487
Đỗ Văn Châu,
Trường Đại học RMIT Việt Nam
1. Bối cảnh chung
Năm 2020, đại dịch Covid-19 xuất hiện đã tạo ra nhiều thách thức chưa
từng có, tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, hội của đất nước.
Một trong những giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của đại dịch chính
phủ, doanh nghiệp hội chuyển đổi các hoạt động sang môi trường số.
vậy, chuyển đổi số trở thành chủ đề nóng được thảo luận và thúc đẩy triển khai
mạnh mẽ bởi các cấp, các ngành, ở nhiều lĩnh vực trên phạm vi cả nước.
Ngày 03/06/2020 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định
Số 749/-TTg phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025,
định hướng đến năm 2030”. Nhà nước xác định giáo dục đào tạo là một trong tám
lĩnh vực ưu tiên thực hiện chuyển đổi số tại mục VIIIMột số lĩnh vực cần ưu tiên
chuyển đổi s”. Theo đó, định hướng chính cho quá trình chuyển đổi số trong giáo
dục bao gồm “phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công
nghệ số trong công tác quản , giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình;
xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực
tiếp và trực tuyến,...” (Quyết định số 749/QĐ-TTg 2020, mục VIII).
Ngày 9/12/2020, Bộ Giáo dục Đào tạo (GDĐT) tổ chức Hội thảo
“Chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo” tại Nội sự tham gia của nhiều
quan nhà nước, các trường đại học, tổ chức quốc tế và các tập đoàn công nghệ
lớn trong ngoài nước. Bộ trưởng Bộ GDĐT nhấn mạnh những việc cần phải
làm để thực hiện chuyển đổi số trong ngành giáo dục, bao gồm xây dựng nền
tảng công nghệ quốc gia thống nhất, hoàn thiện sở dữ liệu ngành học, y
dựng kho tài nguyên học tập số, ...Bộ cũng trình bày báo cáo tổng kết kết quả
bước đầu của quá trình chuyển đổi số trong ngành giáo dục như đưa vào sử dụng
sở quốc gia về giáo dục với 53,000 trường học, phát triển học liệu số gồm
5,000 bài giảng e-learning, 2,000 bài giảng trên truyền hình, 200 đầu sách giáo
khoa phổ thông, 200 thí nghiệm ảo 35,000 câu hỏi trắc nghiệm (Hội thảo 2020,
mục 4 vấn đề bản thúc đẩy chuyển đổi số trong GDĐT). thể thấy nguồn
học liệu số y n rất khiêm tốn về số lượng chủng loại so với nhu cầu sử
dụng đa dạng của hàng triệu giáo viên, học sinh và sinh viên trên cả nước.
488
Trong khi đó, thư viện đại học có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp
học liệu cho hoạt động dạy học trong Trường đang lưu giữ số lượng lớn học
liệu dạng in. Điều này đã được quy định rõ tại Khoản a, Điều 14, Luật Thư viện
số 46/2019/QH14 về vai trò của thư viện đại học như sau: Phát triển tài nguyên
thông tin phù hợp với mục tiêu, nội dung, chương trình, lĩnh vực, ngành đào tạo,
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của cơ sở giáo dục đại học” (Luật
Thư viện 2019, Khoản a, Điều 14). Do vậy, tviện đại học sẽ phải chủ động
chuyển đổi các hoạt động của mình, đặc biệt là phát triển học liệu số để đáp ứng
yêu cầu dạy và học trực tuyến đang diễn ra ở nhiều trường.
2. Một số ưu tiên trong chủ trương chuyển đổi hoạt động sang môi trường
số của Đại học RMIT
Trường đại học RMIT Việt Nam (RMIT VN) được thành lập và đi vào hoạt
động vào năm 2000 tại Tp.Hồ Chí Minh sở đào tạo nước ngoài lớn
nhất của Đại học RMIT Melbourne (RMIT Úc). Đến nay, Trường ba sở
đào tạo ở Việt Nam tọa lạc tại Tp.Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng.
Từ năm 2015, Đại học RMIT đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm
2020 mang tên Sn sàng cho công vic cuc sngtriển khai đến các sở
đào tạo trên toàn thế gii. Tài liệu này nêu rõ sứ mệnh, các giá trị và mục tiêu mà
RMIT cần đạt được trong giai đoạn y. Theo đó, RMIT đặt mục tiêu trở thành
hình trường đại học cung cấp cho người học những trải nghiệm thể thay
đổi cuộc sống, quản lý và sử dụng tối ưu các nguồn lực để đạt được mục tiêu và
giải quyết các thách thức chung của cộng đồng.
Trong chiến ợc y, RMIT đặt ra một số ưu tiên liên quan đến việc đầu
tư hạ tầng công nghệ và nội dung số cho các hoạt như sau:
Quản lý, tìm kiếm và chia sẻ dễ dàng nội dung chương trình đào tạo
Nâng cao hiệu quả mở rộng hội học tập cho sinh viên, đặc biệt
sinh viên khuyết tật
Giảng vn được hỗ trsdng ng nghệ sđti ưu hóa q trình dạy học
Sinh viên thể truy cập tài nguyên học tập bất cứ khi nào cần theo
cách phù hợp với nhu cầu của mình
Sinh viên được trang bkỹ năng làm việc thích nghi trong môi trường số
Kết nối sinh viên các sở đào tạo của RMIT với nhau, với giảng viên,
nhân viên, cựu sinh viên RMIT và với nhà tuyển dụng.
Kết nối cộng đồng cựu sinh viên RMIT trên toàn cầu
Hỗ trợ đơn giản hóa c quy trình làm việc, truyền thông sự hợp tác
của nhân viên trong toàn hệ thống RMIT
489
Tạo lập quản lý dữ liệu, thống hỗ trợ cho quá trình ra quyết định
xử lý công việc nhanh chóng và đáng tin cậy
Thúc đẩy sự hợp tác và sáng tạo trong môi trường số
(RMIT University 2015)
Hiện tại, RMIT đã cơ bản thành công trong việc tạo lập hạ tầng công nghệ
số, ứng dụng đào tạo kỹ năng sử dụng các công cụ số cho người dùng, xây
dựng tài nguyên dạy và học số,…Điều này đã hỗ trợ đắc lực cho việc chuyển đổi
các hoạt động của Trường sang môi trường số, đặc biệt là dạy và học trực tuyến
thuận lợi và nhanh chóng.
3. Phát triển học liệu số tại Thư viện Đại học RMIT Việt Nam
Trên cơ sở chiến lược phát triển chung của Trường, Thư viên đã điều chỉnh
chính sách phát triển học liệu theo hướng ưu tiên tìm kiếm, tạo lập, đăng ký mua
quyền sử dụng nguồn tài nguyên dạy học dạng số. Đồng thời, thư viện thanh
lọc và giảm dần tỉ trọng kho sách in, tái thiết kế lại không gian thư viện nhằm bố
trí thêm nhiều máy tính và các thiết bị hỗ trợ cho sinh viên khai thác học liệu số.
Về cơ bản, thư viện phát triển học liệu số theo ba hướng sau đây:
3.1 Tạo lập tài nguyên số nội sinh:
Tài nguyên số nội sinh các dạng tài liệu, dữ liệu được hình thành tcác
hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại RMIT VN như sách, báo-tạp chí,
luận văn, luận án, báo cáo nghiên cứu, tác phẩm của sinh viên, băng ghi âm, ghi
hình, hình ảnh, hiện vật phản ánh lịch sử phát triển của Trường,…Các loại i
liệu này hoặc được xuất bản và lưu trữ dưới dạng điện tử ngay từ đầu, hoặc được
số hóa nếu chúng ở dạng in ấn do được xuất bản khá lâu. Phần lớn tài liệu số nội
sinh được Thư viện Đại học RMIT tại Úc thu thập, quản tập trung, cung
cấp quyền truy cập đến cho thư viện tại các cơ sở đào tạo của RMIT trên toàn thế
giới, trong đó có Việt Nam.
Thống đến thời điểm hiện tại (4/2021), số lượng tài nguyên số nội sinh
truy cập và sử dụng được tại Đại học RMIT VN như sau:
Cơ sở dữ liệu ấn phẩm nghiên cứu: 63,000 chương sách, luận văn, luận
án, bài báo, báo cáo khoa học,…cho phép truy cập mở
Cơ sở dữ liệu nghiên cứu: 1,500 hình ảnh, video, ghi âm phỏng vấn, ghi
chép của hai dự án nghiên cứu thuộc lĩnh vực thiết kế sáng tạo do RMIT tài trợ.
Bộ sưu tập đề thi cũ thuộc nhiều ngành: 1,600 đề thi
Bộ sưu tập ấn phẩm báo chí: 500 ấn phẩm báo chí của sinh viên được
xuất bản từ năm 1944
Bộ sưu tập hình ảnh chụp các sự kiện về RMIT: 2,000 tấm ảnh
Bộ sưu tập hình ảnh chụp kiến trúc của Úc: 1,500 tấm ảnh
490
Bộ sưu tập đồ án của sinh viên: 1,500 tác phẩm thuộc lĩnh vực kỹ thuật,
thiết kế và nghệ thuật sáng tạo
Thông tin chi tiết về nguồn tài liệu nội sinh tại RMIT tại địa chỉ sau:
https://rmit.primo.exlibrisgroup.com/discovery/collectionDiscovery?vid=61RM
IT_INST:RMITU
Bên cạnh đó, Thư viện RMIT VN được giao nhiệm vụ số hóa quản lý bộ
sưu tập gần 100 tác phẩm nổi bật của nghệ thuật đương đại Việt Nam. Các tác
phẩm được u tầm không chỉ đến từ những nghệ stên tuổi, mặt trong
các triển m nghệ thuật quan trọng, trong các bộ sưu tập nhân uy tín còn
có những nghệ sỹ trẻ đang muốn thể hiện các chủ đề gai góc theo cách nhìn mới.
Đại học RMIT đi đầu trong giáo dục sáng tạo và bộ sưu tập y cho phép cả sinh
viên trường cộng đồng bên ngoài trải nghiệm những ý ởng nghệ thuật của
thế hệ nghệ đương đại trọng yếu của Việt Nam. Đồng thời, bộ sưu tập cũng
góp phần nâng cao hiểu biết về lịch sử n hóa Việt Nam cho c thế hệ kế
tiếp cũng như khách tham quan quốc tế.
Thông tin về bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật này tại đại chỉ sau:
https://www.rmit.edu.vn/art-collection
3.2 Mua quyền truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu học thuật và thương mại từ các
nhà xuất bản
Thư viện RMIT Úc chịu trách nhiệm chính trong việc lựa chọn đàm phán
mua giấy phép truy cập đến các cơ sở dữ liệu học thuật và thương mai từ các nhà
xuất bản nhiều lĩnh vực, phù hợp với chương trình đào tạo của RMIT. Giấy
phép này sẽ cho phép giảng viên, sinh viên, các nhà nghiên cứu và nhân viên của
các sở đào tạo của RMIT trên toàn thế giới truy cập đầy đủ dễ dàng đến
các nguồn tài liệu này ở mọi lúc, mọi nơi.
Tính đến cuối năm 2020, Thư viện RMIT cung cấp quyền truy cập toàn văn
đến hơn 600 sở dữ liệu chứa trên 500,000 tựa sách điện tử, hơn 130,000 tựa
báo, tạp chí điện tử, và trên 130,000 video phát sóng lại, báo cáo ngành, phim
ảnh tư liệu, cơ sở dữ liệu thống kê kinh tế,… Như vậy có thể thấy thư viện RMIT
đã cung cấp khả năng truy cập đến nguồn tài nguyên thông tin số khổng lồ, đáp
ứng được hầu hết nhu cầu sử dụng cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy học
tập theo chương trình đào tạo của Trường.
Chi tiết về các cơ sở dữ liệu hiện có tại thư viện RMIT tại địa chỉ sau:
https://www.rmit.edu.au/library/borrowing-and-collections/collections
3.3 Sử dụng nguồn tài nguyên giáo dục mở (OER)
Theo định nghĩa của UNESCO, Tài nguyên giáo dc m (OER) bao gm
tt c các dng tài liu phc v cho hoạt động ging dy, hc tp và nghiên cu
491
trong nhà trường được cp phép truy cp m. OER cho phép vic nhân bn, s
dụng, thay đi chia s li ni dung tài liu hoàn toàn min phí hp pháp
(UNESCO 2019, trang OER). Tài nguyên giáo dc m bao gm nhiu loi t
sách giáo khoa (SGK) đến chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài ging,
bài tp, bài kim tra, báo cáo, âm thanh, hình ảnh và chương trình mô phỏng.
T năm 2016, thư viện đại học RMIT VN đã phối hp vi Trung tâm Xut
sc v K thut s (CODE) mới được thành lp tại Trường để khởi động d án
đánh giá, đào tạo và s dng OER trong hot đng dy và hc ti RMIT VN nói
ring và chia s với các trường trong h thng giáo dc ca Vit Nam nói chung.
Mc tiêu ca d án là nâng cao nhn thc v giá tr, li ích ca vic s dng OER
cũng như đào tạo k ng tìm kiếm, đánh giá và sử dng OER vào khóa hc cho
cán b thư viện, giảng viên và sinh viên trong và ngoài Trưng.
Kết qu tviện đã y dựng thành công cng thông tin v OER, cung
cp kh năng truy cập min phí d dàng ti ngun OER gm hàng trăm nghìn
tài liu chất lượng, phù hp vi nội dung chương trình đào tạo tại Trưng.
Giao din của trang đưc dch sang tiếng Vit nhm h tr cộng đồng người dùng
ti các trưng hc ca Vit Nam có th tiếp cn thun li.
Trang thông tin v OER của RMIT đưc truy cp min phí ti đa ch sau:
https://rmit.libguides.com/openeducationalresources
4. c dịch vhtrợ khai thác học liệu số tại Thư viện Đại học RMIT Việt Nam
Nhằm gp người dùng m kiếm và sử dụng hiệu quc nguồn i nguyên số,
thư viện đã cung cấp nhiều dịch vkhai tc và vấn sử dụng tng tin n sau:
4.1 Cổng tìm kiếm thông tin tập trung (LibrarySearch):
Từ năm 2020, thư viện đã khởi đông dự án chuyển đổi phần mềm quản
tài nguyên thông tin thư viện Spydus (Singapore) sang nền tảng mới là Alma của
Tập đoàn Ex Libris (Israel). Phầm mm Alma cho phép thư viện quản lý và cung
cấp khả năng tìm kiếm tập trung nguồn tài nguyên thông tin hiện có bao gồm tài
liệu in, tài liệu số hóa, sở dữ liệu nội sinh, sở dữ liệu mua quyền truy
cập,…Đồng thời, Alma cũng tích hợp các công cụ hỗ trợ khai thác tài liệu như
công cụ chỉ dẫn thông tin theo chủ đề (subject guide), công cụ quản lý danh mục
môn học (Reading list), quản lý trích dẫn tài liệu (EndNote, Mendeley),…
LibrarySearch giao diện được thiết kế đơn giản thân thiện, giúp người
dùng tìm kiếm thông tin bằng từ khóa tương tự như cỗ mày tìm kiếm thông dụng
Google. Đặc biêt, LibrarySearch hỗ trợ lọc kết quả tìm được theo rất nhiều tiêu
chí như chủ đề, dạng tài liệu, nơi lưu trữ, nhà xuất bản, ngôn ngữ, c giả, thời
gian xuất bản,…Từ đó, người dùng nhanh chóng chọn được thông tin phù hợp
nhất với nhu cầu của mình.