397
ĐỘNG LC VÀ RÀO CN ÁP DNG MARKETING XANH
ĐỐI VI CÁC DOANH NGHIP
PGS.TS. Vũ Trí Dũng
TS. Phạm Hồng Hoa
ThS. Phạm Thị Kim Thanh
Trường Đại học inh tế Quốc d n
T M TẮT
Mục đích chính của nghiên cứu này là tổng quan các nghiên cứu lý thuyết về Marketing xanh
- triết lý Marketing phục vụ khách hàng đồng thời hướng đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên và hệ
sinh thái toàn cầu. Xuất phát từ thực tế rằng nhiều tổ chức hay doanh nghiệp đã nghe nói đến
Marketing xanh hiểu rằng tốt cho môi trường, nhưng không sẵn sàng vận dụng nó, với rất
nhiều do được nêu ra. Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tìm hiểu các động lực thúc
đẩy các rào cản cản trở các doanh nghiệp áp dụng triết này. Phương pháp nghiên cứu được
thực hiện nghiên cứu tại bàn, bắt đầu với việc tìm hiểu nội hàm khái niệm các quan điểm tiếp
cận khái niệm Marketing xanh. Tiếp đó, nhóm tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu lý thuyết
có liên quan đến chủ đề và mục đích nghiên cứu, nhằm có cái nhìn tổng quát về sự ra đời, phát triển
hoặc thay đổi của trong các bối cảnh tương ứng. Nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc tổng quan
lý thuyết để làm tiền đề gợi mở và phát triển các nghiên cứu thực tiễn tiếp theo sau này.
Từ khóa: Marketing xanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
ABSTRACTS
The main purpose of this study is to review the theoretical research on Green Marketing - the
philosophy to serve customers at the same time towards the protection of the natural environment
and the global ecosystem. With the fact that many organizations or businesses have heard of green
marketing and understand that it is good for the environment, but they are not ready to use it, for
many reasons. This study is conducted with the aim of understanding the drivers and barriers that
prevent businesses from adopting this philosophy. The method of the study is desk research, starting
with finding and understanding the conceptual connotation and the concept of the Green Marketing
approach. Next, the authors review the theoretical works related to the research‟s topic and purpose,
in order to have an overview of its development or change in relevant contexts. This research just
stops at the theoretical review to serve as a premise to suggest and develop the practical research in
the future.
Keywords: Green marketing, corporate social responsibility
1. MARKETING XANH
Marketing xanh mt ch đề nghiên cu bắt đầu được các hc gi trên thế gii quan tâm t
gia những năm 1970. Năm 1975, Hiệp hi Marketing Hoa K t chc hi tho lần đầu tiên v
marketing sinh thái (ecological marketing). Các k yếu ca hi tho này sau đó được Henion
Kinnear biên son thành cuốn sách đầu tiên v ch đề này tiêu đề Ecological Marketing
(Marketing Sinh thái) và xut bản vào năm 1976.
398
Mặc dù được gii thiu t gia những năm 1970, nhưng phải đến cui những năm 1980 quan
nim v marketing xanh mi thc s đưc quan tâm, do đến giai đoạn này người tiêu dùng mi
quan tâm nhiu ti sn phm xanh, nâng cao nhn thc sn sàng chi tr cho đặc tính xanh ca
sn phm. Bên cnh ý thc bo v môi trường của người tiêu dùng, t cui những năm 1980, vấn đề
phát trin bn vững” tr thành mối quan tâm hàng đầu ca quc tế chính ph các nước trong
vic hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài trong đó lồng ghép s hài hòa gia kinh tế, phát
trin xã hi cùng vi bo v môi trường.
Theo Peattie (2005), s tiến trin ca marketing xanh tri qua t năm 1975 đến nay ba giai
đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên, các hc gi s dng thut ng Marketing sinh thái” (ecological
Marketing) đ t v Marketing xanh (Ottman, 1998). Trong giai đon này, Marketing xanh bao
gm tt c các hoạt động nhm h tr và khc phc các vấn đề môi trường. Sang giai đoạn th hai,
thut ng Marketing môi trường” (environmental Marketing) đưc s dụng để t Marketing
xanh (Coddington, 1993). Sang giai đoạn này, quan nim v marketing xanh chuyn sang chú trng
ti các công ngh sạch liên quan đến thiết kế đổi mi sn phm sao cho gim thiu vấn đề ô
nhiễm môi trường rác thải. Trong giai đoạn th ba (t cui những năm 1990), thuật ng “bn
vững” (sustainable) được s dụng để t v marketing xanh (Fuller, 1999). Ủy ban Môi trường
Phát trin Thế giới định nghĩa thuật ng “phát triển bn vững” trong Báo cáo Brundtland năm
1987 là: “S phát trin th đáp ứng được nhng nhu cu hin ti không ảnh hưởng, tn hi
đến nhng kh năng đáp ứng nhu cu ca các thế h tương lai.
Quan điểm phát trin bn vng nhn mnh rng bo v môi trường không nghĩa ph
nhn s thịnh vượng kinh tế quan đim này khuyến khích duy lại v cách chúng ta tham gia
vào hoạt động marketing.
Xut phát t nhiều quan điểm v hội, môi trường, marketing bán hàng, các hc gi đã
đưa ra nhiều khái nim khác nhau v marketing. Các khái nim này, do xut phát t nhiu quan
điểm khác nhau, nên có nhiu s khác bit. Mt s khái nim v Marketing xanh được s dng ph
biến bao gm:
Khái nim v Marketing xanh đầu tiên được gii thiu trong cun sách Marketing Sinh thái
ca Henion Kinnear (1976) vic thc hiện các chương trình marketing hướng đến các đoạn
th trường quan tâm đến môi trường”.
Theo khái nim trên ca Henion và Kinnear, hoạt động Marketing xanh ca doanh nghip tp
trung vào các nhóm khách hàng “xanh”, những khách hàng có tư tưởng ng h tư tưởng sinh thái.
Hip hi Marketing Hoa K (AMA) tng kết ba định nghĩa về marketing xanh t ba quan
điểm khác nhau:
- Marketing xanh marketing các sn phẩm được gi định an toàn cho môi trường (Quan
điểm bán l).
- Marketing xanh là s phát trin và marketing các sn phẩm được thiết kế để ti thiu hóa tác
động tiêu cc tới môi trường t nhiên hoặc để ci thiện môi trường t nhiên (Quan điểm marketing
đạo đức xã hi).
- Marketing xanh các n lc ca t chc nhm sn xut, xúc tiến, đóng gói tái chế sn
phm theo cách thích ng vi các lo ngi v sinh thái (Quan điểm môi trường).
399
Mintu và Lozada (1993) định nghĩa “Marketing xanh là vic ng dng các công c marketing
nhm tạo điều kiện cho trao đổi để tha mãn các mc tiêu ca nhân và t chc theo cách bo
t n, duy trì và bo v môi trường.
Polonsky (1994) quan niệm: Marketing xanh bao g m các hoạt động nhm to ra h tr
bt k trao đổi nào nhm tha mãn nhu cu mong mun của con người theo cách s tha mãn
nhu cu và mong muốn đó có tác động ti thiu tới môi trường t nhiên.
Fuller (1999) định nghĩa: Marketing xanh quá trình lp kế hoch, t chc thc hin
kiểm soát, định giá, xúc tiến phân phi các sn phm theo cách tha mãn ba tiêu chun sau: (1)
đáp ứng nhu cu của khách hàng, (2) đạt được các mc tiêu ca t chc, và (3) quá trình trên phi
tương thích với h sinh thái.
Mc nhiu s khác biệt nhưng các khái niệm v Marketing xanh thng nht rng
Marketing xanh tp trung vào xem xét các hoạt động marketing s dng các ngun lc t nhiên
hạn như thế nào trong khi tha mãn nhu cu và mong mun ca khách hàng bao gm c khách hàng
nhân t chức, đng thời đạt được mc tiêu ca t chc. Nhiu hc gi xếp Marketing xanh
thuc quan nim Marketing đạo đức - xã hi, ng dng các công c ca marketing truyn thng cho
các vấn đề xã hội, môi trường và văn hóa (Peattie và các cộng s, 2005; Polonsky, 1995).
Theo Ottman và các cng s (2006), Marketing xanh cần đạt được hai mc tiêu: ci thin cht
ợng môi trường tha mãn nhu cu khách hàng. Nếu đánh giá sai một trong hai mc tiêu trên
hoc quá nhn mnh vào mc tiêu ci thin chất lượng môi trường mà không chú trng ti mc tiêu
tha mãn nhu cu khách hàng thì doanh nghip s rơi vào căn bệnh “thiển cn Marketing xanh”.
Polonsky (1994) ghi nhn rng trong thc tế, phn lớn người tiêu dùng cũng như các doanh
nghip nhìn nhn Marketing xanh như là một hoạt động truyền thông cho các đặc tính xanh ca sn
phm. Chiến lược Marketing xanh ca nhiu công ty tht bi do các công ty này s dng yếu t môi
trường để truyn thông ch không phải đ phân tích, thay đổi các đặc tính ca sn phm cũng như
các tác động môi trường ca chúng. Nghiên cu ca Mintel (1995) cũng chỉ ra rng có mt khong
cách ln gia quan tâm tới môi trường thc s mua các sn phẩm “xanh”. Trên thực tế, người
tiêu dùng không luôn sẵn lòng đánh đổi gia giá c, chất lượng s thun tin khi quyết định
mua sn phm “xanh” hay không. nhng do trên, s bùng n ca Marketing xanh t cui
những năm 1980 đu những năm 1990 xu hướng chng lại sau đó (Peattie Crane, 2005).
Các doanh nghiệp cũng cẩn trọng hơn trong việc tung ra các chiến dch truyền thông “xanh” do lo
ngi s b hiu lm là dùng yếu t “xanh” để đánh bóng hình nh ca doanh nghip thay thc s
thân thin với môi trường.
Tuy nhiên, các nghiên cu sau này v Marketing xanh c trong lý thuyết ln thc tin ng dng
đã có những phát trin mnh m. xúc tiến hn hp vẫn được đánh giá là ng cụ quan trng nht
trong Marketing xanh, được s dụng để truyn tải các thông điệp nhm khuyến khích khách hàng tr
nên “xanh” hơn. Nhưng bên cạnh đó, các nghiên cứu v chiến lược sn phm xanh, phân phi xanh
hay định giá xanh cũng rất phát trin. Sn phẩm xanh, hay còn được gi sn phm thân thin vi
i trường hoc sn phm ý thc môi trường (Tseng, S., Hung, S., 2013), đều được hiu các sn
phẩm được thiết kế nhm gim thiu tác động lên yếu t môi trường trong toàn b vòng đời ca
(Albino, V., Balice, A. Dangelico, R.M., 2009), S gim thiu đó được th hin trong nhiu khía
cnh như gim thiu s dng tài nguyên không tái tạo được hoc nguyên liu độc hại gia tăng sử
dng i nguyên th tái to (Robert, 1995; Albino, V., Balice, A. Dangelico, R.M., 2009).
400
Ottman (1998; Davari, A., Strutton, D, 2014) khẳng định rng, sn phm xanh sc bn cao ít
độc hại hơn do nguồn gc t các vt liu d tái chế. Mt chiến lược sn phẩm xanh thường bao
gm các hoạt động như là tái chế, i s dng; hoc gim vt liu chế to, gim vt liệu đóng gói, gia
tăng sức bn sn phm trong s dng quá trình phân phi (Kinoti, 2011; Davari, A., Strutton,
D., 2014). Giá xanh được định nghĩa các mức giá được đặt ra cho các sn phm xanh th
được s nhy cm v giá ca người tiêu dùng, khiến h sn lòng chi tr nhiều hơn cho các thuc tính
xanh ca sn phm (Grove các cng s, 1996; Dangelico, R. M., Vocalelli, D., 2017). Khon phí
tri này là hoàn toàn cn thiết khi Peattie và Crane (2005) nhn thy vic sn xut sn phm xanh phi
s dng nguyên liu phương thức sn xuất chi phí cao hơn sản phm truyn thống, cũng như
vic gánh chu các loi thuế môi trường ngày càng gia tăng. Nghiên cứu v chiến lược giá xanh trong
mt thp k qua đã ghi nhn nhiu gtr thuyết mi th áp dng vào thc tin ca doanh
nghiệp. Theo Essoussi Linton (2010), người tiêu dùng xu hướng sn lòng chi tr n cho một
sn phm xanh; tuy nhiên, loi sn phm các li ích th nhận được t sn phẩm đó sẽ nh
hưởng đến mức độ sn sàng chi tr u trên. Việc định giá sn phm xanh thường cao hơn, do doanh
nghip phi thuyết phc khách hàng rng nhng chi phí vượt trội đó sẽ mang đến giá tr cho chính
i trường và các thế h tương lai (Chan, H. K., He, H. Yang, W. Y. C., 2012). Phân phối xanh đ
cp đến các chiến thut qun liên quan đến phân b hàng hóa xanh, t sn xuất đến tiêu th
logistic thu hi (Davari, A., Strutton, D., 2014). Thc tế, có rt ít ngưi dùng n lc tìm kiếm mt sn
phm mục tiêu xanh hơn (Guyader, H., Ottosson, M. Witell, L., 2017) do đó, vic làm thế nào
đâu để sn phm xanh luôn có sẵn là chìa khóa đ tn ti ca mt doanh nghip. Người tiêu dùng
phi liên tục được tiếp xúc vi các sn phm xanh trên toàn khu vc th trường. Trên thế gii, nghiên
cu v phân phi xanh đã ghi nhận được rt nhiu kết qu kh quan. Esmaili Fazeli (2015;
Dangelico, R. M., Vocalelli, D., 2017) tin rằng Internet đóng vai trò chính trong phân phi xanh. Theo
quan sát ca Dangelico Vocalelli (2017), các hoạt động như giảm s dng bao bì, s dng các h
thng giao thông tích hp, Internet hoc các thiết b ơng tự khác đã làm giảm tác động môi trường
ca giao thông vn ti; tuy nhiên, tiến b quan trng nht trong chính sách phân phi xanh bt ngun
t vic s dng hình logistic thu hi (Polonsky, M.J. Rosenberger, P.J., 2001). Nhận định này
được minh chng khi ba trong s các ng trình v qun tr phân phối xanh đã nghiên cứu v
hình logistic thu hi. Nhiu tác gi đã làm rõ về vic áp dng chiến lược phân phi xanh gn lin vi
hình logistic thu hi s đem đến rt nhiu li ích tích cc cho bài toán qun tr ca doanh nghip
(Dangelico, R. M., Vocalelli, D., 2017). C th, Lee và Lam (2012) nhn mnh rng mô hình logistic
thu hi th được coi công c đắc lc giúp doanh nghip tiết kim chi phí, tiết kim thi gian,
tăng doanh thu, giảm chi phí lưu kho, quản lý hàng không tt hơn, giảm tn kho và cung cp dch v
tốt hơn cho khách. n cạnh đó, như đã đề cp trên, vi các đặc tính riêng bit ca mình, bán sn
phm xanh không giống nhưn sn phm truyn thống. Vì lý do này, người làm công tác Marketing
xanh s qun lý các sn phm t nơi sản xuất đến điểm bán hàng và cuối cùng là đến tay khách hàng,
nhm ci thin hiu sut phân phi mc cao nht (Tomasin và cộng sự, 2013).
2. ĐỘNG LỰC TH C ĐẨ ÁP DỤNG MARKETING XANH
Các nghiên cứu trước đây đã tổng kết năm nguyên nhân chính thúc đy ng dng Marketing
xanh trong doanh nghip. Th nht, các doanh nghip nhn thc rng Marketing xanh là một cơ hội
để đạt được các mc tiêu ca t chc (Keller, 1987; Shearer, 1990). Th hai, các t chc cho rng
h cn phi trách nhim hi (Davis, 1992; Freeman and Liedtka, 1991; Keller, 1987;
McIntosh, 1990; Shearer, 1990). Th ba, chính ph các nước buc các doanh nghip phi trách
401
nhiệm hơn với môi trưng (NAAG, 1990). Th tư, các hoạt động Marketing xanh của đối th cnh
tranh cũng tạo áp lc cho doanh nghip phải thay đổi hoạt động marketing ca mình (NAAG,
1990). Th năm, các chi phí liên quan đến x lý cht thi, s ct giảm năng lượng và nguyên liu s
dụng đã khiến các doanh nghip phải thay đổi hành vi ca mình (Azzone và Manzini, 1994).
(1) Nhn thc ca doanh nghip v vai trò ca Marketing xanh trong vic thc hin các
mc tiêu ca t chc
Các nhà quản trị chiến lược doanh nghiệp nhận thấy nhiều lợi ích từ việc áp dụng Marketing
xanh khác (Robert Dahlstrom, 2011). Trước hết, các công ty kết hợp ý thức sinh thái vào các tuyên
bố sứ mệnh và chiến lược nhằm nâng cao hình ảnh của họ với người tiêu dùng, nhân viên, nhà đầu
tư, công ty bảo hiểm công chúng. Một số người tiêu dùng niềm yêu thích mạnh mẽ đối với
các sản phẩm xanh việc tiếp cận thị trường với trọng m sinh thái snâng cao hình ảnh của
thương hiệu đối với những người tiêu dùng này. Tiếp đến, Marketing xanh một số tác động đối
với lực lượng lao động. Nhân viên tiềm năng có thể quyết định tham gia phỏng vấn với một công ty
dựa trên hình ảnh môi trường của công ty. Hình ảnh công ty cũng có ảnh hưởng nhiều hơn đến hành
động của nhân viên sau khi tuyển dụng thông qua mức độ cam kết gắn cải tiến năng suất của
họ. Hơn nữa, Marketing xanh tạo thuận lợi cho việc huy động vốn. Khi chi phí nhiên liệu tăng
phát thải khí nhà kính leo thang, các nhà đầu bị thu hút bởi các công ty ý thức về môi trường.
Marketing xanh cũng cung cấp một con đường chiến lược cho phép các công ty phát triển liên minh
với các nhóm lợi ích bên ngoài tổ chức (chính phủ, cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính
phủ, các chuyên gia trong ngành và đối thủ cạnh tranh). Marketing xanh cũng cho phép các công ty
xác định lại thị trường.
Từ cuối những năm 1980, người tiêu dùng toàn cầu, đặc biệt là tại các nước phát triển, bắt đầu
quan tâm đến môi trường và đặc tính xanh của sản phẩm. Điều tra người tiêu dùng năm 1992 tại 16
nước cho thấy, trên 50% người tiêu dùng được điều tra cho biết họ quan tâm tới vấn đề môi trường.
Khi nhu cầu của người tiêu dùng thay đổi theo xu hướng quan tâm tới môi trường thay đổi thói
quen tiêu dùng, thị trường cho các sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ ngày càng mở rộng. Thị
trường cho các sản phẩm “xanh” được dự báo sẽ tăng lên 3,5 nghìn tỷ USD o năm 2017
(Global Industry nalytsts, Inc., 2011). Các doanh nghiệp nhìn nhận sthay đổi trong nhu cầu
khách hàng và sự tăng trưởng của thị trường các sản phẩm thân thiện với môi trường là cơ hội để có
khai thác (Polonsky, 1994). Yếu tố thân thiện với môi trường sẽ là một lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp trong trường hợp các điều kiện khác như chất lượng, giá bán, hiệu suất, tính sẵn của sản
phẩm là tương đương với các đối thủ cạnh tranh.
Marketing xanh khuyến khích sản xuất tiêu dùng sản phẩm xanh với những đặc trưng sau:
thể tái chế, tái sử dụng phân hủy sinh học; nguyên liệu sản xuất nguồn gốc tnhiên; bao
gói thể tái chế, tái sử dụng; không độc hại cho người sử dụng; không gây hại hoặc gây ô nhiễm
môi trường. Các thuộc tính xanh hiếm khi tự đứng vững và phải bổ sung các lợi ích khác để gia tăng
giá trị tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm. Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm xanh cho phép người
sản xuất nhà phân phối tạo ra skhác biệt sản phẩm, đồng thời, cho phép người tiêu dùng tận
dụng thành quả của công nghệ mới nhất. Các sản phẩm xanh khả năng thành công cao hơn khi
lợi ích môi trường làm tăng đánh giá giá trị của người tiêu dùng. Các sản phẩm xanh đồng thời góp
phần cải thiện chất lượng môi trường và làm tăng sự hài lòng của khách hàng. Marketing xanh thúc
đẩy các nhà sản xuất phân phối đánh giá lại bao sản phẩm. Bao bảo vệ sản phẩm trong quá