phía Chính phủ và kế hoạch huy động vốn trong dài hạn. Một số giải pháp cụ thể gắn với từng thời kỳ của chu kỳ kinh tế: Cuộc suy thoái kinh tế thế giới ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Việt Nam. Do đó, trong thời kỳ này, theo đề xuất của tác giả, doanh nghiệp cần kiểm soát các vấn đề sau: Một là, hạn chế mở rộng và duy trì quy mô hoạt động, thị trường tiêu thụ tương ứng với nhu cầu của thị trường nhằm kiểm soát các rủi ro do khó khăn của nền kinh tế gây ra - tổng cầu hàng hóa, dịch vụ của thế giới giảm, lượng hàng tồn kho tăng. Việc hàng hóa bị ứ đọng làm tăng chi phí tài chính, nhất là trong thời kỳ này chi phí lãi vay cao. Mặt khác, việc tăng lượng hàng tồn kho làm phát sinh thêm chi phí lưu kho, dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải thua lỗ và phá sản. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu khó khăn. Trước tình hình này, các doanh nghiệp nên duy trì mối quan hệ với các thị trường truyền thống và thị trường nội địa để giải phóng 153 hàng tồn kho, tránh tình trạng mở rộng thị trường tiêu thụ một cách tràn lan, thiếu kiểm soát làm tăng chi phí của doanh nghiệp. Hai là, hạn chế đầu tư mở rộng, mua sắm tài sản và đầu tư thêm các dự án có tính dài hạn. Trong thời kỳ này, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ có lợi thế trong việc kiểm soát hoạt động. Do đó, việc mở rộng quy mô không đi kèm với việc tái cấu trúc về quản lý, kiểm soát dòng tiền chặt chẽ thì đồng nghĩa với việc tăng rủi ro trong việc quản lý hoạt động, dẫn đến hiệu quả quản trị thấp, các chi phí quản lý tăng và gây áp lực đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tái cấu trúc lại danh mục đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh cho phù hợp năng lực về vốn, công nghệ và nhân lực. Các doanh nghiệp Việt Nam nên rà soát lại tất cả các dự án đầu tư, theo dõi và kiểm soát dòng tiền từ hoạt động đầu tư một cách chặt chẽ, thanh lý các dự án đầu tư không hiệu quả. Cắt giảm các chi nhánh, bộ phận, đại lý và những sản phẩm không còn khả năng cạnh tranh, ưu tiên vào các sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường. Bởi lẽ, khi thị trường gặp khó khăn, việc duy trì một quy mô lớn làm doanh nghiệp khó khăn trong việc lựa chọn CTV để đạt được ngưỡng CTV mục tiêu, từ đó làm giảm hiệu quả tài chính cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Ba là, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ, do đó, việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất bị hạn chế, dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa cao. Do đó, nhằm kiểm soát vấn đề chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tính cạnh tranh thì doanh nghiệp cần nghiên cứu cải tiến sản phẩm, dây chuyền công nghệ, quy trình nhân sự nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bốn là, tái cơ cấu lại danh mục tài sản lưu động, khai thác tối đa lợi ích từ nguồn tài sản này nhằm hạn chế nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Doanh nghiệp cần rà soát lại cơ cấu tài sản lưu động hiện có nhằm kịp thời thanh lý những tài sản dư thừa, kém luân chuyển, hoặc có thể thanh lý các khoản đầu tư tài chính hiện có nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn này để phục vụ cho nhu cầu thanh toán, đảm bảo 154 khả năng thanh khoản trong khi doanh nghiệp bị khó khăn về tài chính. Đối với hàng tồn kho, doanh nghiệp cần có chính sách mua hàng phù hợp với nhu cầu, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tiết kiệm vốn. Đối với khoản phải thu khách hàng, hạn chế cho khách hàng chiếm dụng vốn, và cần đánh giá lại tình hình tài chính của các đối tác đang mua chịu và kịp thời thu nợ. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, tăng trưởng kinh tế, dòng vốn đầu tư có dấu hiệu tăng trở lại, tổng cầu của thị trường tăng, hàng hóa, dịch vụ được giải phóng, lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế thế giới phục hồi chưa bền vững, làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam biến động bất thường. Do đó, để các doanh nghiệp Việt Nam đạt được CTV mục tiêu trong thời kỳ phục hồi cần gắn việc này với việc mở rộng quy mô hoạt động, thị trường tiêu thụ cũng như gia tăng đầu tư TSNH nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp đối với các TCTD để đạt được lãi suất ưu đãi và điều kiện cấp tín dụng tốt. Vì vậy, trong thời kỳ này, theo đề xuất tác giả, doanh nghiệp cần thực hiện các giải pháp sau: Một là, mở rộng quy mô hoạt động, thị trường tiêu thụ nhằm giải phóng hàng tồn kho, đáp ứng nhu cầu cầu thị trường và phục vụ cho chu kỳ kinh doanh mới, góp phần nâng cao khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Trong thời kỳ này, tổng cầu hàng hóa, dịch vụ của thế giới và nội địa tăng, do đó, doanh nghiệp nên mở rộng thị trường tiêu thụ, mạng lưới chi nhánh, thiết lập các văn phòng, cơ sở đại lý phân phối hàng hóa, dịch vụ cũng như làm tăng giá trị thương hiệu của công ty, từ đó, quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp đến công chúng. Bên cạnh việc mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp cần tăng cường liên kết để chiếm lĩnh thị trường nội địa. Đây được xem là những nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ phục hồi. Hai là, quy mô hoạt động càng lớn tạo được uy tín càng cao đối với các TCTD, giúp các doanh nghiệp giảm chi phí đại diện, tạo điều kiện huy động vốn một cách dễ dàng. Mặt khác, các doanh nghiệp có quy mô lớn, giá trị tài sản đầu 155 tư nhiều và hoạt động kinh danh hiệu quả thường sử dụng đòn bẩy tài chính cao để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế, tiết kiệm chi phí thuế TNDN một cách dễ dàng. Do đó, các doanh nghiệp cần củng cố sự tín nhiệm trên thị trường thông qua việc tăng cường mở rộng quy mô hoạt động. Ba là, trong thời kỳ này, nền kinh tế tăng trưởng cao trở lại, doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm cơ hội kinh doanh mới, đầu tư vào các tài sản có tính sinh lời cao. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cần được tái cấu trúc tùy theo mức độ và năng lực của mình. Doanh nghiệp nên tận dụng cơ hội khủng hoảng để đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đẩy mạnh tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, đặc biệt chú trọng tăng tính thanh khoản của tài sản lưu động nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, nâng cao uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp đối với các TCTD để đạt được lãi suất ưu đãi và điều kiện cấp tín dụng tốt. 5.2.2. Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh sự nỗ lực của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc lập kế hoạch cụ thể, rõ ràng, và có chiến lược ngắn hạn và dài hạn trong việc lựa chọn CTV nhằm đạt được CTV mục tiêu thì cần có sự hỗ trợ về chủ trương, đường lối, chính sách từ phía Chính phủ. Thật vậy, kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh tồn tại mối quan hệ giữa điều kiện kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, Chính phủ và NHNN cần có các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình điều chỉnh CTV của các doanh nghiệp Việt Nam để đạt được CTV mục tiêu được diễn ra nhanh chóng và thành công. Đây được xem là một trong những nội dung quan trọng nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng vượt qua sự khó khăn sau thời gian dài suy thoái kinh tế thế giới và giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả các tài nguyên của xã hội, nền kinh tế, nhất là tài nguyên về vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, cụ thể như sau: Thứ nhất, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế hợp lý tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp đạt được CTV mục tiêu. 156 Trong thời kỳ suy thoái, lạm phát ở mức cao, tăng trưởng kinh tế có đấu hiệu suy giảm và tình trạng thâm hụt cán cân thương mại kéo dài gây ra tình trạng kinh tế vĩ mô bất ổn tại Việt Nam tác động trực tiếp đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Do vậy, ngoài các gợi ý trình bày ở mục 5.2.1. thì việc lựa chọn CTV nhằm đạt được CTV mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố kinh tế vĩ mô. Trong thời kỳ phục hồi, tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực đã bắt đầu phục hồi. Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế cũng đã bắt đầu tăng, tuy nhiên ở mức chậm và chưa bền vững. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do Việt Nam duy trì mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao bằng mọi giá trong thời gian dài, chưa tập trung vào chất lượng tăng trưởng, hàng hóa quốc nội chủ yếu là các sản phẩm thô, sản phẩm có giá trị gia tăng cao còn hạn chế, năng suất lao động tăng chậm trong khi hiệu quả đầu tư giảm sút. Do đó, trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng không còn phù hợp. Chính phủ nên gắn liền việc tăng trưởng kinh tế với tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm đảm bảo nền kinh tế vĩ mô ổn định, phát triển bền vững. Do vậy, theo tác giả, để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoạt động nghiên cứu phát triển là hết sức cần thiết. Mặt khác, trong thời kỳ suy thoái cũng như thời kỳ phục hồi, Chính phủ cũng đã thay đổi mục tiêu chuyển từ ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang kiểm soát lạm phát. Kết quả của việc này bước đầu đã ngăn chặn sự ảnh hưởng nghiêm trọng của suy thoái kinh tế thế giới và góp phần cải thiện tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, việc thay đổi mục tiêu cũng như hoạch định chính sách vẫn còn chậm và chưa phù hợp so với diễn biến của thị trường, do đó, đã dẫn đến sự biến động mạnh của các biến kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế. Trong thời gian qua, NHNN liên tục điều chỉnh tăng các loại lãi suất chỉ đạo, do đó, làm cho mặt bằng lãi suất cho vay tăng lên, chi phí đầu vào của nền kinh tế tăng, đẩy lạm phát tăng cao. Mặt khác, kết quả nghiên cứu chứng minh cú sốc tăng lãi suất có tác động thuận chiều đến việc lựa chọn CTV và sự tác động này kéo dài trong thời gian là 6 quý kể từ 157 khi xảy ra cú sốc về lãi suất. Bên cạnh đó, điều này cũng cho thấy, khi một cú sốc tăng sử dụng nợ xảy ra ngay lập tức có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, theo tác giả, Chính phủ nên hạn chế sử dụng liên tục công cụ lãi suất để điều tiết nền kinh tế như trong thời gian qua. Bởi lẽ, việc điều chỉnh lãi suất tác động đến lạm phát, dòng đầu tư và càng gây áp lực cho nền kinh tế, đặc biệt CTV mục tiêu của doanh nghiệp. Như vậy, để các doanh nghiệp đạt được CTV mục tiêu Chính phủ cần thiết phải tạo ra các điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi để tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp. Theo đó, nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh, cơ chế chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất trong nước. Bên cạnh đó, Chính phủ cần thực hiện hệ thống các giải pháp một cách đồng bộ như ổn định tiền tệ, lạm phát, tỷ giá, lãi suất ở mức hợp lý, sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn phục vụ cho mục tiêu cơ cấu lại nguồn vốn để đạt được CTV mục tiêu một cách thuận lợi. Thứ hai, lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của TTTC Việt Nam. TTTC là kênh huy động vốn cho doanh nghiệp, đồng thời là kênh thực hiện thoái vốn theo cơ chế thị trường. Do vậy, lành mạnh hóa và phát triển TTTC là một điều kiện quan trọng đảm bảo các doanh nghiệp Việt Nam đạt được CTV mục tiêu. Trong thời gian gần đây, TTCK Việt Nam đã có những biến động theo chiều hướng tiêu cực, sự suy thoái và thiếu lành mạnh của TTCK là một cản trở lớn đối với việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Do vậy, để TTCK phát triển và trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp thì các cơ quan quản lý cần có các biện pháp cụ thể để định hướng TTCK trở thành một môi trường giao dịch lành mạnh, có chất lượng cao. Cụ thể, để lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của TTCK, về vĩ mô cần thực hiện các giải pháp đồng bộ như: (i) tăng cường giám sát để củng cố tính minh bạch của thị trường; (ii) giám sát năng lực tài chính, đạo đức nghề nghiệp của các công ty chứng khoán; (iii) đa dạng hóa các loại hình đầu tư, nhất là đối với nhà đầu tư 158 nước ngoài; (iv) đa dạng hóa nguồn cung, chuẩn hóa các quy định để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể huy động được vốn khi tham gia TTCK. Riêng đối với TTTP, kết quả nghiên cứu cho thấy, điều kiện TTTP có tác động vừa thuận chiều và nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo các lý thuyết CTV và công trình tại một số quốc gia, mối quan hệ này là thuận chiều. Nguyên nhân của thực trạng này chủ yếu là do TTTP ở Việt Nam chưa phát triển, làm hạn chế khả năng huy động vốn dài hạn từ hình thức phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp. Do đó, để TTTP phát huy vai trò là kênh huy động vốn dài hạn quan trọng của doanh nghiệp, Chính phủ cần khuyến khích sự phát triển của thị trường này: (i) Chính phủ cần sớm hoàn thiện khung pháp lý về trái phiếu và TTTP doanh nghiệp; (ii) NHNN cần duy trì mức lãi suất ổn định giúp cho doanh nghiệp xây dựng lãi suất trái phiếu hợp lý đảm bảo chiến lược phát hành trái phiếu ổn định và an toàn; (iii) phát triển hệ thống tổ chức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà đầu tư có cơ sở để đánh giá chất lượng trái phiếu và có quyết định đầu tư đúng đắn; (iv) hoàn thiện cơ chế giám sát, đảm bảo tính minh bạch thông tin, bảo vệ quyền lợi ích cho nhà đầu tư. Riêng đối với TTTD, đây là kênh huy động vốn truyền thống chủ đạo của doanh nghiệp Việt Nam, vì vậy, để đạt được CTV mục tiêu doanh nghiệp phải gắn với sự phát triển của thị trường này. Chính phủ, NHNN và các TCTD cần có các chính sách phù hợp nhằm củng cố, ổn định và phát triển lành mạnh TTTD với những biện pháp sau: (i) tiếp tục mở và phát triển TTTD trên cơ sở khuyến khích các thành phần tham gia và đa dạng hóa các sản phẩm, công cụ, dịch vụ tín dụng phù hợp với cơ chế thị trường trong bối cảnh hội nhập, nhất là các dịch vụ tín dụng nội và ngoại tệ; (ii) tăng cường năng lực tài chính, quản lý điều hành và phòng chống rủi ro nhằm kiểm soát tốt các chi phí cũng như hiệu quả nguồn vốn tạo điều kiện giảm mặt bằng lãi suất cho vay, phí tín dụng và các biện pháp đảm bảo linh hoạt đối với doanh nghiệp; (iii) đổi mới hệ thống giám sát theo hướng tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại các TCTD và 159 của NHNN; (iv) hoàn thiện khung khổ pháp lý, môi trường tín dụng và sự phối hợp đồng bộ giữa các TCTD với giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Ngoài ra, phát triển thị trường thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu) cần được đẩy mạnh. Thị trường này phát triển sẽ góp phần làm lành mạnh hóa tình trạng chiếm dụng vốn giữa các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện phát triển các dịch vụ chiết khấu và tái chiết khấu, thu nhập dịch vụ của các TCTD. Đặc biệt giảm áp lực TTTD ngắn hạn cho các TCTD hiện nay. Thứ ba, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chứng minh, thuế TNDN tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp trong thời kỳ nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi. Qua đó, có thể thấy trong thời kỳ này, tình hình tài chính của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới. Do đó, Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ thuế phù hợp cũng như tăng cường sự phối hợp giữa CSTK với CSTT mở rộng, cụ thể: (i) hoàn thiện chính sách thuế cũng như việc xây dựng hệ thống thuế phải thống nhất, rõ ràng và đồng nhất, tránh sửa đổi nhiều lần khiến doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời và cập nhật được chính sách mới gây ảnh hưởng đến việc lựa chọn CTV và quá trình điều chỉnh CTV để đạt được CTV mục tiêu của doanh nghiệp; (ii) thực hiện chính sách giảm, miễn, gia hạn thuế đối với một số doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh khó khăn, ngành mũi nhọn như kinh doanh BĐS, xây dựng, …; (iii) mặc dù thời gian qua Chính phủ đã nhiều lần xem xét lại mức thuế suất TNDN theo hướng giảm dần phù hợp với xu hướng chung của thế giới, với tình hình suy giảm kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay thì so với mặt bằng thuế suất thuế TNDN với một số nước Singapore (17%), Hồng Kông (17%), Đài Loan (16.5%) thì mức thuế suất này tại Việt Nam vẫn chưa đủ sức cạnh tranh cũng như đáp ứng được yêu cầu kích thích các doanh nghiệp đầu tư phát triển. Do đó, theo tác giả, chính phủ cần nghiên cứu xây dựng hệ thống thuế TNDN với mức thuế cạnh tranh so với các nước để thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. 160 5.3. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO Mặc dù luận án đã giải quyết được các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu tuy nhiên do hạn chế về dữ liệu nghiên cứu đề tài vẫn không tránh khỏi những thiếu sót sau: Theo Samuelson và Nordhalls (2007), chu kỳ kinh tế bao gồm ba pha suy thoái, tăng trưởng và hưng thịnh. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên suy thoái kinh tế bắt đầu từ năm 2007-2010 và có dấu hiệu phục hồi từ năm 2011 cho đến nay. Do đó, luận án chỉ mới thu thập được dữ liệu của hai pha – pha suy thoái và pha phục hồi, chưa thu thập được dữ liệu của pha hưng thịnh. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở hai pha của chu kỳ kinh tế là pha suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và pha phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016). Do thiếu thông tin dữ liệu về cơ cấu nợ tiếp cận theo thời hạn (NNH và NDH), tiếp cận theo chi phí lãi (nợ vay và nợ chiếm dụng) nên nghiên cứu không tiến hành phân tích hành vi điều chỉnh nguồn vốn của nhà quản trị hay sự khác nhau trong cơ cấu nợ theo hai hướng tiếp cận này của doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi. Đặc điểm của dữ liệu tại Việt Nam chỉ lưu trữ các BCTC tại các CTCP phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong khoảng thời gian ngắn từ năm 2007 đến nay. Vì vậy, thời gian nghiên cứu trong thời kỳ suy thoái (quý 1/2007-quý 4/2010) và thời kỳ phục hồi (quý 1/2011-quý 2/2016) chưa đủ dài để đảm bảo độ tin cậy khi phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn CTV tại Việt Nam thông qua mô hình PVAR. Do đó, để khắc phục hạn chế về thời gian nghiên cứu tác giả đã sử dụng mô hình PVAR dựa trên các ứng dụng của GMM nhằm trách được hiện tượng bị mất quan sát do lấy độ trễ. Mặt khác, khi nghiên cứu mối quan hệ này trong toàn bộ thời ký (quý 1/2007-quý 2/2016) thì kết quả phân tích tương đối phù hợp với lý thuyết về CTV và chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn nghiên cứu, các CTCP tại Việt Nam trải qua nhiều biến động, bên cạnh một số doanh nghiệp giải thể phá sản thì cũng có một số doanh nghiệp mới 161 thành lập. Do đó, để tránh tình trạng mẫu nghiên cứu không cân bằng gây khó khăn khi phân tích nên luận án sử dụng những doanh nghiệp có đầy đủ BCTC theo quý trong thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016) và thời gian hoạt động liên tục trong thời gian nghiên cứu (không xét các doanh nghiệp phá sản và thành lập mới). Do đó, phạm vi mẫu nghiên cứu bị thu hẹp, tính đại diện của mẫu vẫn đảm bảo nhưng chưa cao (N=82). Trong giai đoạn tiếp theo khi có đủ điều kiện về dữ liệu, nghiên cứu sẽ được phát triển theo hướng (i) Mở rộng quy mô doanh nghiệp, thời gian nghiên cứu cũng như mở rộng phạm vi nghiên cứu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, từng ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh khác nhau; (ii) Nghiên cứu sẽ phát triển và bổ sung thêm các biến trong mô hình để nghiên cứu được chi tiết và tổng quát hơn; (iii) mở rộng vấn đề nghiên cứu không chỉ nghiên cứu CTV mục tiêu trong hai pha của chu kỳ kinh tế - suy thoái và phục hồi kinh tế thế giới mà luận án nghiên cứu tất cả các pha của chu kỳ kinh tế - bao gồm cả ba pha suy thoái, phục hồi và hưng thịnh. 162 KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở Chương 4, Chương 5 rút ra các kết luận mà luận án đã đạt được. Từ đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp để các doanh nghiệp lựa chọn CTV phù hợp nhằm đạt được CTV mục tiêu. Luận án đề xuất hai nhóm giải pháp chính đối với doanh nghiệp và đối với Chính phủ. Đối với doanh nghiệp, luận án đưa ra các giải pháp nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp lựa chọn CTV để đạt được CTV mục tiêu một cách hiệu quả và an toàn phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp cụ thể: (i) nâng cao nhận thức của các nhà quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam; (ii) xây dựng CTV dựa trên ngưỡng CTV mục tiêu phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp và từng thời kỳ kinh tế; (iii) đa dạng hóa hình thức huy động vốn; (iv) việc lựa chọn CTV theo hướng tăng cường sử dụng NDH; (v) việc lựa chọn CTV gắn với từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp; (vi) việc lựa chọn CTV gắn với sự biến động của môi trường kinh doanh - chu kỳ kinh tế của Việt Nam và thế giới; (vii) việc lựa chọn CTV theo hướng gia tăng VCSH; (viii) việc lựa chọn CTV gắn liền với việc cơ cấu lại danh mục đầu tư. Đối với Chính phủ và các cơ quan hữu quan, luận án khuyến nghị một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam đạt được CTV mục tiêu góp phần cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong thời kỳ nền kinh tế phục hồi chưa bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay. Cụ thể: (i) đảm bảo ổn định môi trường vĩ mô; (ii) lành mạnh hóa và thúc đẩy sự phát triển của TTTC; (iii) hoàn thiện chính sách thuế TNDN. Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích những đóng góp và hạn chế của đề tài như sự thiếu dữ liệu, thời gian thực hiện chưa dài, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan, các biến trong mô hình chưa nhiều và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. 163 KẾT LUẬN CHUNG Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang gánh chịu những hệ lụy từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới. Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2010 đã có 47.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động và tình trạng này tiếp tục kéo dài cho đến những năm tiếp theo, ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi. Nguyên nhân chính của vấn đề này là do các doanh nghiệp Việt Nam, có quy mô kinh doanh, nguồn vốn đầu tư thấp, đặc biệt cơ cấu tài chính chưa phù hợp dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thanh toán và cạnh tranh thấp. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam và xác định ngưỡng CTV mục tiêu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp có kế hoạch lựa chọn CTV phù hợp để đạt được CTV mục tiêu, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh, gia tăng giá trị doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán. Kết quả phân tích thống kê mô tả, luận án đã đánh giá thực trạng CTV và tình hình tài chính tại các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả phân tích cho thấy, tỷ số nợ bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng gia tăng, chiếm 45% TTS và nghiêng về sử dụng NNH nhiều hơn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiềm ẩn sự mất cân đối tài chính tại một số doanh nghiệp chiếm khoảng 23,17% số doanh nghiệp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của mô hình PVAR cho thấy, trong thời kỳ suy thoái, các nhà quản trị có xu hướng hạn chế sử dụng nợ hơn so với thời kỳ phục hồi. Mặt khác, khả năng sinh lời có tác động nghịch chiều đến việc lựa chọn CTV, ngược lại, cơ cấu tài sản có tác động thuận chiều. Riêng trong thời kỳ suy thoái, CTV cần đi liền với kiểm soát thêm vấn đề quy mô, tốc độ tăng trưởng và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế phục hồi, doanh nghiệp cần mở rộng quy mô, tăng trưởng và khả năng thanh toán nhưng lại kiểm soát thêm các khoản thu nhập chịu thuế. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ tác 164 động qua lại giữa việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp và các biến vĩ mô - tăng trưởng kinh tế, TTCK, TTTP và TTTD. Kết quả hồi quy ngưỡng luận án, cho thấy CTV mục tiêu của các CTCP tại Việt Nam trong thời kỳ suy thoái là 54,39% và trong thời kỳ phục hồi là 59,66%. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trên, luận án đề xuất để các doanh nghiệp Việt Nam đạt được CTV mục tiêu tương ứng với từng nhóm doanh nghiệp cụ thể: (i) đối với nhóm các doanh nghiệp hiện có CTV thấp hơn ngưỡng CTV mục tiêu doanh nghiệp nên tăng sử dụng nợ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động; (ii) đối với nhóm các doanh nghiệp có CTV cao hơn CTV mục tiêu nên tăng cường sử dụng vốn cổ phần và hạn chế sử dụng nợ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp; (ii) đối với các doanh nghiệp có CTV cao hơn CTV mục tiêu và bị mất cân đối tài chính nên cơ cấu lại danh mục tài sản đầu tư tương thích với cơ cấu nguồn vốn, giảm sử dụng NNH, tăng cường các NVDH. i DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐ 1. ‘ Ảnh hưởng của sự cạnh tranh lên sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh cho vay ngân hàng ở Việt Nam’, Tạp chí Ngân hàng, 16, 11-17, 2017. 2. ‘Effects of Corruption on Economic Growth - Empirical Study of Asia Countries’, Imperial Journal of Interdisciplinary Research, 3(7)/2017, 791-804. 3. ‘Xác định cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam - Tiếp cận bằng
mô hình hồi quy ngưỡng (PTR)’, Ta ̣p chí Khoa ho ̣c và Đào ta ̣o Ngân hàng, 180, 43-
51, 2017. 4. ‘Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến Việt Nam’, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 132, 44-56, 2017. 5. ‘Mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và các yếu tố kinh tế vĩ mô tại các doanh nghiệp Việt Nam: Tiếp cận bằng mô hình véc tơ tự hồi quy trên dữ liệu bảng (PVAR)’, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 235(II), 84-95, 2017. 6. ‘Cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam: Tiếp cận bằng hồi quy phân vị’, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 235, 60-70, 2017. 7. ‘Tác động của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của cấc quốc gia khu vực Đông Nam Á’, Tạp chí Khoa học Thương mại, 101, 1-3, 2017. 8. ‘Hiệu quả các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam’, Tạp chí Ngân hàng, 23, 7-15, 2016. 9. ‘Capital structure and firm performance in Viet Nam: A quantile regression appoach’, Modern indeologies in economics and govrenamce & the application for Viet Nam after joining AEC and TPP, Sep 30/2016, 223-244. 10. ‘Planning target capital structure in joint – Stock machine companies in Viet Nam prior to ASEAN economic community and trans – pacific partnership’, Modern indeologies in economics and govrenamce & the application for Viet Nam after joining AEC and TPP, Sep 30/2016, 276-299. 11. ‘Ứng dụng đường cong Laffer xác định ngưỡng nợ nước ngoài - góc nhìn từ các nước khu vực Đông Nam Á’, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 09(406), 82-89, 2016. 12. ‘Tác động của chính sách thuế đến hoạch định cấu trúc vốn của các CTCP niêm yết ở Việt Nam, 2, 18-20, 2016. ii 13. ‘Nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế - Góc nhìn từ các nước khu vực Đông Nam Á’, Tạp chí Ngân hàng, 3+4/2, 150-160, 2015. 14. ‘Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam’, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 117, 46 – 53, 2015. 15. ‘Giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay’, Tạp Chí Kinh tế & Dự báo, 578, 2014. 16. ‘Phát triển tín dụng nhà ở cho người có thu nhập trung bình và thấp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam’, Tạp Chí Kinh tế & Dự báo, 574, 53-56, 2014. DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI THAM GIA 17. Đề tài ‘Mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách an toàn vĩ mô trong việc ổn định tài chính tại Việt Nam’, 2017, Ngân hàng Nhà nước, Thành viên. 18. Đề tài ‘Tác động của giá dầu thế giới đến chính sách tiền tệ tại Việt Nam’, 2017, Cấp Trường ĐH Ngân hàng, Thành viên. 19. Đề tài ‘Tính sẵn sàng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc hấp thụ tri thức để thích nghi với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh’, 2016, Cấp Thành phố, Thành viên. 20. Đề tài ‘Tác động của chính sách thuế thu nhập đến hoạch định cấu trúc tài chính của các công ty cổ phần tại Việt Nam’, 2015, Cấp Trường ĐH Ngân hàng, Thành viên. 21. Đề tài ‘Giải pháp đổi mới thể chế kinh tế ở Việt Nam’, 2015, Cấp Trường ĐH Ngân hàng, Thành viên. 22. Đề tài ‘Tác động của tự do hóa tài chính đến hiệu quả hoạt động NHTM Việt Nam’, 2015, Cấp Trường ĐH Ngân hàng, Thành viên. iii TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT Bùi Hữu Phước (2011), Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính. Bộ Tài chính (2006), Quyết định 15/2006/QĐ-BTC về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp. Dương Thị Hồng Vân (2014), ‘Nguyên cứu về các nhân tố tác động đến cơ cấu vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam’, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Đoàn Ngo ̣c Phi Anh (2010), ‘Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phương pháp phân tích đường dẫn’, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 5(40), 11-22. Đỗ Văn Thắng và Trịnh Quang Thiều (2010), ‘Ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên sản chứng khoán TP.HCM’, Tạp chí Phát triển kinh tế, 238 (8), 36-41. Hoàng Sỹ Động và Lương Anh Tiến (2016), ‘Bàn về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời kỳ Đổi mới’, Tạp chí Kinh tế & Dự Báo, 3(6), 13-16. Đặng Thị Quỳnh Anh và Quách Thị Hải Yến (2014), ‘Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE)’, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, 18 (28), 34-39. Lê Đạt Chí (2013), ‘Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định cấu trúc vốn của các nhà quản trị tài chính tại Việt Nam’, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, 9 (19), 22-28. Lương Minh Huân và Nguyễn Thị Thùy Dương (2016), Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, truy cập tại: Nguyễn Minh Kiều (2014), Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nhà xuất bản tài chính. iv Nguyễn Ngọc Thạch và Trần Thị Kim Oanh (2015), ‘Các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam’, TạpchíCôngnghệNgânhàng,117(12/2015), 45-53. Nguyễn Thị Ngọc Lan và Nguyễn Tiến Dũng (2013), ‘Các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các doanh nghiệp tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam’, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 193 (7), 23-28. Nguyễn Thành Cường (2015), Tác động của cấu trúc vốn lên giá trị doanh nghiệp chế biến thủy sản Nam Trung Bộ, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế -Luật. Ngân hàng Nhà nước (2007- quý 2/2016), Thống kê số liệu, truy cập tại Ngân hàng Nhà Nước (2008a), Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Ngân hàng Nhà Nước (2008b), Quyết định 187/QĐ-NHNN về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Nhà Nước (2008c), Quyết định 346/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc. Ngân hàng Nhà Nước (2008d), Quyết định 03/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Ngô Kim Phượng (2013), Phân tích Tài chính doanh nghiệp, NXB Lao động. Phạm Hải Châu (2016), ‘Giải pháp tái cấu trúc vốn doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế’, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội. Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN, Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 16 tháng 5 năm 2008. Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN, điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 16 tháng 01 năm 2008. v Quyết định số 346/QĐ-NHNN, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 13 tháng 02 năm 2008. Quyết định 03/2008/ QĐ-NHNN, Cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngày 01 tháng 02 năm 2008. Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC, chuẩn mực kế toán 21, Bộ trưởng Bộ Tài chính, ngày 30 tháng 12 năm 2003. Trần Hoàng Ngân, Trần Phương Thảo, Vũ Thị Lệ Giang, Hoàng Hải Yến, Lê Văn Lâm, Nguyễn Hữu Huân, Phạm Khánh Duy và Nguyễn Trung Thông (2014), ‘Chính sách tiền tệ và các công cụ thực thi tại Việt Nam giai đoạn 1986-2013’, Tạp chí Phát triển kinh tế, 288(10), 2-18. Tổng cục Thống kê (2006- 2015), Báo cáo số liệu thống kê thường niên, truy cập tại < https://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621>,[truy cập ngày 09/09/2016]. Trần Ngọc Thơ và ctg(2013), Tài chính Doanh nghiệp hiện đại, NXB Thống kê. Trần Hùng Sơn (2013), Xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Thành Phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ, Đại học Kinh tế Luật. Võ Thị Quý (2014), ‘Kiểm định lý thuyết cấu trúc vốn qua hành vi tài chính của các công ty bất động sản ở Việt Nam’, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 96 (3), 50-58. Võ Xuân Vinh và Nguyễn Thành Phú (2014), ‘Nợ vay và giá trị doanh nghiệp: Bằng chứng từ mô hình hồi quy ngưỡng’, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, 103 (10), 31-38. Võ Thị Thúy Anh và ctg(2014), ‘Nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam,’ Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 207 (9), 19-27. Võ Thị Thúy Anh(2010), ‘Các vấn đề của gói kích cầu thứ nhất – bài học kinh nghiệm về chính sách kích cầu cho Việt Nam’, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 5(40), 42-51. vi Võ Hồng Đức và Võ Tường Luân (2014), ‘Bằng chứng thực nghiệm về hạn mức sử dụng nợ tối ưu trong các doanh nghiệp niêm yết tại VN’, Tạp chí Phát triển Kinh tế, 280, 43-60. Vũ Quang Việt (2013), ‘Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng. Phân tích ứng dụng đối với kinh tế Mỹ và Việt Nam’, Tạp chí Nghiên cứu và thảo luận, 27(3), 1-62. Truy cập tại: https://drive.google.com/file/d/0Bx9zpCA6dugRWGxEWnNLU25EOGs/view, [03/03/2017]. VCCI (2014), truy cập tại http://vcci.com.vn/bon-nguyen-nhan-khien-doanh-nghiep- viet-giai-the, [02/02/2017]. VCCI (2010 – 2015), Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam các năm 2010-2015. TIẾNG ANH Asian Development Bank, available from Antoniou, A., Guney, Y. and Paudyal, K. (2008), ‘The Determinants of Capital Structure: Capital Market-Oriented versus Bank-Oriented Institutions’, The Journal of Financial and Quantitative Analysis, 43(1), 59-92. Amjad, S., Bilal and Tufail, S. (2012), ‘What can be the Determinants of Capital Structure of Banking Sector of Pakistan?’, International Conference on Business Management, ISBN: 978-969-9368-07-3. Ariff, M., Taufq, H. and Shamsher, M. (2008), ‘How capital structure adjusts dynamically during fnancial crises’, Journal of Faculty of Business Bond University, 12, 15-25. Alves, P. and Francisco, P. (2015), ‘The Impact of Institutional Environment in Firms´ Capital Structure during the Recent Financial Crises’, The Quarterly Review of Economics and Finance, 57, 129 -146. Altunok and Oduncu (2014), ‘Firm Leverage and the Financial Crisis’, Working paper, 14/27. Available from 45e4-9b1f-8703b6174ce2/WP1427.pdf?MOD=AJPERES&CACHEID=5a3428e4- 30e6-45e4-9b1f-8703b6174ce2>, [01 Dec 2016]. vii AsianBondsOnline, available from P_Local>, [01 Dec 2016]. Andrews, D., W., K. and Lu, B. (2001), ‘Consistent model and moment selection procedures for GMM estimation with application to dynamic panel data models’, Journal of Econometrics, 101, 123-164. Asquith, P. and Mullins, D., W. (1983), ‘The Impact of Initiating Dividend Payments on Shareholders’, The Journal of Business, 56 (1), 77-96. Ahmad and Abdullah (2012), ‘Capital Structure Effect on Firms Performance: Focusing on Consumers and Industrials Sectors on Malaysian Firms’, International Review of Business Research Papers, 8 (5), 137-155. Andani, A. và Al-hassan, S. (2012), ‘The Determinants of the Financing Decisions of Listed and Non-Listed Firms in Ghana’, Asian Economic and Financial Review, 2 (7), 751-771. Afza, T. và Hussain, A. (2011), ‘Determinants of Capital Structure across Selected Manufacturing Sectors of Pakistan’, International Journal of Humanities and Social Science, 1(12), 254-262. Arellano, M. and Bover, O. (1995), ‘Another look at the instrumental variables estimation of error-component models’, Journal of Econometrics, 68, 29-51. Akinlo, O. (2011), ‘Determinants of capital structure: evidence from Nigerian panel data’, African Economic and Business Review, 9 (1), 1-16. Allayannis, G., Brown, G., W. and Klapper, L., F. (2003), ‘Capital structure and financial risk: evidence from foreign debt use in East Asia’, Journal of Finance, 58, 2667-2709. Booth, Laurence, Aivazian, Varouj, Demirguc-Kunt, Asli, and Maksimovic, Vojislav (2001), ‘Capital Structures in Developing Countries’, Journal of Finance, 56(1), 87–130. Bringham, E., F., Eugene, F. and Houston, J., F. (2009), Fundamentals of financial management, Cengage Learning, 416-443. viii Brigham, E., F. and Ehrhardt, M., C. (2008), Financial Management: Theory & Practice, College Bookstore Wholesale. Baker, M., P. and Wurgler, J. (2002), ‘Market Timing and Capital Structure’, Journal of Finance, 57(1), 1-32. Burns, A., F. and Mitchell, W., C. (1946), Measuring Business Cycles, National Bureau of Economic Research, Studies in Business Cycles. Borio, C. (2012), ‘The financial cycle and macroeconomics: what have we learnt?’, BIS Working Papers, 395. Available from Baltaci, N. and Ayaydin, H. (2014), ‘Firm, Country and Macroeconomic Determinants of Capital Structure: Evidence from Turkish Banking Secto’, Emerging Markets Journal, 3(3), 47-58. Bokpin, G., A. (2009), ‘Macroeconomic development and capital structure decisions of firms: Evidence from emerging market economies’, Studies in Economics and Finance, 26(2), 129 – 142. Bas T., Muradoglu, G. and Phylaktis, K. (2009), ‘Determinants of Capital Structure in Developing Countries’, Cass Business School, London. Available from China/papers/determinants%20of%20capital%20structure%20in%20developing%20 countries.pdf>, [01 Dec 2016]. Barry, C., Mann, S., Mihov, V., and Rodroguez, M. (2008), ‘Corporate debt issuance and the historical level of interest rates’, Financial Management, 37, 413-430. Bartiloro, L. and Iasio, G. (2012), ‘Financial Sector Dynamics and Firms' Capital Structure’, The Financial Systems of Industrial Countries, 1, 157-182. Berger, N., A. và Udell, G., F. (2002), ‘Small business credit availability and relationship lending: The importance of bank organisational structure’, The Economic Journal, Oxford, 112(477), 32-53. ix Bruno, F. and Clovis, M. (2009), ‘Firms' capital structure and the bankruptcy law design’, Journal of Financial Economic Policy, 1(3), 264 – 275. Berzkalne (2015), ‘Company’s Capital Structure and Value: a Panel Threshold Regression Analysis’, Irina Applied Economics: Systematic Research, 9 (1), 77. Balios, Daskalakis, Eriotis and Vasiliou (2016), ‘SMEs capital structure determinants during severe economic crisis: The case of Greece’, Cogent Economics & Finance, 4, 1-11. Baker, M., Stein, J., Wurgler, J., (2003), ‘When does the market matter? Stock prices and the investment of equity-dependent firms’, Quarterly Journal of Economics, 118, 969–1005. Baker, H., K. and Martin, G., S. (2011), Capital Structure and Corporate Financing Decisions, John Wiley & Sons Inc, USA. Biger N., Nguyen N., V. and Hoang, Q., X. (2008), ‘The determinants of capital structure: evidence from Viet Nam’, International Finance, 8, 307-326. Brealey, R., A. , Myers, S., C. and Allen, F. (2008), Principles of Corporate Finance, McGraw-Hill/Irwin. Banerjee A. (1992), ‘A simple model of herd behavior’, Quarterly Journal of Economics, 107 (3), 797–817. Chari V and Kehoe P. (2004), ‘Financial crises as herds: overturning the critiques’, Journal of Economic Theory, 119, 128–150. Chen, J., J. (2003), ‘Determinants of capital structure of Chinese-listed companies’, Journal of Business Research, 57, 1341– 1351. Carmassi, J., Gros, D.; Micossi, S. (2009), ‘The Global Financial Crisis: Causes and Cures’, Journal of Common Market Studies, 47, 5, 977-996. Cetorelli, N. and Goldberg, L., S. (2011), ‘Global Banks and International Shock Transmission: Evidence from the Crisis’, IMF Economic Review, 59, 41–76. x Crotty, J. (2009), ‘Structural causes of the global financial crisis: a critical assessment of the new financial architecture’, Cambridge Journal of Economics, 33, 563-580. Chen, C, .J., P., Cheng, A., He, N., and Kim, J. (1997), ‘An Investigation of the Relationship Between International Activities and Capital Structure’, Journal of International Business Studies, 23(3), 563-577. Custódio C., Ferreira M. and Laureano L. (2013), ‘Why are US firms using more short- term debt?’, Journal of Financial Economics, 108(1), 182–212. Cheng, Y., Liu, Y. and Chien, C. (2010), ‘Capital structure and firm value in China: A panel threshold regression analysis’, African Journal of Business Management, 4(12), 2500-2507. Cornett, M., M., McNutt, J., J., Strahan, P., E. and Tehranian, H. (2011), ‘Liquidity risk management and credit supply in the financial crisis’, Journal of Financial Economics, 101, 297-312. Clayton, M. (2009), ‘Debt, investment, and product market competition: A note on the limited liability effect’, Journal of Banking & Finance, 33(4), 694-700. Collin, D., P. and Goldstein, R. (2001), ‘The determinants of credict spread changes’, Journal of Finance, 56, 2177-2207. Deesomsak, R. and Paudyal, K. and Pescetto, G. (2004), ‘The determinants of capital structure: evidence from the Asia Pacific region’, Journal of multinational financial management, 14 (4-5), 387-405. Detzer and Herr (2014), ‘Financialisation, economy, society and sustainable development’, FESSUD Working Paper. Available from 13022014-working-paper-25.pdf>, [01 Dec 2016]. Diamon, W. and Dybvig, P., H. (1983), ‘Bank Runs, Deposit Insurance, and Liquidity’, The Journal of Political Economy, 91(3), 401-419. Davis, E., P. and Stone, M., R. (2004), ‘Corporate financial structure and financial stability’, Journal of Financial Stability, 1(1), 65-91. xi Durand, D. (1952), ‘Cost of Debt and Equity Funds for Business: Trends and Problems in Measurement Conference on Research’, Business Finance, 215-247. Donaldson, G. (1961), ‘Corporate debt capacity: A study of corporate debt policy and the determination of corporate debt capacity’, Harvard School of Business Administration. Drucker, P. (1980), ‘Managing in turbulent times’, Harper & Row Publishers, New York, NY. Erel (2012), ‘Macroeconomic Conditions and Capital Raising’, Oxford Journals, 25(2), 341-376. Fosberg, R., H. (2013), ‘Short-term debt financing during the financial crisis’, International Journal of Business and Social Science, 4(8), 1-5. Frank, M., Z. and Goyal, V., K. (2007), ‘Trade-Off and Pecking Order Theories of Debt’, Handbook of Corporate Finance: Empirical Corporate Finance, 2, 1-82. Faulkender, M. and Petersen, M. (2006), ‘Does the Source of Capital Affect Capital Structure?’, Financial Economics, 19(1), 45-79. Fama, E., F. and French, K., R. (2002), ‘Testing Tradeoff and Pecking Order Predictions about Dividends and Debt’, Financial Studies, 15, 1-33. Gygax, A., Koropp, C. and Grichnik, D. (2013), ‘Succession financing in family firms’, Small Business Economics, 41(2), 315-334. Gungoraydinoglu, A. and Oztekin, O. (2011), ‘Firm- and country-level determinants of corporate leverage: Some new international evidence’, Journal of Corporate Finance, 17, 1457-1474. Guariglia, A. and Mateut, S. (2010), ‘Inventory Investment, Global Engagement, and Financial Constraints in the UK: Evidence from Micro Data’, Journal of Macroeconomic, 32(1), 239-50. Harrod, Roy F. (1939), ‘An Essay in Dynamic Theory’, The Economic Journal, 49 (193), 14–33. Holtz-Eakin, D., Newey, W. and Rosen, H., S. (1988), ‘Estimating vector autoregressions with panel data’, Econometrica, 6, 1371-1395. xii Hansen, B., E. (1999), ‘Threshold effects in non-dynamic panels: Estimation, testing and inference’, Journal of Econometrics, 93, 345-368. Hansen, L., P. and Singleton, K., J. (1982), ‘Generalized Instrumental Variables of Nonlinear Rational Expectations Models’, Econometrica, 50, 1269–1286. Hunjra, A., I., Chani, M., I., Javed, S., Naeem, S. and Ijaz, M., S. (2014), ‘Impact of Micro Economic Variables on Firms Performance’, International Journal of Economics and Empirical Research, 2 (2), 65-73. Hovakimian, A., Hovakimian, G. andTehranian, H.(2004), ‘Determinants of target capital structure: The case of dual debt and equity issues’, Journal of Financial Economics, 71(3), 517-540. Herr, H. (2008), ‘Financial systems in developing countries and economic development in Eckhard Hein, Thorsten Niechoj, Peter Spahin and Achim Truger (eds.)’, Finance-led Capitalism? Macroeconomic effects of changes in the financial sector, Metropolis-Verlag. Haron, R. and Ibrahim, K. (2012), ‘Target capital structure and speed of adjustment: panel data evidence on malaysia shariah compliant securities’, International Journal of Economics, Management and Accounting, 20(2), 87-107. Holmstrom, B. and Tirole, J. (1997), ‘Financial Intermediation, Loanable funds and the Real Sector’, Quarterly Journal of Economics, 112 (3), 663-691. Iqbal, A., and Kume, O. (2014), ‘Impact of financial crisis on firms’ capital structure in UK, France, and Germany’, Multinational Finance Journal, 18(3/4), 249-280. International Monetary Fund, Available from C5AD-4D27-A175-1253419C02D1, [01 Dec 2016]. Jensen, M. and Meckling, W. (1976), ‘Theory of the Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs, and Ownership Structure’, Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360. xiii Jensen, M. (1986), ‘Agency cost of free cash flow, corporate finance and takeovers’, American Economic, 76, 323-329. Jong, A., D., Kabir, R., Nguyen T., T. (2008), ‘Capital structure around the world: the roles of of firm- and country-specific determinants’, Journal of Banking and Finance, 32 (9), 1954-1969. Joeveer K. (2013), ‘Firm, country and macroeconomic determinants of capital structure: Evidence from transition economies’, Journal of Comparative Economics, 41, 294-308. Judson, R., A. and Owen, A., L. (1999), ‘Estimating dynamic panel data models: A guide for macroeconomists’, Economics Letters, 65(1), 9-15. Kayhan, A. and Titman, S. (2007), ‘Firms’ Histories and Their Capital Structure’, Journal of Financial Economics, 83, 1-32. Kayo, E., K. and Kimura, H. (2011), ‘Hierarchical determinants of capital structure’, Journal of Banking & Finance, 35, 358–371. Kindleberger, C. (1996), Manias, Panics, and Crashes: A History of Financial Crises, New York: John Wiley. Khanna, S., Srivastava, A. and Medury, Y. (2015), ‘The Effect of Macroeconomic Variables on the Capital Structure Decisions of Indian Firms: A Vector Error Correction Model/Vector Autoregressive Approach’, International Journal of Economics and Financial, 5(4), 968-978. Kraus, A., and Litzenberger, R., H. (1973), ‘A State-Preference Model of Optimal Financial Leverage’, Journal of Finance, 33, 911-922. Logan, J. R. (2014), ‘Diversity and Disparities America Enters a New Century’, The Russell Sage Foundation. Lim, T., C. (2012), ‘Determinants of Capital Structure Empirical Evidence from Financial Services Listed Firms in China’, International Journal of Economics & Finance, 4 (3), 191-203. xiv Lin, F., L. (2007), ‘Panel Threshold Effect of Debt Ratio on Firm Value in Taiwanese Listed Companies’. Available from Debt%20Ratio%20paper2007-3-1.doc>. Lin, F., L. and Chang, T. (2011), ‘Does debt affect firm value in Taiwan? A panel threshold regression analysis’, Applied Economics, 43(1), 117-128. Love, I. and Zicchino L. (2006), ‘Financial development and dynamic investment behavior: Evidence from panel VAR’, The Quarterly Review of Economics and Finance, 46(2), 190-210. Leland, Hayne, E. and Pyle, D., H. (1977), ‘Informational Asymmetries, Financial Structure, and Financial Intermediation’, Journal of Finance, 32 (2), 371-87. Lin, W, Wang, J., Z., Chen, L. and Qi, D. (2011), ‘A Threshold-based Dynamic Resource Allocation Scheme for Cloud Computing’, Procedia Engineering, 23, 695-703. Lucas R. (2007), ‘Growth, Poverty and Business Cycles’, EconTalk, Library of Economics and Liberty. Domar, Evsey (1946), ‘Capital Expansion, Rate of Growth, and Employment’, Econometrica, 14 (2), 137–147. Modigliani, F. and Miller, M. (1958), ‘The cost of capital, corporate finance, and the theory of investment’, The American Economic, 48(3), 291–297. Modigliani, F. and Miller, M. (1963), ‘Corporate income taxes and the cost of capital: a correction’, The American Economic, 53, 443–53. Masoud, N. (2014), ‘The Determinants of Capital Structure Choice: Evidence from Libyan Firms’, Research Journal of Finance and Accounting, 5(1), 67-83. Mateut, S., Bougheas, S. and P. Mizen (2006), ‘Trade Credit, Bank Lending and Monetary Policy Transmission’, European Economic Review, 50, 603-629. xv Mcguigan J. R, Kretlow W. J and Moyer R. C. (2006), Contemporary Financial Management, Thomson South Western, 440-556. Myers, S. (1984), ‘The Capital Structure Puzzle’, Journal of Finance, 39(3), 575-592. Myers, S., C. and Majluf, N. (1984), ‘Corporate Financing and Investment Decisions when Firms have Information Investors do not have’, Journal of Financial Economics, 13 (2), 187-221. Minsky, H. (1975), ‘The Financial Instability Hypothesis: An Interpretation of Keynes and an Alternative to "Standard Theory"’, Hyman P. Minsky Archive, 38. Available from http://digitalcommons.bard.edu/hm_archive/38. Nguyen, D., T., Diaz-Rainey I. and Gregoriou A. (2012), ‘Financial Development and the Determinants of Capital Structure in Viet Nam’, Journal of Southeast Asian Economies. Available from SSRN: https://ssrn.com/abstract=2014834. Nieh, C., C., Yau, H., Y. and Liu, W., C. (2008), ‘Investigation of Target Capital Structure for Electronic Listed Firms in Taiwan’, Emerging Markets Finance and Trade, 44, (4), 75-87. Nor, F., M., Haron, R., Ibrahim, K., Ibrahim, I. and Alias, N. (2011), ‘Determinants of target capital structure evidence on south east Asia countries’, Journal of Business and Policy Research, 6 (3), 39-61. Nguyen Thanh Cuong and Nguyen Thi Canh (2012), ‘The Factors Affecting Capital Structure for Each Group of Enterprises in Each Debt Ratio Threshold: Evidence from Vietnam’s Seafood Processing Enterprises’, International Research Journal of Finance and Economics, 94, 23-37. Nurlaily, F., Suhadak, R., K. and Hsu, W., H., L. (2013), ‘He influence of macroeconomic and microeconomic variables on capital structure and financial performance’, Jurnal Profit, 7(1), 113-126. xvi NBER (2010), ‘The NBER's Business Cycle Dating Committee’, Available from Ozkan, A. (2001), ‘Determinants of Capital Structure and Adjustment to Long Run Target: Evidence from UK Company Panel Data’, Journal of Business Finance & Accounting, 28, 175- 198. Oztekin, O. (2013), ‘Capital Structure Decisions Around the World: Which Factors are Reliably Important?’, Journal of Financial and Quantitative Analysis. Available from < https://ssrn.com/abstract=1464471 >, [01 Dec 2016]. Paramasvan C. and Subramania T. (2008), Financial Management, New Age International Limited. Pepur, S. , Curak, M. and Poposki, K. (2016), ‘Corporate capital structure: the case of large Croatian companies’, Economic Research-Ekonomska Istrazivanja, 29 (1), 498-514. Proenca, P., Laureano, R., M. and Laureano, L., M. (2014), ‘Determinants of capital structure and the 2008 financial crisis: Evidence from Portuguese SMEs’, Procedia- Social and Behavioral Sciences, 150, 182-191. Peltonen, T., A., Sousa, R., M. and Vansteenkiste, I., S. (2009), ‘Fundamentals, Financial Factors and The Dynamics of Investment in Emerging Markets’, ECB working paper. Available from Quang and Xin (2015), ‘Measuring impact of capital structure on financial performance of Vietnamese soes’, Innovative Journal of Business and Management, 4(6),114-117. Ross, W., J. (2003), Capital Structure. In Corporate Finance, McGrawHill. Rehman, S., U. and Rehman, M., U. (2014), ‘He Behavior of Leverage and Value of Financially Constrained and Unconstrained Firms During the Crisis Period’, Journal of Social Sciences, 8(2), 1-6. xvii Rajan, R., G. and Zingales, L. (1995), ‘What do we know about capital structure? Some evidence from international data’, Journal of Finance, 50, 1421-1460. Randveer, M., Uuskula L. and Kulu L. (2011), ‘The impact of private debt on economic growth’, Working Papers of Eesti Pank. Available from randveer-lenno-uuskula-and-liina-kulu-impact-private-debt-economic-growth>, [01 Dec 2016]. Ross (1977), ‘The Determination of Financial Structure: The Incentive-Signalling Approach’, The Bell Journal of Economics, 8(1), 23-40. Ramzi, E., N. and Tarazi (2013), ‘Determinants of Capital Structure: Evidence from Thailand Panel Data’, Proceedings of 3rd Global Accounting, Finance and Economics Conference, Australia. Seo, M., H. and Shin Y. (2014), ‘Dynamic Panels with Threshold Effect and Endogeneity’, London School of Economics Research Lab Working Paper Series. Available from df>, [01 Dec 12 2016]. Stulz, R. (1990), ‘Managerial discretion and optimal financing policies’, Journal of Financial Economics, 26, 3- 27. Sims, C., (1980), ‘Macroeconomics and reality’, Econometrica, 48, 1-47. Sbeiti, W. (2010), ‘The Determinants of Capital Structure: Evidence from the GCC Countries’, International Research Journal of Finance and Economics, 47, 55-77. Samuelson, P. and Nordhaus, W. (2007), Economics, McGraw Hill. Samuelson (1939), ‘Interactions Between the Multiplier Analysis and the Principle of Acceleration’, The Review of Economics and Statistics, 21 (2), 75-78. Sheikh, N., A. and Wang, Z. (2011), ‘Determinants of capital structure: An empirical study of firms in manufacturing industry of Pakistan’, Managerial Finance, 37 (2), 117 – 133. xviii Titman, S., (1984), ‘The effect of capital structure on a firm’s liquidation decision’, Journal of Financial Economics, 13, 137-151. Titman, S. and Wessels R. (1988), ‘The determinants of capital structure choice’, Journal of Finance, 43, 1-18. Tongkong, S. and Jantarakolica, T. (2013), ‘Dynamic Panel data model for capitak structure of listed companies in Set’, Journal of Asia Pacific Innovation and Technology Management, 3, 1-13. Tran Dinh Khoi Nguyen and Ramachandran N., (2006), ‘Capital Structure in Small and Medium-sized Enterprises: The Case of Vietnam’, ASEAN Economic Bulletin, 23(2),192-211. Truong Hong Trinh and Nguyen Phuong Thao (2015), ‘Determinants of Capital Structure of A-Reits and the Global Financial Crisis’, Pacific Rim Property Research Journal, 18(1), 3-19. Vatavu, S. (2015), ‘The impact of capital structure on financial performance in Romanian listed companies’, Procedia Economics and Finance 32, 1314-1322. Voutsinas, K. and Werner, R., A. (2011), ‘Credit supply and corporate capital structure: Evidence from Japan’, International Review of Financial Analysis, 20, 320-334. Wang, J. and Zhu, W. (2014), ‘The impact of capital structure on corporate performance based on panel threshold model’, Computer modelling & New technologies, 18(5), 162-167. Zarebski, P., and Dimovski, B. (2012), ‘Determinants of Capital Structure of A-REITS and the Global Financial Crisis’, Pacific Rim Property Research Journal, 18(1), 3-19. Zhang, X., and Mirza, S., S. (2015), ‘Determinants of Capital Structure of Firms in Pre-Post Financial Crisis: Evidence from China’, Journal of Finance and Accounting, 6(12), 43-52. Zerriaa, M., and Noubbigh, H. (2015), ‘Determinants of Capital Structure: Evidence from Tunisian Listed Firms’, International Journal of Business and Management, 10(9), 121-135. xix PHỤ LỤC 1: HỆ THỐNG CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN 1.1. Hệ thống các lý thuyết về cấu trúc vốn Hình 1.1. Hệ thống các lý thuyết về CTV, CTV mục tiêu Nguồn: Paramasvan và Subramania (2008); Bringham và Houston (2009). Bảng 1.1. Tổng hợp các lý thuyết về CTV, CTV mục tiêu Các lý thuyết Ưu điểm Nhược điểm Kết luận chưa đủ thuyết phục. Lý thuyết
truyền thống CTV tối ưu là sự kết hợp giữa
nợ và VCSH ở một tỷ lệ nhất
định. Nghiên cứu dựa trên các điều
kiện khác xa so với thực tế. Lý thuyết MM Lý thuyết này cung cấp bằng
chứngtồn tại mối quan hệ của
CTV với chi phí sử dụng vốn
và giá trị doanh nghiệp. Nhưng không đề cập đến việc
xác định có hay không có một
CTV tối ưu cho doanh nghiệp. Lý thuyết POT Nghiên cứu này đã đưa ra thứ
tự ưu tiên sử dụng nguồn vốn
như sau: từ nội bộ, nợ và phát
hành cổ phần mới. xx Lý thuyết TOT
(động) Lý thuyết chỉ ra rằng các
doanh nghiệp cần thiết lập
CTV mục tiêu dựa trên sự cân
bằng giữa lợi ích và chi phí.
Sau đó, điều chỉnh dần tỷ số
nợ về mục tiêu đó. Nghiên cứu chưa đề cập đến các
chi phí phát sinh trong thực tế
khi doanh nghiệp điều chỉnh
CTV về CTV mục tiêu và hành
vi của các chủ thể khác khi tham
gia thị trường. Lý thuyết chi
phí đại điện Nghiên cứu xem việc vay nợ
như là một biện pháp nhằm kiểm
soát chi phí đại diện nhưng chưa
đề cập đến chi phí kiệt quệ tài
chính do sử dụng nợ. Lý thuyết này giải thích sự tồn
tại các xung đột lợi ích giữa
các nhóm tham gia hoạt động
kinh tế làm phát sinh chi phí
đại diện. Đồng thời, lý thuyết
nhận định các rủi ro có thể
trong quá trình quản trị doanh
nghiệp. Lý thuyết tín
hiệu Kết luận còn mang tính chủ
quan, chưa có mô hình nghiên
cứu đủ tính thuyết phục. Nghiên cứu tín hiệu của nhà
quản lý doanh nghiệp giúp
cho các nhà đầu tư nhận định
triển vọng của doanh
về
nghiệp, từ đó tác động đến giá
cổ phiếu. Lý thuyết định
điểm thị trường Lý thuyết này cho rằng giá cổ
phiếu là yếu tố tác động lâu
dài đến việc lựa chọn CTV
của doanh nghiệp. Nghiên cứu quá đề cao yếu tố
giá cổ phiếu mà quên việc lựa
chọn CTV phải tuân theo trật tự
nhất định nhằm tối thiểu hóa chi
phí cũng như cân đối giữa lợi ích
với chi phí của doanh nghiệp. Nguồn: Tác giả tổng hợp. xxi 1.2. Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan Bảng 1.2. Tổng hợp các công trình theo các biến độc lập và phương pháp nghiên cứu + GMM,
PVECM Độ trễ của biến độc
lập nợ trên TTS Điều kiện TTTP + OLS, SURE,
GMM - Điều kiện TTCK/Độ
trễ của TTCK FEM, SURE,
PVECM - GMM Lãi suất cho vay bình
quân + TOBIT,GMM Antoniou và ctg (2002), Tongkong và
ctg (2013), Gygax và ctg (2013),
Khanna và ctg (2015).
Jong và ctg (2008), Nor và ctg (2011),
Masoud (2014).
Jong và ctg (2008), Alves và Francisco
(2015), Khanna và ctg (2015).
Nor và ctg (2011), Haron và Ibrahim
(2012).
Allayannis và ctg(2002), Zerriaa và
Noubbigh (2015). - OLS, GMM,
PVECM Ariff (2008), Khanna và ctg (2015),
Zhang và Mirza (2015). Tăng trưởng GDP/Độ
trễ của tăng trưởng
GDP + OLS, SURE,
PVECM. + Tỷ lệ lạm phát/Độ trễ
của tỷ lệ lạm phát OLS, GMM,
PVECM - OLS, GMM,
PVECM. Cơ cấu tài sản + OLS, GMM, - OLS, GMM Khả năng thanh toán - OLS, GMM + OLS Jong và ctg (2008), Zhang và Mirza
(2015), Khanna và ctg (2015),
Tongkong và ctg (2013), Khanna và
ctg (2015), Zhang và Mirza (2015),
Pepur và ctg (2016).
Masoud (2014), Khanna và ctg (2015),
Zhang và Mirza (2015).
Antoniou và ctg(2008), Nor và ctg
(2011), Ariff (2008), Zhang và Mirza
(2015).
Nor và ctg (2011), Proenca và ctg
(2014), Zhang và Mirza (2015), Zhang
và Mirza (2015), Balios và ctg (2016),
Truong Hong Trinh và Nguyen Thao
Phuong (2015).
Sbeiti (2010), Nor và ctg (2011),
Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza
(2015).
Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza
(2015). Quy mô công ty OLS - + OLS, FGLS,
GMM Tốc độ tăng trưởng FEM, GMM + OLS, FGLS - Rủi ro kinh doanh OLS, FGLS - FEM, Khả năng sinh lời - OLS,
FGLS FEM, + OLS,
GMM FEM, + Thuế TNDN OLS,
SURE OLS, FEM Khủng hoảng kinh tế + OLS - Proenca và ctg (2014), Zhang và Mirza
(2015).
Ariff (2008), Proenca và ctg (2014),
Balios và ctg (2016), Truong Hong
Trinh và Nguyen Thao Phuong (2015).
Nor và ctg (2011), Alves và Francisco
(2015), Proenca và ctg (2014).
Proença và ctg (2014), Zhang và Mirza
(2015), Balios và ctg (2016).
Proença và ctg (2014), Zhang và Mirza
(2015), Balios và ctg (2016).
Deesomask và ctg (2004), Nor và ctg
(2011), Proenca và ctg (2014), Zhang
và Mirza (2015), Balios và ctg (2016),
Truong Hong Trinh và Nguyen Thao
Phuong (2015).
Antoniou và ctg(2008), Ariff (2008),
Fosberg (2013), Rehman và Rehman
(2014), Iqbal và Kume (2014), Zhang
và Mirza (2015).
Booth và ctg (2001), Jong và ctg
(2008), Afza và ctg (2011), Nguyễn
Thành Cường (2015), Zhang và Mirza
(2015).
Fosberg (2013), Alves và Francisco
(2015),
(2014),
Iqbal và Kume
Rehman và Rehman (2014), Proenca
và ctg (2014)
Zarebski và Dimovski (2012), Rehman
và Rehman (2014) xxii Tồn tại CTV mục tiêu PTR, hồi quy
phi tuyến Lin (2007), Nieh và ctg (2008), Cheng
và ctg (2010), Lin và Chang (2011),
Babalola (2012), Wang và Zhu (2014),
Nguyễn Thành Cường (2014) Ghi chú: (+) tác động thuận chiều, (-) tác động nghịch chiều. Nguồn: Tác giả tổng hợp. xxiii Bảng 1.3. Tổng hợp các nghiên cứu về CTV mục tiêu gắn liền với bối cảnh suy thoái kinh tế hay khủng hoảng kinh tế Ariff (2008) Châu Á 182 1986-2001 1997-1998 1.527 1993-2001 1997-1998 Deesomsak và ctg
(2004) Thái Lan,
Malaysia,
Singapore,
Úc Fosberg (2013) Mỹ 2005-2010 2007-2010 và Châu Âu 11,209 2000-2011 Alves
Francisco (2015) 2000-2001
2007-2008
2010-2011 1,748 2006-2011 2007-2010 Iqbal và Kume
(2014) Anh,
Pháp, Đức CTV tối ưu, MM,
TOT động.
POT, TOT, chi phí
đại diện, tín hiệu,
định
thị
điểm
trường, dòng tiền.
POT, TOT, định
điểm thị trường.
POT, TOT động,
chi phí đại diện,
định
thị
điểm
trường.
POT, TOT động,
chi phí đại diện,
định
thị
điểm
trường. và Hy Lạp 8,052 2009-2012 2009-2012 POT, TOT và Nhật Bản 1,537 1980-2007 1980-1990 MM, POT, TOT. 12,857 2007-2010 2008 Bồ Đào
Nha Balios
(2016)
Voutsinas
Werner (2011)
Proença và ctg
(2014) Dimovski (2012) Úc 2006-2009 2008 Ngành
BĐS 897 2003-2012 2007-2010 Zhang và Mirza
(2015) Trung
Quốc POT, TOT, dòng
tiền tự do
POT, TOT động,
định
thị
điểm
trường.
POT, TOT động,
định
thị
điểm
trường. Việt Nam 265 2006-2013 2008 MM, POT, TOT,
chi phí đại điện. và 250 2004-2009 2007 POT, TOT động. Hong
Truong
Trinh và Nguyen
Thao
Phuong
(2015)
Altunok
Oduncu (2014) Thổ Nhĩ
Kỳ ctg Nguồn: Tác giả tổng hợp PHỤ LỤC 2: TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM 2.1. TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM 2.1.1 Tăng trưởng kinh tế (GDP) Mặc dù, cuộc suy thoái kinh tế thế giới không có tác động trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam thông qua hệ thống tài chính, tuy nhiên tác động gián tiếp khá mạnh tới tổng cầu hàng hóa. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm gần đây có xu hướng chậm lại song vẫn duy trì ở mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới trong bối cảnh nền kinh tế liên tục đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam đạt 6,12%/năm và thời kỳ phục hồi thì con số này là 5,89%, chậm hơn so với thời kỳ trước suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2000-quý 4/2005) với tốc độ bình quân đạt 6,88%/ năm (Chi tiết được trình bày tại Hình 2.1). Điều đó cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu suy giảm, từ quý 1/2008 tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu chậm lại, đạt 7,52%, tiếp tục giảm ở các quý tiếp theo và chạm đáy của sự suy giảm tại quý 1/2009 với mức thấp nhất đạt 3,12%. Tuy nhiên, từ cuối năm 2009 cho đến năm 2010, nền kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu phục hồi, cụ thể tăng trưởng kinh tế đã vượt dốc đi lên và tiếp tục phục hồi ở mức khá cao trong năm 2010. Từ năm 2011 cho đến nay, mặc dù, kinh tế thế giới đã phục hồi nhưng tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng nhưng ở mức chậm và chưa bền vững, không đạt mục tiêu đã định ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do Việt Nam duy trì mục tiêu tăng trưởng cao bằng mọi giá trong thời gian dài, chưa tập trung vào chất lượng, hàng hóa quốc nội chủ yếu là các sản phẩm thô, giá trị gia tăng hạn chế, năng suất lao động thấp (Hoàng Sỹ Động và Lương Anh Tiến, 2016). Hình 2.1. Tăng trưởng kinh tế, lạm phát và vốn đầu tư trực tiếp của Việt INF/GDP (%) FDI (Triệu USD) GDP INF FDI 30.00 5 27.73 25.00 22.53 4 20.00 3.077 3 15.00 1.943 2 10.00 7.67 1.394 1 5.00 3.12 2.42 0.00 0 Nam trong giai đoạn Q1/2007-Q2/2016 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của IMF. 2.1.2. Lạm phát (INF) Hình 2.1. cho thấy, từ quý 1/2007-quý 2/2016, suy thoái kinh tế thế giới gây nên sự biến động mạnh của các biến kinh tế vĩ mô Việt Nam. Cụ thể, nền kinh tế Việt Nam không chỉ suy giảm về tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn bộc lộ những bất ổn do việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng mở rộng, theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Lạm phát tăng liên tục đến mức kỷ lục trong vòng 10 năm, đạt đỉnh 27,73% vào quý 3/2008, rủi ro tài chính tăng cao. Nhưng lạm phát dần ổn định, từ quý 3/2012, tỷ lệ lạm phát được duy trì ở mức 5,67%. 2.1.3. Vốn đầu tư nước ngoài Suy thoái kinh tế thế giới là một trong các yếu tố có tác động mạnh tới dòng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Trong giai đoạn từ năm 2006-2010, việc Việt Nam gia nhập WTO đã đánh dấu những thành quả đổi mới, sức hấp dẫn của Việt Nam trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế gia tăng. Cụ thể, các năm 2007, 2008, tổng số FDI giải ngân tăng, lần lượt 6,7 tỷ USD và 9,58 tỷ USD, trong đó cao nhất là quý 3/2008 đạt 3,1 tỷ USD. Năm 2009, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, FDI giải ngân giảm còn 7,6 tỷ USD. Bước sang năm 2010, kinh tế thế giới phục hồi, dòng vốn đầu tư được lưu thông, giá trị giải ngân của các nhà đầu tư nước ngoài tăng đạt 8 tỷ USD. Đây là một dấu hiệu cho thấy, năm 2010 kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, do nền kinh tế thế giới còn chịu nhiều áp lực từ khủng hoảng nợ công tại châu Âu, thiên tai và bất ổn chính trị ở nhiều nước như Nhật Bản, Arab, Somalia,... Năm 2011, giá trị giải ngân của FDI giảm còn 7,43%. Từ năm 2012 cho đến nay, vốn FDI giải ngân có xu hướng tăng, bình quân đạt 8,9 tỷ USD (Hình 2.1.). 2.1.4. Xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam là một trong các nước có độ mở ngoại thương lớn (đứng thứ 3 so với các nước châu Á), vì vậy tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến xuất khẩu là mạnh và nhanh nhất. Tình trạng nhập siêu ở Việt Nam duy trì trong thời gian dài từ năm 1995- 2011, nhất là trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới từ năm 2007-2010, nhập siêu trung bình đạt 14,4 tỷ USD. Nếu chỉ xét riêng năm 2008, thâm hụt cán cân thương mại là 18,03 tỷ USD, cao nhất trong mười năm gần đây. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, điều này không có lợi dù Việt Nam chủ yếu nhập tư liệu sản xuất, khi các dòng vốn vào giảm mạnh thì việc cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt có khả năng gây áp lực cho chính sách tỷ giá và bất ổn cho nền kinh tế như tăng giá trị nợ nước ngoài, giảm dự trữ ngoại tệ. Tuy nhiên, từ năm 2011 trở đi, tình trạng này bắt đầu được cải thiện. Sau nhiều năm nhập siêu, lần đầu tiên Việt Nam đã xuất siêu trong năm 2012. Năm 2013, tốc độ và cân đối kim ngạch xuất, nhập khẩu khá cân bằng và duy trì ổn định tương đối trong những năm tiếp theo (Hình 2.2). Hình 2.2. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam Cán cân thương mại Xuất khẩu Nhập khẩu Tỷ USD
200 150 100 50 2.37 0.75 0 -4 -5.19 -9.84 -12.6 -12.85 -14.12 -18.03 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 -4.32
0
2005 -50 trong giai đoạn 2005-2015 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của IMF. 2.1.5. TTTP (BOND) Trong giai đoạn từ năm 2005-2006, giá trị vốn hóa của TTTP thấp chiếm 4,21% GDP (năm 2005) và 7,24% GDP (năm 2006). Bước sang các năm 2007-2008, cùng với sự phát triển của TTCK, thị trường này đạt những kết quả nhất định với giá trị vốn hóa thị trường là 531.996 tỷ đồng, tương đương 33,12 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm 2006 và chiếm 12,45% GDP vào năm 2007. Đến năm 2008 tiếp tục tăng đạt 858.798 tỷ đồng, chiếm 16,36% GDP, với tốc độ tăng 61%, chậm hơn so với mức tăng của năm 2007. Năm 2009, mặc dù do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nhưng tổng giá trị trái phiếu lưu hành trên thị trường Việt Nam vẫn tăng nhẹ, đạt 898.620 tỷ đồng, tương đương 49,98 tỷ USD. Tuy nhiên, so với tỷ trọng giá trị vốn hóa của thị trường trên GDP thì giảm, đạt 14,05% GDP. Trong đó, tập trung chủ yếu là trái phiếu Chính phủ trị giá 827.879 tỷ đồng chiếm 92,13% tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành. Năm 2010, thị trường bắt đầu có dấu hiệu phục hồi, giá trị vốn hóa đạt 1.173.946 tỷ đồng chiếm 15,99% GDP và tiếp tục được cải thiện ở những năm sau đó, năm 2011 giá trị vốn hóa của thị trường chiếm 16,42% GDP. TTTP đang trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Năm 2014 thị trường này có giá trị vốn hóa 24,06% GDP, cao nhất từ trước đến nay (Hình 2.3). Cùng với sự phát triển của TTTP Việt Nam, TTTP doanh nghiệp cũng dần phát huy vai trò của mình. Trong giai đoạn từ năm 2010-2011, giá trị vốn hóa của trái phiếu doanh nghiệp ổn định đạt khoảng 153.251-167.025 tỷ đồng, chiếm 11,15- 11,54% giá trị thị trường, tương đương 1,83-1,85% GDP, thấp hơn so với mục tiêu đặt ra trong lộ trình phát triển TTTP Việt Nam đến năm 2020 là 7% GDP (Hình 2.3). Tuy nhiên, qua đó, có thể thấy rằng hiện nay, các doanh nghiệp đã bắt đầu chú trọng tới việc thực hiện huy động vốn bằng hình thức phát hành trái phiếu, tạo ra kênh huy động vốn mới song song với kênh huy động truyền thống từ các TCTD. Chính phủ Doanh nghiệp % GDP
30 25 20 15 10 5 0 Hình 2.3. Cơ cấu thị trường trái phiếu tại Việt Nam thời kỳ Q1/2005-Q2/2016 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của AsianBondsOnline. Mặc dù, TTTP Việt Nam đạt một số kết quả nhất định nhưng nếu so với TTTP các nước trong khu vực thì vẫn còn thấp, chưa phát huy vai trò là kênh huy động vốn quan trọng của thị trường. Cụ thể, năm 2015, vốn hóa của thị trường đạt mức thấp đạt 22,86% sau Hàn Quốc (128,76%), Malaysia (95,56%), Singapore (80,38%), Thái Lan (72,31%), Trung Quốc (54,72%), Philippines (35,99%). 2.1.6. TTCK (LNVNI) Các năm 2006-2007 là giai đoạn TTCK tăng trưởng mạnh. Vào 05/3/2007, chỉ số VNINDEX đạt đỉnh là 1.158,9 điểm, tăng xấp xỉ gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006. Tuy nhiên, những quý cuối năm 2007, cùng với sự sụt giảm của các TTCK thế giới và khu vực, TTCK Việt Nam cũng suy giảm và có những biến động khó lường. Tiếp tục đà sụt giảm năm 2007 và năm 2008, cho đến năm 2009 TTCK Việt Nam đã chạm đáy. Trong đó, đáy rơi vào vào quý 4/2008, khi VNINDEX giảm còn 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008. Năm 2009, điểm đáy mới là quý 1/2009 VNINDEX ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/02/2009. Tuy nhên, những quý cuối năm 2009 và đầu năm 2010, VNINDEX đã bắt đầu phục hồi cùng với xu thế chung của nền kinh tế trong nước, khu vực và thế giới (Hình 2.4). 1200
1000
800
600
400
200
0 25000
20000
15000
10000
5000
0 DOWJONES Nikkei 225 Shanghai Composite VNINDEX Hình 2.4. Chỉ số VNINDEX Việt Nam thời kỳ Q1/2005-Q2/2016 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của Bloomberg và CTCP Chứng Khoán Sài Gòn. 2.1.7. TTTD (RATE) Trước bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới kéo dài, lạm phát và nhập siêu tăng mạnh, đe dọa đến ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, NHNN đã thực hiện CSTT chặt chẽ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng một cách hợp lý. Cụ thể, NHNN đã thực hiện linh hoạt CSTT từ nới lỏng sang thắt chặt vào năm 2008; từ thắt chặt sang nới lỏng và thận trọng vào năm 2009-2010; sau đó chuyển từ nới lỏng sang chặt chẽ và thận trong từ năm 2011 (Trần Hoàng Ngân và ctg, 2014). Năm 2008 là năm NHNN nhiều lần điều chỉnh tăng lãi suất, ban hành quy định trần lãi suất huy động ở mức 12% và cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng VNĐ - lãi suất huy động, cho vay tối đa 150% lãi suất cơ bản (NHNN, 2008a). Thêm vào đó, nhằm giảm lượng tiền lưu thông, NHNN đã ban hành các quy định như tăng tỷ lệ DTBB thêm 1% (NHNN, 2008b); phát hành tín phiếu bắt buộc 20.300 tỷ đồng cho các NHTM (NHNN, 2008c); khống chế tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không vượt 20% vốn điều lệ của TCTD; nâng hệ số rủi ro đối với cho vay BĐS và cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán lên 250% (NHNN, 2008d). Do đó, trong giai đoạn này, tăng trưởng tín dụng sụt giảm nhẹ nhưng vẫn ở mức cao, nhất là quý 3/2008 tăng trưởng tín dụng chỉ còn 0,33% so với quý trước. Qua đó có thể thấy, mặc dù trong bối cảnh tác động của suy thoái kinh tế thế giới, chi phí sử dụng vốn tăng nhưng áp lực thanh khoản của các chủ thể trong nền kinh tế cao, do đó, nhu cầu huy động vốn lớn (Hình 2.5). 20.00 Hình 2.5. Diễn biến điều hành lãi suất của NHNN trong thời kỳ Q1/2005-Q2/2016 15.00 10.00 5.00 Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất cơ bản Lãi suất tái chiết khấu 0.00 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của NHNN. 20.00 25.00 Lãi suất tiền gửi Lãi suất cho vay Tốc độ tăng trưởng tín dụng Hình 2.6. Diễn biến lãi suất và tăng trưởng tín dụng thời kỳ Q1/2005-Q2/2016 15.00 20.00 10.00 15.00 5.00 10.00 0.00 5.00 -5.00 0.00 Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của NHNN. 2.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ VÀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI Suy thoái kinh tế thế giới, bắt đầu từ khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp tại Mỹ, sau đó lan sang khu vực thực, rồi đến các nước phát triển và trên phạm quy toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng là khác nhau, trong đó các quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất là các nước có quan hệ tài chính và thương mại trực tiếp với Mỹ. Châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Việt Nam là nước đang phát triển có mối quan hệ tài chính trực tiếp yếu với Mỹ và các nước phát triển. Nhưng theo Tổng cục thống kế (2006), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam với các nước Mỹ, Nhật, châu Âu lên đến 50,1%, riêng Mỹ chiếm đến 19,7%. Do đó, nền kinh tế Việt Nam chịu sự tác động mạnh mẽ từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới này. Trong phạm vi, luận án tiếp cận trên cơ sở suy thoái kinh tế thế giới tác động đến quyết định CTV của các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, để phân tích tác động của suy thoái kinh tế thế giới cũng như sự biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến quyết định CTV của doanh nghiệp, luận án phân tích thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới và so sánh với thời kỳ phục hồi. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, nợ phải trả bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam là 380,58 tỷ đồng, chiếm 48,39% TTS và có xu hướng tăng với tốc độ tăng bình quân 5,18%. Trong đó, chủ yếu là NNH, trung bình chiếm 26,72% TTS và tăng qua các kỳ đạt 6,40%, cao hơn so với tốc độ tăng của nợ phải trả. Nguyên nhân của vấn đề này như sau: Thứ nhất, đây là thời kỳ Việt Nam bắt đầu bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế thế giới. Đầu tiên cuộc suy thoái này làm cho thâm hụt cán cân thương mại tăng (nhất là năm 2008, mức thâm hụt 18,03 tỷ USD), tăng trưởng kinh tế chậm, trung bình đạt 6,12% thấp hơn so với giai đoạn 2000-2005 (đạt 6,88%), sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam bị trì trệ. Tốc độ tăng trưởng doanh thu giảm trung bình 1,88% và lợi nhuận của doanh nghiệp Việt Nam giảm với tốc độ 0,87%, tác động nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động, do đó, để đảm bảo nguồn vốn kinh doanh thì doanh nghiệp có xu hướng gia tăng sử dụng nợ, thực trạng này phù hợp với Lý thuyết POT. Thứ hai, trong thời kỳ này, lạm phát tăng cao (đỉnh điểm là 27,73% tại quý 3/2008) cùng với tâm lý lo ngại rủi ro, các chủ thể trong nền kinh tế có xu hướng tích trữ thanh khoản. Do đó, doanh nghiệp Việt Nam tăng sử dụng nợ, đặc biệt NNH nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản – chỉ số khả năng thanh toán ngắn hạn giảm mạnh với tốc độ 5,30%. Mặt khác, lạm phát cao đã đẩy giá nguyên vật liệu đầu vào tăng lên (thời kỳ này giá dầu thế giới tăng mạnh đỉnh là 147USD/thùng vào ngày 11/7/2008, làm cho giá xăng dầu trong nước tăng cao), nhưng nhu cầu tiêu dùng lại giảm, tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó tác động đáng kể đến việc tăng sử dụng nợ của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, theo Lý thuyết quản trị khủng hoảng, trong thời kỳ suy thoái rủi ro tài chính và áp lực thanh khoản cao, doanh nghiệp nên thực hiện chiến lược cầm cự - kiểm soát chi phí (trong đó có chi phí sử dụng vốn) và thanh lý bớt tài sản. Do đó, theo hàm ý của lý thuyết này trong thời kỳ này để đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn, các doanh nghiệp Việt Nam nên điều chỉnh theo hướng giảm sử dụng nợ và tăng cường các khoản thu nhập ngẫu nhiên bằng cách thanh lý bớt tài sản. Tuy nhiên, thực trạng tại các doanh nghiệp Việt Nam thì có sự khác biệt - tăng sử dụng nợ và không ngừng tăng quy mô, đầu tư thêm tài sản. Mặc dù, xu hướng này phù hợp với điều kiện thực tế, tuy nhiên, bộc lộ những hạn chế về quản lý tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt năng lực quản trị khủng hoảng vì doanh nghiệp có thể không kiểm soát được các khoản chi phí và quản lý danh mục đầu tư hiệu quả. Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn về tài chính. Thứ ba, do lãi suất cho vay tăng cao, có lúc đạt mức 20,10% vào quý 3/2008, cùng với CSTT thắt chặt đã tác động đến tâm lý, quyết định cấp tín dụng của các TCTD Việt Nam. Các TCTD cơ cấu lại khoản vay, nâng điều kiện cho vay, hạn chế cấp tín dụng trung và dài hạn. Do đó, trong thời kỳ suy thoái kinh tế để đảm bảo khả năng thanh toán và thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải vay ngắn hạn, hơn nữa, chi phí sử dụng vốn ngắn hạn thấp hơn chi phí sủ dụng vốn dài hạn. Thứ tư, trong thời kỳ này, tài sản tài chính được định giá thấp hơn so với giá trị thực, tính thanh khoản trên thị trường thấp. Do đó, dòng vốn đầu tư giảm (năm 2009 tổng vốn FDI giải ngân là 7,6 tỷ USD giảm 20,67% so với năm ngoái), việc huy động vốn trên TTCK trở nên khó khăn (chỉ số VNINDEX giảm mạnh vào quý 1/2009 xuống còn 276,34 điểm, còn đối với TTTP, do tâm lý lo ngại rủi ro nên trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn trung và dài hạn không được các nhà đầu tư quan tâm). Với tình trạng huy động vốn khó khăn như vậy, các doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng nợ vay tại các TCTD. Ngược lại, theo Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn, những thông tin về cuộc suy thoái kinh tế sẽ tác động đến hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế như hành vi bán tháo các tài sản tài chính, tích trữ thanh khoản, thu hẹp sản xuất, ... Do đó, chính các hành vi này tác dụng trở lại làm cho suy thoái kinh tế diễn ra nhanh chóng và nghiêm trọng hơn thông qua các biến số vĩ mô như tăng trưởng GDP, lãi suất, giá trị tài sản tài chính, lạm phát, … Đây cũng là nguyên nhân làm cho cuộc khủng hoảng tài chính chính Mỹ, sau đó nhanh chóng lan truyền trở thành suy thoái kinh tế thế giới (2007-2010). Tuy nhiên, như đã phân tích trên, Việt Nam là nước đang phát triển, có quy mô nhỏ và quan hệ tài chính trực tiếp yếu với Mỹ, các nước châu Âu nên biến động của nền kinh tế Việt Nam không thể tác động làm cho suy thoái kinh tế thế giới trở nên trầm trọng hơn. Nhưng tại Việt Nam, cơ chế phản hồi thông tin này được thể hiện qua các hành vi của các chủ thể tham gia thị trường, trong đó có hành vi điều chỉnh CTV của các doanh nghiệp Việt Nam tác động trở lại vào sự biến động của các biến kinh tế vĩ mô. Thật vậy, do bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế thế giới, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam chậm lại, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam khó khăn, khả năng thanh khoản kém và tác động trực tiếp đến các biến kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Cụ thể, từ năm 2008 đến năm 2015, nợ xấu của các TCTD tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân 5,20% (NHNN, 2008-2010). Trung bình trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, nợ xấu bình quân 32.489 tỷ đồng, chiếm 2,02% dư nợ. Trong đó, năm 2008 tỷ lệ nợ xấu là 2,17% tổng dư nợ, tăng 27,65% so với năm 2007, đã làm ách tắc dòng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đối với các TCTC mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính, tiềm ẩn sự bất ổn tài chính. Mặt khác, do nợ xấu tăng cao nên nguồn vốn bị ứ đọng, các TCTD không có điều kiện mở rộng tín dụng cho nền kinh tế nên hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam càng gặp khó khăn. Thời kỳ phục hồi kinh tế thế giới, nợ phải trả của các doanh nghiệp Việt Nam bình quân đạt 751,75 tỷ đồng, chiếm 53,02% TTS cao hơn so với thời kỳ suy thoái kinh tế nhưng có tốc độ tăng chậm hơn so với khi nền kinh tế thế giới suy thoái - tốc độ tăng bình quân thời kỳ này 2,29%. Trong đó, chủ yếu là NNH, trung bình chiếm 35,55% TTS và với tốc độ tăng bình quân tăng qua các kỳ đạt 2,79%. Nguyên nhân của vấn đề này như sau: Thứ nhất, trong thời kỳ phục hồi, tổng cầu của thế giới tăng, theo đó tổng cầu của Việt Nam bắt đầu tăng nhẹ và các biến kinh tế vĩ mô dần ổn định (GDP tăng trưởng ở mức 5,89%, tình trạng thâm hụt cán cân thương mại được cải thiện năm 2011 xuất siêu). Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần gia tăng nguồn vốn nhằm mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế thế giới nên tình hình tài chính khó khăn. Vì vậy, CTV của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ này cao hơn so với thời kỳ suy thoái kinh tế để tài trợ cho nhu cầu tăng trưởng của mình. Thứ hai, theo lý thuyết quản trị khủng hoảng, trong thời kỳ suy thoái rủi ro tài chính và áp lực thanh khoản cao, doanh nghiệp nên thực hiện chiến lược cầm cự. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi, rủi ro tài chính và áp lực thanh khoản giảm nên các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng chiến lược đầu tư – mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng thị phần kinh doanh, tăng trưởng doanh thu và thu nhập thường xuyên hơn so với chiến lược cầm cự. Vì vậy, các doanh nghiệp gia tăng huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, mục tiêu tăng trưởng của mình. Chính những lý do này dẫn đến CTV trong thời kỳ phục hồi cao hơn so với CTV trong thời kỳ suy thoái. Tuy nhiên, theo lý thuyết này, trong thời kỳ suy thoái, rủi ro tài chính tăng, do đó doanh nghiệp nên kiểm soát chi phí trong đó có chi phí sử dụng vốn, điều chỉnh giảm sử dụng nợ. Ngược lại, trong thời kỳ phục hồi kinh tế, doanh nghiệp nên điều chỉnh tăng sử dụng nợ. Điều này hàm ý rằng, tốc độ tăng CTV bình quân trong thời kỳ suy thoái nên thấp hơn so với thời kỳ phục hồi. Tuy nhiên, trong thực tế, các doanh nghiệp Việt Nam có tốc độ tăng CTV trong thời kỳ phục hồi là 2,29%, còn trong thời kỳ suy thoái, tỷ lệ này là 5,18% - trái ngược so với lý thuyết này. Hành vi “không duy lý” của các doanh nghiệp Việt Nam bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn về tài chính. Thứ ba, các yếu tố kinh tế vĩ mô đã được kiểm soát ở mức hợp lý như tỷ lệ lạm phát (từ 5-7%), lãi suất cho vay (ở mức trung bình 10,92%). CSTT bắt đầu nới lỏng, điều kiện cho vay thông thoáng hơn, tài sản tài chính tăng là tiền đề cho sự phát triển của TTCK, TTTP. Nền kinh tế thế giới bắt đầu mở rộng để bắt đầu cho một chu kỳ kinh tế mới, doanh nghiệp Việt Nam theo đó cũng tăng cường sử dụng nợ để phục vụ cho hoạt động đầu tư. Tương tự, trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, thời kỳ phục hồi kinh tế phát ra tín hiệu tích cực, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư kỳ vọng nền kinh tế phát triển hơn, từ đó tác động đến các biến vĩ mô. Cụ thể, giá trị vốn hóa của TTTP tăng lên đáng kể từ 17,13% GDP (cao nhất trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới) tăng lên đạt 24,33% GDP (ở pha phục hồi kinh tế thế giới). Chỉ số VNINDEX tăng từ đáy 276,34 điểm tại quý 1/2009 bắt đầu phục hồi cao nhất là quý 3/2014 đạt 607,08 điểm. PHỤ LỤC 3: DANH MỤC CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU STT MÃ CK TÊN CÔNG TY ABT
AGF
ALT
BBC
BBS
BCC
BHS
BMP
BPC
CAN
CII
CLC
COM
CYC
DHA
DHG
DIC
DMC
DPC
DRC
DTT SÀN
HOSE Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Bến Tre
HOSE Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang
HNX Công ty Cổ phần Văn hóa Tân Bình
HOSE Công ty Cổ phần Bibica
HNX Công ty Cổ phần VICEM Bao bì Bút Sơn
HNX Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn
HOSE Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa
HOSE Công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh
HNX Công ty Cổ phần Vicem Bao bì Bỉm Sơn
HNX Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
HOSE Công ty Cổ phần Đầu tư Hạ tầng Kỹ thuật TP.HCM
HOSE Công ty Cổ phần Cát Lợi
HOSE Công ty Cổ phần Vật tư Xăng dầu
HOSE Công ty Cổ phần Gạch men Chang Yih
HOSE Công ty Cổ phần Hóa An
HOSE Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang
HOSE Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại DIC
HOSE Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế DOMESCO
HNX Công ty Cổ phần Nhựa Đà Nẵng
HOSE Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng
HOSE Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Đô Thành 1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21 GIL HOSE 22 Công ty Cổ phần Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Bình
Thạnh GMC
GMD
HAP
HAS
HAX
HBC
HJS
HMC
HRC
HTP
HTV
IMP
KDC
KHA
KHP
L10
LAF HOSE Công ty Cổ phần Sản xuất Thương mại May Sài Gòn
HOSE Công ty Cổ phần Gemadept
HOSE Công ty Cổ phần Tập Đoàn Hapaco
HOSE Công ty Cổ phần Hacisco
HOSE Công ty Cổ phần Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh
HOSE Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình
HNX Công ty Cổ phần Thuỷ điện Nậm Mu
HOSE Công ty Cổ phần Kim khí Thành phố Hồ Chí Minh
HOSE Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình
HNX Công ty Cổ phần In sách giáo khoa Hòa Phát
HOSE Công ty Cổ phần Vận tải Hà Tiên
HOSE Công ty Cổ phần Dược phẩm IMEXPHARM
HOSE Công ty Cổ phần Tập đoàn KIDO
HOSE Công ty Cổ phần Đầu tư và Dịch vụ Khánh Hội
HOSE Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa
HOSE Công ty Cổ phần Lilama 10
HOSE Công ty Cổ phần Chế biến Hàng Xuất khẩu Long An 23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39 LBM HOSE 40 Công ty Cổ phần Khoáng sản và Vật liệu xây dựng Lâm
Đồng MCP
MEC
MHC
NAV
NHC
PAC
PET
PJT
PMS
PNC
PPC
PTS
RAL
REE
S99
SAF
SAM HOSE Công ty Cổ phần In và Bao bì Mỹ Châu
HNX Công ty Cổ phần Cơ khí - Lắp máy Sông Đà
HOSE Công ty Cổ phần MHC
HOSE Công ty Cổ phần Nam Việt
HNX Công ty Cổ phần Gạch ngói Nhị Hiệp
HOSE Công ty Cổ phần Pin Ắc quy Miền Nam
HOSE Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí
HOSE Công ty Cổ phần Vận tải Xăng dầu đường thủy Petrolimex
HNX Công ty Cổ phần Cơ khí Xăng dầu
HOSE Công ty Cổ phần Văn hóa Phương Nam
HOSE Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại
HNX Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ Petrolimex Hải Phòng
HOSE Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông
HOSE Công ty Cổ phần Cơ điện Lạnh
HNX Công ty Cổ phần SCI
HNX Công ty Cổ phần Lương thực Thực phẩm SAFOCO
HOSE Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển SACOM 41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52
53
54
55
56
57 SAV HOSE 58 SAVCông ty Cổ phần Hợp tác Kinh tế và Xuất nhập khẩu
Savimex SD9
SFI
SFN
SGC
SGD
SGH
SJ1
SJD
SJE HNX Công ty Cổ phần Sông Đà 9
HOSE Công ty Cổ phần Đại lý Vận tải Safi
HNX Công ty Cổ phần Dệt lưới Sài Gòn
HNX Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Sa Giang
HNX Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại TP.HCM
HNX Công ty Cổ phần Khách sạn Sài Gòn
HNX Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hùng Hậu
HOSE Công ty Cổ phần Thủy điện Cần Đơn
HNX Công ty Cổ phần Sông Đà 11 59
60
61
62
63
64
65
66
67 SJS HOSE 68 Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu công
nghiệp Sông Đà ông ty Cổ phần Dầu Thực vật Tường An SMC
SSC
STP
TAC
TBC
TCR
TCT
TMC
TMS
TNA
TS4
TTC
TYA
UNI HOSE Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại SMC
HOSE Công ty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam
HNX Công ty Cổ phần Công nghiệp Thương mại Sông Đà
HOSE
HOSE Công ty Cổ phần Thuỷ điện Thác Bà
HOSE Công ty Cổ phần Công nghiệp Gốm sứ TAICERA
HOSE Công ty Cổ phần Cáp treo Núi Bà Tây Ninh
HNX Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thủ Đức
HOSE Công ty Cổ phần Transimex
HOSE Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thiên Nam
HOSE Công ty Cổ phần Thủy sản số 4
HNX Công ty Cổ phần Gạch men Thanh Thanh
HOSE Công ty Cổ phần Dây và Cáp điện Taya Việt Nam
HNX Công ty Cổ phần Viễn Liên 69
70
71
72
73
74
75
76
77
78
79
80
81
82 PHỤ LỤC 4: THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ KIỂM ĐỊNH CƠ BẢN 4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ 2007Q1
2007Q2
2007Q3
2007Q4
2008Q1
2008Q2
2008Q3
2008Q4
2009Q1
2009Q2
2009Q3
2009Q4
2010Q1
2010Q2
2010Q3
2010Q4
2011Q1
2011Q2
2011Q3 TDR ROE VOL SIZE MTR GRO TANG LIQ LNVNI BOND RATE GDP
0.08
0.52
0.08
0.50
0.09
0.47
0.09
0.43
0.08
0.46
0.06
0.46
0.06
0.46
0.06
0.48
0.03
0.48
0.04
0.49
0.05
0.49
0.08
0.50
0.06
0.49
0.06
0.50
0.07
0.51
0.07
0.51
0.05
0.52
0.06
0.54
0.06
0.53 0.05
0.04
0.03
0.01
-0.04
-0.08
-0.08
-0.09
-0.06
0.03
0.08
0.06
0.05
0.05
0.05
0.03
0.03
-0.01
-0.05 0.26
0.08
0.24
0.15
0.22
0.02
0.13
0.04
0.78
0.12
0.23
-0.07
0.34
0.07
0.33
-0.04
0.34
0.05
0.22 0.11
0.12
0.13
0.14
0.17
0.16
0.16
0.16
0.14
0.14
0.14
0.14
0.14
0.17
0.17
0.16
0.17
0.17
0.17 0.17
0.18
0.19
0.21
0.19
0.17
0.16
0.14
0.15
0.14
0.15
0.17
0.19
0.19
0.18
0.19
0.20
0.19
0.19 0.29
0.29
0.27
0.27
0.26
0.27
0.28
0.31
0.30
0.30
0.28
0.29
0.29
0.28
0.29
0.29
0.28
0.28
0.28 0.04
0.04
0.03
0.04
0.03
0.03
0.04
0.03
0.03
0.04
0.04
0.04
0.03
0.04
0.03
0.04
0.03
0.03
0.03 0.05
0.03
0.03
0.03
0.05
0.04
0.04
0.03
0.03
0.06
0.05
0.05
0.03
0.04
0.04
0.04
0.03
0.03
0.03 6.94
6.94
6.85
6.92
6.59
6.13
6.16
5.84
5.62
5.98
6.21
6.28
6.22
6.24
6.16
6.12
6.18
6.11
6.04 5.33
5.44
5.57
5.69
5.81
5.85
5.86
5.83
5.83
5.90
5.98
6.02
6.05
6.10
6.15
6.19
6.23
6.26
6.27 2.66
2.77
2.80
3.00
3.36
3.21
3.19
2.17
2.15
2.05
1.97
1.69
1.71
1.80
1.95
1.18
1.54
1.73
1.88 INF
0.07
0.07
0.09
0.11
0.16
0.25
0.28
0.24
0.16
0.07
0.02
0.05
0.07
0.08
0.09
0.11
0.13
0.19
0.23 2011Q4
2012Q1
2012Q2
2012Q3
2012Q4
2013Q1
2013Q2
2013Q3
2013Q4
2014Q1
2014Q2
2014Q3
2014Q4
2015Q1
2015Q2
2015Q3
2015Q4
2016Q1
2016Q2 0.55
0.56
0.54
0.53
0.54
0.53
0.54
0.53
0.54
0.53
0.54
0.52
0.51
0.51
0.51
0.52
0.52
0.51
0.54 0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03
0.03 -0.08
0.75
0.76
0.75
0.75
0.75
0.75
0.75
0.74
0.74
0.74
0.74
0.73
0.70
0.69
0.68
0.67
0.67
0.66 0.15
0.17
0.19
0.17
0.17
0.20
0.18
0.17
0.19
0.24
0.24
0.26
0.23
0.24
0.24
0.21
0.22
0.21
0.23 0.15
0.20
0.21
0.17
0.17
0.21
0.19
0.19
0.19
0.20
0.18
0.19
0.20
0.19
0.20
0.18
0.20
0.19
0.17 0.30
0.29
0.29
0.29
0.29
0.29
0.29
0.29
0.29
0.29
0.28
0.28
0.28
0.25
0.24
0.23
0.24
0.24
0.23 5.97
6.01
6.10
6.01
5.96
6.15
6.21
6.19
6.22
6.34
6.34
6.41
6.36
6.36
6.34
6.38
6.37
6.33
6.41 2.42
5.10
5.58
4.97
7.38
6.57
5.76
5.27
5.31
4.72
6.16
6.47
7.99
5.15
8.45
6.16
6.97
5.17
7.29 6.29
6.30
6.30
6.31
6.31
6.33
6.36
6.36
6.39
6.39
6.43
6.45
6.45
6.45
6.51
6.52
6.53
6.55
6.59 -0.04
-0.01
0.05
0.07
0.05
0.05
0.04
0.03
0.04
0.05
0.04
0.04
0.02
0.03
0.02
0.03
0.01
0.01
0.01 0.06
0.04
0.05
0.05
0.06
0.07
0.05
0.05
0.09
0.05
0.05
0.06
0.07
0.06
0.06
0.07
0.07
0.05
0.06 0.20
0.16
0.09
0.06
0.07
0.07
0.07
0.07
0.06
0.04
0.05
0.04
0.06
0.04
0.05
0.05
0.06
0.06
0.06 0.02
0.03
0.03
0.04
0.03
0.04
0.03
0.03
0.04
0.03
0.03
0.03
0.04
0.03
0.04
0.03
0.03
0.03
0.03
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB vàCTCP Chứng khoán Sài Gòn. 1.00
-0.16
-0.26
0.36
-0.02
0.03
-0.04
-0.06
0.04
0.02
0.04
0.04
-0.04 1.00
0.17
-0.06
0.10
-0.04
-0.03
0.08
0.01
-0.03
0.05
0.04
-0.04 1.00
-0.20
0.02
-0.06
0.01
0.13
0.02
-0.07
0.00
-0.01
0.01 1.00
-0.06
0.04
0.03
0.39
-0.09
0.20
0.05
0.06
-0.08 1.00
0.04
-0.08
-0.01
0.07
0.07
0.06
0.05
-0.05 1.00
0.05
0.02
-0.04
0.22
0.11
0.14
-0.17 1.00
-0.06
-0.04
-0.06
0.00
-0.03
0.03 1.00
0.00
0.14
0.04
0.08
-0.09 1.00
-0.06
0.29
0.47
-0.35 1.00
0.12
0.29
-0.33 1.00
0.87
-0.89 1.00
-0.97 1.00 1.00
-0.13
-0.24
0.27
-0.04 1.00
0.18
-0.04
0.09 1.00
-0.18
0.01 1.00
-0.08 1.00 -0.02
0.07
-0.60
0.09
-0.08
0.06
0.07
-0.06 -0.04
-0.06
0.04
0.00
-0.01
0.09
0.07
-0.08 -0.03
-0.03
0.17
0.02
-0.02
0.04
0.03
-0.04 -0.01
0.14
-0.13
-0.13
0.14
0.02
-0.01
0.00 0.03
-0.02
-0.02
0.13
0.01
0.06
0.07
-0.04 1.00
0.03
0.03
-0.03
-0.03
-0.02
-0.01
-0.01 1.00
-0.10
-0.04
-0.01
-0.01
-0.01
0.00 1.00
-0.04 1.00
-0.52
0.04
-0.08 0.38
-0.07 0.49
-0.35
0.07 1.00
-0.40
-0.51
0.50 1.00
0.96
-0.95 1.00
-0.98 1.00 1.00
-0.17
-0.28
0.41
-0.01
0.13
-0.12
0.03
-0.01
0.00
0.00
-0.01
0.01 1.00
-0.20
0.03
-0.09
0.05
0.17
-0.01
-0.01
-0.02
-0.02
0.02 1.00
-0.06
-0.07
-0.06
0.02
-0.04
0.04 1.00
0.14
-0.05
0.24
0.28
0.43
0.45
-0.49 1.00
-0.07
-0.03
-0.02
0.52
0.06
0.06
0.00
0.05
-0.05 1.00
0.03
-0.11
-0.02
0.04
0.03
0.03
0.02
-0.02 1.00
0.07
0.08
0.07
0.11
-0.11 1.00
0.29
0.70
-0.68 1.00
0.88
0.19
0.67
-0.66 1.00
0.72
-0.79 1.00
-0.96 1.00 1.00
0.16
-0.06
0.12
-0.01
-0.01
0.10
0.02
0.02
0.02
0.03
-0.03
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. THỐNG KÊ T TÍNH XU THẾ KẾT LUẬN Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Không
Có
Không
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có
Có BIẾN
2007-Q2/2016
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
2007-2010
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
2011-Q2/2016
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO 526.1311***
2405.4509***
1858.4298***
493.4786***
1638.3719***
1343.1092***
291.4663***
702.1896***
381.9070***
207.7378***
207.7378***
561.0923***
481.8345***
385.2317***
1002.4172***
856.9630***
569.3914***
2094.5214***
294.1795***
291.4663***
335.5345***
437.8455***
280.4888***
339.5971***
365.2418***
355.4994***
647.5052***
1312.3745***
1858.4298***
239.9132***
1002.7188 ***
847.2571*** Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng
Dừng có tính xu thế
Dừng
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế
Dừng có tính xu thế 260.9741***
725.7599***
340.4938***
423.8626***
1292.6278 ***
181.4139***
338.2790*** Có
Có
Có
Không
Có
Có
Có TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
Nguồn: Tác giả tự tính toán từ dữ liệu của IMF, ADB và CTCP Chứng khoán Sài Gòn. PHỤC LỤC 5: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH 1A, 1B VÀ 1C 5.1. XÁC ĐỊNH DỘ TRỄ TỐI ƯU J J-Pvalue MBIC MAIC MQIC Độ trễ CD
Độ trễ tối ưu mô hình 2007-2010 874,1953
567,1583
867,7019 0,000
0,000
0,000 649,643
505,9168*
683,9773 808,1953
549,1583*
813,7019 747,6336
532,6415*
764,1515 1286,025
1173,926
510,0104 0,000
0,000
0,000 989,188
942,2483
394,1714* 1204,025
1109,926
478,0104* 1123,697
1047,231
446,6628* 0,9997
1
0,9998
2
3
0,9999
Độ trễ tối ưu mô hình 2011-Q2/2016
0,9979
1
0,9980
2
0,9986
3
Độ trễ tối ưu mô hình 2007-Q2/2016
0,9996
1
0,9998
2
0,9995
3 2170,706
1374,241
1050,594 0,000
0,000
0,000 1791,351
1121,338
924,142* 2074,706
1310,241
1018,594* 1972,248
1241,936
985,441* Kết quả kiểm định trong bảng cho thấy, độ trễ tối ưu của cả mô hình PVAR trong Mô hình 1a là độ trễ 2, cả hai Mô hình 1b và 1c đều có độ trễ tối ưu là 3. 5.2. KIỂM ĐỊNH TÍNH ỔN ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH Mô hình 2007-2010 Mô hình 2011-Q2/2016 Mô hình 2007-Q2/2016 Mô hình 1 a Mô hình 1 b Mô hình 1 c Prob Prob Giả thuyết Ho Chi bình
phương Prob Chi bình
phương Chi bình
phương LNVNI tác động nhân quả đến TDR 14,003 0,000 8,147 4,398 0,004 0,036 28,638
24,044
12,430
6,486
286,711
0,111
1650,392
6,316
5,281
314,948
465,912
1,242
57,370
1508,910
2290,319
6,252
184,401
239,028
315,526 0,000
25,344
0,000
0,316
0,000
0,704
0,011
0,138
0,000
59,047
81,123
0,739
0,000 3529,573
24,320
0,012
458,886
0,022
61,165
0,000
431,794
0,000
0,265
0,584
0,000 4417,681
0,000 5529,317
567,839
0,000
6,157
0,012
185,975
0,000
613,302
0,000
182,385
0,000 0,000
0,574
0,402
0,710
0,000
0,000
0,000
0,000
0,000
0,000
0,000
0,445
0,000
0,000
0,000
0,013
0,000
0,000
0,000 18,468
5,930
9,850
6,397
200,454
75,016
183,331
1,060
2,060
63,468
120,371
12,355
1,605
66,618
966,254
0,000
229,032
210,262
31,843 0,000
0,015
0,002
0,011
0,000
0,000
0,000
0,303
0,151
0,000
0,000
0,000
0,205
0,000
0,000
0,993
0,000
0,000
0,000 BOND tác động nhân quả đến TDR
RATE tác động nhân quả đến TDR
GDP tác động nhân quả đến TDR
TDR tác động nhân quả đến LNVNI
BOND tác động nhân quả đến LNVNI
RATE không tác động nhân quả đến LNVNI
GDP tác động nhân quả đến LNVNI
TDR tác động nhân quả đến BOND
LNVNI tác động nhân quả đến BOND
RATE tác động nhân quả đến BOND
GDP tác động nhân quả đến BOND
TDR không tác động nhân quả đến RATE
LNVNI tác động nhân quả đến RATE
BOND tác động nhân quả đến RATE
GDP tác động nhân quả đến RATE
TDR tác động nhân quả đến GDP
LNVNI tác động nhân quả đến GDP
BOND tác động nhân quả đến GDP
RATE tác động nhân quả đến GDP Mô hình 1b
TDR Mô hình 1c
TDR Chỉ tiêu
L.TDR
L.LNVNI
L.BOND
L.RATE
L.GDP
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
QUY
DUMMY Mô hình 1a
TDR
0,726***
[8,30]
-0,178***
[-3,74]
3,597***
[5,35]
1,231***
[4,90]
2,669***
[3,53]
-0,251**
[-2,05]
-0,26
[-1,12]
-0,328***
[-3,09]
-0,131
[-1,63]
-0,00804**
[-2,07]
0,299***
[2,85]
-0,00202*
[1,53]
-0,00172
[-0,83]
- 0,126**
[-2,55]
1,366***
[55,66]
-4,719***
[-16,93]
-0,0378 TDR
LNVNI L.TDR L.LNVNI
L.BOND
L.RATE 0,722***
[7,99]
- 0,0726***
[2,85]
-0,495***
[-5,03]
-0,0316
[-0,56]
0,105
[0,84]
-0,0549*
[-1,50]
0,219
[1,06]
0,0369*
[0,62]
-0,0356*
[-1,91]
0,00186*
[0,46]
0,0810*
[1,67]
0,000261*
[0,93]
0,00117
[1,11]
-0,0302
[-0,37]
0,666***
[36,04]
-0,439***
[-7,68]
0,386*** 0,754***
[23,02]
- 0,0193**
[2,10]
0,262***
[4,30]
0,0826**
[2,44]
-0,357***
[-3,14]
-0,0873***
[-3,48]
- 0,223**
[2,08]
-0,0084
[-0,31]
-0,0214
[-1,38]
0,00590***
[2,72]
0,0852***
[2,58]
-0,000766***
[-3,30]
-0,000575
[-0,91]
-0,0142***
[-2,79]
0,235**
[2,53]
0,848***
[35,08]
-2,096***
[-14,16]
0,824*** L.GDP
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
QUY
DUMMY [-0,33]
-14,27***
[-40,63]
0,407***
[5,46]
0,748***
[4,11]
0,379***
[8,23]
0,219***
[4,32]
0,00747***
[2,75]
-0,193***
[-3,03]
-0,00340***
[-4,19]
0,00418***
[3,86]
-0,0115**
[-2,51]
0,00407**
[2,30]
0,369***
[17,21]
-0,111***
[-17,75]
0,642***
[21,58]
0,0308***
[5,61]
0,0151
[0,95]
0,0253***
[8,26]
-0,00732
[-1,58] BOND L.TDR L.LNVNI
L.BOND
L.RATE
L.GDP
ROE
VOL
SIZE
MTR [9,01]
4,420***
[59,41]
0,0457
[1,34]
0,676***
[3,22]
0,256***
[5,07]
0,105***
[4,53]
0,0555***
[8,90]
-0,0979**
[-2,07]
-0,000382
[-1,05]
0,00251***
[2,70]
-0,103***
[-4,93]
-0,0853***
[-21,42]
0,817***
[58,41]
0,0680***
[7,82]
0,450***
[20,78]
0,0203**
[2,43]
0,0107
[0,21]
0,0893***
[6,29]
0,0252***
[4,11] [8,66]
-3,997***
[-13,54]
-0,058
[-0,59]
-1,529***
[-3,95]
-0,426***
[-6,16]
0,0433
[0,98]
-0,0251***
[-4,62]
-0,0991
[-1,08]
0,00158**
[2,38]
0,0177***
[10,89]
0,0282**
[2,22]
-0,00932
[-1,03]
-0,00348
[-1,44]
0,454***
[28,14]
-0,0730***
[-7,97]
0,416***
[10,97]
0,00995
[0,95]
-0,147***
[-3,68]
-0,00645
[-1,22]
0,00671
[1,27] 0,0000522
[0,37]
-0,00898
[-1,61]
-0,000199***
[-2,74]
0,00137***
[24,68]
0,0053
[1,11]
0,0159***
[7,57]
-0,944***
[-38,84]
0,758***
[86,24]
-1,934***
[-47,86]
0,0365***
[5,50]
-0,0169
[-0,85]
0,0186***
[4,85]
0,00947*
[1,77]
0,00122***
[3,46]
-0,0176***
[-2,72]
-0,000219***
[-2,62]
0,00180***
[26,60]
-0,00957** GRO
TANG
LIQ
QUY
DUMMY
L.TDR
L.LNVNI
L.BOND
L.RATE
L.GDP
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
QUY
DUMMY
L.TDR RATE
GDP 0,00323***
[2,68]
-0,0743***
[-5,54]
-0,0000571
[-0,64]
0,000296
[1,30]
-0,0141
[-0,76]
-0,257***
[-66,47]
0,815***
[74,36]
0,655***
[57,18]
-0,503***
[-23,83]
-0,00538
[-0,58]
0,0435
[0,75]
0,00736
[0,49]
0,0227***
[3,46]
0,0199***
[11,88]
-0,0834***
[-5,63]
-0,000119
[-1,48]
0,00128***
[4,55]
0,0259** -0,000488
[-1,10]
-0,0116
[-1,12]
0,000263***
[3,10]
0,00211***
[15,99]
0,00652***
[4,96]
0,0439***
[3,52]
0,00403
[1,27]
0,181***
[8,16]
0,922***
[67,79]
-1,682***
[-31,08]
-0,00637
[-0,66]
-0,036
[-0,93]
-0,0458***
[-8,82]
0,0188**
[2,40]
0,00490***
[4,37]
-0,00639
[-0,42]
-0,0000584
[-0,58]
0,000810***
[4,63]
0,0157***
[7,86]
0,0000838 [2,48]
-0,0335***
[-13,64]
0,176***
[24,76]
0,0841***
[13,51]
0,574***
[47,47]
-0,00414
[-0,70]
-0,0414
[-1,41]
-0,0200**
[-2,55]
0,0065
[1,46]
-0,00997***
[-11,39]
0,00919
[1,20]
0,0000663
[1,35]
0,000582***
[4,24]
1640 [0,01]
0,0372***
[15,13]
0,226***
[14,50]
0,0534***
[5,64]
-0,0472
[-1,52]
0,00787
[0,70]
0,193***
[4,79]
0,0362***
[5,26]
0,00788
[1,61]
0,00138***
[2,59]
-0,0223**
[-2,26]
-0,000262***
[-3,34]
-0,00145***
[-8,79]
0,00794***
[6,16]
2952 [-2,50]
0,0265***
[13,58]
0,351***
[15,46]
0,148***
[17,76]
-0,0137
[-0,53]
0,0123**
[2,42]
0,0671***
[5,47]
0,0208***
[5,98]
0,00985***
[2,66]
-0,0000296
[-0,20]
-0,00578
[-1,25]
-0,000148**
[-2,45]
-0,00187***
[-18,03]
1148 L.LNVNI
L.BOND
L.RATE
L.GDP
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
QUY
DUMMY
N PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH 2A, 2B VÀ 2C 6.1. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU MÔ HÌNH 2A 6.1.1. Xác định CTV mục tiêu (Mô hình 2a) 6.1.2. Kiểm định ngưỡng CTV mục tiêu (Mô hình 2a) BIẾN POOLED FEM 0,0430**
[2,47]
0,261***
[6,10]
0,00134
[0,85]
0,0522***
[2,59]
-0,00227
[-1,60]
-0,0196**
[-1,99]
-5E-05
[-0,07]
0,0191*
[1,69]
0,174
[1,24]
0,118***
[3,21]
-0,665***
[-2,63]
-0,0421***
[-6,24]
-0,0878
[-1,19]
0,088***
1312 REM
0,0467**
[2,41]
0,315***
[6,08]
0,00236
[1,08]
0,0542***
[2,59]
-0,00294**
[-2,11]
-0,0252*
[-1,95]
-0,00033
[-0,43]
0,0200*
[1,83]
0,163
[1,19]
0,112***
[3,12]
-0,685***
[-2,81]
-0,0469***
[-6,50]
-0,0964
[-1,34]
1312
-32,46*** FGLS
0,0486***
[5,18]
0,479***
[13,63]
0,00106
[0,94]
0,00122
[0,11]
-0,00573***
[-4,54]
-0,0271***
[-4,12]
-0,00011
[-0,34]
0,0129**
[2,40]
0,148**
[2,22]
0,0750***
[3,29]
-0,440***
[-4,00]
-0,0358***
[-8,40]
-0,0579
[-1,64]
1312
54,47*** 0,0343
[1,33]
0,442***
[6,18]
0,0143*
[1,72]
0,0562**
[2,49]
-0,00316**
[-2,22]
-0,0554**
[-2,24]
-0,0011
[-1,26]
0,0269**
[2,27]
0,061
[0,42]
0,0754*
[1,86]
-0,763***
[-3,10]
-0,0530***
[-6,58]
-0,176*
[-1,81]
0,08***
1312
2,52***
63081,11***
7,974*** TDR
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
TARGET _RECESSION
Hệ số chặn
Hệ số xác định
Số quan sát
Kiểm định Chow
Kiểm định Hausman
Kiểm định Breush – Pagan
Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định tự tương quan 6.2. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU MÔ HÌNH 2B 6.2.1. Xác định CTV mục tiêu (Mô hình 2b) 6.2.2. Kiểm định ngưỡng CTV mục tiêu (Mô hình 2b) FEM BIẾN 0,0268
[1,09]
0,465***
[5,59]
-0,00256
[-0,26]
0,0829***
[4,99]
0,00188
[0,43]
-0,0380**
[-2,19] REM
0,0545***
[3,81]
0,332***
[5,22]
0,00182
[0,80]
0,0770***
[4,90]
0,00286
[0,67]
-0,0195*
[-1,73] POOLED
0,0529***
[4,71]
0,246***
[4,94]
0,00133
[0,84]
0,0730***
[4,86]
0,00418
[0,98]
-0,0106
[-1,28] TDR
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
TARGET _RECOVERY
Hệ số chặn FGLS
0,0393***
[5,78]
0,495***
[14,61]
0,00277**
[2,55]
0,0242***
[3,17]
0,00123
[0,62]
-0,0165***
[-3,23]
0,000446*** 0,000518*** 0,000487*** 0,000568***
[3,99]
0,00648
[0,59]
-0,0423
[-0,83]
0,00592
[0,19]
-0,0718
[-1,11]
-0,0426***
[-10,59]
-0,0388
[-0,65]
1804 [2,80]
-0,00497
[-0,23]
0,0105
[0,10]
0,0249
[0,41]
0,144
[0,92]
-0,0622***
[-11,68]
0,0161
[0,14]
1804 [2,67]
-0,00738
[-0,34]
0,021
[0,21]
0,0454
[0,77]
0,15
[1,01]
-0,0765***
[-10,69]
0,0694
[0,60]
1804 [2,77]
-0,00643
[-0,31]
0,0134
[0,13]
0,0354
[0,60]
0,146
[0,97]
-0,0678***
[-11,02]
0,022
[0,19]
1804 0,1261*** 2,52***
0,3128***
74165,96***
4,509** -24,41*** 92,04*** Số quan sát
Kiểm định Chow
Hệ số xác định
Kiểm định Hausman
Kiểm định Breush – Pagan
Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định tự tương quan 6.3. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU MÔ HÌNH 2C 6.3.1. Xác định CTV mục tiêu (Mô hình 2c) 6.3.2. Kiểm định ngưỡng CTV mục tiêu (Mô hình 2c) BIẾN REM
0,0344***
[3,23]
0,362***
[8,72]
0,000873
[0,52]
0,0640***
[5,14]
-0,00235*
[-1,79]
-0,0199**
[-2,35] FEM
0,0321**
[2,26]
0,492***
[9,68]
-0,00618
[-1,44]
0,0691***
[5,35]
-0,00230*
[-1,74]
-0,0326***
[-2,90] TDR
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
TARGET _ALL
Hệ số chặn
Hệ số xác định POOLED
0,0359***
[4,23]
0,254***
[7,78]
0,000698
[0,63]
0,0642***
[5,32]
-0,00208
[-1,57]
-0,0109*
[-1,74]
0,000415***
[2,96]
0,000825
[0,14]
-0,0641*
[-1,91]
0,0902***
[3,10]
-0,0753
[-0,60]
-0,0470***
[-11,68]
0,0204
[0,61]
0,0967***
3116 FGLS
0,0393***
[6,57]
0,432***
[16,54]
0,00266***
[2,98]
0,0217***
[2,80]
-0,00393***
[-3,60]
-0,0151***
[-3,46]
0,000297** 0,000340** 0,000360***
[2,87]
0,00503
[1,36]
-0,0696***
[-2,97]
0,0525***
[2,58]
-0,164**
[-2,46]
-0,0376***
[-10,95]
-0,0122
[-0,54]
3116 [1,96]
-0,00378
[-0,62]
-0,00363
[-0,09]
0,106***
[3,65]
-0,0647
[-0,54]
-0,0485***
[-10,44]
0,0802*
[1,74]
0,2012***
3116 [2,33]
0,000533
[0,09]
-0,0561*
[-1,66]
0,0919***
[3,25]
-0,0797
[-0,66]
-0,0482***
[-11,06]
0,0205
[0,60]
0,2521***
3116 3,69***
52994,32***
7,736*** -41,13*** 172,99*** Số quan sát
Kiểm định Chow
Kiểm định Hausman
Kiểm định Breush – Pagan
Kiểm định phương sai thay đổi
Kiểm định tự tương quanCác biến độc lập
Tác giả nghiên cứu
Phương pháp
Tác
động
1. Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn
2. Xác định cấu trúc vốn mục tiêu
Lý thuyết áp dụng
Tác giả
Quốc gia
Doanh
nghiệp
Khủng
hoảng
Thời gian
nghiên
cứu
15.00
15.00
14.00
12.00
13.00
8.75
8.25
8.00
7.80
7.00
17.55
20.10
14.05
18.02
16.99
9.54
6.88
1.53
0.33
-1.10
4.2. KIỂM ĐỊNH ĐA CỘNG TUYẾN
TDR ROE VOL
SIZE MTR GRO TANG
LIQ LNVNI
BOND RATE GDP
INF
2007-Q2/2016
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
2007-2010
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
2011-Q2/2016
TDR
ROE
VOL
SIZE
MTR
GRO
TANG
LIQ
LNVNI
BOND
RATE
GDP
INF
4.3. KIỂM ĐỊNH TÍN DỪNG ADF
5.3. KIỂM ĐỊNH NHÂN QUẢ GRANGER
5.4. KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH 1A, 1B VÀ 1C