intTypePromotion=1
ADSENSE

Đánh giá của sinh viên kinh tế về kiến thức huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh tại trường đại học công nghiệp Hà Nội

Chia sẻ: Đỗ Thiên Hỷ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

35
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc bồi dưỡng các kiến thức về khởi nghiệp kinh doanh của các trường đại học sẽ giúp lan tỏa, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp cũng như giúp cho quá trình khởi nghiệp được phát triển bền vững. Thông qua khảo sát sinh viên tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, nghiên cứu khám phá mức độ kiến thức của sinh viên đối với các vấn đề liên quan về hoạt động huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh vốn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đánh giá của sinh viên kinh tế về kiến thức huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh tại trường đại học công nghiệp Hà Nội

ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN KINH TẾ VỀ KIẾN THỨC<br /> HUY ĐỘNG VỐN TRONG KHỞI NGHIỆP KINH DOANH<br /> TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI<br /> <br /> NCS. Vũ Thị Thanh Bình<br /> Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội<br /> NCS. Hoàng Thị Hương<br /> Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội<br /> Tóm tắt<br /> Đào tạo về khởi nghiệp kinh doanh cũng nhận được nhiều sự quan tâm nhằm<br /> tạo động lực cho khởi nghiệp sáng tạo ngay từ trên giảng đường. Việc bồi dưỡng các<br /> kiến thức về khởi nghiệp kinh doanh của các trường đại học sẽ giúp lan tỏa, thúc đẩy<br /> tinh thần khởi nghiệp cũng như giúp cho quá trình khởi nghiệp được phát triển bền<br /> vững. Thông qua khảo sát sinh viên tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, nghiên<br /> cứu khám phá mức độ kiến thức của sinh viên đối với các vấn đề liên quan về hoạt<br /> động huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh vốn. Kết quả chỉ ra rằng mức độ<br /> quan tâm, am hiểu của sinh viên đến khởi nghiệp kinh doanh liên quan đến huy động<br /> vốn còn thấp. Kết quả vấn đề này có thể được lý giải thông qua sự hạn chế các môn<br /> học bồi dưỡng tinh thần khởi nghiệp được đưa vào chương trình giảng dạy hay các<br /> hoạt động ngoại khóa cho sinh viên chưa được thực hiện nhiều. Để có những kết quả<br /> mới trong khởi nghiệp của sinh viên, cần có thêm các hoạt động cụ thể nhằm tạo môi<br /> trường bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho sinh viên.<br /> Từ khóa: Huy động vốn, khởi nghiệp kinh doanh, góc nhìn sinh viên.<br /> <br /> 1. Giới thiệu<br /> Trong thời gian gần đây, hoạt động khởi nghiệp kinh doanh đón nhận sự quan<br /> tâm tại Việt Nam. Hoạt động khởi nghiệp mang lại những giá trị cá nhân cũng như<br /> mang lại sự giàu mạnh cho đất nước. Khởi nghiệp kinh doanh giúp các cá nhân nuôi<br /> dưỡng ý tưởng kinh doanh, tạo ra việc làm, giúp chuyển đổi các nguồn lực thành sản<br /> phẩm, phục vụ tiêu dùng xã hội (Vuong, Napier, Do, & Vuong, 2016). Tuy nhiên,<br /> khởi nghiệp đòi hỏi sự tích lũy kiến thức và sự sáng tạo, chính sự sáng tạo sẽ giúp<br /> cho người khởi nghiệp thành công (Vuong và ctg., 2016)<br /> Khởi nghiệp kinh doanh nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà<br /> nước thông qua việc ban hành hành lang pháp lý thông qua văn bản quy phạm như<br /> Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”<br /> (Thủ tướng Chính phủ, 2016). Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016 của Chính phủ về<br /> <br /> <br /> 192<br /> hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 (Chính phủ, 2016), Luật hỗ trợ doanh<br /> nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (Quốc hội, 2017)… Ngoài ra, Quyết định số 1665/QĐ-<br /> TTg năm 2017 về việc phê duyệt đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến<br /> năm 2025” đã thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong các cơ sở đào tạo (Chính phủ,<br /> 2017). Đối tượng sinh viên có các ý tưởng khởi nghiệp thường cập nhật các xu thế<br /> mới, tích hợp nhiều công nghệ, phù hợp thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, có thể<br /> thể đến một số sản phẩm nổi trội của các start-up trẻ như GotIt, Toong... Việc lan tỏa<br /> và thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp trong sinh viên tại các trường đại học là hết sức<br /> quan trọng.<br /> Tài chính và huy động vốn là một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các doanh<br /> nghiệp khởi nghiệp. Huy động được nguồn tài chính dồi dào sẽ giúp các ý tưởng khởi<br /> nghiệp được thực hiện thuận lợi hơn. Rất nhiều chương trình thực tế, như “Thương<br /> vụ bạc tỷ - Shark tank”, ra đời đã giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận được<br /> nhà đầu tư. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, các doanh nghiệp khởi nghiệp không<br /> chuyên sâu kiến thức tài chính nên việc thương lượng với nhà đầu tư cũng gặp khó<br /> khăn. Ngoài ra, các thương vụ khởi nghiệp sau quá trình huy động vốn vẫn thất bại<br /> cũng có những nguyên nhân từ nền tảng quản trị tài chính chưa tốt của nhà khởi<br /> nghiệp. Vì thế, đào tạo kiến thức khởi nghiệp, trong đó có kiến thức về huy động vốn<br /> trong khởi nghiệp kinh doanh là hết sức cần thiết cho sinh viên khi hiện thực hóa các<br /> ý tưởng kinh doanh.<br /> Với sự quan trọng của hoạt động khởi nghiệp kinh doanh với đối tượng sinh<br /> viên. Nghiên cứu tìm hiểu về nhận thức của sinh viên đối với hoạt động khởi nghiệp,<br /> cụ thể là hoạt động huy động vốn tại Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Mặc dù<br /> nhà trường đã tổ chức một số buổi tọa đàm như “Sinh viên với tinh thần đổi mới sáng<br /> tạo” (HaUI, 2019b) hay đạt được những thành tựu đáng khích lệ như sinh viên của<br /> CLB SIP HaUI nhận tài trợ từ VinTech City (HaUI, 2019a) nhưng chưa có sự bùng<br /> nổ các hoạt động và dự án về khởi nghiệp từ phía sinh viên. Nghiên cứu này nhằm<br /> cung cấp những bằng chứng cụ thể về sự quan tâm của đối tượng sinh viên về hoạt<br /> động huy động vốn trong quá trình thực hiện khởi nghiệp kinh doanh.<br /> 2. Kinh nghiệm thế giới về khởi nghiệp trong các trường đại học<br /> Khởi nghiệp sáng tạo đang được lan tỏa tại nhiều quốc gia trên thế giới và đã<br /> mang lại nhiều giá trị cho các quốc gia và thế giới. Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo đã<br /> tạo ra sự phát triển thần kỳ cho Israel và Israel đã được biết đến với tên gọi “quốc gia<br /> khởi nghiệp” (Senor & Singer, 2011). Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia cần<br /> đến nhiều yếu tố như các tổ chức hỗ trợ kinh doanh, các quỹ đầu tư giai đoạn ban<br /> đầu, các quỹ đầu tư ở các giai đoạn, các công ty đầu tư khác, các quỹ vườn ươm của<br /> chính phủ… Đây chính là các tác nhân trong hệ sinh thái khởi nghiệp. Tuy nhiên, để<br /> <br /> <br /> 193<br /> hình thành và phát triển các ý tưởng khởi nghiệp thì vai trò của các cơ sở đào tạo, các<br /> trường đại học là rất quan trọng. Kinh nghiệm tại các quốc gia trên thế giới đã chứng<br /> minh cho vai trò không thể thiếu của các trường đại học đối với phát triển hệ sinh thái<br /> khởi nghiệp.<br /> Kinh nghiệm từ nước Đức cho thấy, các doanh nghiệp khởi nghiệp thường tập<br /> trung quanh khu vực của các trường đại học. Đức không chỉ đào tạo tại trường đại<br /> học mà còn nuôi dưỡng các ý tưởng khởi nghiệp cho học sinh với các chương trình<br /> như dự án “Rock it Biz”. Các trường đại học tại Đức là nơi đào tạo ra đội ngũ chuyên<br /> gia trình độ cao, am hiểu. Các dự án nghiên cứu thực tiễn từ các trường đại học đã<br /> tạo ra môi trường cho quá trình đổi mới sáng tạo (Nguyễn Trần Minh Trí, 2019). Tại<br /> Đức có những học bổng cho sinh viên khởi nghiệp đối với các dự án không chỉ mang<br /> lại giá trị kinh tế mà còn các dự án khởi nghiệp mang lại giá trị xã hội (German<br /> Startups Group). Các trường đại học có chính sách công để khuyến khích tinh thần<br /> khởi nghiệp cũng như có nhiệm vụ cụ thể về hoạt động khởi nghiệp. Sự hỗ trợ cho<br /> khởi nghiệp kinh doanh còn thể hiện thông qua chính sách sử dụng miễn phí các<br /> phòng lab, hỗ trợ gọi vốn, lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng mạng lưới kết nối và<br /> đào tạo về xúc tiến thương mại, kế toán. Các môn học về khởi nghiệp đã được dạy<br /> trong các chương trình giảng dạy (ITP, 2018a).<br /> Trong khi đó, kinh nghiệm từ Mỹ cho thấy, thung lũng Silicon, nơi phát triển<br /> công nghệ hàng đầu được đặt cạnh 2 trường đại học hàng đầu là Berkeley và Stanford<br /> đã giúp thu hút nhiều lao động có trình độ cao. Hệ thống pháp luật hiệu quả về bảo<br /> vệ kinh doanh của bang cùng với nhiều quỹ đầu tư lớn được đặt tại thung lũng Silicon<br /> cũng là điều kiện thuận lợi giúp khai thác tốt các nguồn lực, giúp cho các ý tưởng<br /> khởi nghiệp có nhiều cơ hội phát triển, tiếp cận cả nguồn vốn lẫn nguồn nhân lực chất<br /> lượng cao. (Nguyễn Trần Minh Trí, 2019).<br /> Kinh nghiệm thúc đẩy đào tạo và thực hiện khởi nghiệp kinh doanh tại các<br /> trường đại học của Đài Loan cho thấy Chính phủ tạo nhiều hỗ trợ thông qua các<br /> “trung tâm ươm tạo – ICs”. Các trung tâm này sẽ giúp tổ chức, thực hiện các<br /> chương trình nhằm đào tạo kiến thức về khởi nghiệp kinh doanh và các chương<br /> trình cụ thể hỗ trợ cho các dự án khởi nghiệp. Các trung tâm ươm tạo này chủ yếu<br /> là các trường đại học, chiếm 81%. Đài Loan xây dựng chương trình “Đại học<br /> online cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ” để cung cấp thông tin về khởi nghiệp<br /> cho sinh viên một cách miễn phí với hơn 1.100 khóa học, 257 video về các trường<br /> học khởi nghiệp thành công được chia sẻ (ITP, 2018b). Các vườm ươm này cần<br /> phải xây dựng kế hoạch tài chính cụ thể và cạnh tranh với nhau để nhận được sự<br /> hỗ trợ tài chính từ nhà nước, nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cũng như gia tăng tính cạnh<br /> tranh, thúc đầy các vườn ươm.<br /> <br /> <br /> 194<br /> Có thể nói, kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới là rất đa dạng và đặc<br /> trưng riêng của mỗi nước nhằm thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp. Khái quát chung cho<br /> thấy, đào tạo khởi nghiệp tại các trường đại học là yếu tố cần thiết và quan trọng của<br /> hệ sinh thái khởi nghiệp. Đào tạo khởi nghiệp tại các trường đại học giúp cung cấp kiến<br /> thức cho sinh viên về phát hiện ý tưởng, thực hiện các ý tưởng kinh doanh.<br /> Để lan tỏa tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam thì trường đại học chính là nơi<br /> khơi nguồn cho các ý tưởng sáng tạo, nơi cung cấp các kiến thức cần thiết giúp sinh<br /> viên có thể biến các ý tưởng thành các dự án khởi nghiệp. Đào tạo kiến thức toàn diện<br /> về khởi nghiệp kinh doanh sẽ giúp giảm thiểu những rủi ro, thất bại của các dự án<br /> khởi nghiệp.<br /> 3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu<br /> Với vai trò quan trọng của đào tạo khởi nghiệp từ trường đại học. Nghiên<br /> cứu thiết kế để đánh giá về sự quan tâm của sinh viên đối với hoạt động khởi<br /> nghiệp, cụ thể thông qua sự quan tâm đối với hoạt động huy động vốn trong khởi<br /> nghiệp, để có thể thấy được mức độ lan tỏa tinh thần khởi nghiệp trong trường Đại<br /> học. Nghiên cứu thực hiện nghiên cứu tài liệu về kinh nghiệm trên thế giới về đào<br /> tạo và thực hành khởi nghiệp trong các cơ sở đào tạo. Tiếp theo, nghiên cứu thực<br /> hiện khảo sát nhằm khám phá thực trạng kiến thức của sinh viên về huy động vốn<br /> trong khởi nghiệp kinh doanh.<br /> Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua phiếu khảo sát. Phương pháp chọn<br /> mẫu ngẫu nhiên được áp dụng. Nghiên cứu điều tra đối tượng sinh viên tại cơ sở 1, và<br /> cơ sở 2 của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Sau khi thu thập, kết quả tổng hợp lại<br /> và sử dụng excel để phân tích dữ liệu. Bảng hỏi được thiết kế với Sử dụng thang đo<br /> Likert 5 mức độ tăng dần từ: (1) Rất không am hiểu, đến (5) Rất am hiểu.<br /> Nghiên cứu sử dụng phân tích thống kê mô tả giá trị trung bình. Giá trị trung<br /> bình được xác định theo bước nhảy K cho từng mức độ với thang đo Likert 5 mức độ<br /> (Huỳnh Trường Huy & Nguyễn Nhật Khiêm, 2017), cụ thể:<br /> 5-1<br /> K= = 0,8<br /> 5<br /> Với bước nhảy K – 0,8, ý nghĩa của giá trị trung bình thể hiện được xác định<br /> theo từng mức độ gồm:<br /> Rất không am hiểu: 1 ≤ Mean ≤ 1,8<br /> Không am hiểu: 1,8 ≤ Mean ≤ 2,6<br /> Trung bình: 2,6 ≤ Mean ≤ 3,4<br /> Khá am hiểu: 3,4 ≤ Mean ≤ 4,2<br /> Rất am hiểu: 4,2 ≤ Mean ≤ 5,0<br /> <br /> 195<br /> Nghiên cứu thu thập 134 phiếu điều tra từ sinh viên. Dữ liệu nghiên cứu chủ<br /> yếu là sinh viên năm thứ 3 của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Do đặc điểm địa<br /> lý, sinh viên năm thứ nhất học tại cơ sở Hà Nam nên dữ liệu khảo sát không thu thập.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Năm 2 26.9%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Năm 3 67.2%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Năm 4 6.0%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 0.0% 10.0% 20.0% 30.0% 40.0% 50.0% 60.0% 70.0% 80.0%<br /> <br /> <br /> Hình 1: Đặc điểm dữ liệu nghiên cứu<br /> <br /> <br /> Rất quan tâm 11%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Khá quan tâm 46%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Ít quan tâm 32%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Không quan tâm 10%<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Rất không quan tâm 0%<br /> <br /> <br /> 0% 5% 10% 15% 20% 25% 30% 35% 40% 45% 50%<br /> <br /> <br /> Hình 2: Mức độ quan tâm và tần suất cập nhật thông tin khởi nghiệp<br /> <br /> <br /> 196<br /> Trong tổng số sinh viên tham gia khảo sát, tỷ lệ cao các sinh viên (46% khá<br /> quan tâm, 11% rất quan tâm) đến vấn đề khởi nghiệp và huy động vốn tronng khởi<br /> nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, cũng có đến 32% sinh viên ít quan tâm, 10% không<br /> quan tâm đến các hoạt động khởi nghiệp, huy động vốn. Tỷ lệ lớn sinh viên ít quan<br /> tâm đến các hoạt động khởi nghiệp sẽ là rào cản cho việc phát triền và thực hiện<br /> các hoạt động khởi nghiệp ngay trong trường đại học. Cho nên, cần có những giải<br /> pháp khuyến khích, lan tỏa đến sinh viên để làm khơi dậy tinh thần khởi nghiệp.<br /> 4. Kết quả đánh giá của sinh viên về kiến thức huy động vốn trong khởi<br /> nghiệp kinh doanh<br /> Hiện nay, hoạt động khởi nghiệp đã nhận được sự hỗ trợ, khuyến khích từ phía<br /> cơ quan chức năng cũng như mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là đối tượng sinh viên.<br /> Khởi nghiệp cho sinh viên được nhiều cơ sở giáo dục đại học khuyến khích, cũng<br /> như nhận được nhiều sự quan tâm từ phía nhà nước. Trong nghiên cứu này, khởi<br /> nghiệp kinh doanh được khảo sát thông qua đánh giá mức độ quan tâm của sinh viên<br /> liên quan đến huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh. Hoạt động huy động vốn<br /> trong quá trình khởi nghiệp kinh doanh được chia nhỏ gồm (1) Xác định và thuyết<br /> phục các nhà đầu tư, (2) Định giá doanh nghiệp và nhu cầu tài chính, (3) Đàm phám<br /> với các nhà đầu tư, (4) Thực hiện dự án giai đoạn sau đầu tư. Kết quả khảo sát được<br /> tổng hợp và đánh giá dựa trên phân tích giá trị trung bình (Huỳnh Trường Huy &<br /> Nguyễn Nhật Khiêm, 2017) và được trình bày tại bảng 1.<br /> Bảng 1: Tự đánh giá mức độ quan tâm của sinh viên đối với hoạt động huy<br /> động vốn khi thực hiện khởi nghiệp kinh doanh<br /> Giá trị<br /> Mức độ quan tâm trong các hoạt động: Đánh giá<br /> trung bình<br /> Xác định và thuyết phục các nhà đầu tư 3,07 Trung bình<br /> Định giá doanh nghiệp và nhu cầu tài chính 3,04 Trung bình<br /> Đàm phám với các nhà đầu tư 2,82 Trung bình<br /> Thực hiện dự án giai đoạn sau đầu tư 2,72 Trung bình<br /> <br /> Thông qua khảo sát về mức độ quan tâm của sinh viên với 4 hoạt động trong<br /> giai đoạn huy động vốn của quá trình khởi nghiệp kinh doanh, kết quả nghiên cứu<br /> cho thấy mức độ quan tâm của sinh viên còn thấp. Theo thang đo Likert 5 mức độ,<br /> và bước nhảy K = 0,8 thì đánh giá của sinh viên hiện nay chỉ ở mức trung bình.<br /> Kết quả phân tích chi tiết về đánh giá của sinh viên với cho từng hoạt động<br /> được trình bày tại Hình 3.<br /> <br /> <br /> 197<br /> 70%<br /> 63%<br /> 60%<br /> 60%<br /> 53% 54%<br /> 50%<br /> <br /> 40%<br /> 31% 31%<br /> 30%<br /> 20% 19%<br /> 18%<br /> 20% 16% 14%<br /> 9%<br /> 10% 4%<br /> 1% 1% 2% 1% 1% 1%<br /> 0%<br /> 0%<br /> Xác định và thuyết phục Định giá doanh nghiệp và Đàm phám với các nhà Thực hiện dự án giai đoạn<br /> các nhà đầu tư nhu cầu tài chính đầu tư sau đầu tư<br /> <br /> Rất không quan tâm Không quan tâm Ít quan tâm Quan tâm Rất quan tâm<br /> <br /> <br /> Hình 3: Kết quả đánh giá về kiến thức của sinh viên đối với hoạt động<br /> huy động vốn trong quá trình khởi nghiệp kinh doanh<br /> Kết quả Hình 3 cho thấy rằng sinh viên hiện nay thiếu am hiểu các kiến thức<br /> liên quan đến hoạt động huy động vốn trong khởi nghiệp kinh doanh. Tỷ lệ lớn sinh<br /> viên không am hiểu và ít am hiểu các kiến thức về xác định và thuyết phục các nhà<br /> đầu tư, định giá doanh nghiệp và nhu cầu tài chính, đám phán với nhà đầu tư cũng<br /> như thực hiện dự án sau giai đoạn đầu tư. Đây có thể là nguyên nhân của sự thiếu<br /> vắng các dự án khởi nghiệp của sinh viên tại trường đại học. Ngoài ra, đây cũng chính<br /> là nguyên nhân sâu xa dẫn đến các dự án khởi nghiệp trong tương lai có thể bị phá<br /> sản. Để khắc phục vấn đề này thì trước tiên cần phải có sự nhấn mạnh và tập trung<br /> hơn nữa các nội dung về huy động vốn trong các học phần được giảng dạy cho sinh<br /> viên. Từ các kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, các môn học về<br /> khởi nghiệp cần được đưa vào trong chương trình đào tạo. Để nắm bắt cũng như giải<br /> quyết các vướng mắc mà các doanh nghiệp khởi nghiệp hay gặp phải, các trường đại<br /> học có thể hợp tác với các doanh nghiệp khởi nghiệp, các tổ chức tư vấn khởi nghiệp<br /> để giảng dạy cho sinh viên. Điều này sẽ giúp củng cố kiến thức cho sinh viên cũng<br /> như nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, thúc đẩy sự hợp tác<br /> đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp.<br /> Với những kiến thức được giảng dạy, sinh viên cần có thể các hoạt động ngoại<br /> khóa từ phía nhà trường để có thể thực hành các kiến thức đã học. Các hoạt động cụ<br /> thể như cho sinh viên tham gia vào chương trình “Vua bán hàng” cần được nhân rộng<br /> cùng với việc thực hiện nhiều hơn các chương trình tương tự như vậy để sinh viên có<br /> thêm các kỹ năng trong kinh doanh. Thực hiện đồng bộ các hoạt động sẽ giúp củng<br /> cố kiến thức cũng như khả năng vận dụng của sinh viên, giúp khơi nguồn các ý tưởng<br /> và thực hiện các ý tưởng khởi nghiệp từ sinh viên.<br /> <br /> 198<br /> Tóm lại, từ kết quả nghiên cứu có thể thấy, chính bởi sự quan tâm của sinh<br /> viên chưa cao nên hoạt động khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên tại trường Đại học<br /> Công nghiệp chưa có nhiều sự nổi bật. Ngoài ra, mặc dù đã có những chỉ đạo trong<br /> triển khai phát triển hoạt động khởi nghiệp tại Trường nhưng các chưa có sự bùng nổ<br /> trong phong trào khởi nghiệp sáng tạo, không thể kể đến nguyên nhân từ phía Đoàn,<br /> Hội là đầu mối tổ chức, hỗ trợ, thúc đẩy phong trào chưa tổ chức đa dạng các chương<br /> trình. Thêm vào đó, còn thiếu vắng sự hợp tác giữa nhà trường với các tổ chức tư vấn<br /> khởi nghiệp, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp quốc tế và doanh nghiệp để thúc đẩy sinh<br /> viên tham gia khởi nghiệp thành công. Sinh viên đánh giá rằng, chương trình học ít<br /> học phần liên quan đến khởi nghiệp kinh doanh cũng như ít các hoạt động ngoại khóa<br /> giúp cho sinh viên có liên hệ đến khởi nghiệp kinh doanh. Chính vì vậy, phía nhà<br /> trường cũng cần có những hoạt động cụ thể về phía đoàn, hội nhằm giúp sinh viên có<br /> môi trường để cụ thể hóa ý tưởng khởi nghiệp cũng như bồi dưỡng kiến thức về khởi<br /> nghiệp kinh doanh.<br /> 5. Kết luận<br /> Khởi nghiệp kinh doanh là vấn đề được quan tâm nhiều trong thời kỳ cách<br /> mạng công nghiệp 4.0. Các quốc gia phát triển mạnh khởi nghiệp kinh doanh đã mang<br /> lại nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật và kinh tế. Chính vì vậy, cần có sự quan tâm<br /> từ nhiều phía đối với hoạt động này. Khởi nghiệp kinh doanh đã dần đang đi vào các<br /> cơ sở đào tạo đại học. Hoạt động khởi nghiệp đã nhận được nhiều sự quan tâm từ phía<br /> cơ quan chức năng cũng như các thành phần kinh tế. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu<br /> cho thấy sinh viên tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội chưa quan tâm đầy đủ<br /> đến hoạt động khởi nghiệp. Phía nhà trường cần có những chỉ đạo sát sao hơn dành<br /> cho các đề án, các chương trình, dự án khởi nghiệp của sinh viên, các khoa chuyên<br /> môn cần thiết kế bổ sung các học phần cung cấp hành trang cho sinh viên khởi<br /> nghiệp. Ngoài ra, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần tổ chức nhiều chương trình,<br /> tọa đàm hơn nữa giúp lan tỏa tinh thần khởi nghiệp kinh doanh đến đối tượng sinh<br /> viên, giúp sinh viên có ý tưởng khởi nghiệp có thể kết nối với các tổ chức tư vấn và<br /> các đơn vị tài trợ.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> 1. Chính Phủ. (2016). Nghị quyết về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm<br /> 2020. Chính phủ,.<br /> 2. Chính Phủ. (2017). Quyết định số 1665/QĐ-TTg năm 2017 phê duyệt đề án “Hỗ<br /> trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.<br /> 3. German Startups Group. Encouraging entrepreneurship. Retrieved 05/07,<br /> 2019, from http://www.german-startups.com/index.php/csr-en/<br /> <br /> <br /> 199<br /> 4. HaUI. (2019a). Sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nhận tài trợ khởi nghiệp<br /> từ VinTech City. Retrieved 06/09, 2019, from<br /> https://www.haui.edu.vn/vn/page/cthssv/detail/62413<br /> 5. HaUI. (2019b). Tọa đàm “Sinh viên với tinh thần đổi mới sáng tạo”. Retrieved<br /> 04/07, 2019, from https://www.haui.edu.vn/vn/page/dtn/detail/61872<br /> 6. Huỳnh Trường Huy, & Nguyễn Nhật Khiêm. (2017). Chất lượng đào tạo ngành<br /> quản trị kinh doanh của khoa Kinh tế và quản trị kinh doanh, trường Đại học<br /> Cần Thơ: Kết quả đánh giá từ sinh viên ngành quản trị kinh doanh. Tạp chí<br /> Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 27, 91-99.<br /> 7. ITP. (2018a). Phần 6: Kinh nghiệm thúc đẩy khởi nghiệp tại các trường đại học<br /> của Đức. Retrieved 05/07, 2019, from http://www.vnu-itp.edu.vn/vi/tin-<br /> tuc/khoi-nghiep/876-kinh-nghiem-thuc-day-khoi-nghiep-tai-cac-truong-dai-<br /> hoc-cua-duc.html<br /> 8. ITP. (2018b). Phần 8: Kinh nghiệm thúc đẩy khởi nghiệp kinh doanh tại các trường<br /> đại học của Đài Loan. Retrieved 05/07, 2019, from http://www.vnu-itp.edu.vn/vi/tin-<br /> tuc/khoi-nghiep/878-kinh-nghiem-thuc-day-khoi-nghiep-tai-cac-truong-dai-hoc-cua-<br /> dai-loan.html<br /> <br /> 9. Nguyễn Trần Minh Trí. (2019). Kinh nghiệm tạo lập quốc gia khởi nghiệp ở<br /> một số nước. Doanh nghiệp và hội nhập.<br /> 10. Quốc hội. (2017). Luật số 04/2017/QH14, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.<br /> 11. Senor, D., & Singer, S. (2011). Start-up nation: The story of Israel's economic<br /> miracle: Hachette.<br /> 12. Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ<br /> về việc phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc<br /> gia đến năm 2025." (2016).<br /> 13. Vuong, Q. H., Napier, N. K., Do, T. H., & Vuong, T. T. (2016). Creativity and<br /> Entrepreneurial Efforts in an Emerging Economy. Business Creativity and The<br /> Creative Economy, 2(1), 39-50. doi: 10.18536/bcce.2016.10.2.1.04<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 200<br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2