
Chiến tranh lập quốc Israel
2
Các quốc gia Ả rập đều quyết tâm xé bỏ Hiệp ước 1949
Giải quyết như vậy chưa thể ổn được. Còn nhiều nguyên nhân xung đột quá.
Nguyên nhân thứ nhất là lòng tham lam của Israel. Dân số Do Thái lúc đó chỉ
bằng nửa dân số Ả Rập ở Palestine, đất đã được chia gấp hai mà họ vẫn thấy còn
chật hẹp quá. Nếu họ muốn rằng hết thảy hoặc ba phần tư Do Thái trên thế giới
(khoảng hai chục triệu) mà về cả đó thì chật hẹp thật. Nhưng nếu họ nghĩ rằng chỉ
cần tiếp thu những đồng bào bị kỳ thị ở các nơi khác thì bấy nhiêu là nhiều rồi. Họ
không nghĩ vậy, cứ nhìn những khoảng đất mênh mông của cả khối Ả Rập chưa
được khai phá mà thèm thuồng. Tệ hơn nữa, họ cứ nhắc nhau lời Chúa hứa với
Abraham trong Thánh kinh: "Ta ban cho con cháu ngươi dải đất nằm từ sông Ai
Cập (tức sông Nil) tới sông Cái (tức sông Euphrate)" mà hy vọng mở mang bờ cõi
từ núi Taurus (Tiểu Á) tới kênh Suez nghĩa là nuốt trọn xứ Syrie, xứ Liban, xứ
Jordani, một phần xứ Iraq, xứ Ả Rập Saudi và xứ Ai Cập nữa. Y như là gia tài tổ
tiên họ để lại vậy? Mới có quốc gia mà đã đòi làm thực dân! Mà Hồi giáo cũng
chẳng vừa gì: "A! Tụi Do Thái bảo Jahvé của họ là thần chiến tranh ư? Thì chúng
ta sẽ cho họ thấy rằng Islam cũng là tôn giáo biết dùng lưỡi kiếm!". Không biết
Jahvé và Allah có vinh hãnh vì tín đồ của mình không.
Nguyên nhân thứ nhì là tình cảnh tâm lý dân Ả Rập tản cư. Ngay từ đầu chiến
tranh họ bỏ hết gia sản, dắt díu nhau qua bên kia biên giới gần hết, trước sau trên
nửa triệu. Họ không phải chỉ vì hốt hoảng mà trốn đi: một phần còn vì tinh thần

quốc gia, một phần vì những hành động tàn nhẫn của Do Thái. Chỉ một vụ tàn sát
của một bọn khát máu - trong chiến tranh nào mà chẳng có bọn khát máu - đủ làm
cho những người Ả Rập ở các nơi khác không dám ở lại nữa. Hết chiến tranh,
chính quyền Israel chỉ cho một số ít Ả Rập theo Ki Tô trở về, còn những người
theo Hồi giáo thì cấm ngặt. Họ cấm là phải, chính phủ nào mà muốn có kẻ địch ở
trong nước. Những người theo Hồi giáo mà còn ở lại được là vì trong chiến tranh
không tản cư. Dĩ nhiên, họ bị đồng bào nghi kị, khinh rẻ.
Vậy có trên nửa triệu người Ả Rập tản cư ở Jordani (sau này gây bao nỗi khó
khăn cho quốc vương Hussein xứ đó), 220.000 người ở miền Gaza, 100.000 người
ở Liban, 90.000 ở Syrie, tổng cộng non một triệu người.
Không rõ hiện nay ra sao chứ năm 1967 họ vẫn ở tạm gần miền biên giới, ngày
nào cũng đăm chiêu nhìn về cố hương. Người Do Thái khóc trên bờ sông Danube
mà nhớ Sion, thì người Ả Rập than khóc trên bờ con sông Jourdain mà nhớ
Tibériade, Nazareth, Beercheva... Dòng sông nào trên thế giới mà không pha nước
mắt! Những lúc gió sớm trăng tàn họ nhìn rặng liễu bên sông, tủi cho cái cảnh
sống nhờ trợ cấp của Liên hiệp Quốc. Mỗi năm mỗi người được lãnh 37 Mỹ kim,
mỗi tháng 3 Mỹ kim - 360USD theo hối suất hiện nay[28]. May lắm là không chết
đói. Đau ốm không có nhà thương, con cái không có trường học. Có gia đình gồm
15, 20 người chui rúc dưới những tấm bố căng lên che nắng che mưa, bên cạnh
những đống rác. Trẻ em thì đánh giày hoặc xách đồ ở chợ, còn người lớn thì
không có công việc gì để làm.
Người ta đề nghị cho họ di cư lại các miền phong phú mà tái lập sự nghiệp, như
lại Dahran, lại Koweit, họ không chịu, cứ ăn vạ ở đó, khăng khăng đòi về cố
hương. Họ chịu nhận cái kiếp lang thang tới nay đã hai chục năm. Họ bảo như vậy
đã thấm gì, dân tộc Do Thái lang thang non hai ngàn năm, mà non hai ngàn năm,
mà còn về được cái miền nhận càn là quê hương kia! Chúa Jahvé của Do Thái đã

cứu Do Thái. Còn Chúa Allah của họ bao giờ mới cứu họ? Lịch sử nhân loại sao
mà nhiều chuyện bi thảm đến thế.
Họ oán các xứ Liban, Jordani, Syrie, Ai Cập đã phản bội họ mà đầu hàng Israel;
họ oán Ibn Séoud làm chủ Thánh địa La Mecque, ngày năm lần cầu nguyện Allah
mà bỏ rơi con cháu của Allah là họ.
Lại thêm cái nỗi một số chính khách Ả Rập cũng không muốn cho họ đi nơi
khác, để các dân tộc Ả Rập luôn luôn nhớ cái nhục chung mà đoàn kết nhau lại,
thành một khối thống nhất.
Quốc vương Jordani là Abdallah, vì không oán Do Thái kịch liệt như các lãnh tụ
Ả Rập khác - có lẽ Anh Mỹ đã hứa hẹn gì với ông ta - năm 1950 muốn tìm một
giải pháp, thương lượng ngầm với Ben Gourion, Thủ tướng Israel, bị ám sát ngày
21-7-1951 vì tội "phản dân tộc". Thủ tướng Liban là Ryad Solh cũng mất mạng vì
muốn điều đình với Israel. Ta nên nhớ Jordanie là xứ nhỏ quá, năm 1948 chỉ có độ
500.000 người, thêm 600.000 Ả Rập ở Palestine, được trên một triệu người, lúc
nào cũng sống nhờ viện trợ của Anh hay Mỹ; còn Liban là một xứ chịu ảnh hưởng
của phương Tây từ thời Trung cổ, dân một nửa theo Hồi giáo, một nửa theo Ki Tô
giáo.
Vì hai nguyên nhân trên mà các quốc gia Ả Rập đều quyết tâm xé bỏ hiệp ước
1949.
Thủ tướng Syrie tuyên bố trước quốc hội Damas: "Không thể quan niệm rằng có
hòa bình với Israel. Chúng ta đã thua keo đầu, chúng ta sẽ tận lực sửa soạn keo
sau".

Quốc vương Jordani là Abdallah vì thân Israel mà bị ám sát, vậy mà cháu nội
ông lên nối ngôi, tức Hussein (cha của Hussein bị bệnh thần kinh, không trị vì
được), cũng nói: "Không khi nào có hòa bình mà cũng không thể thương thuyết gì
với Israel được".
Và quốc vương Ả Rập Saudi là Saud, con của Ibn Séoud ông vua đã đứng ngoài
nhìn Do Thái đánh nhau với đồng bào mình, cũng hô hào dân chúng: "Phải bứng
cho Israel hết rễ đi. Chúng ta hết thảy là 50 triệu người Ả Rập, nếu cần thì hy sinh
mười triệu người để sống yên ổn trong danh dự".
Các đế quốc Mỹ, Nga, Anh, Pháp tất nhiên đổ thêm dầu vào lửa hoặc ít nhất
cũng lợi dụng cơ hội để bán khí giới cho cả hai bên mà thu về trái cây (cam, quít,
bưởi) của Israel, bông vải của Ai Cập, dầu lửa của Iraq...
Israel phát triển mạnh
Trong khi đó Israel cũng tận lực sửa soạn cho keo sau, một mặt tiếp thu thật
nhiều đồng bào hồi hương (càng nhiều càng thêm lính để chống với 50 triệu Ả
Rập kia mà), một mặt tổ chức và kiến thiết quốc gia cho vững mạnh.
Trước năm 1948, mỗi năm số người hồi hương vào khoảng từ 15 đến 20 ngàn,
năm 1948 tăng vọt lên 102.000, năm 1949 lên 239 ngàn, hai năm sau, mỗi năm
trên dưới 170 ngàn, nghĩa là chỉ trong ba năm 1949 – 1952, số dân Do Thái tăng
lên gấp đôi ở Israel.
Do Thái từ khắp nơi trên thế giới đổ về, được chính quyền dạy dỗ, cất cho nhà
cửa, phát cho ruộng đất. Các nông trường mọc lên khắp nơi, cả trong sa mạc, và ở
đâu có đồn điền là có đồn lính, mỗi nông dân thành một nông vệ. Người Do Thái

nào không về (như Do Thái Mỹ) thì gởi tiền về; chính phủ Mỹ viện trợ thêm[29],
những số tiền đó cộng với tiền Đức bồi thường chiến tranh, giúp họ kiến thiết quốc
gia.
Họ kiến thiết rất hăng nhờ có nhiều kỹ thuật gia tài giỏi, nhờ biết tổ chức và nhờ
tinh thần ái quốc. Chính phủ Cộng Hoà được thành lập: Tổng thống đầu tiên là
Chaim Weizmann, Thủ tướng đầu tiên là Ben Gourion. Có một Quốc hội và trên
mười đảng chính trị. Phụ nữ Do Thái và Ả Rập đều được đi bầu. Từ ngữ Hebreu
tái sinh, được dạy trong mọi trường học và chỉ trong 15 năm, tỷ số sinh viên đại
học của họ gần theo kịp tỷ số ở Pháp.
Nhưng họ chú trọng nhất đến kinh tế và võ bị.
Các kỹ nghệ điện, điện tử, hoá học, luyện kim... đã tiến bộ rõ rệt.
Canh nông đạt được những kết quả tốt đẹp nhất, các quốc gia Âu Mỹ phải khen
là một phép màu.
Họ có những hình thức kinh doanh về canh tác mà không nước nào có, như hình
thức cộng đồng bibboutz tôi đã giới thiệu ở một trang trên, hình thức mochav
ovedim bán cộng đồng bán cá nhân, hình thức hợp tác mochav chi toufi.
Họ gắng sức đào tạo cán bộ và chống nạn thiếu nước. Dân số chỉ vào khoảng
hai triệu năm 1963 mà họ có 30 trường canh nông, gồm 5.500 học sinh. Cứ theo tỷ
số đó thì nước ta phải có 330.000 – 380.000 học sinh canh nông. Nhờ vậy cứ hai
mươi gia đình nông dân được một huấn luyện viên canh nông dắt dẫn. Tới Nga
cũng phải thua họ về phương diện đó. Khí hậu ở sa mạc Neguev rất khô khan;
càng về phía Nam càng ít mưa. Tại Beercheva mỗi năm còn mưa được 20 phân
nước, tại Eilath cực Nam, mỗi năm chỉ mưa được ba phân nước. Nước mưa đổ

