1 2

MỞ ĐẦU - Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững; 1. Đặt vấn đề - Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy phát triển du lịch biển ở các

tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững trong giai đoạn tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề về du lịch, du lịch biển phát triển theo hướng bền vững, các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch biển theo hướng bền vững, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững và các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng bền vững

Nền kinh tế biển đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của Việt Nam, đặc biệt từ khi Nghị quyết số 36-NQ/TW của Đảng Cộng Sản Việt Nam về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ nhằm cụ thể hóa việc triển khai Nghị quyết 36 được ban hành. Trên cơ sở đó, cần thiết có một nghiên cứu toàn diện kết hợp cả phân tích định tính và định lượng nhằm đánh giá đầy đủ tình hình thực hiện các nghị quyết này tại các địa phương, đặc biệt là trong việc rà soát chi tiêu công dành cho phát triển kinh tế biển theo các chuẩn mực quốc tế nhằm hỗ trợ Việt Nam đạt được các mục tiêu về kinh tế biển bền vững xây dựng trên những ưu tiên đề ra trong Nghị quyết 36 và Nghị quyết 26.

Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu và đánh giá thực trạng mức độ bền vững phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ dưới ba góc độ: kinh tế; văn hoá - xã hội; và môi trường.

Về thời gian: Do có độ trễ về thời gian thực hiện luận án nên dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2019 - 2024, trong đó gồm dữ liệu đã có sẵn từ các báo cáo của Niên giám thống kê, báo cáo tình hình phát triển du lịch qua các năm của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch các tỉnh, các nghiên cứu khoa học liên quan đã được công bố. Chính điều này cũng đã làm thay đổi các xu hướng du lịch của khách du lịch tại Việt Nam. Riêng dữ liệu sơ cấp được thu thập từ cuộc điều tra khảo sát nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, khách du lịch ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững. Từ đó đưa ra các đề xuất phát triển du lịch biển theo hướng bền vững ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2030. Việt Nam có những lợi thế cạnh tranh lớn trong phát triển kinh tế biến, nhờ có hệ sinh thái biển và ven biển đa dạng, đem lại những dịch vụ thiết yếu cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, những lĩnh vực đó đang được phát triển một cách phân tán, tiềm ẩn rủi ro lớn về xung đột lợi ích và nguy cơ khai thác quá mức tài nguyên biển. Nhận thức được nhu cầu phát triển bền vững, Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa 12 đã có bước đi then chốt, qua ban hành Nghị quyết số 36 năm 2018, vạch ra “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết chỉ ra vai trò sống còn của nền kinh tế biển đối với tương lai của Việt Nam và đề ra các chỉ tiêu về nâng cao tỷ trọng đóng góp của kinh tế biển cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia vào năm 2030. Đến năm 2020, Chính phủ đã có bước đi quan trọng thông qua việc bàn hành Nghị quyết số 26/NQ-CP (NQ26) về Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ nhằm thực hiện NQ36

Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung Bộ, Việt Nam, gồm 06 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là: Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh ; Quảng Bình, Quảng Trị; Thừa Thiên - Huế. Thực hiện theo Nghị quyết 76/2025/UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2025 thì các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ sau khi sáp nhập bao gồm 05 tỉnh là Thanh Hóa; Nghệ An; Hà Tĩnh ; Quảng Trị; Thừa Thiên - Huế. 4. Câu hỏi nghiên cứu Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát huy tiềm năng, lợi thế của du lịch biển các tỉnh Bắc Trung Bộ trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, và trước sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các vùng khác ở nước ta cũng như các nước trong khu vực. Để làm tốt điều này, nhu cầu phát triển của ngành du lịch biển theo hướng bền vững cho một tầm nhìn dài hơn đang trở nên cấp thiết. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài: “Phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững” làm luận án nghiên cứu của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung (1) Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững được hiểu như thế nào?

(2) Thực trạng phát triển du lịch biển tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ hiện nay như thế nào?

(3) Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển của các tỉnh Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố?

(4) Những giải pháp nào để thúc đẩy phát triển du lịch biển theo hướng bền Trên cơ sở khung lý thuyết nghiên cứu về phát triển du lịch biển theo hướng bền vững, luận án đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn Vùng theo hướng bền vững. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn vững ở vùng Bắc Trung Bộ trong giai đoạn tới? 5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về phát triển du lịch biển theo hướng bền vững;

3 4

Chương 2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch biển theo hướng bền vững Cách tiếp cận nghiên cứu: (1) Cách tiếp cận theo mục tiêu phát triển du lịch biển theo hướng bền vững; (2) Cách tiếp cận liên ngành; (3) Cách tiếp cận “mở” trong mối quan hệ liên kết giữa các địa phương trong PTDL biển. Phương pháp nghiên cứu: (1) Phương pháp thống kê mô tả; (2) Phương pháp Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4. Thực trạng phát triển du lịch biển các tỉnh vùng bắc trung bộ theo hướng bền vững Chương 5. Định hướng và giải pháp phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng bắc mô hình định lượng 6. Những đóng góp mới của luận án Đóng góp về mặt lý luận: trung bộ theo hướng bền vững

CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Các nghiên cứu về quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vũng

Luận án vận dụng kết hợp lý thuyết thể chế lý thuyết thể chế (Institutional Theory), lý thuyết dựa trên tài nguyên (Resource-Based View - RBV), lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) và lý thuyết marketing điểm đến (Destination Marketing Theory) để đánh giá thực trạng phát triển du lịch biển vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững. Để phát triển du lịch bền vững đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành, kết hợp các lý thuyết quản lý và marketing nhằm cân bằng tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và lợi ích xã hội. Từ đó, luận án đánh giá được thực trạng phát triển bền vững du lịch biển (bao gồm các khía cạnh như sản phẩm du lịch, kinh tế, xã hội, môi trường) và mức độ bền vững của phát triển du lịch biển (bao gồm các khía cạnh như kinh tế, xã hội, môi trường)

Sheng-Hshiung Tsaur và cộng sự (2014) Phát triển du lịch bền vững (STD) gần đây đã trở thành một phương châm quản lý du lịch, STD đáp ứng nhu cầu của khách du lịch hiện tại và các khu vực tiếp nhận đồng thời bảo vệ và nâng cao cơ hội cho tương lai. Nó được coi là dẫn đến việc quản lý tất cả các nguồn tài nguyên theo cách mà các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ có thể được đáp ứng trong khi vẫn duy trì tính toàn vẹn văn hóa, các quá trình sinh thái thiết yếu, đa dạng sinh học và các hệ thống hỗ trợ cuộc sống. Bên cạnh đó, luận án cũng sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng như phương pháp AHP, phân tích điều kiện cần thiết (NCA) và mô hình cấu trúc tuyến tính từng phần (PLS-SEM) để để đánh giá rõ hơn về mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

Khương và Nguyên (2015), du lịch đã trở thành một trong những các ngành dịch vụ lớn nhất trên thế giới, Ngành công nghiệp không hút thuốc này đã cung cấp việc làm cho rất nhiều lao động, có mối quan hệ bền chặt với các ngành khác bằng cách tạo ra hiệu ứng nhân lên đối với sự tiến bộ của các ngành khác, cải thiện tình hình kinh tế - xã hội và nâng cao mức sống của cộng đồng. Ngoài ra, sự phát triển của du lịch sinh thái phải được quy hoạch đồng nhất với các điều kiện môi trường (các yếu tố con người và tự nhiên) và chú trọng đến tính dễ bị tổn thương của môi trường (Seifi và Ghobadi, 2017).

Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án đã phân tích, đánh giá phát triển du lịch biển bền vững các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ trên các khía cạnh kinh tế, văn hoá, môi trường, và đưa ra mức độ bền vững của từng tỉnh theo thang đo nghiên cứu xây dựng. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra được 7 yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững bao gồm (1) chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ, (2) dịch vụ hỗ trợ liên quan, (3) nguồn nhân lực du lịch, (4) hoạt động liên kết, hợp tác phát triển du lịch biển, (5) đặc điểm của khách du lịch, (6) hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển, (7) các nhân tố khác.

Từ các nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Đối với PTDL theo hướng bền vững, tùy quan điểm khác nhau mà công tác đánh giá, phân tích, nhìn nhận có phần khác nhau giữa các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm chung của các nghiên cứu này là cùng đánh giá PTDL theo hướng bền vững là bền vững trên các khía cạnh về thể chế, về chính sách, về kinh tế, về xã hội, về môi trường, về nguồn nhân lực du lịch và về sự đa dạng của các sản phẩm dịch vụ du lịch. 1.1.2. Các nguyên cứu về chỉ số, tiêu chí đo lường về phát triển du lịch theo hướng bền vững Xuất phát từ bối cảnh và định hướng phát triển du lịch biển của vùng Bắc Trung Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, luận án đã đưa ra một số giải pháp để phát triển du lịch biển theo hướng bền vững bao gồm: (1) xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ, (2) đầu tư và huy động vốn cho phát triển du lịch, (3) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, (4) bảo tồn tài nguyên du lịch. 7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 4 chương như sau: Vũ Văn Đông (2014) đã xây dựng các tiêu chí đánh giá PTDLBV để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động PTDLBV, bao gồm: (i) Số lượng đơn vị tham gia hoạt động PTDLBV; (ii) Số lượng khách du lịch tham gia du lịch; (iii) Chất lượng dịch vụ du lịch; (iv) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế chính Chương 1. Tổng quan các công trình và hướng nghiên cứu của luận án

5 6

sách PTDLBV; (v) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (vi) Đóng góp về mặt xã hội; (vii) Đóng góp về môi trường. Le Chi Cong & Ta Thi Van Chi (2020) về tính bền vững của PTDL biển ở Vùng Bắc Trung bộ đã dựa trên cơ sở phỏng vấn bốn mươi ba chuyên gia du lịch tại tám tỉnh Vùng Bắc Trung bộ để đánh giá tính bền vững của PTDL dựa trên một bộ chỉ số kế thừa trên bốn khía cạnh: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. các trụ cột kinh tế, xã hội môi trường và mối liên kết liên kết trong PTDL biển theo hướng bền vững trên địa bàn vùng Bắc Trung Bộ chưa được đánh giá; (3) Vấn đề nghiên cứu ở cấp độ Tiến sĩ, dưới góc độ kinh tế phát triển về PTDL biển theo hướng bền vững trên địa bàn Vùng Bắc Trung bộ với những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên, văn hóa và xã hội thì chưa được công trình nào đã thực hiện.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 2.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 2.1.1. Khái niệm về du lịch và du lịch biển 2.1.1.1. Du lịch Từ những nghiên cứu trên, luận án cho rằng: Vấn đề liên kết trong PTDL theo hướng bền vững, các nghiên cứu đã đề cập đến việc tăng cường liên kết vùng trong PTDL, quản lý nhà nước về du lịch, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, phát triển nguồn nhân lực, quảng bá thương hiệu du lịch… Đây là những cơ sở quan trọng của việc nghiên cứu các giải pháp để PTDL ở cấp độ Vùng, liên Vùng. Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo quan điểm PTDL theo hướng bền vững thì các nghiên cứu chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là ở một địa bàn đặc thù và giàu tiềm năng du lịch như Vùng Bắc Trung bộ nên rất cần tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp. 1.1.3. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Một số quan điểm về du lịch khác “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống… và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích chính trị, kinh tế - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp.”. Điều 3 - Luật du lịch Việt Nam năm 2017 “Du lịch các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. 2.1.1.2. Đặc điểm du lịch

Kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Trí Thông (2020) về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững tại các điểm du lịch ở Thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang đã cho thấy có 8 nhóm nhân tố ảnh hưởng, đó là: (1) Thể chế chính sách, (2) An toàn và an ninh, (3) Môi trường, đường sá và cơ sở lưu trú, (4) Văn hóa, (5) Con người, (6) Kinh tế, (7) Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật và (8) Dịch vụ giải trí và bãi đậu xe. Từ đó, một số giải pháp được đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch bền vững ở địa bàn nghiên cứu. Tuy nhiên, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để khảo sát du khách, điều này dẫn đến số liệu không mang tính đại diện cao; bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá độ tin cậy của các thang đo và biến quan sát trong nghiên cứu có phù hợp không để đưa vào phân tích nhân tố khám phá nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng; tác giả chưa xây dựng được mô hình hồi quy để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cũng, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu,... 1.2. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án Thứ nhất, Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. Bất cứ một du khách nào, với động cơ và hình thức du lịch ra sao thì yêu cầu có tính phổ biến phải đạt được đối với họ là được tham quan, vui chơi giải trí, tìm hiểu thưởng thức các giá trị về thiên nhiên, lịch sử, văn hoá, xã hội …của một xứ sở.

Thứ hai, du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng của khách du lịch. Những người đi du lịch dù thuộc đối tượng nào và với nguồn tiền của cá nhân hay tập thể thì trong thời gian đi du lịch, mức tiêu dùng của họ thường cao hơn so với tiêu dùng bình quân của đại bộ phận dân cư.

Thứ ba, du lịch là ngành ngoài kinh doanh và dịch vụ ra còn phải bảo đảm nhu cầu an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội cho du khách, cho địa phương và các nước đón nhận du khách.

Hầu hết các nghiên cứu đều được tiến hành ở các nước có ngành du lịch đã và đang phát triển và nghiên cứu về du lịch biển còn rất hạn chế. Mặt khác, các nghiên cứu chỉ xem xét tác động của ngành du lịch đến kinh tế, xã hội và môi trường theo từng khía cạnh và phương pháp mang tính định tính; hiện nay, các nghiên cứu xác định, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố dựa trên một phương pháp định lượng cụ thể và toàn diện. Đồng thời, tùy theo điều kiện đặc thù của từng địa phương mà mỗi nghiên cứu ở từng địa phương khác nhau, thời gian khác nhau,… thì có thể xác định được các nhân tố khác nhau. Đây chính là hướng để tác giả tiếp cận nghiên cứu và tìm kiếm khe hổng trong nghiên cứu về phát triển của ngành du lịch biển vùng BTB theo hướng bền vững: (1) Cho đến nay nhiều nghiên cứu chưa thống nhất hoàn toàn về PTDL biển theo hướng bền vững cũng như cách tiếp cận; (2) Hiện trạng phát triển du lịch trên Thứ tư, ngành du lịch là một ngành kinh tế - xã hội - dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các dạng nhu cầu khác. 2.1.2. Đặc điểm của du lịch biển

7 8

nhu cầu của khách du lịch; từ đó tạo ra thu nhập, làm gia tăng sự đóng góp về kinh tế - xã hội cho quốc gia, địa phương, trên cơ sở gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái biển và đảm bảo an ninh, quốc phòng. 2.1.5.2. Khái niệm phát triển bền vững

Du lịch biển là một loại hình du lịch đặc thù, ngoài các đặc điểm chung của du lịch, du lịch biển có các đặc điểm: (1) Du lịch biển là hoạt động du lịch được tổ chức và phát triển ở vùng địa lý đặc thù là vùng ven biển trên cơ sở khai thác các đặc điểm tiềm năng tài nguyên, môi trường biển (Phạm Trung Lương, 2003). (2) Du lịch biển được tổ chức chủ yếu ở “vùng bờ biển”; đây là vùng địa lý với hệ sinh thái tự nhiên rất nhạy cảm, dễ biến đổi bởi tác động của việc phát triển kinh tế, xã hội và thiên tai, bão gió nên du lịch biển chịu ảnh hưởng sâu sắc của biến động tự nhiên, khí hậu, thủy triều…. 2.1.3. Vai trò của du lịch biển

Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, đan xen và thỏa hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hoá - xã hội. Theo quan điểm này, PTBV là sự tác động và phụ thuộc lẫn nhau của ba yếu tố là kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường tự nhiên. Sự tương tương giữa ba hệ thống này đòi hỏi cân bằng, “không vì sự ưu tiên phát triển của hệ này mà gây ra sự suy thoái, tàn phá đối với hệ khác”. Thông điệp của hội nghị: PTBV không chỉ ưu tiên tăng trưởng kinh tế mà có điểm tựa là bền vững cả về môi trường - tự nhiên, văn hoá - xã hội. PTBV giống chiếc kiềng ba chân. 2.1.6. Nội hàm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Sự phát triển của du lịch biển có vai trò quan trọng, tác động đến nhiều mặt đối với đời sống kinh tế - xã hội thể hiện: a) Phát triển du lịch biển góp phần tăng ngân sách, thúc đẩy sự phát triển nhiều ngành kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương; b) Phát triển du lịch biển sẽ kích thích đầu tư trong và ngoài nước làm thay đổi diện mạo đô thị ven biển; c) Phát triển du lịch biển tăng cơ hội tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho cư dân địa phương; d) Thông qua thu hút và mở rộng luồng khách quốc tế, sự phát triển của du lịch biển sẽ là kênh thông tin quan trọng để quảng bá hình ảnh và giữ vững chủ quyền biển nước chủ nhà 2.1.4. Các loại hình du lịch biển Phát triển du lịch biển theo hướng bền vững là sự phát triển du lịch dựa trên sự khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên và các nguồn lực, bảo đảm đạt được đồng thời cả ba mục tiêu bền vững về kinh tế, bền vững về văn hóa - xã hội, và bền vững về môi trường của địa phương, của vùng và của quốc gia theo đúng yêu cầu và nguyên tắc của phát triển bền vững. 2.1.7. Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch biển theo hướng bền vững

Trên cơ sở tham khảo các tiêu chí PTBV trong bộ hệ thống tiêu chí của Liên Hợp Quốc và “các tiêu chí giám sát, đánh giá PTBV địa phương của Việt Nam giai đoạn 2013 - 2020”, tác giả nghiên cứu và lựa chọn cho phù hợp để hình thành hệ thống 25 chỉ tiêu tổng hợp phát triển du lịch biển theo hướng bền vững.

* Dưới góc độ kinh tế (1) về quy mô ngành du lịch; (2) lợi ích kinh tế từ du lịch biển

*Dưới góc độ văn hóa - xã hội (1) sinh kế dân địa phương; (2) bảo tồn giá trị văn Theo tác giả Bùi Thị Hải Yến (2007), tài nguyên du lịch được phân loại thành hai dạng cơ bản: Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: (i) Địa hình, địa chất, địa mạo; (ii) Khí hậu Tài nguyên nước; (iii) Tài nguyên sinh vật; (iv) Các cảnh quan du lịch tự nhiên; (v) Các di sản thiên nhiên thế giới. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: (i) Tài nguyên du lich nhân văn vật thể (các di sản văn hóa thế giới, di tích khảo cổ,di tích lịch sử, di tích kiến trúc, danh lam thắng cảnh, công trình đương đại, vật kỉ niệm và cổ vật); (ii) Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể (di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội, nghề và làng nghề, ẩm thực, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, sự kiện thể thao văn hóa). 2.1.5. Khái niệm phát triển và phát triển bền vững 2.1.5.1. Khái niệm phát triển hóa lịch của điểm du lịch biển; (3) sự tham gia của người dân *Dưới góc độ môi trường: (1) bảo tồn tài nguyên du lịch biển; (2) giảm thiểu ô

nhiễm; (3) bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan 2.2. Các lý thuyền nền liên quan đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 2.2.1. Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory)

Phát triển là nói về sự chuyển biến từ trạng thái thấp lên trạng thái cao hơn, với trình độ, chất lượng cao hơn (Trần Kim Liên, 2013). Trong kinh tế học, phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến, toàn diện về mọi mặt kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nếu xét theo khía cạnh các bộ phận cấu thành, phát triển kinh tế nghĩa là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình phát triển cả hai lĩnh vực của nền kinh tế là lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội. Phát triển lĩnh vực kinh tế của nền kinh tế bao gồm hai quá trình: sự lớn lên của nền kinh tế (tăng trưởng kinh tế) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế) (Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân, 2012).

Lý thuyết thể chế nhấn mạnh vai trò của các thể chế - bao gồm luật lệ, quy định, chuẩn mực xã hội và tập quán văn hóa - trong việc định hình hành vi của tổ chức. Theo cách tiếp cận thể chế mới, các tổ chức thường chịu áp lực phải tương đồng thể chế để đạt được tính hợp pháp trong môi trường của mình. 2.2.2. Lý thuyết Dựa trên tài nguyên (Resource-Based View)

Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên (RBV) thuộc lĩnh vực quản trị chiến lược, cho rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của một doanh nghiệp bắt nguồn từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực và năng lực độc đáo. Nguồn lực ở đây được hiểu rất Phát triển du lịch biển Từ quan điểm về phát triển nói chung, các quan điểm về phát triển du lịch biển nói riêng đã đề cập ở trên, đứng trên góc độ kinh tế phát triển phát triển du lịch biển được hiểu là: Phát triển du lịch biển là việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển đảo, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác nhằm thỏa mãn

9 10

rộng, bao gồm tài sản vật chất, tài chính, tổ chức, nhân sự, tri thức và tài sản vô hình như uy tín thương hiệu, văn hóa doanh nghiệp… 2.2.3. Lý thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder Theory)

thực hiện chức năng quản lý: cán bộ quản lý, nhân viên công tác trong các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch; thứ hai, thực hiện chức năng sự nghiệp: giảng viên, giáo viên, nghiên cứu viên ở các trường đào tạo về du lịch và các viện nghiên cứu du lịch; thứ ba, thực hiện chức năng kinh doanh du lịch: nhân sự làm việc tại các cơ sở kinh doanh, cung cấp trực tiếp các dịch vụ du lịch, hiệp hội du lịch địa phương… 2.3.4. Hoạt động liên kết và hợp tác phát triển du lịch biển

Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) do R. Edward Freeman (1984) đề xuất một cách nhìn mở rộng về mục tiêu của tổ chức: doanh nghiệp không chỉ có trách nhiệm với cổ đông (shareholders) mà còn với tất cả các bên liên quan (stakeholders) chịu ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. 2.2.4. Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory)

Nếu địa phương có hoạt động liên kết du lịch tốt thông qua hệ thống tour, tuyến du lịch liên vùng, liên tỉnh thì các lợi thế về du lịch địa phương sẽ được khai thác tối đa, tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao và thu hút được ngày càng nhiều du khách đến thăm quan, khám phá, tìm hiểu. 2.3.5. Đặc điểm của khách du lịch

Du lịch phát triển là do nhu cầu vui chơi, khám phá của con người càng phát triển. Những yếu tố chủ quan từ phía khách hàng mà khách hàng ở đây là khách du lịch đến vui chơi, tham quan, nghỉ dưỡng… tại địa phương cũng có tác động không nhỏ đến hoạt động du lịch. 2.3.6. Hoạt động quảng bá và xúc tiến chương trình du lịch biển Marketing Điểm đến đề cập đến các lý thuyết và chiến lược tiếp thị chuyên biệt nhằm quảng bá một địa danh (quốc gia, vùng, thành phố…) như một sản phẩm du lịch hấp dẫn. Về cơ bản, marketing điểm đến vận dụng các nguyên lý marketing truyền thống như nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu, marketing mix 4P trong bối cảnh điểm đến - một sản phẩm tổng hợp bao gồm nhiều dịch vụ và trải nghiệm. Mục tiêu của marketing điểm đến là thu hút du khách, tăng doanh thu du lịch và xây dựng hình ảnh, uy tín tích cực cho địa phương 2.3. Các nhân tố tác động đến phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 2.3.1. Chính sách phát triển du lịch biển của chính phủ

Quảng bá và xúc tiến du lịch là cách để khai thác thị trường du lịch cũng như giới thiệu rộng rãi hình ảnh điểm đến du lịch. Các điểm đến du lịch hiện nay luôn có xu hướng cạnh tranh mạnh mẽ, liên tục để thu hút khách du lịch. Bằng nhiều kênh, nhiều các thức kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đã giúp việc quảng bá xúc tiến đa dạng và đến gần nhu cầu của khác hơn. 2.3.7. Các nhân tố khác

Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước ta. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Chính quyền địa phương là chính quyền được tổ chức ra nhằm bảo đảm, bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân trong xã, phường, thị trấn. Vì vậy bất cứ hoạt động nào của chính quyền địa phương nói riêng và của các cấp quản lý Nhà nước nói chung đều nhằm mục đích giữ gìn an ninh trật tự và gia tăng lợi ích cho người dân sống ở khu vực đó, giúp người dân có cuộc đầy đủ dựa trên những nguồn lực của địa phương, trong đó có nguồn lực để phát triển du lịch.

Như vậy, có thể thấy nếu địa phương tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn, lành mạnh với những chính sách khuyến khích phù hợp sẽ thu hút được sự đầu tư không nhỏ của các nhà thầu, doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tích cực đến việc khai thác tiềm năng du lịch sẵn có của địa phương. 2.3.2. Dịch vụ hỗ trợ liên quan

(1) Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai: Hoạt động du lịch thường gắn với môi trường tự nhiên, khí hậu. Một số loại hình du lịch cần có những điều kiện khí hậu khác nhau như du lịch biển cần khí hậu nóng, khách muốn chơi các môn thể thao trên tuyết thì đi vào mùa đông… (2) Hội nhập kinh tế quốc tế: Khi hội nhập kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia theo đuổi những mục tiêu và lợi ích khác nhau, có khi còn đối lập. Trong quá trình đó, bản thân chúng ta cũng phải đấu tranh với những mục tiêu đối lập lại với lợi ích của mình, bảo vệ chế độ chính trị nhưng vẫn phải xây dựng phát triển cho kinh tế nói chung và du lịch nói riêng mang bản sắc đặc trưng của quốc gia. (3) Cách mạng công nghiệp 4.0: Trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ tiếp tục có những bước tiến nhảy vọt, thúc đẩy kinh tế tri thức phát triển, tác động tới tất cả các lĩnh vực, các nước và vùng lãnh thổ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. 2.4. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Mạng lưới và phương tiên giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng hàng đầu trong hệ thống kết cấu hạ tầng - dịch vụ phụ trợ. Giao thông vận tải là điều kiện cần thiết trong quá trình phát triển du lịch. Mạng lưới giao thông đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không được đầu tư cải tạo, nâng cấp liên tục, phục vụ nhu cầu đi lại sinh hoạt và hoạt động kinh tế của người dân. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng dòng khách du lịch đến các điểm du lịch cũng thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển mạnh mẽ hơn. 2.3.3. Nguồn nhân lực du lịch biển Lao động trong ngành du lịch biển hoạt động dưới các lĩnh vực sau: thứ nhất, Nghiên cứu phát triển bảy giả thuyết chính dựa trên sự tích hợp của bốn lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Thể chế (Institutional Theory), Lý thuyết Dựa trên Tài nguyên (Resource-Based View Theory), Lý thuyết Các bên Liên quan (Stakeholder Theory), và Lý thuyết Marketing Điểm đến (Destination Marketing Theory). Nghiên cứu kế thừa và phát triển mô hình nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn Văn Đức (2013); Nguyễn

11 12

Đức Tuy (2014); Nguyễn Thị Lệ Hằng và cộng sự (2019) để từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững:

bờ biển và có ba Vịnh xếp vào hàng các Vịnh đẹp và có điều kiện thiên nhiên thuộc tốp đầu thế giới (Thân Trọng Thụy và Phạm Thị Thu Nga, 2013). Hạt nhân phát triển du lịch biển của Khánh Hòa tập trung chủ yếu tại Vịnh Nha Trang. Đây là Vịnh lớn thứ hai tại Khánh Hòa với diện tích khoảng 400 km2, bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ. Vịnh Nha Trang là một trong những khu vực sở hữu hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ. 2.5.2.2. Kinh nghiệm về phát triển du lịch biển của Đà Nẵng

Hình 3.2. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển ở các tỉnh trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững Nguồn: Tác giả đề xuất (2024)

Đà Nẵng là điểm đến của du lịch biển hấp dẫn, sở hữu nhiều tài nguyên biển đẹp và vô cùng giá trị, tận dụng được lợi thế này, Đà Nẵng thời gian qua đã không ngừng tập trung nguồn lực đầu tư phát triển khai thác du lịch biển và đã thu được một số kết quả vượt trội. Năm 2024, du lịch biển Đà Nẵng chứng kiến sự phục hồi mạnh mẽ và phát triển vượt bậc. Cả năm, các cơ sở lưu trú tại thành phố phục vụ khoảng 10,9 triệu lượt khách, tăng 32,8% so với năm 2023, đạt 135% mức trước COVID-19; trong đó trên 4,1 triệu lượt khách quốc tế, tăng 36,3% so với cùng kỳ và vượt 65,8% kế hoạch đề ra. 2.5.3. Bài học rút ra cho việc phát triển du lịch biển trên địa bàn Vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững

2.5. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển theo hướng bền vững 2.5.1. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 2.5.1.1. Kinh nghiệm của Indonesia

Indonesia là một quốc gia với tập hợp quần đảo rộng lớn, rừng nhiệt đới có diện tích lớn nhất so với các nước Đông Nam Á. Indonesia có nhiều thiên đường biển đẹp, nổi tiếng trên thế giới. Vùng biển Bali trước đây là vùng kém phát triển, hoang sơ, nhưng có tài nguyên du lịch tự nhiên biển khá phong phú cùng với nền văn hóa truyền thống đặc sắc là điều kiện thuận lợi để Indonesia phát triển DLB (Đinh Sỹ Kiệm, 2013). 2.5.1.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của Malaysia

Từ thực tiễn phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch biển trong nước và quốc tế, có thể rút ra những bài học sau: (1) Đẩy mạnh việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch du lịch biển một cách đồng bộ; quy trình thực hiện các quy hoạch, kế hoạch đều có sự tham gia của cộng đồng ngay từ giai đoạn đầu nhằm bảo đảm các nội dung quy hoạch, kế hoạch có thể thực thi. (2) Đa dạng hóa phát triển sản phẩm du lịch biển cả về hình thức và cách thức thể hiện; (3) Tăng cường chất lượng nguồn nhân lực biển là chìa khóa thành công. (4) Gắn phát triển du lịch biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi sinh vật khu vực biển. (5) Xây dựng thương hiệu điểm đến về du lịch biển; coi xúc tiến và xây dựng thương hiệu điểm đến là bài toán cần giải quyết đối với các địa phương, quốc gia trong quá trình phát triển du lịch biển góp phần tạo nên ấn tượng về chất lượng, hình ảnh điểm đến, qua đó thu hút khách du lịch, đồng thời tạo ra giá trị riêng biệt cho từng khu vực biển.

Ở trung tâm của Đông Nam Á, Malaysia - một thiên đường nhiệt đới vô cùng hấp dẫn có nguồn tài nguyên biển khá phong phú (Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 2005); DLB Malaysia phát triển mạnh, có các điểm du lịch biển: Langkawi (Kedah), Pulau Payar (Kedah), Pantai Merdeka (Kedah), Công viên biển của Malaysia là những điểm đến hấp dẫn với du khách, là thiên đường biển. 2.5.1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của Singapore CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Khung phân tích

Singapore là một quốc đảo nhỏ với tổng diện tích 648,1 km2, trong đó diện tích đất liền là 585,4 km2 tương đương với diện tích của Vịnh BTL của Việt Nam, còn lại là phần diện tích của 63 hòn đảo nằm rải rác trong biên giới biển, tài nguyên khoáng sản hạn chế đều phải nhập khẩu từ bên ngoài. Tuy vậy, Singapore đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên biển và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Mặc dù là một đất nước nhỏ bé nhưng DLB Singapore đã trở thành một điểm đến hấp dẫn trong con mắt du khách khắp nơi trên thế giới. 2.5.2. Kinh nghiệm một số vùng trong nước 2.5.2.1. Kinh nghiệm về phát triển du lịch biển của thành phố Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa Tỉnh Khánh Hòa nằm tại vùng Nam Trung Bộ của Việt Nam, có trên 300 km đường

13 14

Phòng Du lịch, và các cơ quan có liên quan đến quản lý du lịch tại địa phương. Doanh nghiệp du lịch: Nhóm này bao gồm các công ty lữ hành, khách sạn, resort, nhà hàng, và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch biển. Khách du lịch: Đối tượng này bao gồm du khách trong nước và quốc tế đang tham gia hoặc đã tham gia các hoạt động du lịch biển tại khu vực nghiên cứu. 3.2.2. Thu thập dữ liệu 3.2.2.1. Thiết kế và phát triển công cụ nghiên cứu

Quá trình phát triển công cụ nghiên cứu được thực hiện theo quy trình ba giai đoạn nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) của thang đo. Giai đoạn 1 - Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ; Giai đoạn 2 - Thẩm định chuyên gia và nghiên cứu thử nghiệm; Giai đoạn 3 - Hoàn thiện công cụ chính thức. 3.2.2.2. Chiến lược thu thập dữ liệu đa kênh

Hình 3.1. Khung phân tích phát triển du lịch biển theo hướng bền vững Nguồn: Tác giả đề xuất (2024)

Nghiên cứu áp dụng chiến lược thu thập dữ liệu đa kênh (multi-channel data collection) để tối đa hóa tỷ lệ phản hồi và đảm bảo chất lượng dữ liệu. Quá trình thu thập được thực hiện từ tháng 10 năm 2023 đến tháng 9 năm 2024, trải qua các mùa du lịch khác nhau để tăng tính đại diện của dữ liệu. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp; Khảo sát trực tuyến; Khảo sát tại chỗ. 3.2.2.3. Kiểm soát chất lượng dữ liệu 3.2. Nghiên cứu định lượng 3.2.1. Thiết kế và mẫu nghiên cứu 3.2.1.1. Thiết kế Nghiên cứu tổng thể

Nghiên cứu triển khai hệ thống kiểm soát chất lượng đa tầng để đảm bảo tính tin cậy và hợp lệ của dữ liệu thu thập: Kiểm soát tại nguồn; Kiểm tra tính hoàn chỉnh; Phát hiện phản hồi không hợp lệ. 3.3.3. Phân tích dữ liệu 3.3.3.1. Chuẩn bị và làm sạch dữ liệu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế khảo sát mặt cắt ngang (cross-sectional survey design) với phương pháp thu thập dữ liệu định lượng nhằm kiểm định các mối quan hệ nhân quả trong mô hình lý thuyết đã được thiết lập. Lựa chọn thiết kế này được biện minh dựa trên ba yếu tố chính: thứ nhất, tính chất của câu hỏi nghiên cứu đòi hỏi việc đo lường đồng thời nhiều biến số và mối quan hệ giữa chúng; thứ hai, khả năng thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn trong khoảng thời gian hạn chế; thứ ba, tính phù hợp với các phương pháp phân tích thống kê tiên tiến như PLS-SEM và NCA. 3.2.1.2. Khung lấy mẫu đa tầng Trước khi tiến hành phân tích chính, dữ liệu được xử lý qua quy trình chuẩn bị nghiêm ngặt bao gồm các bước sau: Kiểm tra và xử lý dữ liệu thiếu; Phát hiện và xử lý giá trị ngoại lệ; Kiểm tra giả định phân phối. 3.3.3.2. Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) cho đánh giá mức độ bền vững

Phương pháp AHP (Analytic Hierarchy Process) của Saaty (2008) để xác định các tiêu chí và trọng số đánh giá cho từng khía cạnh bền vững của phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung bộ.

Nghiên cứu triển khai chiến lược lấy mẫu đa tầng (multi-stage sampling strategy) kết hợp với phương pháp lấy mẫu phân tầng (stratified sampling) để đảm bảo tính đại diện của mẫu nghiên cứu. Quá trình lấy mẫu được thực hiện theo ba giai đoạn liên tiếp: Giai đoạn 1 - Lựa chọn đơn vị địa lý; Giai đoạn 2 - Phân tầng theo nhóm đối tượng; Giai đoạn 3 - Lựa chọn đơn vị mẫu: 3.2.1.3. Xác định kích thước mẫu

Để phát triển bền vững trên địa bàn vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững, luận án xác định có ba khía cạnh bền vững cần đánh giá dựa trên cơ sở giả thuyết của các nghiên cứu như sau: (1) bền vững về kinh tế: UNWTO (2013), Ngô Thắng Lợi (2015), WTTC (2017), ILO (2017); (2) bền vững về văn hoá - xã hội; (3) bền vững về môi trường: Ngô Thắng Lợi (2015). 3.3.3.3. Phân tích cấu trúc tuyến tính từng phần (PLS-SEM)

PLS-SEM được lựa chọn làm phương pháp phân tích chính dựa trên các đặc điểm phù hợp với mô hình nghiên cứu: tính phức tạp của mô hình với nhiều cấu trúc và biến quan sát, mục tiêu dự đoán và giải thích, và khả năng xử lý dữ liệu không tuân Kích thước mẫu được xác định dựa trên các nguyên tắc thống kê nghiêm ngặt và yêu cầu kỹ thuật của phương pháp phân tích PLS-SEM. Theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2017), kích thước mẫu tối thiểu cho phân tích PLS-SEM được tính theo quy tắc "10 lần số biến quan sát" hoặc "10 lần số đường dẫn hướng đến cấu trúc có nhiều tiền tố nhất", tùy theo giá trị nào lớn hơn. Với 40 biến quan sát trong mô hình nghiên cứu, kích thước mẫu tối thiểu được xác định là 400 đơn vị. 3.2.1.4. Tiêu chí lựa chọn đối tượng nghiên cứu Nhà quản lý du lịch: Đối tượng này bao gồm cán bộ quản lý tại Sở Du lịch,

15 16

theo phân phối chuẩn. Giai đoạn 1 - Đánh giá mô hình đo lường (Measurement Model Assessment); Giai đoạn 2 - Đánh giá mô hình cấu trúc (Structural Model Assessment): 3.3.3.4. Phân tích điều kiện cần (NCA) Trị), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế)... Với tiềm năng sinh thái rừng và biển phong phú, đa dạng, các tỉnh Bắc Trung Bộ có điều kiện lý tưởng để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và thể thao mạo hiểm. 4.1.3. Cơ sở hạ tầng

NCA được áp dụng như một phương pháp bổ sung để xác định các điều kiện cần thiết cho phát triển du lịch biển bền vững. Phương pháp này giúp trả lời câu hỏi "yếu tố nào là điều kiện cần thiết để đạt được mức độ phát triển bền vững cao?": Xây dựng đường biên trên (Ceiling Line Construction); Tính toán kích thước hiệu ứng; Kiểm định ý nghĩa thống kê; Phân tích bảng điểm nghẽn. 3.3.3.5. Tích hợp và so sánh kết quả

Vùng Bắc Trung Bộ có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường hàng khong tương đối phát triển, kết nối toàn bộ 6 tỉnh thuộc vùng là ba tuyến quan trọng trên trục giao thông Bắc - Nam là đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra, vùng cũng có nhiều sân bay, trong đó quan trọng nhất là sân bay Phú Bài (Thừa Thiên - Huế), Vinh và Đồng Hới. Nhìn chung, so với cả nước, các tuyến giao thông đường bộ của vùng Bắc Trung Bộ tương đối thuận lợi, thường xuyên được bảo trì, nâng cấp nên có chất lượng tốt. Tuy nhiên, do tác động của thiên tai, bão lũ nên giao thông còn gặp nhiều khó khăn vào mùa mưa bão.

Việc tích hợp này cho phép đưa ra các khuyến nghị chính sách hai chiều: (1) chiến lược tăng cường (enhancement strategy) tập trung vào các yếu tố có tác động mạnh nhất; và (2) chiến lược đảm bảo (assurance strategy) nhằm loại bỏ các điểm nghẽn và đáp ứng các điều kiện cần thiết. 3.3.3.6. Phân tích bổ sung và kiểm tra độ mạnh

4.2. Thực trạng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 4.2.1. Dưới góc độ kinh tế 4.2.1.1. Vị thế, quy mô của ngành du lịch biển

Để tăng cường tính tin cậy và hợp lệ của kết quả, nghiên cứu thực hiện các phân tích bổ sung: Phân tích nhóm con (Subgroup Analysis); Kiểm tra độ mạnh (Robustness Check); Phân tích độ nhạy. Toàn bộ quá trình phân tích được thực hiện với sự hỗ trợ của các phần mềm chuyên dụng: SmartPLS 4.1 cho PLS-SEM, NCA và SPSS 28.0 cho các phân tích thống kê mô tả và chuẩn bị dữ liệu.

a) Du lịch biển trong định hướng, chính sách phát triển kinh tế của địa phương Trong chiến lược phát triển KT - XH của các tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ, du lịch biển đều xác định đóng góp vai trò quan trọng trở lên với kinh tế của các địa phương. vùng Bắc Trung Bộ đều đã có quy hoạch tổng thể du lịch biển biển phát triển du lịch biển biển định hướng đến năm 2025 và 2030.

CHƯƠNG 4. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

(1) Du lịch biển biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ngày càng được khẳng định

về tiềm năng, vị trí, hình ảnh, và chất lượng trên bản đồ du lịch biển của Việt Nam.

(2) Các điểm du lịch biển biển đều nằm ở vị trí giao thông thuận lợi, nhiều nơi

4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ 4.1.1. Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước và quốc tế

giáp ranh giữa các tỉnh lân cận, thuận tiện cho việc tham quan, di chuyển, liên kết.

(3) Các điểm du lịch biển biển đều nằm xen kẽ với khu dân cư, cách trung tâm

thành phố không xa, nên có cả các dịch vụ tiện ích, giải trí xung quanh.

Trong tổ chức lãnh thổ phát triển du lịch Việt Nam, theo định hướng chiến lược mới được phê duyệt, vùng Bắc Trung Bộ là vùng tiếp giáp với các vùng trung du miền núi Bắc Bộ, vùng đồng Bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc và Vùng Bắc Trung bộ. Vùng Bắc Trung Bộ có diện tích 51.524,6km2, dân số là 10.189,6 nghìn người, vùng Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. 4.1.2. Tài nguyên du lịch

b) Tăng trưởng ngành du lịch biển trong hệ thống các ngành kinh tế địa phương Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2018 - 2024 của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đạt trung bình khoảng gần 8%/năm; trong đó khu vực nông - lâm - thủy sản 3%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12%/năm; dịch vụ tăng xấp xỉ 8%/năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng du lịch biển nhanh và liên tục, trung bình đạt 18,78% cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng GRDP nói chung và tốc độ tăng ngành dịch vụ nói riêng. Du lịch biển đã khẳng định được tầm quan trọng trong phát triển kinh tế ở địa phương.

Bắc Trung Bộ là vùng tài nguyên du lịch vô cùng đa dạng, phong phú với dải bờ biển dài khoảng 670 km, thiên nhiên hoang sơ và giàu những nét văn hóa đặc sắc. Bắc Trung Bộ nổi tiếng với các bãi biển đẹp như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Nhật Lệ (Quảng Trị), Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế)...; các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Bến En (Thanh Hóa), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang, Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Phong Nha - Kẻ Bàng, Sơn Đoòng (Quảng

c) Chuyển dịch trong cơ cấu ngành du lịch biển Theo ý kiến, của các cán bộ quản lý nhà nước thì nội dung đầu tư phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung là tốt nhưng riêng đầu tư phát triển

17 18

vừa và nhỏ... Công tác tập huấn nâng cao nhận thức DL và văn hoá ứng xử cho cộng đồng dân cư đã được quan tâm thường xuyên. Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề về DL có nhiều chuyển biến mới qua quá trình sàng lọc, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ giảng viên được đầu tư, nâng cấp theo tiêu chuẩn quy định. nguồn nhân lực của các tỉnh cần phải có chính sách phù hợp hơn trong việc phân bổ vốn. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá phát triển năng lực du lịch biển của các tỉnh và duy trì sự PTBV cho du lịch biển. 4.2.1.2. Lợi ích kinh tế từ du lịch biển

c) Thu nhập của dân địa phương Thu nhập của dân cư tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung đã được nâng lên rất nhiều thời gian qua. Nếu năm 2015, thu nhập bình quân của các hộ dân tại các điểm du lịch biển là 1.500.000 đồng/tháng, thì đến năm 2024 thu nhập trung bình của họ đã tăng gấp bốn. 4.2.2.2. Bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử tại điểm du lịch biển

a, Đóng góp vào GRDP và các ngành khác Tính đến năm 2024, giá trị tăng thêm từ du lịch biển tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ước chiếm khoảng 2,12% GRDP, tăng đáng kể so với mức 0,57% năm 2010 và 1,75% năm 2023. Tuy vẫn thấp hơn so với mức bình quân 5,9% GDP của du lịch biển cả nước, nhưng đây là tín hiệu tích cực phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng mạnh sau đại dịch, nhất là trong bối cảnh chính quyền các địa phương đã đầu tư hạ tầng, kết nối liên vùng, và đa dạng hóa sản phẩm du lịch.

a) Công tác bảo tồn các di tích: Di tích kiến trúc lịch sử, các danh thắng thiên nhiên, cảnh quan nhân văn là nguồn tài nguyên du lịch biển văn hoá vô cùng giá trị của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Những tài sản đó vừa có giá trị về đời sống tinh thần, vừa có giá trị về du lịch biển.

b, Số lượng khách du lịch biển Lượng khách du lịch biển đến vùng Bắc Trung Bộ liên tục tăng trong vòng hơn 10 năm qua. Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã chú trọng tập trung cho phát triển du lịch biển và thương hiệu du lịch biển của các tỉnh đang dần được khẳng định trên bàn đồ du lịch biển Việt Nam nói chung và vùng BTB nói. Đặc biệt, Thanh Hóa là một trong những tỉnh thu hút khách du lịch biển hàng đầu cả nước, là trung tâm du lịch biển của tiểu vùng vùng Bắc Trung Bộ tỏa ra các tỉnh vệ tinh lân cận. 4.2.2. Dưới góc độ xã hội - văn hóa 4.2.2.1. Sinh kế của dân địa phương

b) Số lễ hội và làng nghề thủ công truyền thống được giữ gìn: Số lượng lễ hội ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là rất lớn, hiện nay các tỉnh đã khai thác đưa vào các tour du lịch biển phục vụ khách. Các lễ hội thể hiện sự phong phú trong đời sống tinh thần của bà con ở các tỉnh, và cũng là nguồn lực lớn để các nhà quản lý thấy được những lợi thế trong quá trình hoạch định chính sách phát triển cho địa phương. Nhưng đồng thời cũng đặt ra trọng trách là phải gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc và truyền thống văn hóa. 4.2.2.3. Sự tham gia của người dân

a) Hình thức tham gia của người dân vào các hoạt động du lịch biển Sự tham gia của người dân phản ánh số lượng và chất lượng cơ cấu tổ chức phát triển du lịch biển. Dân cư địa phương thành lập các tổ hỗ trợ, tư vấn cho khách du lịch biển; tổ chèo thuyền …, tổ hợp đưa đón ăn ở, tại chỗ…tham gia tích cực vào hoạt động phục vụ cho du khách. Những người tham gia các hội phục vụ khách đều là dân địa phương, được hướng dẫn rất kỹ về hệ thống hang động, lịch sử của các di tích để có thể kiêm nhiệm vai trò hướng dẫn viên du lịch biển cho khách tại chỗ.

a) Việc làm trong ngành du lịch biển Năm 2019, toàn vùng có khoảng 59.006 lao động du lịch, thì đến năm 2024 con số này đã tăng gần gấp ba lần, đạt mức 162.083 người. Trong đó, Quảng Trị dẫn đầu với 65.953 lao động năm 2024, gần gấp ba lần so với năm 2019, thể hiện rõ hiệu quả từ các dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch biển và dịch vụ đi kèm. Thanh Hóa cũng ghi nhận mức tăng mạnh từ 14.493 lên 41.592 người, phản ánh sự bùng nổ về lượng khách và hệ sinh thái dịch vụ du lịch. Thừa Thiên – Huế, với thế mạnh du lịch văn hóa và biển, đã nâng số lao động từ 10.785 (2019) lên 29.227 (2024), còn Nghệ An và Hà Tĩnh cũng tăng lần lượt lên 16.844 và 8.467 người. Đặc biệt, giai đoạn 2022–2024 là thời kỳ tăng tốc mạnh mẽ, khi số lao động toàn vùng tăng từ gần 100.000 lên hơn 160.000 người chỉ trong vòng hai năm. Điều này cho thấy ngành du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm bền vững và thúc đẩy tăng trưởng vùng theo hướng dịch vụ hóa..

b) Mức độ hài lòng và hợp tác của người dân với vai trò đóng góp cho cộng đồng Ủy ban nhân dân (UBND)nơi có điểm du lịch biển cũng đã thành lập các tổ chức quản lý có sự tham gia của cộng đồng dân cư nhằm phát hiện, ngăn chặn và tham mưu cho đơn vị quản lý trong hoạt động du lịch biển. Đây là bước đi đứng đắn, đảm bảo sự an toàn và quyền lợi cho khách du lịch biển và người dân. 4.2.3. Dưới góc độ môi trường 4.2.3.1. Bảo tồn tài nguyên du lịch biển

b) Tỷ lệ lao động địa phương tham gia vào du lịch biển Nguồn nhân lực ngành DL vùng Bắc Trung bộ không ngừng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Dự tính kinh phí đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch biển vùng Bắc Trung bộ giai đoạn 2015 - 2024 là 740 triệu đồng cho các nội dung: bồi dưỡng kiến thức QLNN về DL cho cán bộ các cấp vùng Bắc Trung bộ, huyện, xã; gửi cán bộ đi đào tạo về DL ở trong nước; bồi dưỡng kiến thức cho giám đốc khách sạn

Vùng Bắc Trung Bộ có vườn quốc gia, khu DTSQ thế giới, di sản thế giới, vì vậy có sự đa dạng về tài nguyên, sự đa dạng sinh học hàng đầu cả nước. Việc phát triển “nóng” du lịch biển, đặc biệt vào mùa cao điểm làm vượt quá sức chứa, sức chịu tải môi trường gây ảnh hưởng đến các loài thực vật và tập tính của các loài động vật tại

19 20

các khu, điểm du lịch biển.

Quảng Bình cuối nhóm là khá nhỏ, lên đến 0,548 điểm (Thanh Hoá đạt 3,965 điểm, Quảng Bình đạt 3,417 điểm). 4.3.3. Khía cạnh thuộc về môi trường

Nỗ lực đảm bảo môi trường trong phát triển du lịch Mô hình du lịch sinh thái, có trách nhiệm Phong Nha , phá Tam Giang (Huế) đang triển khai du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn nguồn lực tự nhiên. Tại Quảng Trị, hơn 30% diện tích khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng được quy hoạch nghiêm ngặt cho mục tiêu bảo tồn. Các mô hình đồng quản lý của cộng đồng đang được thí điểm tại nhiều xã ven biển như Quảng Công (Thừa Thiên Huế), Diễn Thành (Nghệ An), bước đầu cho kết quả khả quan trong việc kết hợp sinh kế bền vững và bảo tồn.

Chiến dịch vì môi trường du lịch biển Chiến dịch “Nói không với rác thải nhựa trên biển” được nhiều địa phương hưởng ứng, điển hình là Thanh Hóa, Nghệ An. Nhiều doanh nghiệp du lịch bắt đầu áp dụng quy chuẩn xanh trong vận hành như khách sạn sử dụng năng lượng mặt trời, hạn chế bao bì nhựa, tổ chức ngày hội làm sạch bãi biển định kỳ. Riêng tại Nghệ An, năm 2024 có hơn 120 cơ sở lưu trú đăng ký đạt tiêu chuẩn du lịch xanh, tăng gấp đôi so với năm 2020. 4.2.3.3. Bảo tồn sự đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan Xét về khía cạnh môi trường, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về môi trường cho thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp hạng bền vững mức B). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng mức B thì tỉnh đứng đầu là Thừa - Thiên Huế, tiếp đến thứ hai là Quảng Bình và xếp cuối là Thanh Hoá. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm trong ngưỡng xếp hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thừa - Thiên Huế đầu nhóm với Thanh Hoá cuối nhóm là nhỏ, lên đến 0,374 điểm (Thừa - Thiên Huế đạt 3,887 điểm, Quảng Trị đạt 3,513 điểm). 4.4. Đánh giá mô hình các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 4.4.1. Đánh giá mô hình đo lường 4.4.1.1. Độ tin cậy và giá trị hội tụ

Kết quả phân tích cho thấy tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu nghiêm ngặt về độ tin cậy và giá trị hội tụ. Hệ số tải ngoài (outer loadings) của toàn bộ các biến quan sát đều vượt ngưỡng 0.7, với giá trị cao nhất đạt 0.931 (DV3) và thấp nhất là 0.701 (CS3), thể hiện các biến quan sát có khả năng đại diện xuất sắc cho các khái niệm tiềm ẩn tương ứng. 4.4.1.2. Giá trị phân biệt

Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đều thúc đẩy quá trình tăng tốc cho phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển du lịch biển nói riêng thời gian qua. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa đã có phần tác động không nhỏ, lấn át cảnh quan du lịch biển, tự nhiên, ảnh hưởng không nhỏ đến không gian và môi trường du lịch biển. Bên cạnh đó, việc sử dụng một số di tích không đúng chức năng, vai trò và mục đích ở một số điểm du lịch biển đã dẫn đến tình trạng bị hư hỏng, xuống cấp, ô nhiễm. 4.3. Đánh giá mức độ bền vững trong phát triển du lịch biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 4.3.1. Khía cạnh thuộc về kinh tế

Kết quả cho thấy tất cả các giá trị HTMT đều nhỏ hơn ngưỡng 0.9, với giá trị cao nhất là 0.601 giữa DV và PT. Điều này khẳng định các khái niệm trong mô hình có sự khác biệt rõ ràng, đảm bảo giá trị phân biệt. 4.4.2. Đánh giá mô hình cấu trúc 4.4.2.1. Kiểm định các giả thuyết về tác động

Xét về khía cạnh kinh tế, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về kinh tế cho thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp hạng bền vững mức B), có hai tỉnh là Hà Tĩnh và Quảng Trị có mức điểm ở mức độ tạm bền vững (xếp hạng bền vững mức C). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng mức B thì tỉnh đứng đầu là Thừa - Thiên Huế, tiếp đến thứ hai là Thanh Hoá và xếp cuối là Quảng Bình. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm trong ngưỡng xếp hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thừa - Thiên Huế đầu nhóm với Quảng Trị cuối nhóm là khá lớn, lên đến 0,874 điểm (Thừa - Thiên Huế đạt 4,087 điểm, Quảng Trị đạt 3,213 điểm). 4.3.2. Khía cạnh thuộc về xã hội Kết quả phân tích cho thấy tất cả các giả thuyết đều được ủng hộ với mức ý nghĩa thống kê cao (p < 0.001). Nguồn nhân lực (NL) thể hiện tác động mạnh nhất đến phát triển du lịch biển bền vững (β = 0.325), tiếp theo là dịch vụ hỗ trợ (DV, β = 0.293) và hoạt động quảng bá (QB, β = 0.249). Điều này nhấn mạnh vai trò then chốt của chất lượng con người và hệ thống dịch vụ trong việc thúc đẩy phát triển bền vững. 4.4.3. Phân tích điều kiện cần thiết (NCA) 4.4.3.1. Mức độ cần thiết của các yếu tố

Kết quả cho thấy hoạt động quảng bá (QB) có mức độ cần thiết cao nhất (effect size = 0.191), tiếp theo là hoạt động liên kết (LK, effect size = 0.166). Điều này có nghĩa rằng nếu hai yếu tố này không đạt ngưỡng tối thiểu, khả năng đạt được mức độ phát triển bền vững cao sẽ bị hạn chế nghiêm trọng. 4.4.3.2. Phân tích bảng điểm nghẽn Xét về khía cạnh xã hội, kết quả điểm đánh giá bền vững du lịch về xã hội cho thấy hầu hết các tỉnh trong vùng đều đạt được điểm ở mức độ bền vững (xếp hạng bền vững mức B). Tuy nhiên, trong số các tỉnh có điểm bền vững xếp hạng mức B thì tỉnh đứng đầu là Thanh Hoá, tiếp đến thứ hai là Quảng Trị và xếp cuối là Quảng Bình. Đồng thời, dựa vào điểm bền vững cho thấy mặc dù cùng đạt được điểm trong ngưỡng xếp hạng của nhóm bền vững nhưng khoảng cách điểm giữa Thanh Hoá đầu nhóm với

21 22

điểm khách du lịch (DD) có tác động tích cực (β = 0.217, p < 0.001) đến phát triển bền vững, phản ánh sự đa dạng hóa thành công của thị trường khách du lịch.

Phân tích bảng điểm nghẽn cho thấy để đạt mức phát triển bền vững trung bình (50%), cần đảm bảo 6 trong 7 yếu tố vượt qua ngưỡng tối thiểu. Để đạt mức phát triển cao (90%), hoạt động quảng bá (QB) trở thành điểm nghẽn lớn nhất, yêu cầu mức tối thiểu -0.569, trong khi để đạt mức tối đa (100%), các yếu tố nhân tố khác (NB) và hoạt động liên kết (LK) trở thành những rào cản quan trọng nhất. 4.4.4. Tích hợp kết quả PLS-SEM và NCA 4.4.4.1. So sánh quan điểm tác động và điều kiện cần thiết

Thứ ba, về môi trường Phân tích định lượng cho thấy các nhân tố khác (NB) tạo ra tác động tích cực có ý nghĩa thống kê (β = 0.210, p < 0.001) đến phát triển bền vững, phản ánh năng lực thích ứng của vùng trong việc ứng phó với các thách thức đương đại đồng thời tận dụng các cơ hội mới nổi. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai đã thúc đẩy các cách tiếp cận sáng tạo trong quản lý môi trường.Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các thực tiễn tốt nhất quốc tế trong quản lý môi trường. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã cung cấp năng lực công nghệ chưa từng có để giám sát và quản lý môi trường. 4.5.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế Sự kết hợp hai phương pháp cho thấy những hiểu biết bổ sung quan trọng. Nguồn nhân lực (NL) vừa có tác động mạnh nhất (β = 0.325) vừa là điều kiện cần thiết quan trọng, khẳng định vai trò then chốt của yếu tố con người. Hoạt động quảng bá (QB) tuy có tác động trung bình nhưng lại là điều kiện cần thiết quan trọng nhất, cho thấy đây là yếu tố "gỡ điểm nghẽn" then chốt. 4.4.4.2. Hàm ý chiến lược từ kết quả tích hợp

Kết quả tích hợp cung cấp hai logic bổ sung cho nhau trong hoạch định chính sách. Logic "gia tăng" từ PLS-SEM chỉ ra rằng để tăng mức độ phát triển bền vững, cần ưu tiên đầu tư vào nguồn nhân lực (NL) và dịch vụ hỗ trợ (DV). Logic "điều kiện cần" từ NCA nhấn mạnh rằng trước tiên phải đảm bảo không có yếu tố nào bị yếu kém, đặc biệt là gỡ bỏ các điểm nghẽn về quảng bá (QB) và liên kết (LK).

Tất cả các yếu tố đều là điều kiện cần có ý nghĩa thống kê (p < 0.001), khẳng định rằng không thể bỏ qua bất kỳ yếu tố nào trong quá trình hoạch định chính sách phát triển du lịch biển bền vững.

Những hạn chế này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ nhân quả phức tạp, xuất phát từ các nguyên nhân cấu trúc sâu xa. (1) Thiếu quy hoạch tổng thể và quản lý tích hợp - Nguyên nhân căn bản của các điểm nghẽn; (2) Hệ thống chính sách pháp luật chưa đồng bộ - Nguồn gốc của những bất cập trong quản lý; (3) Công tác đào tạo phát triển nhân lực - Hạn chế trong yếu tố có tác động mạnh nhất; (4) Quan hệ liên kết kinh tế hạn chế - Điểm nghẽn trong phát triển tích hợp; (5) Nguồn lực tài chính không bảo đảm - Rào cản cơ bản cho phát triển tích hợp; (6) Mối quan hệ nhân quả giữa các hạn chế Tổng hợp phân tích cho thấy, phát triển du lịch biển bền vững tại vùng Bắc Trung Bộ đang đối mặt với một hệ thống nguyên nhân có mối quan hệ nhân quả phức tạp, trong đó việc thiếu quy hoạch tổng thể và quản lý tích hợp là nguyên nhân căn bản, dẫn đến một chuỗi các vấn đề về chính sách, nguồn lực, nhân lực và liên kết. Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần có một chiến lược tổng thể giải quyết đồng thời các nguyên nhân gốc rễ này thay vì chỉ tập trung vào từng vấn đề riêng lẻ.

Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng phát triển du lịch biển bền vững tại vùng Bắc Trung Bộ đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể, trong đó việc đầu tư gia tăng vào nguồn nhân lực và dịch vụ hỗ trợ phải đi đôi với việc gỡ bỏ các điểm nghẽn về quảng bá và liên kết để đạt hiệu quả tối ưu. 4.5. Đánh giá chung về phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 4.5.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân Sau đây là tác động cụ thể của chính sách phát triển du lịch dải ven biển các tỉnh Bắc Trung bộ trên từng lĩnh vực

CHƯƠNG 5. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN Ở CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 5.1. Bối cảnh và định hướng phát triển du lịch biển ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 5.1.1. Bối cảnh

Thứ nhất về kinh tế: Dải ven biển các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã đóng góp một tỷ trọng ngày càng quan trọng trong tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Kết quả định lượng khẳng định vai trò then chốt của nguồn nhân lực du lịch (NL) với hệ số tác động mạnh nhất (β = 0.325, p < 0.001). Sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế biển ưu tiên đã được hỗ trợ bởi dịch vụ hỗ trợ liên quan (DV) - yếu tố có tác động mạnh thứ hai (β = 0.293, p < 0.001). Các chính sách hỗ trợ ngư dân và phát triển công nghiệp chế biến hải sản đã tạo ra tác động tích cực, với chính sách phát triển du lịch của chính phủ (CS) có hệ số tác động đáng kể (β = 0.151, p < 0.001).

Thứ hai, về xã hội: Đời sống và mức sống của nhân dân dải ven biển đã có những cải thiện đáng kể về cả vật chất và tinh thần. Kết quả phân tích cho thấy đặc Bước sang giai đoạn hiện tại, du lịch biển Bắc Trung Bộ đã có những bước tiến rõ rệt. Cơ sở hạ tầng được cải thiện với mạng lưới quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc – Nam và các sân bay (Vinh, Đồng Hới, Phú Bài) kết nối thuận tiện. Nhiều khu nghỉ dưỡng, khách sạn, khu vui chơi ven biển đã hình thành. Năm 2023, vùng Bắc Trung Bộ đón 33,46 triệu lượt khách (chiếm 27,6% cả nước), cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch. Thanh Hóa dẫn đầu với 12,1 triệu lượt khách, trong khi Quảng Trị thấp nhất với 2 triệu– chênh lệch này phản ánh mức độ phát triển chưa đồng đều giữa các địa phương. Ngành dịch vụ (bao gồm du lịch) hiện đóng góp cao nhất trong cơ cấu kinh tế vùng, chiếm 42,54% GDP khu vực năm 2023. Tuy nhiên, nhìn chung du lịch biển Bắc Trung Bộ chưa

23 24

trọng cho Bắc Trung Bộ – nơi hội tụ nhiều bãi biển đẹp nhưng dịch vụ nghỉ dưỡng cao cấp còn thiếu – cần thu hút đầu tư các resort, khu vui chơi tầm cỡ. 5.2. Giải pháp phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ theo hướng bền vững 5.2.1. Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ

tương xứng với tiềm năng, vẫn đối mặt nhiều thách thức: thiên tai, khí hậu khắc nghiệt (mùa mưa bão kéo dài), tính mùa vụ cao (dồn khách vào mấy tháng hè) và thiếu sản phẩm độc đáo nên lượng khách còn thấp hơn hẳn vùng Đông Nam Bộ (33,5 triệu so với 52 triệu năm 2023. Cơ sở hạ tầng du lịch ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu dịch vụ cao cấp; công tác quảng bá còn yếu; môi trường du lịch (vệ sinh bãi biển, cảnh quan) chưa được bảo vệ tốt, ảnh hưởng đến trải nghiệm du khách. Nguồn nhân lực du lịch địa phương còn hạn chế về chuyên môn ngoại ngữ, kỹ năng phục vụ. 5.1.2. Định hướng * Định hướng chung

Hoạt động liên kết hiện tại mới đang ở giai đoạn trao đổi thông tin, phối hợp hành động dựa trên các hoạt động cụ thể. Các hoạt động được xây dựng theo từng năm chủ yếu do một tỉnh đăng cai tổ chức. Cơ chế họp 1-2 năm một lần chủ yếu tập trung vào khâu tổng kết, báo cáo hơn là công tác điều hành. Quy mô hợp tác này chưa đáp ứng được yêu cầu của một «vấn đề chung» là phát triển du lịch trên phạm vi toàn vùng Bắc Trung Bộ. Chiến lược hợp tác liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ là cơ sở tạo nên niềm tin cho các bên tham gia, tạo ra định hướng chia sẻ chung cũng như là cơ sở xây dựng các chương trình hành động cụ thể. 5.2.2. Đầu tư và huy động vốn cho phát triển cho du lịch

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững, liên kết vùng trong phát triển du lịch đang trở thành một xu thế tất yếu nhằm tối ưu hóa tài nguyên, nâng cao sức cạnh tranh và gia tăng giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng du lịch. Đối với khu vực Bắc Trung Bộ, nơi tập trung nhiều di sản văn hóa – thiên nhiên, có vị trí chiến lược nối liền Bắc và Nam, việc xây dựng định hướng liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh không chỉ là yêu cầu cấp bách, mà còn là nền tảng để hình thành một không gian du lịch thống nhất, hấp dẫn và bền vững.

Đầu tư phát triển du lịch là hướng đầu tư lâu dài đòi hỏi sự bền bỉ nhưng hiệu quả của nó sẽ tác động đến cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Căn cứ vào đặc thù ngành du lịch cũng như điều kiện cụ thể của tỉnh, hoạt động đầu tư phát triển du lịch cần: Đầu tư xây dựng đồng bộ các khu du lịch trọng điểm; Đầu tư phát triển hệ thống khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch chất lượng cao; Đầu tư phát triển hệ thống các công trình vui chơi giải trí, thể thao; các dịch vụ bổ trợ khác; Đầu tư cho các dự án bảo tồn, tôn tạo các giá trị văn hóa lịch sử và phát triển các lễ hội, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch; Đầu tư cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao 5.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tập trung cho công tác đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo về chất lượng, đủ số lượng, cơ cấu phù hợp đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch nói chung và du lịch ở các tỉnh phía vùng Bắc Trung Bộ nói riêng. Tạo điều kiện cho cán bộ trẻ đi đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ; sẵn sàng tiếp nhận và tạo điều kiện cho cán bộ có trình độ chuyên môn, sinh viên ngành du lịch tốt nghiệp loại giỏi trở lên về công tác tại tỉnh. Có chính sách riêng trong việc thu hút chuyên gia giỏi, tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao vào lĩnh vực hoạt động quản lý, kinh doanh du lịch. Xây dựng kế hoạch phát triển du lịch cho từng giai đoạn và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực tương ứng. Ưu tiên tuyển chọn, sắp xếp đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, lao động có chuyên môn tham gia hoạt động trong lĩnh vực du lịch. 5.2.4. Bảo tồn tài nguyên du lịch

* Định hướng phát triển du lịch biển Bắc Trung Bộ Định hướng phát triển du lịch biển Bắc Trung Bộ giai đoạn tới được hoạch định trong khuôn khổ các chiến lược và quy hoạch quốc gia, vùng đã ban hành. Trước hết, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 (Quyết định 147/QĐ-TTg ngày 22/1/2020) đặt mục tiêu đưa du lịch thực sự thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, bền vững. Chiến lược này xác định tập trung phát triển các sản phẩm du lịch chất lượng cao, trong đó đặc biệt ưu tiên dòng sản phẩm nghỉ dưỡng biển, đảo bên cạnh du lịch văn hóa di sản Vùng Bắc Trung Bộ được xác định là một trong những khu vực động lực phát triển du lịch quốc gia – tức vùng trọng điểm sẽ được đầu tư để tạo bứt phá về tăng trưởng du lịch. Cùng với đó, Nghị quyết 36- NQ/TW năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến 2030 cũng nhấn mạnh du lịch và dịch vụ biển là ngành kinh tế biển ưu tiên hàng đầu cần phát triển đột phá. Du lịch biển, đảo được coi là một trong bốn dòng sản phẩm chủ đạo có lợi thế của du lịch Việt Nam, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế và sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển. Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045 (Quyết định 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024) nhằm cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược. Quy hoạch này đề ra mục tiêu đến 2030, du lịch cả nước đón 160 triệu khách nội địa, 35 triệu khách quốc tế, đóng góp trực tiếp 13-14% GDP; phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng cao và bền vững. Về định hướng sản phẩm, quy hoạch nhấn mạnh phải khai thác tối ưu tài nguyên du lịch biển, đảo để tạo ra các sản phẩm mang tầm cạnh tranh khu vực. Đồng thời phát triển các trung tâm nghỉ dưỡng biển cao cấp, có thương hiệu quốc tế tại những khu vực có lợi thế. Đây là kim chỉ nam quan (1) Phát huy và quản lý giá trị của tài nguyên du lịch; (2) Tăng cường công tác bảo tồn tài nguyên du lịch; (3) Thực hiện xã hội hoá trong đầu tư, bảo quản và tôn tạo di tích, bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên; (4) Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về giá trị tài nguyên môi trường du lịch cho người dân.

25

KẾT LUẬN 1. Kết luận

Vùng Bắc Trung bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Vùng có thế mạnh nổi bật về tài nguyên du lịch biển, đảo với sự đa dạng của các hệ sinh thái đặc trưng. Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, luận án đã tập trung giải quyết được các vấn đề sau: (1) đã trình bày được bức tranh tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu. (2) đã hệ thống hóa và làm rõ lý luận chung về du lịch và PTDL vùng theo hướng bền vững (3) đã trình bày rõ mô hình và phương pháp nghiên cứu (4) đã làm rõ thực trạng PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững (5) đã đề xuất được các giải pháp PTDL các tỉnh vùng Bắc Trung bộ theo hướng bền vững. Đồng thời, bên cạnh những việc đã làm được luận án cũng đã chỉ ra được những hạn chế trong nghiên cứu của luận án và đề xuất các hướng nghiên cứu mới trong tương lai, thể hiện nghiên cứu của luận án là có tính kế thừa và phát triển trong tương lai. 2. Những hạn chế của đề tài

Mặc dù luận án đã rất cố gắng nhưng vì một số điều kiện thực tế không cho phép nên luận án vẫn còn một số hạn chế nhất định, Cụ thể: Thứ nhất, mẫu khảo sát còn ít và chưa bao quát hết các đối tượng liên quan đến PTDLBV các tỉnh vùng Bắc Trung bộ. Thứ hai, việc xác định trọng số được xác định theo phương pháp HP, theo phương pháp này, trọng số đánh giá sẽ phụ thuộc vào chất lượng chuyên gia phỏng vấn cho ý kiến và quan điểm của các chuyên gia, nên ở một khía cạnh nào đó về mặt khoa học, các ý kiến vẫn còn hàm chứa ý kiến chủ quan của chuyên gia. Thứ ba, việc khảo sát đối tượng khách du lịch còn hạn chế vì có nhiều du khách khi tiếp cận phỏng vấn không biết tiếng anh nên không trả lời được phiếu khảo sát., Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà chứ chưa bao quát hết các tỉnh trong vùng. Thứ tư, nghiên cứu chỉ dừng lại đánh giá bền vững trên bốn khía cạnh là bền vững về kinh tế, văn hoá - xã hội, môi trường và thể chế nên chưa bao quát hết được các khía cạnh trong PTDL bền vững. 3. Kiến nghị hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên đi sâu vào đánh giá PTDLBV trên cả khía cạnh về thể chế và mở rộng hơn nữa đối tượng khảo sát, phạm vi khảo sát. Đồng thời, về phương pháp nghiên cứu định lượng nên sử dụng thêm các mô hình SEM để nghiên cứu nhằm làm rõ hơn mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến PTDL trên địa bàn các tỉnh Vùng Bắc Trung bộ.