
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
********
PHẠM THỊ THANH HƯỜNG
QUYỀN VĂN HÓA
TẠI CÁC KHU DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 9229042
HÀ NỘI, 2025

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Văn Bài
PGS.TS. Bùi Thanh Thủy
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Quốc Hùng
Viện Văn hoá, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam
Phản biện 2: GS. TS Lê Hồng Lý
Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam
Phản biện 3: PGS. TS. Vũ Thị Phương Hậu
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Trường
Tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Số 418, đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi: … giờ …, ngày … tháng … năm 2025
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các khu Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO được coi là
tài sản vô giá của nhân loại, đồng thời là hình mẫu thực thi chính sách bảo tồn
gắn với phát triển bền vững. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu với 9 khu di sản
thế giới (DSTG) được ghi danh, nhưng thực tiễn gần đây nảy sinh nhiều thách
thức, đặc biệt là giải quyết mối quan hệ giữa di sản và cộng đồng. Cách tiếp
cận truyền thống trong quản lý DSTG nhấn mạnh bảo vệ giá trị nổi bật toàn
cầu mà xem nhẹ quyền văn hóa của cộng đồng địa phương, có thể dẫn đến
quyết định di dân khỏi vùng lõi, hoặc hạn chế việc tiếp cận tham gia của họ,
ảnh hưởng tới việc duy trì, thực hành và hưởng lợi của cộng đồng tại khu di
sản. Cộng đồng thường chỉ được xem là đối tượng quản lý chứ chưa phải là
chủ thể văn hóa. Điều này làm mờ nhạt khía cạnh quyền văn hóa, tiềm ẩn rủi
ro trong việc ra quyết định thiên lệch khó đảm bảo quyền của văn hóa của cộng
đồng. Về lý luận, các chính sách quốc tế gần đây có sự chuyển dịch rõ ràng,
nhấn mạnh cách tiếp cận dựa trên quyền con người, đặc biệt là quyền văn hóa
tại các khu DSTG; tuy nhiên hiện chưa có công trình nghiên cứu nào tại Việt
Nam chuyên sâu về vấn đề này. Về thực tiễn, việc giám sát và báo cáo còn
nhiều lúng túng, không phản ánh được thực trạng, báo cáo thiếu thuyết phục ít
gắn kết bằng chứng do thiếu một khung đánh giá việc đảm bảo thực thi quyền
văn hóa tại các khu di sản thế giới. Trước sự cấp thiết về lý luận và thực tiễn,
NCS đã lựa chọn đề tài “Quyền văn hóa tại các khu di sản thế giới ở Việt Nam”
làm Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa để nghiên cứu một cách hệ
thống về việc đảm bảo và thực hiện quyền văn hóa tại các khu DSTG thực
hiện tốt hơn các quyền này nhằm đóng góp vào việc quản lý di sản và phát
triển bền vững.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề nhận thức và thực thi Quyền văn hóa tại các khu di
sản thế giới ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp giúp nâng cao
nhận thức và thúc đẩy việc đảm bảo, thực hiện quyền văn hóa tại các khu di
sản, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan, điểm luận các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước liên
quan đến quyền văn hóa và tiếp cận dựa trên quyền con người tại các khu DSTG.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, xác định nội hàm của quyền văn hóa và xây
dựng khung phân tích với các chỉ báo cụ thể cho đánh giá việc đảm bảo và
thực hiện quyền văn hóa tại các khu DSTG ở Việt Nam.
- Nghiên cứu việc sự công nhận và thể chế hóa Quyền văn hóa và Quyền
văn hóa tại các khu di sản thế giới trong hệ thống các văn bản pháp luật quốc

2
gia tại Việt Nam, có tham chiếu với các cam kết quốc tế.
- Khảo sát thực trạng và đánh giá việc thực hiện Quyền văn hóa tại các
khu DSTG ở Việt Nam thông qua các nghiên cứu trường hợp, xác định các
thành tựu, sáng kiến và các vấn đề bất cập, hạn chế cần khắc phục, giải quyết.
- Tìm hiểu, phân tích các kinh nghiệm thực tiễn tại các trường hợp tương
đồng trong khu vực và thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải
pháp giúp đảm bảo quyền văn hóa tại các khu DSTG ở Việt Nam theo hướng
phát triển bền vững.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc nhận thức và thực thi Quyền văn hóa tại các khu di sản thế giới ở
Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề: khảo sát và đánh giá việc thực hiện quyền văn hóa tại các
khu DSTG ở Việt Nam, đối chiếu với các quan điểm, chính sách gia và cam kết
quốc tế của Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: từ năm 1999 tới 2025, trong đó tập trung vào giai
đoạn 2015-2025, có so sánh và tham chiếu với các giai đoạn trước chủ yếu là
từ khi Việt Nam có các khu di sản thế giới đầu tiên đươc UNESCO ghi danh
(1993) để làm rõ sự thay đổi nhận thức và một số điều chỉnh về quản lý.
- Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu tại Khu Đô thị cổ Hội
An, VQG Phong Nha Kẻ Bàng (PNKB) và Quần thể danh thắng Tràng An.
Ba trường hợp lựa chọn có tính tiêu biểu cho các loại hình: di sản văn hóa
thế giới, di sản thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (di sản
hỗn hợp); đều có các cộng đồng cư dân bản địa sinh sống tại khu di sản và có
các mức độ nhận diện về giá trị văn hóa khác nhau thể hiện trong hồ sơ đề cử và
ghi danh DSTG.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Quyền văn hóa là gì? Nội hàm của quyền văn hóa được hiểu
như thế nào trong bối cảnh di sản thế giới?
Câu hỏi 2: Việc nhận thức và thể chế hóa quyền văn hóa hiện nay ở Việt
Nam như thế nào?
Câu hỏi 3: Việc nhận thức và mức độ thực hiện quyền văn hóa tại các
khu DSTG ở Việt Nam hiện nay đạt được những thành tựu và hạn chế gì?
Câu hỏi 4: Cần làm gì để thúc đẩy quyền văn hóa tại các khu DSTG ở
Việt Nam trước yêu cầu phát triển bền vững?
4.2. Giả thuyết
Đã có nỗ lực chung trên thế giới và ở Việt Nam trong việc nhận diện,

3
định nghĩa quyền văn hóa và thúc đẩy việc thực hiện quyền văn hóa với vai
trò là một quyền cơ bản của con người; Có thể tồn tại khoảng cách giữa chủ
trương, định hướng của Đảng, chính sách quốc gia và các cam kết quốc tế với
việc nhận thức và thực hiện quyền văn hóa tại các khu DSTG ở Việt Nam;
Những quy định và yêu cầu bảo tồn tại các khu DSTG mang lại thuận lợi và
cả khó khăn cho việc thực hiện quyền văn hóa; Có khoảng cách giữa nhận
thức, kỳ vọng và việc thực hiện quyền văn hóa tại các khu DSTG ở các nhân
sự quản lý, cộng đồng và các bên liên quan. Việc thực hiện quyền văn hóa tại
các khu DSTG ở Việt Nam có những hạn chế, bất cập cần phải khắc phục và
giải quyết bên cạnh những thành tựu nhất định..
5. Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận lấy quan điểm “Con người là trung tâm của mọi
quyết định quản lý; bảo tồn di sản văn hóa phải dựa vào các chủ thể văn hóa
với sự tham gia đầy đủ và đảm bảo các quyền hợp pháp của họ” và luận điểm
“Quyền văn hóa là một trụ cột quyền con người cơ bản trong lý thuyết về
quyền con người”.
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án:
- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu: tổng quan học thuật, các
nghiên cứu đi trước có liên quan, xác lập tổng quan về quyền văn hóa tại các
khu DSTG; hệ thống hóa tài liệu, văn bản chính sách, hướng dẫn thực hiện và
khung pháp lý quốc gia và cam kết quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: lựa chọn ba khu DSTG Đô thị cổ
Hội An, VQG Phong Nha Kẻ Bàng, Quần thể danh thắng Tràng An có tính đại
diện cho ba loại hình di sản thế giới để nghiên cứu, đánh giá về việc thực hiện
quyền văn hóa tại các khu DSTG ở Việt Nam.
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế: NCS thực hiện các chuyến điền
dã, khảo sát trên thực địa bao gồm quan sát, ghi chép, thu thập dữ liệu tại các
địa bàn nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn kết hợp bảng hỏi và phương pháp chuyên gia:
thực hiện phỏng vấn sâu với 55 người bao gồm các chuyên gia, nhà quản lý,
cộng đồng và các bên liên quan có hiểu biết, liên hệ sâu sắc với khu di sản;
phỏng vấn 10 chuyên gia quốc tế có các công trình nghiên cứu liên quan và
am hiểu về Việt Nam, kết hợp bảng hỏi với đại diện cộng đồng.
- Phương pháp so sánh: so sánh làm rõ sự thay đổi nhận thức và điều
chỉnh tại mỗi trường hợp, điểm chung và khác biệt giữa các trường hợp nghiên
cứu, giữa việc thực hiện quyền văn hóa tại một số khu DSTG trong khu vực
và trên thế giới với Việt Nam, rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải
pháp phù hợp.
- Cách tiếp cận liên ngành: sử dụng Tiếp cận quản lý văn hóa dựa trên
quyền, kết hợp với tiếp cận sử học, phương pháp kinh tế học và phương pháp

