
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
TRONG CHƯƠNG TRÌNH VNEN
Lệ Thuỷ, tháng 5 năm 2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
TRONG CHƯƠNG TRÌNH VNEN
Họ và tên: Lê Thị Mĩ Lệ
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Thủy
Lệ Thuỷ, tháng 5 năm 2018

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến:
“Giáo dục một người là đào luyện họ có thể đối đầu với mọi hoàn cảnh”
(Danh ngôn khuyết danh). Cuộc sống càng ngày càng phát triển và đầy những khó
khăn, thử thách còn trẻ em thì như một tờ giấy mỏng manh, nếu không bồi đắp cho
chúng thêm cứng cáp thì sợ rằng chúng sẽ tan chảy giữa dòng đời này. Đó là điều
mà mỗi một giáo viên luôn phải tự nhắc nhở mình. Bởi vậy, giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh, đặc biệt học sinh Tiểu học là rất thiết yếu.
Bậc học tiểu học là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho học sinh phát triển học
tiếp các bậc học tiếp theo, vì vậy bên cạnh việc trang bị cho học sinh những vốn
kiến thức kĩ năng cơ bản trong học tập, lao động còn cần phải chú ý đến việc rèn kĩ
năng sống cho học sinh, dạy học sinh cách “làm người”, để học sinh có thêm vốn
kinh nghiệm thích ứng với môi trường mới, yêu cầu mới.
Rèn kĩ năng sống cho học sinh giúp cho học sinh thích ứng được với môi
trường xã hội, tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống như vấn
đề sức khoẻ, môi trường, tệ nạn xã hội,... để các em có thể tự tin, chủ động không
bị quá phụ thuộc vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình, tự đem lại lợi ích
chính đáng, điều kiện thuận lợi cho bản thân mình rèn luyện, học tập phấn đấu
vươn lên.
Trước đây, nền giáo dục của Việt Nam chỉ tập trung vào việc truyền thụ kiến
thức cho học sinh. Học chỉ để làm giàu thêm vốn kiến thức cho bản thân mình. Còn
lại kĩ năng sống thì tự bản thân các em phải tiếp xúc với kho kiến thức vô hạn đó là
cuộc sống. Trong những năm trở lại đây, giáo dục phổ thông đã và đang từng bước
đổi mới theo hướng từ chủ yếu trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần
thiết cho các em học sinh. Ngoài việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua
một số tiết học cụ thể thì việc giáo dục kĩ năng sống được tích hợp trong nhiều môn
học, trong đó có môn Tiếng Việt. Giáo dục kĩ năng sống qua môn Tiếng Việt có
nhiều thuận lợi vì bản thân nội dung bài học đã buộc học sinh phải vận dụng rất
nhiều kĩ năng ( Tư duy sáng tạo, xúc cảm, trình bày suy nghĩ, giải quyết vấn đề,...)
Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này nhưng kĩ năng sống phụ thuộc
vào điều kiện và hoàn cảnh sống. Có những phương pháp thì phù hợp với học sinh
ở vùng miền này, nhưng cũng có những phương pháp không áp dụng được cho
vùng miền khác. Chính vì vậy, với sự trăn trở của một nhà giáo ở vùng quê bán sơn
địa đã thôi thúc tôi tìm hiểu và nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Qua một năm thử nghiệm có hiệu quả, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: Một số biện
pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Tiếng Việt lớp
4 trong chương trình VNEN.

2. Điểm mới của sáng kiến:
Điểm mới của đề tài chính là đi sâu vào môn Tiếng Việt lớp 4 chứ không
phải tràn lan ra ở nhiều môn học. Một điểm khác biệt nữa là sáng kiến này chỉ áp
dụng cho chương trình giảng dạy theo mô hình VNEN. Vì từ trước đến nay, nhiều
tài liệu cũng có đề cập đến vấn đề này nhưng nó chỉ phù hợp với chương trình giáo
dục hiện hành.
3. Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông
qua dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 trong chương trình VNEN.” được áp dụng đối
với học sinh lớp 4 học theo mô hình VNEN. Đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn.

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 4, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao.
Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có
nhận xét đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô
chuẩn mực.
Sau khi tiến hành khảo sát lớp 4C đầu năm học với nội dung “kĩ năng của
em” tôi thu được kết quả như sau:
Tổng số học
sinh
Kĩ năng tốt Có hình thành kĩ năng Kĩ năng chưa tốt
SL % SL % SL %
28 10 35.7 11 39.3 7 25.0
Tổng số
học sinh
Thực hành thảo luận nhóm
Biết cách lắng nghe, hợp tác
Chưa biết cách lắng nghe, hay tách ra
khỏi nhóm
SL % SL %
28 15 53.6 13 46.4
Tổng số
học sinh
Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể
Biết cách ứng xử hài hòa, khá
phù hợp. Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi.
SL % SL %
28 18 64.3 10 35.7
Về tổng hợp năng lực, phẩm chất đầu năm như sau:
SL
Mức
đạt
được
Năng lực Phẩm chất
Tự phục
vụ, tự
quản
Hợp tác Tự học,
GQVĐ
Chăm
học,
chăm làm
Tự tin,
trách
nhiệm
Trung
thực, kỉ
luật
Đoàn kết
, yêu
thương
SL
% SL
% SL
% SL
% SL
% SL
% SL
%
28 Tốt 16 57,2 16 57,2 16 57,2 16 57,2 18 64,3 16 57,2 16 35,7
28 Đạt 9 32,1 9 32,1 9 32,1 9 32,1 7 25,0 9 32,1 10 57,2
28 Chưa
đạt
3 10,7 3 10,7 3 10,7 3 10,7 3 10,7 3 10,7 2 7,1
Học sinh thể hiện kĩ năng còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng bản
thân. Trong giao tiếp nhiều khi còn nói trống không, chưa lịch sự, chưa phản ứng,
đối đáp nhanh. Học sinh ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tòi của học sinh
còn hạn chế. Chính vì thế khả năng tiếp thu và lĩnh hội kiến thức còn chậm.

