
545
Thân Thị Giang
Bùi Thị Ngọc Lan
Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây
Tóm tắt: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hay còn gọi là cuộc cách
mạng số đã, đang và sẽ tiếp tục tạo nên những biến động mạnh mẽ, gây ảnh hưởng
đến mọi mặt của cuộc sống xã hội trong thế kỷ XXI nói chung, trong đó có giáo dục
nghề nghiệp nói riêng. Giảng dạy môn giáo dục chính trị tại các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp có vị trí quan trọng trong việc hình thành thế giới quan cộng sản, nhân sinh
quan cách mạng và phương pháp luận khoa học đóng vai trò nền tảng cho sinh viên
khi còn ngồi trên ghế giảng đường. Bài viết, phân tích những yêu cầu và kỹ năng cơ
bản trong giảng dạy môn giáo dục chính trị để thích ứng với quá trình chuyển đổi số
trong giáo dục hiện nay.
Từ khóa: Giáo dục chính trị, cách mạng số, E-learning.
1. Mở đầu
Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) vẫn đang diễn ra từng ngày, từng
giờ, tác động mạnh mẽ đến giáo dục - nơi tri thức hóa nguồn nhân lực, cũng như
các nhà tuyển dụng - nơi kiểm nghiệm sản phẩm của quá trình tri thức hóa. Bởi
vậy, các cơ sở giáo dục, trong đó có các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không thể
thỏa mãn với kết quả kiểm định đạt tiêu chuẩn mà cần chủ động tiếp cận với thực
tiễn luôn biến động của CMCN 4.0 nhằm luôn bổ sung, phát triển để đáp ứng đòi
hỏi về trình độ, năng lực, kỹ năng, kỹ xảo cần có của người lao động mà nền kinh
tế số đang đặt ra. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội,
tận dụng tối đa thế mạnh của công nghệ thông tin (CNTT), nền giáo dục thế giới
đã và đang đổi mới toàn diện theo mô hình nền giáo dục số. Giáo dục 4.0 là mô
hình giáo dục thông minh, nền tảng của mô hình giáo dục này là dựa trên sự liên
kết giữa ba yếu tố nhà trường - nhà quản lý - nhà doanh nghiệp, tạo điều kiện cho
việc đổi mới, sáng tạo và năng suất lao động trong xã hội tri thức. Trước bối cảnh
đó, đòi hỏi công tác giảng dạy môn giáo dục chính trị phải đổi mới, chuẩn bị chu
đáo cho những thay đổi lớn khi chuyển đối số trong giáo dục.

546
2. Nội dung
2.1. Nội dung cơ bản cần quan tâm trong quá trình giảng dạy môn giáo dục
chính trị khi thực hiện chuyển đối số trong giáo dục
Trước tác động của CMCN 4.0, việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo
dục, đổi mới hoạt động dạy và học ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung,
môn giáo dục chính trị (GDCT) nói riêng là yêu cầu tất yếu khách quan. Qua
thực tiễn quản lý, nghiên cứu và giảng dạy môn GDCT tại trường Cao đẳng cộng
đồng Hà Tây, theo quan điểm của chúng tôi, để nâng cao hơn nữa chất lượng
giảng dạy môn học này thích ứng với quá trình chuyển đổi số trong giáo dục nghề
nghiệp, cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
Một là, cần triển khai, ứng dụng E-Learning trong hoạt động giảng dạy và
học tập sẽ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn
học này trong quá trình thực hiện chuyển đổi số. Hiện nay, việc ứng dụng CNTT
trong dạy và học khá phổ biến đó chính là cách học hiện đại, thông minh.
Elearning là hình thức sinh viên sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà
giảng viên đã biên soạn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giảng viên,
hoặc có thể trao đổi trực tuyến với giảng viên và các bạn cùng học thông mạng
Internet. Điểm khác cơ bản của hình thức E-Learning so với các hình thức giáo
dục truyền thống là lấy sinh viên làm trung tâm, sinh viên tự làm chủ quá trình
học tập của mình, giảng viên chỉ đóng vai trò trợ lý, hướng dẫn và hỗ trợ việc
học tập cho sinh viên.
Hiểu theo nghĩa rộng, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học
tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT), đặc biệt
là CNTT. Theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát các nội dung học,
sử dụng các công cụ điện tử hiện đại: Máy tính, laptop, smartphone, mạng vệ
tinh, mạng Internet, Intranet,..trong đó nội dung học có thể thu được từ các
website, đĩa CD, băng video, audio,..thông qua một máy tính hay ti vi; người dạy
và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng internet dưới các hình thức:
email, forum, chat, facebook, hội thảo video,..Có hai hình thức giao tiếp giữa
người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ và giao tiếp không đồng bộ. Giao tiếp
đồng bộ: Nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin
trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng
trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp,..Giao tiếp không đồng bộ: Những người
giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ: các
khoá tự học qua Internet, CD-ROM, E-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học
này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra, sinh
viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.

547
Khi thế giới đang trở nên “phẳng hơn” như hiện nay, cách học các môn
khoa học nói chung, môn GDCT nói riêng theo hình thức E-Learning sẽ góp phần
đáp ứng được những tiêu chí của nền giáo dục số: Học mọi nơi, học mọi lúc, học
theo sở thích, và học suốt đời. Ở một góc độ nào đó, E-Learning sẽ bổ sung cho
cách học tập truyền thống, góp phần nâng cao chất lượng việc dạy và học môn
GDCT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Thực tiễn nghiên cứu và áp dụng,
chúng tôi nhận thấy rằng, việc dạy và học môn GDCT bằng E-Learning có một
số hình thức chủ yếu: (1).Đào tạo từ xa: hình thức đào tạo trong đó, giảng viên
và sinh viên không ở cùng vị trí, địa điểm; (2).Đào tạo dựa trên máy tính: Ứng
dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc
lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài; (3).Đào tạo dựa
trên web: Các thông tin quản lý khoá học, thông tin về giảng viên được lưu trữ
trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web.
Sinh viên có thể giao tiếp với nhau và với giảng viên, sử dụng các chức năng trao
đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail... thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy
hình ảnh của người giao tiếp với mình; (4). Đào tạo trực tuyến: Sử dụng kết nối
mạng để thực hiện việc học, lấy tài liệu học tập, giao tiếp giữa sinh viên với nhau
và với giảng viên; (5).Đào tạo dựa trên công nghệ: Áp dụng công nghệ, đặc biệt
là dựa trên công nghệ thông tin. Như vậy, việc ứng dụng rộng rãi E-Learning vào
việc dạy - học môn GDCT, có ưu điểm sau: Thứ nhất, tạo thuận lợi tối đa cho
sinh viên, giúp sinh viên không bị hạn chế về mặt thời gian và địa điểm; Thứ hai,
kinh phí chi trả cho việc học giảm hơn nhiều so với việc sinh viên phải đến lớp
theo hình thức lớp học truyền thống; Thứ ba, sinh viên hoàn toàn chủ động trong
việc học, xây dựng thời gian biểu và tự quản lý thời gian học của cá nhân; Thứ tư,
sinh viên có nhiều thời gian đầu tư cho việc đọc, nghiên cứu tài liệu và làm đề tài
nghiên cứu khoa học vì không phải mất toàn thời gian trong ngày để đến giảng
đường nghe giảng. Đây là một trong những lợi thế tốt nhất của giáo dục trực tuyến;
Thứ năm, học trực tuyến giúp sinh viên nâng cao trình độ sử dụng máy tính,
Internet và nhiều phần mềm có liên quan khác. Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm, việc
sử dụng E-Learning vào dạy - học môn GDCT cũng có một số hạn chế:
Thứ nhất, môi trường học không kích thích được sự chủ động và sáng tạo,
tích cực trao đổi, tranh luận ý kiến,..của sinh viên như các lớp học truyền thống.
Thậm chí làm giảm sự tương tác giữa giảng viên nếu giảng viên thiếu nhiệt huyết,
sinh viên thiếu chủ động, tích cực,
Thứ hai, học tập theo phương pháp E-Learning đòi hỏi người học phải có
tinh thần tự học, do ảnh hưởng của cách học thụ động truyền thống, tâm lí học phải
có thầy, nội dung bài học, môn học còn khá nặng và thiên về lý luận nên việc tham
gia học E-Learning chưa trở thành động lực học tập của sinh viên. Bên cạnh đó,
điều kiện kinh tế của người học không giống nhau, nhất là ở vùng sâu vùng xa,

548
chưa thể trang bị máy vi tính kết nối Internet, nhiều thông tin trên mạng Internet
chưa được kiểm soát dẫn đến gia đình lo lắng khi con em mình vào mạng,..
Thứ ba, để triển khai hiệu quả phương thức đào tạo E-Learning hiệu quả,
đòi hỏi phải có hạ tầng CNTT đủ mạnh, có đường truyền cáp quang ổn định, xây
dựng Website trường học và Website E-Learning hoàn chỉnh chi phí cao, nếu
không tận dụng hết khả năng của Web sẽ gây lãng phí. Đồng thời, phải có đội
ngũ cán bộ chuyên trách phục vụ hoạt động của hệ thống E-Learning. Tuy nhiên,
theo quy định hiện tại chưa có cơ chế cho hoạt động này ở nhà trường.
Hai là, song song với việc triển khai và áp dụng E-Learing vào giảng dạy
môn GDCT cần lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung tri thức
môn học. Theo quan điểm của lý luận dạy học hiện, phương pháp dạy học tích
cực là gắn truyền thụ kiến thức của giảng viên với việc phát huy trí lực của sinh
viên, chủ động hoạt động trí não ngay trong quá trình dạy - học và nghiên cứu
bài học. Do đó, đổi mới phương pháp dạy - học môn GDCT phải dựa trên cơ sở
xác định trung tâm của hoạt động dạy của giảng viên là sinh viên. Bởi vậy, giảng
viên cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong một bài học, nhưng không
nên lạm dụng, ôm đồm nhiều phương pháp. Sử dụng các phương pháp phải phù
hợp với đối tượng người học, dung lượng bài giảng về lý luận và thực tiễn sao
cho mỗi bài giảng phải có sự kết hợp được các phương pháp phù hợp tốt nhất
cùng với kết hợp các phương tiện dạy học khác làm cho bài giảng phong phú và
thiết thực.
Khi giảng dạy môn GDCT, để tạo hứng thú cho sinh viên, giảng viên cần
đổi mới theo hướng gợi mở, nêu vấn đề, giảm thời gian thuyết trình, tăng thời
gian đàm thoại, thảo luận, tranh luận giữa sinh viên với sinh viên, sinh viên với
giảng viên, đối thoại giữa sinh viên với giảng viên, tình huống có vấn đề. Để thực
hiện điều này, đòi hỏi giảng viên phải giỏi về chuyên môn, vững về các kỹ năng
nghề, linh hoạt và nhanh nhẹn trong việc giải quyết và ứng phó với các tình huống
sư phạm nảy sinh ngoài dự kiến, biết hướng dẫn sinh viên đọc tài liệu, tập phân
tích, đánh giá, nêu ý kiến riêng về vấn đề mà tài liệu đề cập,..Như thế, sinh viên
sẽ chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học của bài học, môn học, kích thích tính
chủ động, độc lập suy nghĩ suy nghĩ, tập phê phán, phản biện có căn cứ khoa
học,..mà không thừa nhận tri thức một cách giản đơn, thụ động. Bản chất của vấn
đề đổi mới phương pháp dạy là hướng vào mục tiêu trau dồi tư duy khoa học cho
sinh viên, giúp sinh viên làm quen với phương pháp học tập theo kiểu nghiên
cứu. Tinh thần cơ bản của phương pháp dạy này là lý luận gắn liền với thực tiễn,
dùng lý luận để soi sáng thực tiễn, dùng thực tiễn để kiểm chứng lý luận, học đi
đôi với hành.

549
Ba là, tiền đề quan trọng nhất góp phần nâng cao chất lượng dạy- học môn
GDCT, là vấn đề con người, gồm chủ thể và khách thể của quá trình giáo dục
(giảng viên và sinh viên). Trước yêu cầu của quá trình chuyển đổi số trong giáo
dục, đòi hỏi đội ngũ nhà giáo nói chung, giảng viên giảng dạy môn GDCT nói
riêng phải không ngừng tự học tập, cập nhật thông tin để trau rồi tri thức, nâng cao
hiểu biết về mọi phương diện của đời sống và cần thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, giảng viên cần xây dựng đề cương chi tiết môn học cung cấp sinh
viên trước khi bắt đầu vào giảng dạy một chuyên đề hay bất cứ một bài nào đó.
Trong đó có ghi rõ những phần học trên giảng đường, phần đọc sách, phần tự
nghiên cứu và những phần yêu cầu sinh viên tự học ở nhà cũng như làm tiểu luận.
Trong những chương, phần yêu cầu người học tự học giảng viên nên nêu rõ mục
tiêu của chương, phần đó,..
Thứ hai, giảng viên cần hướng dẫn sinh viên cách lập kế hoạch học tập.
Điều này sẽ giúp sinh viên có kế hoạch phân bổ thời gian cụ thể từng tuần, từng
ngày dựa trên kế hoạch học tập của học kỳ, năm học để làm chủ được thời gian
chủ động thời gian tự học, tự nghiên cứu, không bị động trước rất nhiều tài liệu
cần phải đọc,
Thứ ba, giảng viên nên cần dành thời gian hướng dẫn sinh viên cách nghe
giảng, cách ghi bài trên lớp, cách học bài, nghiên cứu tài liệu, đọc sách và bút ký
các vấn đề liên quan đến tri thức bài học,
Thứ tư, cần hướng dẫn sinh viên cách tự học bài ở nhà, hướng dẫn sinh viên
cách vận dụng, phân tích, tổng hợp và bình luận, hướng dẫn cho sinh viên cách
học nhóm, cách quản lý và tổ chức khi học nhóm,..
Thứ năm, trong nền giáo dục số vai trò tự học của sinh viên là một mấu chốt
quan trọng góp phần nâng cao chất lượng học tập môn GDCT. Thực tế khung
chương trình và thời lượng giảng dạy môn GDTC trong các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp hiện nay cho thấy, thời lượng dạy trên lớp là rất ngắn, trong khi nội dung
tri thức cần truyền đạt thì quá nhiều. Do vậy, sinh viên phải tự học và chuẩn bị
bài trước giờ lên lớp là điều tất yếu. Hoạt động tự học của sinh viên gồm toàn bộ
môi trường học tập được tổ chức bởi giảng viên với mục tiêu hướng đến quá trình
tự đào tạo của sinh viên.
Tự học là hoạt động học tập diễn ra mà không có sự tham gia trực tiếp của
giảng viên. Thời gian tự học là lúc sinh viên có nhiều thời giờ suy nghĩ, đào sâu
vấn đề, đặt ra các tình huống có vấn đề trong quá trình nhận thức, đề xuất những
thắc mắc để giảng viên giải đáp, suy nghĩ liên hệ hoặc vận dụng vào thực tế. Tự
học là biện pháp ghi nhớ, khắc sâu tri thức trong bộ óc hữu dụng nhất, giúp tri
thức khó có thể rơi vào “vùng quên” của bộ não. Tự học vừa mang nghĩa củng
cố, trau dồi tri thức và có ý nghĩa mở rộng hiểu biết. Bởi, sinh viên phải độc lập,

