
Giao tranh giữa Ai Cập & Israel ở Sinai
Các đơn vị của Ai Cập sẽ không vượt ra ngoài dải đất nông do lo sợ mất sự bảo
vệ của các khẩu đội tên lửa đất đối không SAM, được đặt ở bờ phía Tây của kênh
đào. Trong cuộc chiến Sáu Ngày, không quân Israel tấn công liên hồi vào các đội
quân Arab không có sự phòng vệ. Ai Cập (và Syria) đã có những công sự đồ sộ
bên phía mình tại ranh giới ngừng bắn, với các khẩu đội tên lửa SAM do Liên Xô
cung cấp, để chống lại không quân Israel vốn không có biện pháp đối phó hiệu quả.
Israel, vốn đầu tư nhiều vào ngân sách quốc phòng, xây dựng lực lượng không
quân mạnh nhất khu vực, sẽ thấy không quân của họ trở thành vô dụng bởi sự có
mặt của tên lửa SAM.
Lường trước được một cuộc phản công bằng thiết giáp của Israel, Ai Cập đã
trang bị với một số lượng chưa từng thấy những vũ khí chống tăng xách tay –
những khẩu súng phóng lựu chống tăng phản lực (RPG) và tên lửa điều khiển
Sagger tân tiến hơn, những thứ đã chứng tỏ sự tàn phá đối với các cuộc phản công
bằng thiết giáp đầu tiên của Israel. Mỗi nhóm 3 người lính Ai Cập có một vũ khí
chống tăng. “Chưa bao giờ mà hỏa lực chống tăng mạnh mẽ như vậy lại được
mang ra chiến trường”. Thêm vào đó, bờ dốc phía Ai Cập cạnh kênh đào cũng
được tăng cường gấp đôi độ cao so với bên Israel, tạo cho họ một vị trí thuận lợi
tuyệt vời để bắn xuống người Do Thái, cũng như bất cứ sự tiếp cận nào của xe
tăng. Quy mô và hiệu quả về chiến thuật của người Ai Cập trong việc triển khai
những vũ khí chống tăng này kết hợp với sự bất lực của người Israel trong việc hỗ
trợ trên không tầm gần (bởi lá chắn tên lửa SAM) đã góp phần rất lớn trong những
thất bại của Israel đầu cuộc chiến.

Quân đội Ai Cập đã nỗ lực lớn trong việc tìm một cách nhanh chóng và hiệu
quả để chọc thủng phòng tuyến của Israel. Người Do Thái đã xây dựng những
chướng ngại vật lớn cao 18m được làm chủ yếu từ cát. Công binh Ai Cập lúc đầu
đã dùng thuốc nổ để dọn sạch những trở ngại này, trước khi một sỹ quan cấp thấp
đề xuất việc sử dụng vòi rồng phun nước áp suất cao. Ý kiến này được thử nghiệm
và nhận thấy là đúng đắn, và vài vòi rồng đã được nhập khẩu từ Đông Đức. Lực
lượng Ai Cập đã dùng những vòi rồng này phun nước từ kênh đào Suez. Vòi rồng
đã thực sự có hiệu quả trong việc phá vỡ các chướng ngại vật.
Vào 2h05 chiều, một cuộc tấn công đường không lớn bao gồm 220-250 chiến
đấu cơ Ai Cập vào 3 căn cứ không quân và sân bay, 10 điểm đặt tên lửa đất đối
không Hawk, những đồn chỉ huy chính, trung tâm điện, trạm rada, 2 vị trí pháo
binh tầm xa, và một công sự ở đông cảng Fuad. Bộ tư lệnh Ai Cập ước tính rằng
các phi công của không quân Ai Cập đã hoàn thành 95% nhiệm vụ với dưới 5%
thương vong. Kết hợp với sự yểm hộ từ hơn 2000 khẩu pháo trong vòng 53 phút,
tấn công vào tuyến phòng thủ và công sự bê tông ngầm Bar Lev Line, và cũng tấn
công cả các đồn chỉ huy và khu vực tập trung xe tăng.
Dưới sự yểm hộ của pháo binh, 8000 quân Ai Cập sau đó đã vượt kênh đào
Suez trên gần 1000 bè cao su, chiếm giữ và phá hủy tất cả ngoài pháo đài Bar-Lev.
Biệt đội săn lùng xe tăng bắt đầu gài mìn và mai phục xe tăng của Israel, ngăn
chặn thiết giáp Israel từ can thiệp vào các đợt vượt kênh tiếp theo của quân Ai Cập.
Vào lúc 2h30, cờ Ai Cập đã được cắm trên bờ đông của kênh đào, và lúc 2h46, các
chiến binh Ai Cập đã chiếm giữ vị trí công sự đầu tiên. Quân đoàn công binh bắt
đầu dựng cầu bắc qua kênh đào dưới sự hỗ trợ của bộ binh và pháo binh. Các đơn
vị đặc công Sa’iqa được vận chuyển bằng trực thăng vào sâu trong Sinai, cách
phía đông kênh đào 40km để ngăn cản lực lượng dự bị Israel.

Không quân Israel thực hiện những cuộc bắn phá ngăn chặn những cây cầu
được dựng lên, nhưng gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ các khẩu đội tên lửa
SAM, 13 chiến đấu cơ Israel bị bắn hạ cho đến 5h chiều. Những cuộc tấn công này
nói chung không hiệu quả, vì những cây cầu bị phá hủy đã nhanh chóng được
công binh sửa chữa là hoạt động trở lại. Lữ đoàn Israel đồn trú trong pháo đài Bar-
Lev đã bị tràn ngập. Sau gần 6 tiếng, 15 công sự đã bị chiếm giữ, và lực lượng Ai
Cập đã tiến sâu vài kilomet. Trong vòng 6h này, 5 sư đoàn bộ binh và 400 xe tăng
đã vượt qua kênh đào.
Một lữ đoàn đổ bộ gồm 1000 lính, 20 xe tăng lội nước PT-76 và 80 xe bọc thép
chở quân (APC) đã vượt qua hồ Bitter vào ngày 6-10. Mục đích của nó là phá tan
bộ chỉ huy địch và hệ thống liên lạc dọc theo Milta và cửa ngõ Gedy. Lữ đoàn này
tìm cách tấn công rada và thiết bị điện của Israel, và tấn công căn cứ không quân ở
Bir-el-Thamada trong suốt 2 ngày 7-8/10, trước khi trở về Ai Cập.
Chỉ có duy nhất một công sự, mật danh là Budapest (cực bắc pháo đài Bar-Lev)
là còn nằm trong sự kiểm soát của Israel cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Cuộc vượt kênh hoàn thành với rất ít thương vong bên phía Ai Cập: 280 người
bị chết, mất 15 máy bay và 20 xe tăng. Phía bên kia, Israel đã phải gánh chịu nhiều
thiết hại đáng kể cho đến sáng ngày 7-10; tướng Mandler báo cáo rằng sư đoàn
tăng thiết giáp của ông giảm từ 291 xuống còn có 100, trong khi lữ đoàn thiết giáp
Shomron ở phía Nam giảm từ 100 xe tăng xuống còn 23. Trong vòng 27 tiếng đầu
tiên của cuộc chiến, lực lượng phòng vệ Israel đã mất 30 máy bay.
Trong một cuộc hành quân được thuật lại tỉ mỉ, các lực lượng Ai Cập đã tiến
được 4 đến 5km vào trong sa mạc Sinai và hợp nhất với 2 đội quân (cả 2 theo tiêu
chuẩn phương Tây đều là cỡ quân đoàn, gồm có sư đoàn bộ binh số 2 thuộc tập
đoàn quân số 2 phương bắc). Các lực lượng Ai Cập sau đó củng cố vị trí ban đầu

của họ. Vào ngày 7-10, khu vực chiếm được của địch được mở rộng thêm 4km,
đồng thời đẩy lùi những cuộc phản công của Israel. Trong suốt những đêm ngày 7
và 8-10, Sư đoàn bộ binh số 18 của Ai Cập đã giải phóng thành phố Qantara.
Vào ngày 8-10, Shmuel Gonen, chỉ huy Israel ở mặt trận phía Nam, người chỉ
nhận vị trí 3 tháng trước khi Ariel Sharon về hưu, đã ra lệnh phản công cho 3 lữ
đoàn của sư đoàn thiết giáp 162 của tướng Abraham Adan. Tuy nhiên, một lữ đoàn
của Adan bị mắc kẹt, và 2 lữ đoàn kia chỉ còn nửa sức mạnh. Họ tấn công quân Ai
Cập tại Hizayon, nhưng các xe tăng xung trận đều dễ dàng bị tiêu diệt bởi hỏa lực
Sagger từ phía Ai Cập. Kết quả trận đánh là một thảm họa với Israel. Cho đến lúc
chập tối, một cuộc phản công của Ai Cập đã bị chặn lại bởi sư đoàn thiết giáp 143
của Ariel Sharon – Sharon phục chức sư đoàn trưởng vào lúc bắt đầu cuộc chiến.
Trận đánh đã lắng xuống, chẳng bên nào muốn tấn công bên kia nữa. Israel mất
trong những trận đánh đầu tiên này 49 máy bay và khoảng 500 xe tăng.
Tiếp theo các cuộc tấn công thảm hại của Israel trong ngày 8-10, cả 2 phía đều
ở vào tình thế phòng ngự và hi vọng phía bên kia sẽ tấn công. Trong cùng ngày, sư
đoàn bộ binh số 2 thành công trong việc tiêu diệt lữ đoàn pháo binh 190 của Israel
và bắt giữ chỉ huy của họ, trong khi lực lượng từ tập đoàn quân số 3 chiếm giữ
được những vị trí pháo binh ở Ain Mousa, khoảng 14km phía Tây Nam Suez.
Không quân Israel tăng cường tấn công trong suốt những ngày tiếp theo vào các vị
trí quân Ai Cập dọc theo kênh đào.
Elazar đã thay thế tướng Gonen, người đã được chứng tỏ là không đủ năng lực,
bằng tướng Chaim Bar-Lev, được gọi lại sau khi đã nghỉ hưu. Bởi vì binh sĩ sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng về tinh thần nếu thay thế chỉ huy mặt trận ngay giữa trận
đánh, Gonen vẫn giữ tham mưu trưởng của tướng Bar-Lev mới được bổ nhiệm.

Sau vài ngày chờ đợi, mọi sự trở nên rõ ràng với bộ chỉ huy Ai Cập rằng những
nỗ lực của Israel đều tập trung chống lại Syria ở cao nguyên Golan. Sadat, muốn
giải tỏa áp lực phía Syria, đã ra lệnh cho các thống tướng của ông (Saad El Shazly
và Ahmad Ismail Ali) tấn công. Tập đoàn quân số 2 và số 3 đã cùng tấn công về
hướng đông, để lại đằng sau 5 sư đoàn bộ binh để giữ vị trí đã chiếm giữ được.
Lực lượng tấn công không có sự bảo vệ của tên lửa SAM, vì thế không quân Ai
Cập được giao nhiệm vụ phòng chống lại các cuộc tấn công đường không của
Israel. Các đơn vị thiết giáp và cơ giới bắt đầu tấn công vào ngày 14-10 với sự
yểm trợ của pháo binh. Mặc dù bị chống cự quyết liệt, các lực lượng Ai Cập cũng
tiến thêm được 1 khoảng cách từ 12 đến 15km, chiếm giữ được một vài vị trí và
gây ra những thương vong nặng nề. Đánh giá rằng cuộc tấn công phía đông đã
thành công và đạt được mục đích, tướng chỉ huy Ai Cập ra lệnh cho các đội quân
tấn công quay trở về vị trí của họ. Nhà sử học Israel Rabinovich lại đưa ra một
phân tích khác: “Trận tấn công này, có quy mô lớn nhất kể từ cuộc đột kích ban
đầu của Ai Cập vào ngày Yom Kippur, là một thất bại hoàn toàn, đảo lộn hoàn
toàn vị trí của Ai Cập. Thay vì tập trung lực lượng tiến quân thận trọng, họ lại dốc
hết lực lượng đâm đầu vào một cuộc tấn công chống lại các lữ đoàn Israel đang
chờ đợi. Ai Cập thiệt hại trong ngày hôm đó khoảng từ 150 đến 250 xe tăng.”
Ngày tiếp theo, 15-10, người Do Thái phát động cuộc tiến quân Abiray-Lev
(nghĩa là quả cảm hay anh dũng) – cuộc phản công vào người Ai Cập và vượt qua
kênh đào Suez. Cuộc tấn công là một thay đổi khác thường trong chiến thuật của
Israel, những người trước đây thường dựa vào sự hỗ trợ của không quân và xe tăng
– sự hỗ trợ này vốn đã thiệt hại rất nhiều do sự chuẩn bị kỹ càng của quân Ai Cập.
Thay vào đó, Israel sử dụng bộ binh để xâm nhập vào các vị trí tên lửa phòng
không và chống tăng của Ai Cập, những đơn vị không có khả năng đối phó với lực
lượng bộ binh.

