intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tổ chức hoạt động giáo dục

Chia sẻ: Nguyễn Thường | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:17

0
533
lượt xem
120
download

Tổ chức hoạt động giáo dục

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Yêu cầu về chuyên môn: Có hiểu biết chung, sâu, rộng, đặc biệt trong các lĩnh vực sau: Khoa học kỹ thuật công nghệ. Chính trị, xã hội. Văn học nghệ thuật. Thể dục thể thao. Những tiến bộ, thông tin mới trong nước và quốc tế. Không ngừng học tập lý luận và tìm ra cách thức ứng dụng vào thực tiễn, đặc biệt là ứng dụng lý luận sư phạm vào công tác giảng dạy và giáo dục nói chung, công tác chủ nhiệm lớp nói riêng....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tổ chức hoạt động giáo dục

  1.    
  2.    
  3. Điều 61, Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 2/12/1998, đã khẳng  định: nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường  hoặc các cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có đủ các tiêu chuẩn sau:  + Phẩm chất, đạo đức , tư tưởng tốt.  + Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.  + Đủ sức khoẻ theo yêu cầu của nghề nghiệp.  + Lý lịch bản thân rõ ràng.     
  4. I.Yêu cầu về Chuyên Môn: ­  Có  hiểu  biết  chung,  sâu,  rộng,  đặc  biệt  trong  các  lĩnh  vực  sau:  + Khoa học kỹ thuật ­ công nghệ  + Chính trị, xã hội  + Văn học nghệ thuật  + Thể dục thể thao  + Những tiến bộ, thông tin mới trong nước và quốc tế.   ­ Không ngừng học tập lý luận và tìm ra cách thức  ứng dụng vào thực tiễn,  đặc biệt là ứng dụng lý luận sư phạm vào công tác giảng dạy và giáo dục nói  chung,  công  tác  chủ  nhiệm  lớp  nói  riêng.  ­ Học tập kinh nghiệm của  đồng nghiệp, biến nó trở thành của chính mình.  ­ Có những hiểu biết sâu sắc, vững chắc, hiện đại về bộ môn được phân công  giảng dạy.  ­ Biết trình bày bài giảng rõ ràng, hấp dẫn cho học sinh tiếp thu.     
  5. II. GVCN phải có một số kỹ năng sau: + Có khả năng tiếp cận các đối tượng (học sinh, phụ huynh học sinh và các  đối tượng giao tiếp khác...) và có phương pháp đối xử cá biệt.  + Có khả năng phán đoán về đối tượng, về công việc và hiệu quả của công  việc mà mình đang tiến hành.   +  Biết  xây  dựng  kế  hoạch,  chỉ  đạo  thực  hiện  kế  hoạch  trong  công  tác  giảng dạy và giáo dục nói chung, công tác chủ nhiệm lớp nói riêng.  + Có khả năng cảm hoá, thuyết phục học sinh  + Có uy tín đối với các em  + Biết bộc lộ, hoặc kiềm chế tình cảm, thái  độ của mình trong những hoàn  cảnh khác nhau.     
  6. III. Yêu cầu về năng lực sư phạm của GVCN 1. Năng lực tổ chức hoạt động dạy học    
  7. (Tiếp) Để truyền đạt kiến thức một cách rõ ràng dễ hiểu để người học dễ tiếp thu, có  hứng thú về môn học, có tư duy  độc lập suy nghĩ tích cực trong quá trình học  tập. Người thầy phải hiểu biết vững chắc, sâu rộng bộ môn  đang dạy và các  bộ môn tương ứng và biết vận dụng được phương pháp giảng dạy    
  8. 2. Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục    
  9. Ngoài việc truyền đạt kiến thức trên lớp những buổi sinh hoạt lớp, ngoại  khóa,  diễn  đàn  …GVCN  có  những  tác  động  tích  cực  tới  học  sinh  qua  việc  phối  hợp  các  hình  thức  tổ  chức,  các  phương  pháp  giáo dục,  giúp  học  sinh  lĩnh  hội  những  kiến  thức  thiết  thức.  hình  thành  và  phát  triển  toàn diện hơn về nhân cách, phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ…    
  10. 3.Năng lực ngôn ngữ Ngôn  ngữ  là  phương  tiện,  công  cụ  để diễn  đạt rõ ràng, mạch lạc,  ý  nghĩ,  tình  cảm  của  người  thầy  để  truyền  thụ  kiến  thức,  để  tác  động  vào  tâm  tư,  tình  cảm  của  người  học.  Ngôn  ngữ  của  người  thầy  phải  đơn  giản,  rõ  ràng,  dễ  hiểu,  có  sức  thuyết  phục  mạnh  mẽ,  không  nặng  nề,  đơn  điệu,  không  sai  sót  về  ngữ  âm,  ngữ  pháp.     
  11. 4. Năng lực sáng tạo trong công tác sư phạm GVCN có những sáng kiến sáng tạo,  tích  cực  nhằm  giúp  học  sinh  có  những  chuyển  biến  tốt  về  mặt  học  tập  cũng  như  ý  thức  đóng  góp  vào  cho  sự  phát  triển  chung  của  toàn  trường    
  12. 5. Năng lực tự học, tự nghiên cứu Không  chỉ  trong  quá  trình  dạy  học  và  giáo  dục  GVCN  mới  phát  huy  được  hết  khả  năng,  ngoài  giờ  trên lớp GV còn tự trau dồi  kiến thức, tự nghiên cứu ra  những  tri  thức,  kỹ  năng  mới  để  hoàn  thiện  năng  lực cho mình hơn.    
  13. 6.Năng lực tổ chức, quản lí giáo dục Năng lực tổ chức, quản lí giáo dục : giúp  cho GVCN tổ chức  điều hành và quản lí  lớp học theo yêu cầu của nhà trường  đề  ra,  tổ  chức  công  tác  của  bản  thân  theo  kế hoạch cá nhân, kế hoạch chung của  tập thể     
  14. Ngoài ra còn có những yêu cầu: + Khả năng dẫn dắt thật khéo léo (vào  đề, minh họa, diễn xuất, hài hước, lôi cuốn  …)   + Khả năng quan sát, lắng nghe, nhạy cảm để thấu hiểu tuyệt vời.   + Vốn sống thực tế phong phú.    
  15. Mỗi người chúng ta sinh ra trên đời đều có một số tố  chất  đặc  biệt  để  phát  huy  năng  lực  của  mình  trong  một lĩnh vực nào đó. Năng lực sư phạm cũng cần có  năng khiếu, tuy nhiên nếu  ý thức rèn luyện thì năng  lực  này  ngày  càng  được  cải  thiện.  Đừng  làm  gì  trái  qui  luật,  hãy  cố  gắng  hiểu  mình,  hiểu  ngoại  cảnh  thật  nhiều,  rồi  từ  đó  phát  huy  những  tố  chất  theo  hướng  thích  hợp  nhất,  con  thuyền  ước  mơ  của  bạn  sẽ sớm đến bến bờ hạnh phúc và thành đạt!    
  16. 1.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức của người GVCN   Đây  là  một  yêu  cầu  rất  quan  trọng  đối  với  người  GVCN.  Chính  nó  tạo  nên  sự  thành công trong công tác giáo dục thế hệ trẻ của người GVCN lớp.  Đảng ta  đã  khẳng  định  giáo  dục  là  công  cụ  của  chuyên  chính  vô  sản,  người  giáo  viên  là  chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hoá.  Điều này đòi hỏi GVCN phải là người của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể phải  có các phẩm chất đạo đức sau:  + Có niềm tin sâu sắc vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.  + Tin tưởng vào sự đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo   + Những niềm tin  của người GVCN phải có cơ sở vững chắc, phải dựa trên sự  hiểu biết những quy luật của tự nhiên và xã hội.     
  17. + Trong đạo đức của người GVCN, phải có sự thống nhất giữa nhận thức, tình  cảm, hành vi; những phẩm chất đạo đức mà người GVCN có được phải phù hợp  với các chuẩn mực xã hội hiện đại, có sự kế thừa, phát huy những truyền thống  đạo đức của dân tộc. Đó là các phẩm chất đạo đức sau:  + Lòng yêu thương con người, đặc biệt yêu thương trẻ em ­ đối tượng trực tiếp  của mình.  + Hăng say với công việc dạy học và giáo dục.  + Quan tâm tới công việc của nhà trường và đồng nghiệp.  + Có trách nhiệm đối với công việc được giao (giáo dục, giảng dạy, chủ nhiệm  lớp...)  + Làm chủ được bản thân trong công việc và cuộc sống.  + Mẫu mực trong gia đình, trong quan hệ với người khác...  + Biết giữ đúng lời hứa với mọi người, đặc biệt là đối với học sinh     

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản