
Nguyễn Thị Thanh Hoa – Trường THPT Lưu Hoàng-Ứng Hòa
1/20
A . ĐẶT VẤN ĐỀ
I-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với tất cả các môn học, các hoạt động khác ở trường phổ thông, lịch
sử không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học lịch
sử mà còn góp phần vào giáo dục thế hệ trẻ, phát triển tư duy và năng lực hành
động cho các em.
Việc đánh giá vai trò, chức năng nhiệm vụ của lịch sử như vậy không quá
mức, vì toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với tiến trình lịch
sử. Quá khứ và hiện tại là một quá trình không thể chia cắt được, chúng ta làm
rõ quá khứ để nhận thức một cách đúng đắn hiện tại và định hướng cho tương
lai. Như vậy với tư cách vừa là một khoa học, một môn học cơ bản ở trường phổ
thông, lịch sử được đặt ở một vị trí quan trọng trong nhà trường.
Lịch sử là những gì đã trải qua, đã diễn ra nó không xảy ra lần thứ hai và
không tái hiện như trước được.Vậy làm thế nào và bằng phương pháp gì để giúp
học sinh có thể hiểu đúng lịch sử, biết cách nhận xét, tổng hợp, đánh giá, so sánh
các sự kiện hiện tượng lịch sử một cách khoa học và khách quan, tránh xuyên
tạc lịch sử, không cảm thấy giờ học lịch sử khô khan và nhàm chán. Đó là một
trong những lí do tôi chọn vấn đề này.
Để nhận thức lịch sử, bao giờ cũng xuất phát từ những sự kiện, do đó giáo
viên phải cung cấp cho các em những sự kiện chuẩn xác trên cơ sở sử dụng các
tài liệu, đồ dùng trực quan và phương pháp dạy học khác khác nhau để tiếp cận
và làm phong phú cho kiến thức. Mỗi một phương pháp sử dụng có đặc điểm,
tác dụng riêng vì thế đòi hỏi người giáo viên khi sử dụng phải có sự chọn lọc,
lựa chọn phương pháp sử dụng cho phù hợp nhằm phát huy hiệu quả bài học.
Trong đó việc dạy học theo hướng phát triển năng lực người học ngày càng
được chú trọng. Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không
chỉ chú ý tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng
lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp,
đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường
việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng
tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo cũng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở
để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực...”
. Đặc biệt với học sinh lớp 10 mới bước vào môi trường THPT có rất nhiều các
sự kiện lịch sử trong từng giai đoạn và ở nhiều thời kì khác nhau khiến cho các
em gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận kiến thức mới. Với một khối lượng
kiến thức lớn như vậy rất nhiều em thấy hoang mang, lo lắng. Nhận thức được ý
nghĩa và tầm quan trong của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực như trên
và rèn luyện để học sinh yêu thích môn lịch sử, không quay lưng với môn học
nên tôi lựa chọn đề tài này với mong muốn giúp cho học sinh, đặc biệt là học
sinh lớp 10 học lịch sử tốt hơn và ngày càng có hứng thú với môn học hơn.

Nguyễn Thị Thanh Hoa – Trường THPT Lưu Hoàng-Ứng Hòa
2/20
II-CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1-Cơ sở phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề
giáo dục.
2-Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phuơng pháp lịch sử và phương pháp logic khi nghiên cứu, sưu
tầm ,chọn lọc tài liệu có liên quan đến đề tài, tiến hành thực nghiệm sư phạm.
III-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU -PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1-Đối tượng nghiên cứu
Đó là quá trình thực hiện việc dạy học theo hướng phát triển năng lực
người học thông qua Bài 11- Lớp 10: “Tây Âu thời hậu kì trung đại” (Tiết 1)
2-Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài này tôi thực hiện ở Bài 11- Lớp 10: “Tây Âu thời hậu kì trung đại”(Tiết 1)
(chương trình chuẩn).
IV .KHẢO SÁT THỰC TẾ TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1- Về kiến thức cơ bản của học sinh.
Mặc dù đã giảng dạy nhiều năm nhưng tôi luôn nhận thấy mình còn nhiều
điều phải học tập, tìm tòi,nghiên cứu đặc biệt là trước sự phát triển, thay đổi
mạnh mẽ của giáo dục trong thời đại 4.0.Với học sinh ở một trường xa trung
tâm thành phố, điều kiện kinh tế còn rất khó khăn vì vậy nó cũng phần nào ảnh
hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Trong năm học 2018-2019 tôi được
phân công giảng dạy ở 8 lớp: 12A4, 12A5, 12A9, 12A10,11A3,10A1, 10A3,
10A4. Qua thực tế áp dụng đề tài ở các lớp tôi dạy trong năm học, tôi thấy chất
lượng của môn học đã được nâng lên đáng kể, điều này khiến tôi vô cùng phấn
khởi và lạc quan.Tuy nhiên ở một số lớp mới tiếp nhận trong năm học, qua khảo
sát thực tế chất lượng đầu năm học thì thấy rằng đa số các em quên nhiều kiến
thức cơ bản, biểu hiện cụ thể bằng việc các em quên cả những sự việc quan
trọng, lẫn lộn giữa các sự kiện. Cũng có một số em nhớ được một số sự kiện
nhưng nhận thức về sự kiện rất mơ hồ và hầu như không thể đưa ra được một
nhận xét hoặc đánh giá xác đáng về sự kiện đó và các em luôn cảm thấy lo lắng
khi phải thi tốt nghiệp môn lịch sử. Điều này khiến cho tôi và các giáo viên dạy
lịch sử trong trường vô cùng trăn trở.
2- Về năng lực tư duy theo đặc trưng bộ môn
Cũng từ khảo sát thực tế các lớp tôi dạy thì nhận thấy có một bộ phận học
sinh đã biết tiếp nhận kiến thức một cách khoa học theo đặc trưng bộ môn.Tuy
nhiên vẫn còn một bộ phận học sinh chỉ tiếp thu một cách thụ động, không có
những hoạt động của tư duy lịch sử để tiếp nhận kiến thức.Học sinh luôn tách
rời các đơn vị kiến thức thành riêng lẻ mà không đặt chúng trong từng bài, từng
chương và từng giai đoạn lịch sử để thấy được vị trí của nó.
- Vẫn còn một bộ phận lớn học sinh các lớp tôi dạy chưa tích cực học tập,
tham gia thảo luận trong học nhóm, ghi chép bài một cách thụ động, không tìm
tòi, đọc thêm các loại sách báo,tài liệu….

Nguyễn Thị Thanh Hoa – Trường THPT Lưu Hoàng-Ứng Hòa
3/20
-Số liệu khảo sát về khả năng khai thác SGK và khai thác các tư liệu tham
khảo phục vụ cho bài học ở hai lớp 10A1 và 10A4 thông qua bài kiểm tra 15
như sau:
Đề bài: Trình bày những thành tựu văn hóa tiêu biểu của các quốc gia cổ
đại Hy Lạp- Rôma. Thành tựu nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Kết quả bài kiểm tra như sau:
Lớp Sĩ số Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5
10A1 44 5 19 20 0
10A4 45 1 15 18 4
Số liệu cho thấy việc khai thác kiến thức SGK và các kiến thức tham khảo của
lớp 10A1 tốt hơn so với 10A4, tuy nhiên kết quả trên còn tương đối hạn chế do
năng lực tự học của học sinh chưa cao.

Nguyễn Thị Thanh Hoa – Trường THPT Lưu Hoàng-Ứng Hòa
4/20
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TÊN ĐỀ TÀI
DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
THÔNG QUA BÀI 11-LỚP 10
“TÂY ÂU THỜI HẬU KÌ TRUNG ĐẠI” (TIẾT 1)
I-TÁC DỤNG, Ý NGHĨA CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ.
Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh những tri thức về
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc
và thế giới. Vì vậy, kiến thức lịch sử không chỉ liên quan đến tri thức về khoa
học xã hội mà cả về khoa học tự nhiên. Do đó đòi hỏi cả giáo viên và học sinh
đều cần có sự chủ động và sáng tạo trong việc truyền thụ tri thức và tiếp nhận tri
thức. Có như vậy, học sinh nắm kiến thức mới vững chắc và việc giáo dục tư
tưởng thông qua môn học mới có kết quả. Vì vậy việc dạy học theo định hướng
phát triển năng lực có những tác dụng rõ rệt:
- Dạy học định hướng năng lực lựa chọn những nội dung lịch sử nhằm đạt được kết
quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định
những nội dung chính, quan trọng trong khóa trình lịch sử mà không sa vào những chi
tiết kiến thức vụn vặt. Mỗi đơn vị kiến thức trong giờ học học sinh được tiếp cận ở nhiều
mức độ khác nhau đó là: Trong tình huống có vấn đề mà giáo viên đặt ra đầu giờ học,
trong hoạt động hình thành kiến thức, trong hoạt động luyện tập và trong hoạt động vận
dụng những kiến thức đó để giải quyết các vấn đề có liên quan.
-Dạy học định hướng năng lực phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng học sinh, khắc phục được
tình trạng học một cách “thụ động.
-Bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh
-Nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục
truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng
thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội
-Hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu,
định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,
năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả
năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.
II. XÁC ĐỊNH CÁC NĂNG LỰC HỌC SINH CẦN ĐẠT CỦA MÔN
LỊCH SỬ CẤP THPT
1. Xác định các năng lực học sinh chung trong môn lịch sử.
a)Năng lực tự học: Kĩ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư
liệu để tự tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình
- Đọc và phát hiện kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa lịch sử
- Khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua tài liệu tham khảo
- Kĩ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng với tự ghi chép

Nguyễn Thị Thanh Hoa – Trường THPT Lưu Hoàng-Ứng Hòa
5/20
- Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi
- Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng cố kiến thức.
b) Năng lực giải quyết vấn đề:
- Kĩ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử
- Khả năng vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử
- Kĩ năng đưa ra được cách thức câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra
- Kĩ năng lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề lịch sử, vấn đề, tình huống
thực tiễn một cách tối ưu
- Kĩ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận đánh, chiến dịch, cuộc
chiến tranh trên lược đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử
- Kĩ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết những vấn đề thực tiễn của
cuộc sống, hay các vấn đề thời sự đang diễn ra ở trong nước và thế giới
- Kĩ năng xác định và giải quyết được mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự
kiện lịch sử với nhau.
c) Năng lực sáng tạo (Năng lực tư duy):
- Tư duy tái tạo (Kĩ năng ghi nhớ sự kiện; Tưởng tượng; Kĩ năng tái tạo..)
- Tư duy sáng tạo (Kĩ năng so sánh; Kĩ năng phân tích; Kĩ năng phản biện; Kĩ
năng khái quát hóa....)
- Kĩ năng trả lời câu hỏi, bài tập lịch sử một sáng tạo
- Kĩ năng nhận xét, rút ra bài học kinh nghiệm từ những sự kiện, hiện tượng,
nhân vật, vấn đề lịch sử.
d) Năng lực giao tiếp:
- Khả năng sử dụng được ngôn ngữ lịch sử để trình bày một nội dung kiến thức
- Diễn đạt được ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì, tránh hiện đại hóa lịch sử.
- Sử dụng ngôn ngữ để để biểu cảm và tái hiện cảm xúc lịch sử.
e) Năng lực hợp tác, hội nhập:
- Kĩ năng làm việc theo nhóm, tập thể để giải quyết một nhiệm vụ học tập
- Kĩ năng chia sẻ thông tin lịch sử
f) Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT):
- Kĩ năng khai thác Internet (thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu...)
để tìm kiếm nội dung kiến thức lịch sử
- Kĩ năng sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ tư duy, Powerpoint trình để
trình bày nội dung lịch sử
g)Năng lực sử dụng ngôn ngữ:
- Kĩ năng trình bày, lập luận, thể hiện chính kiến của mình về một nội dung kiến
thức lịch sử bằng ngôn ngữ viết
- Kĩ năng thuyết trình bằng lời nội dung kiến thức lịch sử
h) Năng lực tính toán:
Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ môn Lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ
thị lịch sử
2.Các năng lực cụ thể cần được chú trọng hình thành và phát triển cho
HS trong môn Lịch sử ở cấp THPT.
a) Tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử:

