2 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nội dung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập. Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnh cách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào các vấn đề sau đây:

• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. 1. Tính cấp thiết của đề tài Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn diện là trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới. Có thể thấy rằng, DTTC có tác động tích cực đến giảm nghèo thông qua tăng thu nhập của người dân – đặc biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi. Nghiên cứu về DTTC đa phần được thực hiện tại các nước OECD hoặc chỉ các nước như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu. Từ kết quả đo lường, các nghiên cứu trước đã đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việc xây dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được điều tra khảo sát. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần lại bỏ qua các nền kinh tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền văn hóa khác biệt so với các nước phương Tây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất bền chặt, và hướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều vào ý kiến của người xung quanh; (2) Vốn có thói quen tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng. Những đặc điểm nhân khẩu học hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề (1) sự thất bại trong việc hiểu các bảng hỏi của người dân khu vực Đông Á và Đông Nam Á so với các nước phương Tây, từ đó không thể đánh giá được chính xác về DTTC, và cũng không xác định được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2) những hàm ý chính sách liên quan đến phát triển DTTC không thể thực hiện được như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao! • Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.

3. Câu hỏi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:

Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường tập trung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC hoặc đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập của nhóm đối tượng được khảo sát. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy: tại các vùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng thu nhập vẫn thấp, bởi thái độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này không cao. Người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạn chế các dịch vụ này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ này mang tính chất mơ hồ rất cao. • Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?

3 4

• DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?

• Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam? Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cận các dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụng tốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do. Luận án sẽ tiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu

Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn con người, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói giảm nghèo, và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững. Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH thôn. 1.1 Các nghiên cứu về tài chính hành vi Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam.

Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên các thị trường khác. Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các quyết định về tài chính thì thường: Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận.

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015). Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ nghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng nông thôn. Các cá nhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có ít nhất 1 nửa thời gian sinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm, phải có ít nhất 6 tháng sinh sống ở vùng nông thôn.

Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng. 1.2 Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô

Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định 59/2015/QĐ- TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp hơn 700.000 đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000 nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên, tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào 1 số các nhánh nghiên cứu sau đây:

Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019. Thời gian khảo sát tiến hành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019 tại tỉnh Thái Bình. Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2019. Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước.

Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền tảng của phát triển bền vững. Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất: ví dụ như đất đai, máy móc… thì vẫn phải “vận hành” bởi con người.

5. Cách tiếp cận Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh tế học. Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững. Nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát

5 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN

2.1 Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn 2.1.1 Khái quát về khu vực nông thôn Khu vực nông thôn gồm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địa giới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị.

Thêm vào đó, cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu là những người có hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn và có thời gian thực trú tại địa bàn là ít nhất 6 tháng/năm. Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn. 2.1.2 Người nghèo khu vực nông thôn triển trên nền tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo. Trong các nghiên cứu thuộc nhóm này, đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của sinh kế bền vững bao gồm: (1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực hiện tại (con người, tài chính, tự nhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng phó với những thay đổi của thiên nhiên và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền vững. (2) Con người là yếu tố cốt lõi trong khung sinh kế bền vững, do vậy, để có được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa ra các chương trình trợ cấp liên quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để có thể tự phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài. Nhóm nghiên cứu này là nền tảng chính về tài chính vi mô. (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh kế, nên việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nền kinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong đó phải có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt. 1.3 Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính

Quan điểm về nghèo đói: người nghèo sẽ là người có thu nhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi thiếu hụt 3 trong 5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin. 2.2 Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn 2.2.1 Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) tác động của DTTC lên thu nhập. 1.4 Khoảng trống nghiên cứu

Thứ nhất, về nội hàm của DTTC chưa thống nhất trong các nghiên cứu. Khoảng trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao gồm 3 yếu tố là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3 nhân tố này phản ánh ra sao lên DTTC. Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng trống về phương pháp tiếp cận để đánh giá về dân trí tài chính. OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính và cuối cùng đạt được sự “giàu có” tài chính cá nhân. Kết hợp từ những nghiên cứu trên, những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn. Một số khác định nghĩa DTTC là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân về những vấn đề tài chính. Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu Tóm lại, DTTC sẽ bao gồm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính tập trung nhiều đến phân tích định tính. Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa và hành vi tài chính. 2.2.2 Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố.

Kiến thức tài chính (financial knowledge) là mức độ hiểu biết của chủ thể đối với các khái niệm của các thuật ngữ trong tài chính (lãi suất, trái phiếu...) và phương thức hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng,...). Như vậy, kiến thức tài chính sẽ là yếu tố tiền đề để hình thành hành vi và thái độ tài chính của chủ thể.

Thái độ tài chính (financial attitude) là quan điểm của chủ thể đối với sự diễn ra của tình hình tài chính xung quanh. Ví dụ như nhận định của chính phủ về tình

7 8

của chủ thể đó. Những người, khu vực có DTTC cao thường có hiểu biết rộng về những vấn đề tài chính và các phương thức đầu tư, tiết kiệm. hình chuyển biến của nền kinh tế,... Việc xác định thái độ của chủ thể đối với tình hình kinh tế tài chính là hệ quả của kiến thức tài chính của chủ thể đó, tạo tiền đề cho hành vi tài chính của chủ thể đó.

Hành vi tài chính (financial behavior) được hiểu là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Thông qua các phản ứng của chủ thể đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi.

● Tác động đến năng suất của người lao động Trình độ DTTC cao làm gia tăng tính hiệu quả, hiệu suất của công việc và sẽ giúp người lao động hiểu rõ hơn về lợi ích mà tổ chức mang lại và cải thiện sự hài lòng của họ. Việc nâng cao DTTC có tác động tích cực đến mọi người trong cuộc sống cá nhân và công việc. DTTC cao giúp giảm áp lực xã hội và tâm lý và tăng phúc lợi cho các hộ gia đình. Lợi thế lớn nhất của việc nâng cao DTTC là làm giảm đi các sai lầm trong tài chính của nhân viên và khiến họ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân, điều này sẽ góp phần làm tăng chất lượng sống của các hộ gia đình. 2.3.2 Tác động lên tổng thể nền kinh tế ● Bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự thiếu hụt tài chính gây ra những vụ lừa đảo

Như vậy, dựa trên các quan điểm về dân trí tài chính, nghèo đói và khu vực nông thôn, thì trong luận án này, tác giả quan niệm rằng DTTC được cấu thành bởi ba bộ phận là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được hiểu là việc áp dụng kiến thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời gian thực trú tại vùng nông thôn đảm bảo 2 điều kiện (1) ít nhất một nửa thời gian sinh sống đến hiện tại là ở vùng nông thôn và (2) trong 1 năm có ít nhất 6 tháng sống ở vùng nông thôn. 2.2.3 Các phương pháp đo lường dân trí tài chính

Bằng cách tăng DTTC thông qua cả kỹ năng, thái độ và hành vi và tài chính sẽ góp phần làm tăng khả năng bảo vệ tài chính người tiêu dùng – nhất là nhóm người khó có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chínhchính thức (thường là người nghèo ở khu vực nông thôn).

Phương pháp FILS Phương pháp này sử dụng CFA (phương pháp thử nghiệm giả thuyết để kiểm tra giả thiết và giả thuyết về cấu trúc mô hình bằng các yếu tố chất lượng do đó cho thấy chất lượng của việc điều chỉnh mô hình của các biến biểu hiện theo phân bổ cho các biến tiềm ẩn cụ thể).

Phương pháp FSA FSA là phương pháp đo lường DTTC dựa trên 5 vấn đề chính yếu: (1) Giám sát tài chính; (2) Đảm bảo chi tiêu; (3) Lập kế hoạch trước; (4) Chọn sản phẩm; (5) Luôn cập nhật.

● Thay đổi thói quen giữ tiền nhàn rỗi Dân số có kiến thức tài chính tốt hơn có khả năng sử dụng khoản tiền nhàn rỗi như một khoản vốn đầu tư trong nướcgiảm sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô cũng cho thấy, khi người nghèo hoặc người dân khu vực nông thôn được đào tạo về các sản phẩm tài chính thì sẽ có khả năng sử dụng đồng tiền nhàn rỗi tốt hơn thông qua mở rộng tỷ lệ tiết kiệm, từ đó hướng đến mục tiêu sử dụng khoản vay và tiến tới xóa đói giảm nghèo. 2.3.3 Đối với thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Phương pháp bảng hỏi Đây là phương pháp sử dụng các bảng hỏi để đo lường DTTC. Dựa trên các

câu hỏi tập trung vào các chủ đề về tài chính như lãi suất, thời hạn đầu tư…. 2.3 Vai trò của dân trí tài chính 2.3.1 Tác động lên các đối tượng của nền kinh tế

● Tác động lên hành vi tài chính của người có thu nhập trung bình - thấp Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng những người có DTTC kém thường có những khoản chi tiêu, đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn và ảnh hưởng tới thu nhập a. Kiến thức Kiến thức là một phần cơ bản tạo nên vốn con người, nên tác động của kiến thức lên thu nhập rất rõ ràng, nhất là trong nhánh nghiên cứu về vốn con người. Các nghiên cứu đều có đồng quan điểm rằng số năm đi học và kinh nghiệm làm việc ảnh hưởng cùng chiều lên thu nhập của họ. Như vậy, kiến thức tài chính, một khía cạnh trong DTTC có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của các đối tượng trong nền kinh tế.

10 9

2.4.5 Giới tính

b. Thái độ Đối với nhánh nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt về sinh kế bền vững và tài chính vi mô sau này, đều cho rằng thái độ của các cá nhân có ảnh hưởng đến thu nhập. Đối với những cá nhân có thái độ thận trọng và hiểu biết đầy đủ các thông tin sẽ chi tiêu ít hơn khi thu nhập cao, xu hướng tiết kiệm tăng và sẽ sử dụng khoản tiết kiệm đó khi thu nhập giảm.

Một số quan điểm cho rằng có sự khác biệt về điểm số DTTC giữa nữ giới và nam giới. Cụ thể, phụ nữ thường có DTTC thấp hơn đàn ông trong đa số các trường hợp. Hơn thế nữa, phụ nữ còn đưa ra những câu trả lời không xác định cho những vấn đề liên quan đến tài chính. Tuy nhiên, một số khác lại đưa ra một quan điểm ngược lại khi nhận định rằng ảnh hưởng của giới tính lên điểm số DTTC là không rõ ràng. Nghiên cứu đưa ra điểm số trung bình của nữ giới là 47,87, ở nam giới là 49,02. Như vậy, ảnh hưởng của giới tính lên DTTC vẫn là một trong những nhân tố chưa có được sự thống nhất giữa các nghiên cứu về DTTC trên thế giới. 2.4.6 Chủng tộc và tôn giáo

c. Hành vi Trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, những người có hành vi sai lệch trong việc đầu tư cũng như không có hành vi gì đối với tài chính đều ảnh hưởng xấu tới thu nhập. Những hành vi và quyết định tài chính trên có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập. 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính 2.4.1 Trình độ học vấn

Các nghiên cứu trước chỉ ra rằng chủng tộc và tôn giáo là nhân tố tạo ra ảnh hưởng lên DTTC. Tuy nhiên, sự khác biệt về phương pháp đo lường và việc chia mẫu đo lường khiến cho kết quả các nghiên cứu này chưa thật sự thống nhất và rõ ràng.

Kết quả của những nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng trình độ học vấn là một yếu tố ảnh hưởng tích cực lên DTTC của một cá nhân; những nhóm đối tượng có trình độ giáo dục càng cao thì tỷ lệ trả lời đúng những câu hỏi về tài chính càng cao. 2.4.2 Thu nhập

Thu nhập là một trong những yếu tố tác động lên điểm số DTTC của một cá nhân. Những đối tượng có thu nhập cao hơn thường có xu hướng có điểm số DTTC cao hơn và ngược lại. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên cũng chỉ ra một thực trạng rằng, điểm số DTTC và tỉ lệ những người có kiến thức tài chính chính xác vẫn còn thấp, thậm chí ở nhóm đối tượng có thu nhập cao nhất. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao và cải thiện DTTC không chỉ ở những người có thu nhập thấp mà còn ở cả những nhóm đối tượng có thu nhập trung bình và thu nhập cao. 2.4.3 Việc làm

Nhóm đối tượng có việc làm, đặc biệt là liên quan đến kinh tế và tài chính thường có những kiến thức tài chính chính xác và thỏa đáng hơn, dẫn đến điểm số DTTC cũng cao hơn nhóm đối tượng không có việc làm. 2.4.4 Tuổi tác

Tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập rất nhiều trong các nghiên cứu ở trên thế giới. Tuy vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, nhưng nhiều các nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm cho rằng: Điểm số DTTC sẽ cao nhất ở độ tuổi trung niên và thấp dần đi ở những độ tuổi trẻ hơn hoặc già hơn.

11 12

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU sự thay đổi. (cid:1) H3: DTTC được thể hiện qua Hành vi tài chính (reflective model)

3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

3.2.2. Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính

Nghiên cứu này kết hợp cả hai phương pháp là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Trên cơ sở tổng hợp và phát triển các lý thuyết từ các nghiên cứu trước cũng như các lý thuyết DTTC, tác giả đã phân tích định tính các yếu tố ảnh hưởng đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập của người dân ở vùng nông thôn. ● Thu nhập Thu nhập là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu – kể cả trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, các mô hình tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về sinh kế bền vững. Thu nhập có ảnh hưởng thuận chiều tới DTTC.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng, mô hình hóa những dữ liệu điều tra về các cá nhân để có những thông tin về DTTC và thu nhập của đối tượng nghiên cứu. Bộ chỉ số đo lường DTTC theo phương pháp định lượng sẽ được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của OECD (2015), sau đó hiệu chỉnh để phù hợp với Việt Nam. (cid:1) H4: Thu nhập có tác động cùng chiều lên DTTC ● Trình độ học vấn Thang đo bao gồm 5 mức trình độ học vấn: Chưa hoàn thành trung học, tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học. Các nghiên cứu trước đều cho rằng học vấn có tác động dương lên DTTC.

(cid:1) H5: Trình độ học vấn có tác động dương lên DTTC • Việc làm Những người có việc làm sẽ có điểm số DTTC cao hơn những đối tượng thất nghiệp và những người làm trong lĩnh vực tài chính và quản lý nhà nước có xu hướng có điểm số cao hơn những đối tượng còn lại. Tác giả phỏng vấn sâu các chuyên gia về lĩnh vực dân trí tài chính và tài chính cá nhân nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi phù hợp với Việt Nam, làm rõ hơn nữa các mối liên hệ định tính giữa các biến trong nghiên cứu và giải thích rõ được các kết quả định lượng đạt được trong nghiên cứu này. 3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết 3.2.1. Đo lường Dân trí tài chính

(cid:1) H6: Việc làm có tác động lên DTTC • Tuổi tác Quan điểm về tác động của tuổi tác lên DTTC vẫn chưa thống nhất giữa các DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để có thể ra quyết định tài chính và nâng cao mức độ “giàu có” của một cá nhân (well-being financial). nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết Kiến thức tài chính được hiểu là những kiến thức về lí thuyết và thực tiễn cần

(cid:1) H7: Tuổi tác có tác động lên DTTC • Giới tính Như vậy, giới tính là một nhân tố tác động lên DTTC đã được phát hiện trong một số nghiên cứu trước đây. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

(cid:1) H8: Giới tính có tác động lên DTTC • Chủng tộc và tôn giáo Chủng tộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC nhưng chưa thống thiết để một cá nhân có thể đưa ra quyết định tài chính một cách hiệu quả. (cid:1) H1: DTTC được thể hiện qua Kiến thức tài chính (reflective model) Thái độ tài chính là những suy nghĩ hay niềm tin của một cá nhân về những vấn đề, lĩnh vực tài chính, từ đó ảnh hưởng tới các hành vi và việc đưa ra quyết định của cá nhân đó. Điểm số thái độ tài chính cũng được đo lường trên thang đo của Likert, dựa trên các thái độ tài chính tích cực của các đối tượng tham gia nghiên cứu này. nhất. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất (cid:1) H9: Chủng tộc và tôn giáo có tác động lên DTTC 3.2.3. Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập Các nghiên cứu về vốn con người, về mô hình tăng trưởng nội sinh đều đề cập (cid:1) H2: DTTC được thể hiện qua Thái độ tài chính (reflective model) Hành vi tài chính là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Thông qua các phản ứng của chủ thể đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có

13 14

rằng học vấn nói chung có tác động lên thu nhập. (cid:1) H10: DTTC có tác động lên thu nhập độ học vấn, việc làm, số năm kinh nghiệm, thu nhập và việc tiếp cận với các ứng dụng thanh toán điện tử hiện đại.

3.3 Nghiên cứu sơ bộ 3.3.1 Nghiên cứu định tính sơ bộ

Phần 2: đo lường kiến thức tài chính thông qua thang đo Likert 5 mức độ với 7 biến. Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này sẽ được phân tích trên phần mềm SPSS 22 và AMOS 20. - Đối tượng khảo sát: Nghiên cứu định tính được xác định bằng hình thức phỏng vấn sâu các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực DTTC, Tài chính cá nhân, tài chính vi mô và các lĩnh vực chung thuộc khối kiến thức Tài chính - Ngân hàng. Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ Những nhân tố nhân khẩu học bao gồm: giới tính, tuổi tác, trình độc học vấn, việc làm, thu nhập.

Bảng hỏi cần nêu ra những vấn đề như sau: Thứ nhất, về các lĩnh vực hoạt động của cá nhân được phỏng vấn tại vùng nông thôn nên chia thành 9 lĩnh vực sau để đảm bảo tính bao quát của các ngành nghề: (1) Lĩnh vực Quản lý hành chính (2) Lĩnh vực Công nghiệp (3) Lĩnh vực Nông nghiệp (4) Lĩnh vực Kỹ thuật (5) Lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và công nghệ (6) Lĩnh vực Đào tạo (7) Lĩnh vực Y tế (8) Lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng (9) Lĩnh vực khác Đối tượng được chọn để tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 18 trở lên, thuộc đối tượng là hộ nghèo, và thỏa mãn điều kiện về thời gian: (1) tổng thời gian sống tại tỉnh Thái Bình phải bằng ít nhất ½ số tuổi và (2) hàng năm, thời gian sinh sống trong tỉnh phải ít nhất 6 tháng (không cần liên tục). b. Kết quả nghiên cứu định lượng thử nghiệm Đối với bảng ma trận xoay từ phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy các biến K6, K2, K7 và A3 được xếp vào cùng một thành phần nhân tố và được kết hợp thành nhân tố 3. Tuy nhiên, theo các tác giả nghiên cứu trước, các biến này có sự khác biệt về nội dung. Vì vậy để có được thang đo hoàn chỉnh, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu lần 2 với các chuyên gia để làm rõ về vấn đề này. Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu định lượng thử nghiệm, các đối tượng

khảo sát đã đưa ra những góp ý về cách diễn đạt của bảng hỏi. 3.4 Nghiên cứu chính thức 3.4.1 Nghiên cứu định tính chính thức Thứ hai, học vân cần chia thành (1) Dưới tiểu học (2) Tiểu học/ Trung học cơ sở (3) Trung học phổ thông (4) Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề (5) Cao đẳng và đại học (6) Trên đại học Thứ ba, với các câu hỏi thuộc kiến thức tài chính, tác giả nên hiệu chỉnh trở thành thang đo Likert 5 cấp độ, sau đó vẫn giữ nguyên ý tưởng của câu hỏi.

Thứ tư, sau khi kiểm định thang đo của các nhân tố phản ánh (Kiến thức tài chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài chính), DTTC sẽ được tính bằng cách lấy trung bình điểm số của các biến quan sát có ý nghĩa thống kê trong mô hình. 3.3.2 Nghiên cứu định lượng thử nghiệm a. Mục tiêu phỏng vấn sâu Thang đo và mô hình được kiểm định lại thêm một lần nữa thông qua kết quả của nghiên cứu sơ bộ cùng với ý kiến của các chuyên gia về tài chính vi mô và tài chính từ đó xác định lại sự phù hợp của các biến bao gồm định nghĩa, giả thuyết và xu hướng tác động của các biến lên biến tiềm ẩn tại khu vực nông thôn Việt Nam. Đối tượng phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu được thực hiện với 11 chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và giáo dục.

a. Bảng hỏi Dựa vào quá trình nghiên cứu tổng quan, mục tiêu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và kết quả phỏng vấn sâu sơ bộ, tác giả tiến hành phác thảo một bảng hỏi. Bảng hỏi được thiết kế dựa vào các nghiên cứu nước ngoài được dịch ra tiếng Việt, sau đó hiệu chỉnh cho phù hợp với Việt Nam. - Bảng hỏi khảo sát đối tượng gồm 2 phần chính: Phần 1: Thông tin chung bao gồm thông tin cá nhân như: giới tính, tuổi, trình b. Kết quả phỏng vấn sâu Thứ nhất, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu tuy không thể hiện nhưng cần phải bao hàm đo lường dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam nên vẫn phải bao hàm đầy đủ các câu hỏi tương tự như của OECD (2013) làm lý thuyết nền tảng để nghiên cứu. Do đó, khi khảo sát thì vẫn phải có các câu

15 16

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam hỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến cần loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm).

Thứ hai, khi các nhân tố nhỏ gộp lại thành 1 nhân tố lớn, bao gồm K1, K3 và K5 (lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất trong trường hợp có lạm phát) thì sẽ có mối quan hệ tác động bởi 3 nhân tố này thường đi kèm với nhau và nằm trong các nhân tố tiết kiệm tiền của người nghèo khu vực nông thôn. Nhóm nhân K6, K2, K7 và A3 liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của người dân nên vẫn có thể chấp nhận được các vấn đề này. Việc giải thích này tương tự như A2 và A5; A1 và A4.

Nhân tố K4 (tính toán lãi suất đơn) bị loại ra khỏi mô hình bởi hiện tại, đa phần các khoản vay trên thị trường đều tính theo lãi gộp, hoặc tính lãi theo ngày. Đây là vấn đề phù hợp với Việt Nam. 3.4.2 Nghiên cứu định lượng chính thức Mô hình nghiên cứu chính thức

Số quan sát ý nghĩa còn lại là 512 quan sát. Trong số này, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với nam giới, do thời điểm hiện tại, vấn đề di dân nông thôn lên các vùng thành thị đã làm cho phụ nữ sinh sống ở khu vực nông thôn nhiều hơn hẳn nam giới. Do đó, việc tác giả thu thập được 61,5% tổng số phiếu là nữ phù hợp với thực tế và các nghiên cứu trước đây. Đối với khu vực, miền Bắc chiếm tỷ trọng 52%, miền Nam chiếm tỷ trọng 38%, số còn lại là miền Trung. Về độ tuổi từ 26-40 tuổi chiếm 42% là tỉ lệ lớn nhất, sau đó là độ tuổi từ 41-55 tuổi chiếm 35.2%, về trình độ học vốn đa phần là cao đẳng và đại học chiếm 49.2%, sau đó là trung học phổ thông chiếm 20.1%. Đối tượng khảo sát chủ yếu là người nghèo sống ở vùng nông thôn và đa số là đối tượng làm trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nên mức thu chủ yếu là từ 3-5 triệu một tháng (chiếm 30.7%) và 1-3 triệu một tháng (chiếm 23.4%), còn lại là đối tượng có thu nhập từ 1 triệu trở xuống. Tuy nhiên, đa phần nhóm đối tượng được phỏng vấn là đối tượng lao động chính trong gia đình, số lượng người phụ thuộc từ 1 – 3 người nên vẫn nằm trong đối tượng hộ nghèo. 4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh

Đa số các biến quan sát Thái độ tài chính và Hành vi tài chính có giá trị trong khoảng [3.41;4.2] khá lớn, cho thấy phần lớn người dân đều đồng tình với ý kiến từ thang đo. Tuy nhiên, nhiều người được khảo sát lại có ý kiến trung lập về Thái độ tài chính “Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình.” (độ trung bình 3.24) cho thấy thái độ với việc mua sắm hàng hóa của người dân.

a. Mẫu nghiên cứu • Cách thức khảo sát Phương thức khảo sát được tác giả sử dụng đó là phát bảng hỏi trực tiếp đến từng đối tượng khảo sát. Sau khi phát 600 bảng hỏi, tác giả nhận về 512 quan sát phù hợp với nghiên cứu.

Với biến quan sát Kiến thức tài chính, toàn bộ các biến quan sát cũng đều có giá trị trong khoảng [3.65;4.1], tuy nhiên sự chênh lệch giữa điểm số trung bình giữa các câu là khá lớn, điều này thể hiện sự không chắc chắn của người điền khảo sát trong các câu hỏi về kiến thức tài chính. Đặc biệt ở câu hỏi về kiến thức định nghĩa lạm phát K1, có tới 102/152 đối tượng trả lời “Tôi không chắc chắn” việc tiếp cận về những kiến thức tài chính như lạm phát, lãi suất,… của người dân còn khá hạn chế. 4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính Điểm số DTTC của nữ giới cao hơn nam giới là 0.0506 điểm. Điều này cho

17 18

thành phần của thang đo đều đạt được yêu cầu về giá trị cũng như độ tin cậy.

thấy, không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về DTTC. Nhóm đối tượng có điểm số DTTC trung bình cao nhất nằm ở độ tuổi từ 56 - 70 tuổi và 41 - 55 tuổi, lần lượt là 4.069 và 3.871 điểm. Nhóm có độ tuổi từ 18 - 25 tuổi có điểm số DTTC thấp nhất là 2.754 điểm. 4.2 Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh

Thang đo “Kiến thức tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.729 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Kiến thức tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

Thang đo “Thái độ tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.834 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Thái độ tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo. • Mô hình CFA bậc 2 đo lường DTTC Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df = <3, TLI=, CFI=, NFI= đều lớn hơn 0.9, hệ số RMSEA= <0.08, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường. Kết quả các giá trị P-value của các biến quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000. Hệ số độ tin cậy tổng hợp của thang đo đạt giá trị cao hơn 0.5, và hệ số phương sai trích nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận. Có thể khẳng định thang đo đạt được giá trị hội tụ và tính đơn hướng. Như vậy, thang đo nghiên cứu đối với DTTC đã đảm bảo các yêu cầu phân tích. 4.3 Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng a. Ước lượng mô hình hồi quy OLS Tóm tắt mô hình định lượng chính thức Mẫu R Durbin-Watson Thang đo “Hành vi tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.871 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Hành vi tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo. 4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) R bình phương R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng

1 .570a .325 .320 .395 1.705 Kết quả EFA về Hành vi tài chính cho thấy 9 tiêu chí đo lường từ B1 đến B9 được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.592 đến 0.766 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với nhân tố. Bộ dự báo: (hằng số), giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập. Biến phụ thuộc: Financial Literacy Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 Kết quả EFA về Thái độ tài chính cho thấy 5 tiêu chí đo lường từ A1 đến A5 được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.658 đến 0.838 chứng tỏ các tuyên bố Kết quả EFA về Kiến thức tài chính cho thấy 6 tiêu chí đo lường từ K1 đến K6 được tải vào hai nhân tố riêng biệt:

Từ bảng Model Summaryb, ta thu thập được những kết quả sau: - Giá trị Adjusted R Square đạt 32%. Điều này nghĩa là các biến bao gồm giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập.ảnh hưởng 32% sự thay đổi của biến phụ thuộc DTTC, còn lại 68% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Nhân tố 1 (Nhân tố về lãi suất và lạm phát): bao gồm K2, K3, K1, K5 với hệ số tải lần lượt từ 0.625 đến 0.844 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các nhân tố. - Giá trị Durbin - Watson của mô hình đạt 1.705 nằm trong khoảng từ 1 đến 3 đồng nghĩa với mô hình hồi quy tuyến tính đơn tốt. Bảng 4.12. Kiểm định ANOVA định lượng chính thức

Nhân tố 2 (Nhân tố về rủi ro và chi phí cơ hội): bao gồm K7, K6 với hệ số tải lần lượt là 0.883 và 0.855 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các nhân tố. 4.2.2 Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) Hàm sử dụng Hàm hồi quy tuyến tính Giá trị F 60.980 Sig .000b a. Biến phụ thuộc:Financial Literacy b. Bộ dự báo: Hằng số, Trình độ giáo dục, Giới tính, Tuổi tác, Thu nhập. • Mô hình CFA bậc 1 đo lường các nhân tố phản ánh DTTC Sau phân tích CFA thang đo DTTC bao gồm 4 thành phần nhân tố (Behavior, Attitude, Knowledge_1, Knowledge_2). Kết quả phân tích CFA cho thấy các Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

19 20

Coefficients định lượng chính thức

Hệ số chưa chuẩn hóa Mẫu Hệ số Beta chuẩn hóa Giá trị t Giá trị Sig Giá trị VIF Beta Độ lệch chuẩn

Hằng số 2.545 0.088 29.037 0.000 của trình độ học vấn và tuổi tác lần lượt là 0.321 và 0.133. Các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df= 2.861<3, GFI= 0.904, CFI=0.906 đều lớn hơn 0.9, TLI nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được, hệ số RMSEA= 0.060<0.08, vì thế mô hình đạt được sự phù hợp dữ liệu thị trường. Kết quả của các giá trị P-value của các biến độc lập đều có giá trị thấp hơn giá trị 0.05, do đó các biến độc lập đều thể hiện sự ảnh hưởng tới biến phụ thuộc là DTTC. b. Kiểm định độ tin cậy của mô hình với phương pháp Bootstrap Giới tính 0.019 0.036 0.020 0.537 0.591 1.007 Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000 Tuổi 0.021 0.001 0.515 13.874 0.000 1.036 Parameter SE SE-SE Mean Bias Thu nhập 0.038 0.012 0.118 3.138 0.001 1.065 SE- Bias Critical Ratios 0.036 0.013 0.099 2.647 0.008 1.055 .148 .003 1.105 .027 .005 0.54 Trình độ học vấn Financial_Literacy <--- Age (Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 .082 .002 .291 .002 .003 0.67 a. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) Financial_Literacy <--- Income

.066 .001 .131 .003 .002 1.5 Financial Literacy <--- Education

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 Kiểm định này giúp đánh giá lại độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình với mẫu lặp lại N=1000. Qua bảng trên, các hệ số CR đều bé hơn 1.96 từ đó có thể kết luận từ kết quả ước lượng mô hình, sự chênh lệch của nhóm hệ số trong mô hình với 1000 quan sát rất nhỏ. Suy ra, mô hình DTTC vẫn có ý nghĩa đối với cỡ mẫu lớn. 4.4 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập 4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập Mẫu R R bình phương R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng

1 .305a .093 .091 1.435 Hình 4.4. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy Biến phụ thuộc: Thu nhập Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 Hệ số hồi quy đã chuẩn hóa của các biến độc lập cho thấy, mức độ tác động của Tuổi tác lên DTTC là 1.182, lớn nhất trong tất cả yếu tố. Mức độ ảnh hưởng

21 22

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH Từ bảng, tác giả thu được giá trị R bình phương hiệu chỉnh của mô hình đạt 9.1%. Điều này có ý nghĩa rằng biến DTTC trong mô hình giải thích được 9.1% sự biến động của biến thu nhập, còn lại 90.9% là do các biến số khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên. Bảng 4.18. Kiểm định ANOVA phân tích tác động của DTTC lên thu nhập 5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 5.1.1 Kết quả về thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam điểm số DTTC vẫn đạt mức trung bình, nhưng nhìn chung kiến thức, thái độ Hàm sử dụng Giá trị F Sig và hành vi tài chính của người dân vẫn chưa chắc chắn và còn sự phân hóa lớn Hàm hồi quy tuyến tính 53.331 .000b giữa các đối tượng khảo sát tại khu vực nông thôn Việt Nam. 5.1.2 Nhóm kết quả về nhân tố nhân khẩu học Biến phụ thuộc: Income Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy Học vấn (và trình độ giáo dục) có tác động cùng chiều lên DTTC. Điểm DTTC Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20 xu hướng tăng cùng chiều với thu nhập. Tuổi tác có tác động tới DTTC. Giới tính . không có tác động đến DTTC. Mặc dù kết quả thống kê về thực trạng cho thấy, 4.4.2 Đánh giá tác động của kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi mặc dù nữ có điểm số cao hơn nam, nhưng không có sự khác biệt quá rõ ràng khi tài chính lên thu nhập (cid:1)(cid:2)(cid:3)(cid:4)(cid:5)(cid:6) = (cid:8)(cid:9) + (cid:8)(cid:11) × (cid:13)(cid:14) + (cid:8)(cid:15) × (cid:16)Đ + (cid:8)(cid:18) × (cid:19)(cid:16)1 + (cid:8)(cid:18) × (cid:19)(cid:16)2 cùng đo lường về DTTC. Dân tộc và tôn giáo không có tác động đến DTTC. 5.1.3 Nhóm kết quả về các yếu tố nội hàm dân trí tài chính Thứ nhất, DTTC được phản ánh qua Kiến thức tài chính Trong nhóm nhân tố về hiểu biết tài chính, có 2 cụm nhân tố tác động đến DTTC. Thứ nhất nhóm nhân tố K6 và K7 lại có những tác động riêng biệt đến DTTC: nhóm nhân tố này được hiểu là các biến thuộc việc đa dạng hóa nguồn tiết Với biến phụ thuộc INCOME là thu nhập; biến độc lập là mean của các nhân tố được lấy từ kiểm định EFA, CFA. Behavior: Hành vi tài chính. Attitude: Thái độ tài chính. Knowledge_1: Kiến thức (liên quan đến lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất). Knowledge_2: Kiến thức (liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền. kiệm, trong đó phải hiểu tiết kiệm bao gồm các khoản đầu tư của cá nhân nhằm mục đích sinh lời. Thứ hai, nhóm các nhân tố K1, K2, K3 và K5 cùng đồng thời Kết quả Coefficients phân tích tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập tác động đến DTTC cho thấy, các nhân tố tương tự thuộc về kiến thức (thuộc vấn đề về việc sẽ tiết kiệm ra sao) đồng thời tác động đến DTTC. Hệ số chưa chuẩn hóa Mẫu Thứ hai, DTTC được phản ánh qua Thái độ tài chính Giá trị Sig Giá trị VIF Giá trị t Beta Thái độ tài chính càng tích cực phản ánh trình độ DTTC càng cao. Hệ số Beta chuẩn hóa Độ lệch chuẩn Thứ ba, DTTC được phản ánh qua Hành vi tài chính Hằng số 3.895 61.750 0.000 Hành vi tài chính càng tốt phản ánh trình độ DTTC càng cao. Cụ thể, khi người Behavior 0.444 0.295 0.295 7.026 0.000 1.000 nghèo càng tiết kiệm, chi tiêu càng chính xác, khả năng về hiểu biết cũng thái độ Attitude 0.141 0.093 0.093 2.226 0.026 1.000 của người đó đối với nền kinh tế càng chính xác, tích cực. Các quan điểm này Knowledge_1 0.031 0.02 0.02 0.486 0.627 1.000 đồng thời phản ánh rằng: các hành vi tiết kiệm càng cao thì điểm của khu vực này Knowledge_2 0.169 0.112 0.112 2.680 0.008 1.000 càng tốt. a. Biến phụ thuộc: Thu nhập Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

23 24

5.1.4 Nhóm kết quả về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập Thứ tư, các bộ, ban, ngành nên hợp tác với nhau, cùng với các tổ chức tài chính Giá trị Sig = 0.000 < 0.05 và giá trị VIF = 1.000 điều này có nghĩa DTTC có lên các chương trình phù hợp với đặc điểm của Việt Nam nhằm phổ biến những tác động tới thu nhập. Hệ số Beta chưa chuẩn hóa trong mô hình bằng 1.038 > 0 kiến thức về tài chính và các gói tài chính cho người dân, để người dân có cơ hội

tiếp cận gần hơn với những sản phẩm tài chính hiện đại. 5.2.3 Nhóm hàm ý về hành vi tài chính chứng tỏ DTTC ảnh hưởng tích cực tới thu nhập. 5.2 Một số hàm ý chính sách 5.2.1 Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính Thứ nhất, tăng thói quen tiết kiệm với người nghèo tại vùng nông thôn Việt Đối với nhà nước Nam. Thứ nhất, xây dựng các chương trình, chính sách nhằm nâng cao DTTC của Thứ hai, các địa phương nên có phương án hỗ trợ cho vay để đầu tư theo hướng người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam. Ưu tiên cho giáo dục tài chính và phát hộ gia đình với những gói vay ưu đãi, kích thích phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt ở những địa phương phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và làng triển định hướng và các chương trình, với một bước quan trọng đầu tiên là một nghề. cuộc khảo sát khả năng cấp quốc gia. Thứ hai, nhà nước nên tổ chức những chương trình tập huấn đào tạo nguồn Thứ ba, trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện tại, cần quan tâm hơn nữa đến việc nhân lực nguồn. phát triển các hoạt động liên quan đến công nghệ tài chính, nhất là ở khu vực nông Đối với địa phương Thứ nhất, tổ chức các chương trình đào tạo, các buổi tuyên truyền nhằm nâng thôn Việt Nam. 5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo 5.3.1 Hạn chế của đề tài cao DTTC cho địa phương của mình. Thứ hai, các địa phương nên phát huy sức mạnh của phương tiện hình ảnh, âm Thứ nhất, nghiên cứu sẽ tốt hơn nếu đưa được các biến kiểm soát vào mô hình. Thứ hai, nghiên cứu nên bỏ qua các nhóm đối tượng khác: (1) người sắp nghỉ thanh trực tiếp với những thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu. Thứ ba, địa phương nên chú trọng vào việc nâng cao DTTC cho nguồn nhân hưu hoặc cần kế hoạch hưu trí; (2) đối tượng cận nghèo hoặc bản thân không lực có tiềm năng phát triển là những người trẻ tuổi thông qua các chương trình nghèo nhưng đang nằm trong hộ nghèo do có người phụ thuộc; (3) khu vực thành định hướng, đào tạo về tài chính. thị. Chưa đánh giá dưới góc độ nghèo đa chiều. Thêm vào đó, đánh giá tác động Thứ tư, công nghệ thông tin cần phải được phổ biến rộng rãi hơn ở khắp các của DTTC lên thu nhập cần phải có thu nhập theo thời gian (thu nhập kỳ trước tác

động lên kỳ sau). 5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo khu vực nông thôn Việt Nam. 5.2.2 Nhóm hàm ý về thái độ tài chính Thứ nhất, cần xây dựng một số chương trình đào tạo, tấp huấn để thay đổi dần - Nghiên cứu có thể mở rộng thời gian nhằm đánh giá hiệu quả của các biến dần thói quen, thái độ của người dân đối với các vấn đề này. trễ trong mô hình cũng như hiệu quả lâu dài của DTTC lên thu nhập người dân Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về tầm quan trọng của việc - Nghiên cứu mở rộng các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế, ví dụ như nâng cao DTTC đối với người nghèo tại vùng nông thôn. người sắp về hưu, người nghèo tại thành thị hoặc người phụ thuộc. Thứ ba, chú trọng vào tính hiệu quả và dễ sử dụng khi xây dựng các chương trình, sản phẩm tài chính. Tập trung đa dạng hóa các dịch vụ, sản phẩm tài chính - Nghiên cứu các vấn đề về nghèo đa chiều trong DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. Đồng thời, đối với đánh giá của DTTC cần có dữ liệu theo thời gian để biết được cụ thể tác động. cho các đối tượng có trình độ DTTC khác nhau tại khu vực nông thôn Việt Nam.

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Bùi Kiên Trung, Phạm Bích Liên, Khúc Thế Anh (2019), “Các nhân tố tác động đến tiếp cận dịch vụ tài chính qua ngân hàng số: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 261, 3-2019.

2. Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên, Bùi Kiên Trung (2020), “Nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 272, tháng 2-2020.

3. Khúc Thế Anh (2017), “Phát triển một số khía cạnh dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt Nam thông qua ngân hàng chính sách xã hội”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Ngân hàng chính sách xã hội 15 năm một chặng đường, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.

4. Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên (2019), "Tài chính xanh và tín dụng đen dưới góc

độ dân trí tài chính", Tạp chí Ngân hàng, số đặc biệt 2019.

5. Khúc Thế Anh, Đặng Anh Tuấn (2017), "Khảo sát ban đầu các nhân tố tác động đến dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng, ISSN 0866-7462.

6. Khúc Thế Anh, Đặng Anh Tuấn (2018), "Dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt

Nam", Tạp chí Ngân hàng, số 2 tháng 1/2018.

8.

7. Đặng Anh Tuấn, Khúc Thế Anh (2018), "Khảo sát về dân trí tài chính tại các quỹ tín dụng nhân dân khu vực nông thôn Việt Nam", Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực tại tổ chức tín dụng hợp tác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Nhà xuất bản Lao động. Phung Thanh Quang, Khuc The Anh (2018), “Demographic Factors Affecting the Level of Financial Literacy in Ruaral Areas: the Case of Vietnam”, Studies of the Cultural and Bioethical Aspects of Life in Contemporary Asia, ISBN 978-83-8019- 858-6.

9. Khuc The Anh, Pham Bich Lien, Bui Kien Trung (2019), “Income and financial literacy of the poor in vietnam’s rural areas”, 2nd Internatioanl Conference on Contemporary Issues In Economics, management and business, National economics university publishing house.