CẢNH BÁO AN TOÀN MỘT

SỐ THUỐC

Rosiglitazone (biệt dược Avandia) có thể tăng nguy cơ tai biến tim

mạch ở bệnhnhân suy tim bậc 1 và 2 theo bảng phân loại NYHA:

Ngày 04.21.06 FDA đã chấp thuận sửa đổi thông báo an toàn trên

nhãn thuốc viên rosiglitazone maleate (Avandia) do GlaxoSmithKline sản

xuất, cảnh báo tăng nguy cơ tai biến tim mạch khi dùng thuốc này ở bệnh

nhân suy tim bậc 1 và 2 theo phân loại của NYHA.

Cảnh báo này căn cứ trên dữ liệu nghiên cứu trong 52 tuần, mù đôi,

siêu âm tim ở 224 bệnh nhân suy tim bậc 1 và 2 theo phân loại NYHA ( tỷ lệ

tống xuất EF≤ 45%), cho thấy mặc dầu không thấy thay đổi tỷ lệ EF so với

mức căn bản, bệnh nhân dùng rosiglitazone so với nhóm dùng giả dược, tăng

tỷ số suy tim sung huyết tệ hại hơn ( 6% so với 4%), phù mới xuất hiện hay

tệ hại hơn (25% so với 9%), và khó thở mới xuất hiện hay tệ hại hơn (26%

so với 17%). Do đó bệnh nhân dùng rosiglitazone có vẻ cần tăng liều thuốc

trị liệu suy tim sung huyết hơn (33% so với 18%) và phải nhập viện điều trị

tim mạch nhiều hơn (29% so với 13%).

Phản ứng nghịch thiếu máu cục bộ, như nhồi máu cơ tim và đau thắt

ngực, cũng thường được báo cáo nhiều hơn ở nhóm dùng rosiglitazone so

với nhóm dùng giả dược (5% so với 2% và 6% so với 3% theo thứ tự).

FDA khuyến cáo nên quan sát bệnh nhân có dấu hiệu hay triệu chứng

suy tim không, phải ngưng thuốc nếu bất cứ suy thoái nào của tình trạng tim

xảy ra. Vì nguy cơ tai biến tim mạch, bệnh nhân suy tim cấp 3 và 4 theo

NYHA không có trong nghiên cứu lâm sàng rosiglitazone, không nên dùng

thuốc này cho nhóm bệnh nhân trên.

Rosiglitazone chỉ định dùng kèm với tiết thực và thể dục để cải thiện

kiểm soát đường trong máu ở bệnh nhân tiểu đường type 2.

Thuốc có thể dùng một mình hay kết hợp với sulfonylurea, hay cả với

metformin.

Estrogen liên hợp (Premarin) liên hệ đến nguy cơ đột qụy, huyết

khối ở tĩnh mạch sâu và có lẽ cả sa sút trí tuệ.

Ngày 04.24.06,FDA chấp thuận sửa đổi thông báo an toàn trên nhãn

thuốc viên estrogen liên hợp (Premarin do Wyeth sản xuất) cảnh báo nguy

cơ đột qụy, huyết khối tĩnh mạch sâu và có lẽ cả sa sút trí tuệ liên hệ đến

dùng thuốc này.

Kết quả nhánh nghiên cứu phụ chỉ dùng một mình estrgen trong

nghiên cứu Women’s health Initiative ở 10 739 phụ nữ sau tuổi mãn kinh

dùng mỗi ngày 0.625 mg estrogen liên hợp sau 6.8 năm, tăng nguy cơ đột

quỵ so với dùng giả dược (nguy cơ tương đối 1,39, khoản tin cậy 95% 1.10-

1.77, nguy cơ tuyệt đối cho 10 000 phụ nữ mỗi năm là 44 so với 32).

Nguy cơ tương đối cao hơn ở nhóm phụ nữ trẻ hơn 75 tuổi so với

nhóm 75 hay già hơn.

Điều trị bằng estrogen liên hợp cũng liên quan đến tăng nguy cơ huyết

khối tĩnh mạch sâu, nguy cơ tương đối so với giả dược 1.47, khoản tin cậy

95% 1.04-2.08, nguy cơ tuyệt đối cho 10 000 phụ nữ mỗi năm 21 so với 15.

Dựa trên dữ liệu này, FDA khuyến cáo yếu tố nguy cơ bệnh động

mạch (như cao huyết áp, bệnh tiểu đường, hút thuốc, cao cholesterol huyết

và béo mập) và/hay nghẽn huyết khối tĩnh mạch (như cá nhân hay gia đình

có người mắc bệnh, béo mập và bệnh ban đỏ lu-pút toàn thân) phải được

điều trị thích ứng ở bệnh nhân đang điều trị bằng estrogen liên hợp.

Ngoài ra, dữ liệu nghiên cứu trí nhớ của nhánh phụ Women’s health

Initiative với 2947 người tham dự thấy có liên hệ giữa phụ nữ từ 65 đến 79

tuổi cắt bỏ tử cung dùng estrogen liên hợp tăng nguy cơ sinh sa sút trí tuệ

(dementia) trong vòng 5.2 năm. Nguy cơ tương đối 1.49, khoản tin cậy 95%

0.83-2.66, nguy cơ tuyệt đối cho 10 000 phụ nữ mỗi năm 37 so với 25.

FDA ghi chú nguy cơ tương tự đã quan sát được ở phụ nữ trong lứa

tuổi này dùng estrogen liên hợp kết hợp với medroxyprogesterone (n=4532)

trong thời gian trung bình 4 năm (nguy cơ tương đối 2.05, khoản tin cậy

95% 1.21-3.48) nguy cơ tuyết đối cho 10 000 phụ nữ mỗi năm 45 so với 22.

Viên estrogen liên hợp chỉ định điều trị các triệu chứng vận mạch

(vasomotor) từ trung bình đến nặng do teo âm hộ và âm đạo liên quan đến

mãn kinh, điều trị nhược estrogen do giảm năng tuyến sinh dục, cắt bỏ

buồng trứng hay suy buồng trứng, điều trị làm dịu ung thư vú ở đàn ông hay

phụ nữ ở tình trạng di căn, điều trị làm dịu ung thư tuyến tiền liệt phụ thuộc

androgen, và ngăn ngừa rỗng xương sau khi mãn kinh.

Galantamine HBr (Razadyne/Razadyne ER) liên hệ đến nguy cơ

hiếm thấy tim đập chậm

FDA chấp thuận thông tin an toàn trên nhãn thuốc Galantamin HBr

dạng thuốc viên, thuốc nước uống và viên nang tác dụng dài Razadyne ER

do Johnson & Johnson sản xuất, cảnh báo nguy cơ tim đập chậm mặc dầu ít

khi gặp.

Do tác dụng dược lý, thuốc ức chế cholinesterase có tác dụng tăng

trương thần kinh đối giao cảm (vagotonic) ở hạch tâm nhĩ và nhĩ thất có thể

đưa đến tim đập chậm và nghẽn nhĩ thất.

Mặc dầu dữ liệu lâm sàng cho thấy liên quan giữa việc dùng

galantamine ở liều khuyên dùng (cho đến 24 mg/ngày) với tỷ lệ mắc bệnh

tim đập chậm so với giả dược (2% đến 3% so với <1%), bệnh ít khi trầm

trọng hay phải ngưng điều trị. Không có trường hợp nghẽn nhĩ thất nào xảy

ra ở liều điều trị.

Bệnh nhân điều trị bằng galantamine cũng cho thấy tăng nguy cơ ngất

(syncope) phụ thuộc liều so với giả dược (8 mg/ngày, 0.4% 16 mg/ngày

2.2% so với giả dược 0.7%).

FDA ghi chú những nguy cơ này đặc biệt quan trọng cho những bệnh

nhân bị rối loạn dẫn truyền điện tim trên thất và những người dùng chung

với những thuốc làm cha65p nhịp tim đáng kể.

Tuy nhiên, theo dõi sau khi đưa ra thị trường thuốc ức chế đối kháng

cholinesterase cho thấy chứng chậm nhịp tim và tất cả các loại nghẽn dẫn

truyền tim được báo cáo ở bệnh nhân có rối loạn hay không dẫn truyền điện

tim, do đó tất cả bệnh nhân đều phải xem bị nguy hiểm về phản ứng nghịch

này.

Galantamine được chỉ định điều trị chứng sa sút trí tuệ do alzheimer

nhẹ cho đến vừa phải.

Dược Sĩ Lê Văn Nhân