intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận: Những nét văn hóa nổi bật của người Hy Lạp và Roma cổ đại

Chia sẻ: Nguyễn Nhật | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

448
lượt xem
43
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Những nét văn hóa nổi bật của người Hy Lạp và Roma cổ đại giới thiệu tới các bạn một vài nét văn hóa của Hy Lạp và Roma cổ đại như lịch/thiên văn, chữ viết, văn học, nghệ thuật kiến trúc. Mời các bạn tham khảo tài liệu để nắm bắt nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Những nét văn hóa nổi bật của người Hy Lạp và Roma cổ đại

  1. TRƯỜNG THPT THÀNH NHÂN NHÓM 2­LỚP 10A1 ­­­­­­­­­­ BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI: “NHỮNG NÉT VĂN HÓA  NỔI BẬT CỦA NGƯỜI HY LẠP  VÀ ROMA CỔ ĐẠI.”                                                                                 
  2. L ời Nói Đ ầu Hôm nay,được thầy giao đề tài “Những nét văn hóa nổi bật của   người Hy Lạp và Roma cổ  đại” chúng em vừa vui mừng vừa lo   lắng. Vui là gì được tìm hiểu những cái hay,cái đẹp của người   La   Mã   cổ   đại,được   tìm   tòi,chiêm   ngưỡng   những   nền   văn   hóa,kiến   trúc,nghệ  thuật   của  họ  rồi  chợt  nhận  ra  rằng  kiến   thức của chúng em thật ít ỏi và nhỏ bé. Kiến thức không gói gọn   trong những bài học trong sánh giáo khoa mà nó  ở  mọi nơi để   chúng em khám phá. Lo sợ vì mọi thứ thật quá mới mẻ với chúng   em,lần đầu được làm quen và học tập theo phương pháp như   thế   này   chúng   em   rất   thích   thú.   Nhưng   dù   có   chuẩn   bị   kĩ   lưỡng,cẩn thận đến nhường nào thì đây cũng là bài tiểu luận   đầu tiên chúng em được thầy giao cho và sai sót là điều không   thể  tránh khỏi,chúng em mong rằng sau khi đọc xong bài tiểu   luận này các lỗi dù lớn hay nhỏ  thầy sẽ  thông cảm và sửa sai   cho chúng em để chúng em rút kinh nghiệm và có những bài tiểu   luận tốt hơn về sau,cảm ơn thầy đã đọc.........
  3. GIỚI THIỆU Hy Lạp cổ  đại là thời kì lịch sử  Hy Lạp bao trùm toàn bộ  khu vực Địa  Trung   Hải và biển   Đen và   kéo   dài   gần   một   nghìn   năm,   đến   khi Kitô  giáo xuất hiện. Các nhà sử  học coi nó là nền tảng văn hóa cho  văn minh  phương Tây. Văn hóa Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn trong  Đế chế La Mã,  và ảnh hưởng này cũng được truyền đi khắp các vùng trong châu Âu. Văn minh của người Hy Lạp cổ  đã có  ảnh hưởng mạnh mẽ  đến ngôn   ngữ, chính trị, hệ thống giáo dục, triết học, khoa học, nghệ thuật, và kiến  trúc của thế giới cận đại, thúc đẩy phong trào Phục Hưng tại Tây Âu cũng  như  làm sống lại các phong trào tân Cổ điển tại châu Âu và châu Mỹ thế  kỷ 18 và 19. "Hy Lạp cổ  đại" là thuật ngữ  để  chỉ  khu vực nói tiếng Hy Lạp vào thời  cổ đại. Nó không chỉ đơn thuần chỉ bán đảo Hy Lạp ngày nay về mặt địa  lý, mà còn chỉ các khu vực văn hóa Hy Lạp vào thời cổ đại của  người Hy  Lạp: Kypros và quần đảo Aigeus, dải bờ biển Aigeus của Anatolia (được  biết đến vào thời đó là Ionia), Sicilia và miền nam Ý (biết đến như Magna  Graecia), và một số  vùng khác nơi người Hy Lạp cổ  định cư  như  ven  biển Illyria, Ai Cập, Cyrenaica, miền nam xứ Gaule, đông và đông bắc bán  đảo Iberia, và Taurica..
  4. Còn La Mã cổ  đại hay Rome cổ đại là một nền văn minh phồn thịnh, bắt  đầu trên Bán đảo Ý từ thế kỉ 8 trước Công nguyên. Trải dài qua Địa Trung  Hải, và với trung tâm là Roma, La Mã cổ đại là một trong những nền văn  minh lớn nhất thế  giới trong thời kỳ  cổ  đại.Trong suốt 12 thế  kỉ  tồn tại  của nền văn minh, qua các cuộc chinh chiến và đồng hóa, La Mã cổ đại đã   thống   trị   các   khu   vực Nam   Âu, Tây   Âu, Tiểu   Á, Bắc   Phi và   một   phần  của Đông  Âu.  Đây  là  nền văn  minh quyền  lực  nhất  trên  lãnh thổ   Địa  Trung Hải. LỊCH/THIÊN VĂN Về lịch, thuật ngữ "Lịch La Mã" dùng để chỉ tất cả các loại lịch do người  La Mã sáng tạo và sử  dụng cho tới trước thời kỳ  Julius Caesar (năm 45  trước Công Nguyên),  Lịch La Mã được Romulus (người sáng lập thành  Roma, khoảng 753 TCN) tạo ra dựa trên hệ  thống âm lịch do người Hy  Lạp sử dụng,lịch này bao gồm 10 tháng, bắt đầu từ ngày chứa điểm xuân  phân (vernal equinox ­ khoảng ngày 21 tháng 3 dương lịch hiện nay), tức  thời điểm mà độ dài ngày và đêm bằng nhau bắt đầu mùa xuân (phân biệt  với điểm thu phân, autumnal equinox, cũng có ngày và đêm dài bằng nhau  nhưng bắt đầu cho mùa thu). Tổng cộng 10 tháng này bao gồm 304 (hay   305)   ngày,   số   ngày   còn   lại   được   bổ   sung   vào   các   tháng   cuối   của 
  5. năm. Tháng đầu tiên tên Martius, tôn vinh vị  thần Chiến tranh Mars của  người  La Mã. Tháng này có 31 ngày.Aprilis, tôn vinh nữ  thần Hy Lạp   Aphrodite (tức thần Vệ  nữ, hay Venus trong thần thoại La Mã), tượng   trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, niềm hoan lạc và sắc đẹp. Tháng này có 30   ngày. Maius, có 2 giả thiết: 1. tôn vinh các vị nguyên lão La Mã (maiores); hoặc  2. tôn vinh nữ thần Maia trong thần thoại Hy L ạp, n ữ th ần l ớn nh ất, đẹp   nhất, cũng là nữ  thần Đất đai, lấy thần Zeus và sinh ra Hermes, rồi nuôi   Arcas, con trai riêng của Zeus, để che mắt bà vợ Hera hay ghen tuông của   ông   ta.   Vào thời kỳ Cộng hoà La Mã (khoảng 450 TCN), hai tháng Februarius và   Ianuarius được đảo ngược, có lẽ  để  "làm vui lòng" vị  thần Janus, còn  tháng chênh lệch mens intercalaris được chuyển xuống cuối năm và đổi  tên thành Mercedonius, rút xuống còn 27 ngày nhưng đồng thời cũng rút  ngắn   khoảng   cách   xuống   2   năm   thay   vì   4   năm   như   trước.   Chữ  mercedonius có nguồn gốc từ  merces, tức là "tiền công" mà công nhân  được   lãnh   vào   thời   điểm   này   trong   năm. Do đó, theo lịch Cộng hoà La Mã, cứ 2 năm lại có 1 tháng Mercedonius 27   ngày, và tháng Februarius liền trước đó rút ngắn xuống còn 23 hoặc 24   ngày (xen kẽ). Và số  ngày trong năm tiến gần tới số  ngày của năm thiên  văn hơn: 2 năm có tháng Mercedonius gồm 377 và 378 ngày, 2 năm còn lại   có 355 ngày. Tính bình quân trong 4 năm, mỗi năm theo lịch Cộng hoà La   Mã   có   366,25   ngày.   Trong   thời   kỳ   này,   một   tuần   lễ   được   tính   có   8  ngày.Người Hy Lạp  có hiểu biết chính xác hơn về trái đất và hệ mặt trời  , người Rô Ma tính một năm là  365 ngày ¼ ,định ra một tháng lần lượt có  30 và 31 ngày, riêng tháng hai có 28 ngày rất gần với hiểu biết ngày nay.   Lịch La Mã bị trật khớp khi các viên chức nhà nước bắt đầu bổ sung thêm  những tháng mới nữa. Tại sao  ư? Thỉnh thoảng họ  làm thế  để  tại chức  được lâu hơn hoặc hoãn bầu cử. Cuối cùng, vào năm 45 tCN, hoàng đế  Julius Caesar đã phê chuẩn lấy dương lịch Ai Cập dùng cho Đế  chế  La   Mã. Ông gọi nó là lịch Julian để  tự  tôn vinh mình. Nó có một năm 365   ngày và mỗi bốn năm – năm nhuận – bổ sung thêm một ngày. Lịch Julian   rất chính xác. Nó chỉ dài hơn năm mặt trời 11 phút 14 giây.
  6. Về  thiên văn, Kế  thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà,  người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và  phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì  mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ  khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ  được mặt đất   chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa  ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu   trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt  đất. Vào thế  kỷ  6 TCN, Thales (khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN) đã dự  báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan  sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc  đó.Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong   khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt   đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông ­ Anaximander (khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN) đã  đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên  văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa,   vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ  thủng nhỏ  chính là những ngôi sao,  
  7. vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn ­ Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ  thủng lớn nhất ­ Mặt Trời.  Đó là một bước phát triển quan trọng bởi   trước   ông, những  nghiên cứu  thiên văn học chỉ  dựa  trên quan sát chứ  không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn   gốc của vũ trụ: cái không giới hạn (Apeiron) là khởi đầu của tồn tại; vũ  trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Sau  khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn  tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo   góc để  tính toán khoảng cách tương đối từ  Trái Đất đến Mặt Trăng và   Mặt Trời, Aristarchus (310 TCN ­ khoảng 230 TCN) còn là người đầu tiên  trình bày một cách rõ ràng và có hệ  thống về thuyết nhật tâm. Theo đó,  Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các  hành tinh quay quanh Mặt Trời. ­Các con thú trên hoàng đạo theo thiên văn học Hy Lạp cổ đại, viện bảo tàng   Louv CHỮ VIẾT: Bảng chữ  cái Hy Lạp là hệ  thống 24 ký tự  được dùng để  viết tiếng Hy  Lạp từ cuối thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên hoặc đầu thế kỷthứ 8 trước   Công nguyên. Theo nghĩa hẹp đây là bảng chữ cái đầu tiên và lâu đời ghi 
  8. mỗi nguyên âm và phụ  âm bằng một biểu tượng riêng.Nó cũng được sử  dụng như  vậy cho  đến ngày nay. Những  chữ  cái này cũng được dùng  trong bảng số  Hy Lạp từ  thế  kỷ  thứ  2 trước Công nguyên.Bảng chữ  cái   Hy Lạp được kế  thừa từ  Bảng chữ  cái Phoenician, và nó không hề  liên  quan đến hệ thống chữ viết trước của Hy Lạp là Linear B hay Cypriot. Nó  cũng là nền tảng cho nhiều bảng chữ cái khác ở châu Âu và Trung Đông,  bao gồm cả bảng chữ cái Latinh. Ngoài việc được sử dụng để viết tiếng  Hy Lạp hiện đại, ngày nay các chữ  cái này cũng được dùng như  những  biểu tượng Toán và khoa học, Vật lý hạt trong Vật lý, hay tên các ngôi  sao, tên của các cơn bão nhiệt đới siêu cấp và trong những mục đích khác. Còn   về   Roma   cổ   đại   do  ngôn   ngữ   chính   thức   của   họ   là tiếng   Latin,  thuộc nhóm gốc Ý của hệ   Ấn­Âu. Với bảng mẫu tự  chữ  cái trên cơ  sở  của bảng chữ  cái Hy Lạp. Tuy vậy, bảng chữ  cái Latin lại có đời sống  rộng rãi và trường tồn cùng với các bước phát triển văn học. Ngôn ngữ  Latin được xem như  là thứ  ngôn ngữ  của sự  tao nhã, lãng mạn và được   phát triển lên một tầm cao mới vào thế kỷ 1 TCN. Thực tế, ngôn ngữ của  Đế  quốc La Mã là thứ  tiếng Latin dân dã (vulgar Latin), khác nhiều với  ngôn ngữ Latin kinh điển ở ngữ pháp và từ vựng và cách phát âm. ­Bản khắc có từ thế kỷ 6 TCN được xem như nguồn gốc chữ viết của La   Mã. VĂN HỌC: Văn học cổ  điển được viết dưới thời Hy Lạp cổ  xưa từ thế  kỷ thứ 4 và  phát triển lên trong thời Đế chế Byzantine. Vào thời kỳ đầu, Hy Lạp có 2 
  9. tác phẩm đồ sộ của Homer, Iliad và Odyssey. Một nhà thơ vĩ đại của thời  kỳ  này là Hesiodos (Ησίοδος). Ông có hai tác phẩm trường tồn là Works   and Days và Theogonia. Chiếm vị  trí quan trọng trong văn học Hy Lạp cổ  đại phải kể  đến “thần  thoại Hy Lạp”. Thần thoại Hy Lạp khá phong phú và thể  hiện trong đó  cách giải thích của người Hy Lạp về tự nhiên, nguồn gốc loài người đồng  thời nêu lên những kinh nghiệm của cuộc sống lao động và ước vọng của  mình. Các nhân vật trong thần thoại từ vũ trụ, thần thánh tới các bậc anh  hùng   dũng   sĩ.   Từ   khối   hỗn   mang   (gọi   là Chaos),   xuất   hiện   nữ   thần  đất Gaia rồi thần ái tình Eros nhờ  đó Chaos và Gaia lấy nhau sinh ra đêm  tối, ánh sáng, sao trời, biển cả, núi non, sông ngòi, sấm chớp... Bàn tay  khéo   léo   của Prometheus đã   nặn   ra   loài   người   từ   đất   sét   và   lấy  trộm lửa mang đến cho loài người. Dưới sự điều khiển của thần Zeus, vị  thần tối cao của các thần ngự trị trên đỉnh Olympus quanh năm tuyết phủ  đã can thiệp vào mọi lĩnh vực đời sống con người. Thần thánh vừa thể  hiện sức mạnh của trần gian vừa thể hiện sự lao động sáng tạo của con  người như: thần trồng nho Dionysus, nữ thần nông nghiệp Demeter, thần  thợ rèn Hephaistos, nữ thần anh hùng Calios, nữ thần múa Ternexiso... Nhiều bài thơ  trữ  tình cũng được sáng tác  ở  thời kỳ  này là của  Sappho  và Pindarus. Những người Hy Lạp còn nổi tiếng với các tác phẩm kịch  sân khấu và các trường ca bất hủ. Có khoảng 100 vở  bi kịch được trình  diễn trong suốt thời gian dài, về  sau chỉ  còn ba kịch gia được xem là tồn   tại lâu hơn cả: Aeschylus, Sophocles và Euripides. Trên cơ  sở  truyện dân  gian, ra đời truyền thuyết về thành Troia. Giống như các vở bi kịch, thể loại kịch nói cũng được thể hiện trong các   dịp trang trọng tại nhà hát Dionysus tại Athena, nhưng  ở đây vở diễn bao  hàm đầy đủ các yếu tố như tục tĩu, chửi bới và lăng nhục. Một tác phẩm   kịch   trường   tồn   của Aristophanes   là   một   kho   tàng   của   thể   loại   hài  hước. Menanderus là nhà văn đã đề  xuất thể  loại kịch Hy Lạp theo trào  lưu mới. Tác phẩm văn xuôi vĩ đại của thế  kỷ  thứ  4 là viết về triết học. Thời kỳ  này   xuất   hiện   rất   nhiều   triết   gia   Hy   Lạp,   nhưng   có   ba   triết   gia   nổi   tiếng: Socrates, Platon và Aristotle. Trong suốt chiều dài lịch sử  của nhân  loại, Platon là người hầu như không có đối thủ. NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC:
  10. Kiến trúc Hy Lạp cổ đại ra đời và hình thành trên một vùng đất đai rộng  lớn, bao gồm miền Nam bán đảo Balkans, các đảo nhỏ ở vùng  biển Aegaeum, khu vực Tiểu Á, vùng ven biển Hắc Hải, Ý, Sicilia, Pháp,  Tây Ban Nha và Ai Cập.   Các quần thể kiến trúc bao gồm kiến trúc thánh địa và kiến trúc dân  dụng Hy Lạp cổ đại.   Ở những công trình kiến trúc có tính chất "công cộng" như vậy, người ta  thường tổ chức các lễ hội, tiến hành thi đấu thể thao, bình luận văn  chương, diễn thuyết, ngâm thơ và biểu diễn kịch, ngoài ra còn có thể trao  đổi, mua bán. Do đó, về sau người ta đã xây thêm xung quanh các quần  thể này những sân bãi thi đấu, quán trọ, hội trường, các hành lang cột và  các loại đền đài.   Hai quần thể kiến trúc công cộng phổ biến trong đô thị cổ đại lúc bấy giờ  là Agora (quảng trường công cộng, mang tính dân dụng) và Acropol (là  những quần thể kiến trúc với nhiều đền đài, được xây dựng trên những  khu đồi cao).    
  11. Diện tích các Agora chiếm khoảng 5% diện tích đất thành phố.  Những Agora "đời đầu" có hình dạng bất quy tắc nhưng từ cuối thế kỷ 4  TCN trở đi, nó có dạng hình học nhất định và được bao vây bởi các hàng  cột thức hai tầng. Ở giữa Agora có đặt bàn thờ và tượng thần.  Các Agora quan trọng có thể kể ra là Agora ở Miletus, Megalopolis,  ở Asoss và Knid.   Agora ở Miletus.   Các Acropol được xây dựng thêm các nhà hát ngoài trời có thềm dốc bậc  ở các khu vực chân núi. Các Acropol nổi tiếng nhất  là Acropol ở Athena ( hay còn gọi là Acropolis), ở Bergama  và ở Paestum.  
  12. Quần thể Acropol.   Các loại đền đài Hy Lạp cổ đại   Đền thờ Hy Lạp cổ đại có đặc điểm là nhiều cột chạy vòng phía bên  ngoài, hay nói vui là "bị ám ảnh bởi các loại cột". Các loại hình đền đài  này có những dạng nhất định, tùy vào mức độ "dày đặc" của cột.  
  13.   Những gì còn sót lại của đền thờ Themis.    
  14. Loại đền cổ nhất có dạng hình chữ nhật, lối vào chính ở cạnh ngắn và có  hai cột ở chính cạnh ngắn này, gọi là dạng cột đôi ở hiên (distyle); ví dụ  như ngôi đền thờ thần Themis ở Rhamnus.   Loại đền cổ thứ hai có dạng tương tự như trên, một dạng biến thể  của distyle có thêm hai cột ở cạnh ngắn phía sau nữa, gọi là  dạng cột đôi ở hiên cả 2 phía. Ví dụ điển hình là đền thờ thần Artemis ở  Ephesus.    
  15. Đền thờ Artemis.   Loại đền thứ 3 giống loại đền thứ nhất, nhưng thay vì hai cột mà là bốn  cột ở phía trước, gọi là dạng hàng cột mặt trước (Prostyle). Ví dụ  như ngôi đền ở Selinus.    
  16. Đền Silinus.   Loại đền tiếp theo giống loại đền thứ hai, nhưng có bốn cột ở cạnh ngắn  phía trước và bốn cột ở cạnh ngắn phía sau, gọi là loại hàng cột cả hai  đầu (Amphi­Prostyle) (tiền tố "amphi" có nghĩa là "cả hai phía").  
  17.   Loại đền hình tròn, vành ngoài có hàng cột vòng quanh gọi là Tholos. Ví  dụ đền Tholos ở Epidaurus.    
  18. Tái hiện lại đền Tholos.   Loại đền hình chữ nhật có tường chịu lực là chính, nhưng mặt ngoài  tường ghép thêm các cột, gọi là loại đền Pseudo­Peripteral. Ví dụ  như đền thờ thần Zeus ở Olympia.  
  19.   Đền thần Zeus.  
  20. Loại đền hình chữ nhật có một hàng cột chạy ở vành ngoài chu vi công  trình, gọi là loại đền có các hàng cột bao quanh (Peripteral). Ví dụ  đền Hephaestos và đền Parthenon ở Athena.   Đền Parthenon.   Loại đền hình chữ nhật, có hai hàng cột chạy bao xung quanh công trình,  có tên gọi là đền Dipteral.Ví dụ đền Olympeion ở Athena, đền  thờ Apollo ở Miletos.   Mặt bằng đền thờ Hy Lạp cổ đại được tạo thành bởi ba thành phần  chính: pronaos (tiền sảnh), naos(gian thờ) và pathenon (phòng để châu  báu). Ngoài ra, trong một số đền còn có thêmopisthodomos(sảnh ở phía  sau). Vẻ đẹp của đền đài Hy Lạp cổ đại gắn liền với sự ra đời và phát triển  của các loại thức cột. Sự hình thành và phát triển của các loại cột   Cột ở các công trinhg kiến trúc Hy Lạp cổ đại là hệ thống của sự tỷ lệ và  cách thức trang trí cột. Đây là cách người Hy Lạp cổ đại tìm kiếm đến cái  đẹp lý tưởng.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2