1
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng sáng kiến ngành Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình
Chúng tôi gồm:
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức vụ Trình độ
chuyên môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc tạo
ra sáng kiến
1 Trần Văn Liên 12/10/1977 Trường THPT
Yên Mô B
Phó hiệu
trưởng Thạc sĩ 35%
2 Vũ Văn Đường 27/08/1987 Trường THPT
Yên Mô B Giáo viên ĐHSP 35%
3 Đinh Phúc Dũng 12/03/1979 Trường THPT
Yên Mô B Giáo viên ĐHSP 30%
1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng:
- Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Một số biện pháp giúp nâng
cao chất lượng kỹ năng thực hành môn GDQP-AN vận dụng trong giảng dạy
cách bắn súng cho học sinh lớp 11, cấp THPT”.
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy và học môn Giáo dục quốc phòng - An ninh
(dùng cho học sinh lớp 11).
2. Nội dung:
2.1. Giải pháp cũ thường làm:
2.1.1 Mô tả giải pháp cũ:
* Theo phương pháp khi dạy kiến thức thuyết của các nội dung thực
hành thì giáo viên chỉ đơn thuần truyền tải kiến thức cơ bản trong sách giáo
khoa cho học sinh ít sự linh hoạt trong cách thức phương pháp truyền
tải kiến thức giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn, nhớ lâu hơn… Ví dụ
cụ thể, như trong nội dung lí thuyết bắn giáo viên sẽ nêu:
2
1. Nêu khái niệm về ngắm bắn:
cách xác định góc bắn và hướng bắn để súng đưa quý đạo đường đạn
đi qua điểm định bắn trên mục tiêu.
2. Nêu các định nghĩa về ngắm bắn:
- Đường ngắm cơ bản đường thẳng từ mắt người ngắm qua chính giữa mép
trên khe ngắm đến điểm chính giữa mép trên đầu ngắm.
- Điểm ngắm đúng điểm ngắm đã xác định từ trước sao cho khi ngắm vào đó
để bắn thi quỹ đạo đường đạn đi qua điểm định bắn trúng trên mục tiêu.
- Đường ngắm đúng đường ngắm bản được dóng vào điểm đã được xác
định với điều kiện mặt súng phải thăng bằng.
3. Nêu ảnh hưởng của ngắm sai đến kết quả bắn:
- Đường ngắm cơ bản sai lệch:
+ Nếu điểm chính giữa mép trên đầu ngắm thấp (cao) hơn so với điểm
chính giữa mép trên khe ngắm thì điểm chạm trên mục tiêu cũng thấp (cao) hơn
so với điểm định bắn trúng.
+ Nếu điểm chính giữa mép trên đầu ngắm lệch trái (phải) hơn so với
điểm chính giữa mép trên khe ngắm thì điểm chạm trên mục tiêu cũng lệch trái
(phải) so với điểm định bắn trúng.
- Điểm ngắm sai: Khi đường ngắm bản đã chính xác, mặt súng thăng bằng,
nếu điểm ngắm sai lệch so với điểm ngắm đúng bao nhiêu thì điểm chạm trên
mục tiêu sẽ sai lệch so với điểm định bắn trúng bấy nhiêu.
- Mặt súng không thăng bằng: Khi đường ngắm bản đúng, có điểm ngắm
đúng, nếu mặt súng nghiêng về bên nào thì điểm chạm trên mục tiêu sẽ thấp
lệch về bên đó.
2.1.2 Ưu điểm của giải pháp cũ:
Giáo viên có thể truyền tải đầy đủ kiến thức lý thuyết và thực hành cho học
sinh theo kế hoạch giảng dạy, đảm bảo thơi gian theo phân phối chương cho mỗi
tiết học.
3
2.1.3 Nhược điểm của giải pháp cũ:
- Hiệu quả quá trình truyền đạt kiến thức cho học sinh phụ thuộc hoàn toàn vào
khả năng thuyết trình và giảng giải của người thầy.
- Học sinh thụ động trong việc tiếp thu kiến thức.
- Giáo viên chỉ soạn giảng và dạy học theo cách thông thường dựa trên nền tảng
kiến thức trong sách giáo khoa ít dùng hoặc không dùng liệu hình ảnh,
tranh ảnh và các phương tiện hỗ trợ khác.
dụ: Như trong trường hợp nêu định nghĩa về đường ngắm cơ bản, thì
giáo viên chỉ đơn thuần nêu: Đường ngắm bản đường ngắm được xác định
từ mắt người ngắm qua chính giữa mép trên khe thước ngắm đến điểm chính
giữa phía trên đầu ngắm..... không làm được chính giữa phía trên khe
thước ngắm điểm chính giữa phía trên đầu ngắm cụ thể ra sao, không những
thế nó còn tốn nhiều thời gian công sức giải thích nhiều lần cho học sinh,
học sinh thì không thể nhanh chóng nắm bắt định hình, tưởng tượng, duy
ra ngay được vấn đề, không những thế còn dễ dẫn đến việc các em hiểu chưa
rõ, chưa hết vấn đề dẫn đến hiểu sai vận dụng vào thực hành ngắm bắn sai
đường ngắm cơ bản. trong i thực hành ngắm bắn súng tiểu liên AK
súng trường CKC khi đã lấy sai đường ngắm cơ bản thì kết quả bắn không đạt.
Tương tự như vậy, nội dung định nghĩa đường ngắm đúng chỉ nêu lên
được định nghĩa có thể học sinh sẽ hiểu lĩnh hội được kiến thức tại thời điểm
đó mà như chúng ta đã biết thì chương trình GDQP-AN thì một tuần mới có một
tiết chính thế khi giảng dạy những kiến thức theo phương pháp không
khắc sâu và rõ ràng trong tâm trí của học sinh nên các em hay quên và lúng túng
trong học thực hành ngắm bắn.
- Không chỉ ra được cái sai một cách cụ thể cho người học, để còn sửa sai một
cách kịp thời.
- Mất nhiều gian cho việc giảng giải kiến thức mà hiệu quả lại không cao.
- Người học không lĩnh hội hết được ý định giảng dạy của giáo viên.
4
- Về cơ bản nội dung kiến thức sau khi kết thúc bài giảng người học có thể nắm
được nhưng độ khắc sâu trong trí nhớ của học trò là không có, học sinh hiểu bài
nhưng lại nhanh quên.
- Ít tạo ra được tính đổi mới đột phá và sáng tạo trong quá trình dạy và học.
- Không tạo ra hứng thú và cảm hứng trong quá trình giảng bài.
- Nội dung nghèo nàn khô khan, không đa dạng và phong phú trong cách truyền
tải và tiếp cận kiến thức.
- Không thu hút được sự chú ý và tập trung của đại đa số học sinh trong lớp học.
- Thiếu hình ảnh minh họa trong các đề bài tập càng làm các em khó hình dung,
gây cảm giác ngại làm bài tập, lười suy nghĩ cho HS, nhất đối với các học
sinh lười vận động.
- Giáo viên có tâm lý chưa hài lòng với kết quả bài dạy.
* Đối với nội dung thực hành thì giáo viên thực hiện động tác làm mẫu để
tạo hình ảnh trực quan và biểu tượng cụ thể cho đối tượng học sinh quan sát.
b. Giải pháp mới cải tiến:
(1) Nghiên cứu đối tượng học tập để có phương pháp giảng dạy phù hợp:
Đối tượng học tập đây lài đến học sinh THPT. Như chúng ta đã biết
mỗi tuổi khác nhau, học sinh lớp chuyên ban, học sinh lớp không chuyên
ban, học sinh sức khỏe tốt, học sinh sức khỏe không tốt, học sinh
những cố tật . . . khả năng nhận thức, tiếp thu cũng khác nhau. vậy, giáo
viên cần xác định được từng đối tượng học sinh để công tác tổ chức
phương pháp giảng dạy thích hợp. Đây một yếu tố quan trọng để giúp học
sinh dễ tiếp thu nhận thức được nội dung nhanh chóng, thuận lợi cho việc tổ
chức luyện tập nhất là việc hình thành kỹ năng thực hành.
(2) Bảo đảm số lượng, chất lượng giáo viên giảng dạy GDQP-AN:
Thực tế hiện nay đội ngũ giáo viên giảng dạy GDQP gồm rất nhiều đối
tượng: Giáo viên thể dục, giáo viên được đào tạo ngắn hạn... hầu hết chưa nắm
được đầy đ các phương pháp phạm đặc thù, không được tập huấn thường
5
xuyên chính. vậy, chất lượng giảng dạy không đạt kết quả cao, học sinh chưa
hình thành được kỹ năng thực hành. Để giảng dạy đạt kết quả cao trước hết phải
bảo đảm số lượng giáo viên, bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp, năng lực sư phạm
cho tất cả các giáo viên GDQP-AN, giáo viên phải được đào tạo lớp giáo viên
GDQP-AN, trang bị bản về luận tâm học phạm, phương pháp giảng
dạy GDQP-AN, phải biết sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại, công cụ
hỗ trợ cho giảng dạy.
Trước khi lên lớp giảng dạy giáo viên phải làm thật tốt, chu đáo công tác
chuẩn bị giảng dạy như:
- Chuẩn bị soạn giáo án theo quy định;
- Thục luyện giáo án (bài giảng);
- Tổ chức thông qua giáo án (bài giảng);
- Bồi dưỡng người phụ trách, đội mẫu (người phục vụ);
- Chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho dạy-học thực hành.
Khi giảng dạy thực hành giáo viên phải phương pháp giảng dạy tốt,
giọng nói to, ràng, kỹ năng sử dụng các dụng cụ, phương tiện giảng dạy
thực hành, thế tác phong chững chạc, nghiêm túc, động tác làm mẫu chuẩn
xác, ràng, dứt khoát để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu đgiảng dạy t chức
thực hành luyện tập hình thành kỹ năng cho học sinh.
(3) Gắn kết kiến thức trong SGK với thực tế giáo cụ trực quan và bài giảng
ứng dụng cộng nghệ thông tin:
Việc sử dụng giáo cụ trực quan ứng dụng cộng nghệ thông tin vào bài
giảng sẽ giúp:
- Giáo viên không tốn quá nhiều thời gian vào việc thuyết trình và giảng giải nội
dung bài học.
- Bắt học sinh phải hoạt động trong duy suy nghĩ về vấn đề giáo viên
nêu ra.
- Lấy học sinh làm trung tâm, học sinh chủ động trong việc tiếp thu kiến thức.