
CHƯƠNG 5
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
5.1 KHÁI NIỆM VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
5.1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau, song nhiều nhà khoa học đã thống nhất rằng,
tranh chấp kinh tế được hiểu là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về
lợi ích, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các
cấp độ khác nhau. Theo đó, tranh chấp kinh tế có thể có ở các dạng cơ bản sau:
- Tranh chấp trong kinh doanh: được diễn ra giữa các chủ thể tham gia kinh doanh.
Cụ thể, đó là các tranh chấp diễn ra trong các quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ
sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
- Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với quốc gia tiếp nhận đầu tư: loại hình
tranh chấp này nảy sinh trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về khuyến khích và
bảo hộ đầu tư song phương và đa phương.
- Tranh chấp giữa các quốc gia trong việc thực hiện các điều ước quốc tế về thương
mại song phương và đa phương.
- Tranh chấp giữa các quốc gia với các thiết chế kinh tế quốc tế trong việc thực hiện
các điều ước quốc tế về thương mại đa phương như: tranh chấp giữa Mỹ và EU về
nhập khẩu chuối tại WTO.
Có thể nói, trong các loại tranh chấp kinh tế kể trên, tranh chấp trong kinh
doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó trong một số trường hợp khái
niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý
nghĩa tương đương nhau.
Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, là sự bất đồng về
một hiện tượng pháp lý phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh
doanh và thông thường gắn với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản. Do đó, có thể khái
quát những đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh như sau:
- Nó luôn gắn liền với những hoạt động kinh doanh của các chủ thể.
- Các chủ thể tranh chấp trong kinh doanh thường là các doanh nghiệp.
- Nó là sự biểu hiện ra bên ngoài, là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ích
kinh tế của các bên.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 109
5.1.2 Các yêu cầu của quá trình giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh
Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh và vì vậy giải
quyết tranh chấp phát sinh được coi là đòi hỏi tự thân của các quan hệ kinh tế. Theo
hiểu biết chung: giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình
thức biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các
bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải
đáp ứng các yêu cầu:
- Nhanh chóng, thuận lợi không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh.
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, tín nhiệm giữa các bêb trong kinh doanh.
- Giữ bí mật kinh doanh, uy tín của các bên trên thương trường.
- Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất.
Sự tác động của những đặc điểm riêng biệt về phong tục, tập quán, truyền
thống, trình độ phát triển kinh tế xã hội, đã làm cho các cơ chế giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh của các quốc gia rất khác nhau. Mặc dù vậy, căn cứ vào nhu cầu điều
chỉnh pháp luật có sự phân hoá đối với các hoạt động kinh doanh trong điều kiện kinh
tế thị trường, cho tới thời điểm hiện tại các hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu
được áp dụng rộng rãi trên thế giới bao gồm: thương lượng, hoà giải, trong tài (phi
chính phủ), và giải quyết thông qua toà án (thủ tục tư pháp)
5.2 CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
5.2.1 Thương lượng
- Khái niệm: thương lượng là hình thưc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh
không cần đến vai trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên
cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp và đi
đến thống nhất để tự giải quyết các bất đồng.
+ Bản chất: Thương lượng thật sự đã trở thành quá trình trao đổi ý kiến, bày tỏ ý
chí giữa các bên để tìm giải pháp tháo gỡ.
+ Kết quả của thương lượng là những cam kết, thoả thuận về những giải pháp cụ
thể nhằm tháo gỡ những bế tắc hoặc bất đồng phát sinh mà các bên thường không
ý thức được trước đó.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 110
- Hình thức pháp lý: pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển
đều quy định hình thức pháp lý của việc ghi nhân kết quả thương lượng là biên bản
thương lượng.
+ Nội dung chủ yếu của biên bản thương lượng phải đề cập tới những vấn đề sau:
những sự kiện pháp lý có liên quan, chính kiến của mỗi bên (những bất đồng),
các giải pháp được đề xuất, những thoả thuận cam kết đạt được.
+ Khi biên bản thương lượng được lập một cách hợp lệ, những thoả thuận trong
biên bản thương lượng được coi là có giá trị pháp lý như hợp đồng mà hình thức
thể hiện là hợp đồng sửa đổi, bổ sung hoặc phụ lục hợp đồng và đương nhiên nó
có ý nghĩa bắt buộc đối với các bên. Khẳng định giá trị pháp lý của biên bản
thương lượng sẽ thể hiện tính dứt điểm đối với từng vụ việc phát sinh trong quan
hệ kinh doanh, tránh được hiện tượng "bất đồng nối tiếp bất đồng" ảnh hưởng
đến lợi ích của các bên. Trong trường hợp kết quả thương lượng không được một
bên tự giác thực hiện vì thiếu thiện chí, biên bản thương lượng sẽ được bên kia
sử dụng như một chứng cứ quan trọng để xuất trình trước cơ quan tài phán kinh
tế, để yêu cầu cơ quan này thừa nhận và cưỡng chế thi hành những thoả thuận nói
trên.
- Ưu, nhược điểm của hình thức thương lượng.
+ Ưu: Thương lượng là hình thức phổ biến thích hợp cho việc giải quyết tranh
chấp trong kinh doanh. Hình thức này từ lâu đã được giới thương nhân ưa
chuộng, vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền
phức, ít tốn kém hơn và nói chung không làm phương hại đến quan hệ hợp tác
vốn có giữa các bên trong kinh doanh cũng như giữ được bí mật kinh doanh. Do
đó, thương lượng trở thành hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến của các tập
đoàn kinh doanh lớn trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn kinh doanh hoạt động
trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán,… để bảo vệ một cách có
hiệu quả bí mật thương mại giữa họ.
+ Nhược: Quá trình thương lượng thành công hay thất bại phụ thuộc vào thiện
chí của các bên.Thương lượng đòi hỏi trước hết các bên phải có thiện chí, trung
thực, hợp tác và phải có đầy đủ những am hiểu cần thiết về chuyên môn, pháp lý.
Tuy nhiên, nếu một trong các bên thiếu thiện chí thì quá trình giải quyết thường
kéo dài, thậm chí bế tắc, buộc các bên phải tìm kiếm hình thức khác và trong
trường hợp đó sẽ còn mất nhiều thời gian hơn. Mặt khác, kết quả thương lượng
chỉ được bảo đảm bằng sự tự giác thực hiện của các bên, nên trong nhiều trường
hợp tính khả thi thấp.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 111
5.2.2 Hoà giải.
- Khái niệm: hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ
ba độc lập, do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định, làm vai trò trung gian để hỗ trợ
cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột
nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hoà. Hoà giải mang tính chất tự nguyện, tuỳ thuộc
vào sự lựa chọn của các bên.
+ Bên thứ ba với tính chất là trung gian hoà giải phải có vị trí độc lập đối với
các bên. Điều đó có nghĩa là bên thứ ba này không ở vị trí xung đột lợi ích đối
với các bên hoặc không có những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong hai
bên trong vụ việc đang có tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian hoà giải không
phải là những đại diện bất kỳ của bên nào và cũng không có quyền quyết định,
phán xét như một trọng tài Ad-hoc (trọng tài vụ việc).
+ Bên thứ ba làm trung gian hoà giải thường là các cá nhân, tổ chức có trình độ
chuyên môn cao và có kinh nghiệm về những vụ việc có liên quan đến các tranh
chấp phát sinh (có thể là các giám định viên, hội đồng giám đinh, phòng công
nghiệp thương mại Việt nam). Công việc của họ là: i) Xem xét, phân tích đánh
giá và đưa ra những ý kiến, nhận định bình luận về chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp
vụ và những vấn đề có liên quan để các bên tham khảo (chẳng hạn: tổ chức giám
định, đánh giá, tư vấn chuyên môn, tư vấn pháp lý,…). ii) Đề ra những giải pháp,
phương án thích hợp để cácbên tham khảo lựa chọn và quyết định. Các bên tranh
chấp cung cấp thông tin cho nhau và trình bày quan điểm của mình, người hoà
giải hướng các bên vào việc tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm loại trừ
những ý kiến bất đồng, những xung đột về lợi ích giữa các bên
- Hai hình thức hoà giải chủ yếu: hoà giải ngoài tố tụng, hoà giải trong tố tụng.
i) Hoà giải ngoài tố tụng: là hình thức hoà giải qua trung gian, được các bên tiến
hành trước khi đưa vụ tranh chấp ra cơ quan tài phán. Đối với hoà giải ngoài tố
tụng, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới coi đây là công việc riêng của các
bên nên không điều chỉnh trực tiếp và chi tiết. Mặc dù vậy, ngay trong hình thức
này cũng có những vấn đề pháp lý sau đây được đặt ra:
+ Sự lựa chọn của các bên về trung gian hoà giải (giám định viên, hội đồng
giám định,.…) có thể đã được quy định trước về mặt nguyên tắc trong hợp
đồng và sau đó khi xảy ra tranh chấp các bên sẽ chỉ định cụ thể. Trong
trường hợp hợp đồng không xác định thì khi xảy ra tranh chấp các bên sẽ
phải thoả thuận chỉ định trung gian hoà giải.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh 112
+ Các bên có thể xác định một quy trình tiến hành trung gian hoà giải và
trong trường hợp không xác định thì có thể hiểu là các bên dành cho trung
gian hoà giải toàn quyền quyết định một quy trình mềm dẻo và linh hoạt.
+ Các ý kiến, nhận xét của trung gian hoà giải có tính chất khuyến nghị đối
với các bên. Khi được các bên chấp thuận thì các ý kiến này sẽ được thể
hiện dưới hình thức văn bản, có sự xác nhận của bên đứng ra làm trung gian
hoà giải và có giá trị ràng buộc các bên.
+ Việc thừa nhận giá trị pháp lý của những khuyến nghị như vậy của trung
gian hoà giải, khi đã được các bên chấp nhận, phải được ghi nhận và đảm
bảo thi hành bằng pháp luật. Điều này, cho đến nay, pháp luật nước ta còn
bỏ ngỏ.
+ Một hợp đồng dịch vụ có liên quan đến trung gian hoà giải cần phải được
thiết lập giữa các bên tranh chấp và trung gian hoà giải nhằm giải quyết các
vấn đề như: ai phải chịu phí tổn, các chuẩn mực cần thiết cho trung gian
hoà giải, quyền và nghĩa vụ của các bên.
+ Thực chất trung gian hoà giải thường áp dụng cho việc giải quyết các
tranh chấp mà ở đó ngoài yếu tố thiện chí của các bên còn có các vấn đề đòi
hỏi tính chuyên môn mà tự các bên khó có thể xem xét và đánh giá một
cách khách quan. Ở nhiều quốc gia hoà giải là hình thức giải quyết tranh
chấp quan trọng và đây cũng là điều giải thích cho sự ra đời các trung tâm
hoà giải (Trung tâm hoà giải Bắc Kinh để giải quyết các tranh chấp thương
mại và hàng hải quốc tế…) và các quy trình hoà giải mẫu (Quy trình hoà
giải Folloberg - Taylor, quy trình hoà giải không bắt buộc của phòng
thương mại quốc tế tại London, quy trình hoà giải mẫu của UNCITRAL (uỷ
ban của liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế) năm 1980,…)
+ Có thể nói rằng hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải ở nước
ta chưa phổ biến do thiếu các quy định hướng dẫn cụ thể cũng như các điều
kiện chuyên môn, thói quen trong thương mại và vì vậy dường như trung
gian hoà giải còn mang nặng tính lý tưởng.
ii) Hoà giải trong tố tụng: là hoà giải được tiến hành tại toà án hay trọng tài khi
các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của các bên. Người trung
gian hoà giải trong trưòng hợp này là toà án và trọng tài (cụ thể là thẩm phán
hoặc trọng tài viên phụ trách vụ việc).
+ Hoà giải trong tố tụng được coi là một bước, một giai đoạn trong quá
trình giải quyết tranh chấp bằng con đường toà án hay trọng tài và chỉ được

