
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HẢI PHÒNG
PHẠM THỊ VÂN ANH
CHUẨN HOÁ THANG ĐO KẾT QUẢ
CHĂM SÓC GIẢM NHẸ VÀ ÁP DỤNG
CHO BỆNH NHÂN HIV TẠI HẢI PHÕNG
Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 97 20 701
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
g dÉn: GS.TSKH. Vò
ThÞ Minh Thôc
HẢI PHÒNG – 2023

CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC HẢI PHÒNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. BS. PHẠM VĂN LINH
2. PGS.TS.BS. ERIC KRAKAUER
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở
tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
Vào hồi giờ 00, ngày tháng năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1. Thư viện quốc gia
2. Thư viện trường Đại học Y Dược Hải Phòng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Pham VA, Nguyen H, Krakauer EL, Harding R. "I Wish I Could
Die So I Would Not Be in Pain": A Qualitative Study of
Palliative Care Needs Among People With Cancer or HIV/AIDS
in Vietnam and Their Caregivers. J Pain Symptom Manage. 2021
Aug;62(2):364-372. doi: 10.1016/j.jpainsymman.2020.11.030.
Epub 2020 Dec 4. PMID: 33285274.
2. Le DD, Pham TVA, Bui TTH, Than HNT, Pham VT, Luong
NK, Harding R, Krakauer EL (Le, Pham Thi Van Anh,
Krakauer and Harding contributed equally). Symptom
prevalence, burden and correlates among people living with HIV
in Vietnam: a two-centre self-report study. AIDS Care
2022;34:887-893.
3. Phạm Thị Vân Anh, Bùi Minh Khôi, Lê Khắc Tùng, Phạm Văn
Linh (2022), “Sử dụng thang đo kết quả giảm nhẹ trong chăm sóc
toàn diện người sống với HIV tại Thuỷ Nguyên, Hải Phòng”, Tạp
chí Y học Việt Nam, Tập 515, số đặc biệt (phần 2), tr: 70- 76.
4. Pham Thi Van Anh, Richard Harding, Eric Krakauer. “Adaption
of the POS to Vietnam:A mixed methods study to ensure local
clinical utility”. Poster in POS and IPOS Training Days in Cicely
Saunder Institute of Palliative Care, Policy & Rehabilitation at
King's College London and The Hull York Medical School, 15-
16 May, 2023.

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, thiếu bộ công cụ chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) dẫn
đến thiếu các bằng chứng về hiệu quả của chương trình CSGN. Do đó,
các nhà hoạch định chính sách không thể đưa ra các khuyến cáo để cải
thiện chất lượng chăm sóc, không thể xây dựng được các quy trình thực
hành tốt trong CSGN.
Trên thế giới, thang đo kết quả CSGN -“Palliative Care Outcome
Scale –POS” đã ra đời và đã được chuẩn hoá ra nhiều ngôn ngữ. Đặc
biệt, POS đã được Hiệp hội CSGN châu Phi chuẩn hoá thành “African
Palliative Care Association Palliative Care Outcome Scale – APCA
POS” và được đánh giá là có giá trị, độ tin cậy và có tác động tích cực
lên chất lượng chăm sóc[9, 10].
Liệu thang đo APCA POS có phù hợp về nội dung và văn hoá để
sử dụng đánh giá CSGN cho người mắc bệnh hiểm nghèo tại một quốc
gia có nguồn lực hạn chế như Việt Nam hay không? Việc áp dụng thang
đo này trong chăm sóc lâm sàng người nhiễm HIV sẽ như thế nào?
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chuẩn hoá thang đo kết quả
chăm sóc giảm nhẹ và áp dụng cho bệnh nhân HIV tại Hải Phòng”
với 2 mục tiêu:
1. Chuẩn hoá thang đo đánh giá kết quả chăm sóc giảm nhẹ
VietPOS cho người mắc bệnh ung thư và HIV tại Việt Nam
2. Áp dụng thang đo VietPOS trong đánh giá kết quả chăm sóc
giảm nhẹ cho người nhiễm HIV tại Hải Phòng.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Cho đến nay, những bằng chứng về hiệu quả của CSGN tại Việt
Nam còn hạn chế do sự thiếu hụt các bộ công cụ đánh giá được xây
dựng và phát triển tại địa phương hoặc được chuẩn hoá bằng các
phương pháp khoa học. Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam được
thực hiện nhằm xây dựng và bước đầu chuẩn hoá về nội dung một cách
khoa học bộ công cụ đánh giá CSGN.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng thang đo CSGN
trong chăm sóc người nhiễm HIV là có ý nghĩa trong việc phát hiện các
nhu cầu chăm sóc CSGN, theo dõi nhu cầu và đánh giá được sự thay đổi
kết quả chăm sóc theo thời gian. Thang đo VietPOS ngắn gọn nhưng vẫn
bao phủ được các nội dung cần thiết của CSGN, sử dụng thuận tiện với

2
thời gian ngắn nên có thể trở thành một công cụ hữu ích trong chăm sóc
lâm sàng, kiểm định chất lượng và nghiên cứu khoa học.
CẤU TRÖC CỦA LUẬN ÁN
Phần chính của luận án dài 135 trang, bao gồm các phần sau:
Đặt vấn đề: 2 trang
Chương 1: Tổng quan: 30 trang
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 25 trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu: 42 trang
Chương 4: Bàn luận: 33 trang
Kết luận và kiến nghị: 3 trang
Luận án có 140 tài liệu trong đó có 16 tài liệu tiếng Việt và 124 tài liệu
tiếng Anh. Luận án có 40 bảng, 8 hình, 15 hộp và 10 phụ lục.
Chƣơng 1 : TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ trên thế giới và tại
Việt Nam
1.1.1. Định nghĩa chăm sóc giảm nhẹ
Năm 2006, Bộ Y tế Việt Nam đưa ra định nghĩa CSGN: “là sự kết
hợp nhiều biện pháp để làm giảm sự đau khổ và cải thiện chất lượng
cuộc sống của người bệnh thông qua sự phòng ngừa, phát hiện sớm và
điều trị đau và những vấn đề tâm lý & thực thể khác, và cung cấp sự tư
vấn và hỗ trợ nhằm giải quyết những vấn đề xã hội và tâm linh mà
người bệnh và gia đình đang phải gánh chịu".
1.1.2. Thực trạng và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ
Trên toàn cầu, ước tính hơn 56.840.123 triệu người có nhu cầu
CSGN. Trong số 53.000 người trưởng thành có nhu cầu CSGN, 76%
sống ở những nước có thu nhập trung bình và thấp. Những bệnh có nhu
cầu CSGN lớn là nhiễm HIV (22,2%), các bệnh lý mạch máu não
(14,1%) và sa sút trí tuệ (12,2%). Những bệnh và tình trạng gây nên
những đau khổ nghiêm trọng nhất cần can thiệp CSGN là ung thư,
HIV/AIDS, bệnh lý mạch máu não, sa sút trí tuệ và bệnh phổi.
Tại Việt Nam, nhiều thành tựu về CSGN đã đạt được. Về chính sách,
Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn Chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung
thư và AIDS năm 2006 và sửa đổi bổ sung thành “Hướng dẫn chăm sóc
giảm nhẹ” năm 2022, mở rộng ra các đối tượng khác như bệnh nhân lao

