
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào ? [bài 8]
Ða số là nguyên tắc cơ bản của nền cộng hoà
Ngày 2 và 5 tháng Bảy
Bất đồng rất lớn của các đại biểu về quyền bỏ phiếu bình đẳng tại Thượng viện đã dẫn
Hội nghị tới bế tắc và mọi thảo luận đều trở nên cực kỳ căng thẳng mà chẳng bên nào
chịu nhường bên nào. Để giải quyết vấn đề này, một ủy ban được lập ra để tìm giải pháp
hòa giải.
Sự thỏa hiệp đạt được là Hạ viện sẽ đại diện theo số dân, còn Thượng viện sẽ đại diện
bình đẳng. Nhờ thỏa hiệp này và nhờ tư tưởng thỏa hiệp của hai phe mà Hội nghị cuối
cùng đã thu được kết quả như mong muốn. Bedford là một trong những đại biểu các bang
nhỏ đấu tranh mạnh mẽ nhất cho quyền bình đẳng tại Thượng viện.
Ngài PINKNEY: Sự bình đẳng phiếu bầu tại Thượng viện là điều không thể chấp nhận
được. Nhưng đồng thời, ông thừa nhận rằng các bang lớn sẽ thiên vị các công dân của
mình và ưu đãi họ trong cuộc bỏ phiếu. Các bang lớn có thể tìm được những điểm tương
đồng về lợi ích thương mại và thúc đẩy những Hiệp ước ưu đãi họ. Có sự khác biệt chủ
yếu giữa các lợi ích miền Bắc và miền Nam.
Tiểu bang Bắc và Nam Carolina và Georgia có nền văn hóa lúa gạo và chàm (Rice và
Indigo) có lợi ích khác biệt và có thể bị hy sinh. Vậy khi đó phải ngăn chặn các bang lớn
áp đặt chính quyền trung ương ban hành những biện pháp có lợi cho họ thế nào, nếu họ
không đếm xỉa đến ý muốn của các bang nhỏ? Chỉ nên cho phép họ có ưu thế về phiếu
bầu chứ không phải một tỷ lệ đầy đủ với qui mô dân số.
Ông đặc biệt lo ngại về kết quả của Hội nghị này, coi đó như cơ hội cuối cùng cho cuộc
thử nghiệm. Trước đây, mọi nỗ lực nhằm sửa đổi hệ thống Liên bang của Quốc hội Hợp
bang hầu như đều thất bại. Không có giải pháp nào ngăn chặn được sự giải tán Hợp bang
ngoài việc triệu tập Hội nghị này. Ông rất lo ngại về những hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra
nếu liên minh tan rã. Ông đề xuất chia các tiểu bang thành các hạng để bổ nhiệm số
lượng Thượng nghị sĩ tương ứng.
Tướng PINKNEY: Không hoàn toàn chấp nhận đề xuất này. Ông ủng hộ đề xuất của
Ngài Franklin hơn [ý định của Franklin trình bày ngày 30 tháng Sáu về việc qui định tỷ lệ
phiếu bầu tùy thuộc vào nội dung của dự luật-ND]. Thỏa hiệp là cần thiết bởi hai phe hầu
như cân bằng nhau trong cuộc bỏ phiếu về quyền bình đẳng tại Thượng viện. Ông đề xuất
thành lập một ủy ban với mỗi bang có một đại biểu để tìm ra các thỏa hiệp.
Ngài L. MARTIN: Không phản đối việc thành lập ủy ban này, nhưng không thể hòa giải
nếu không chấp nhận ý muốn bình đẳng của các bang nhỏ.
Ngài SHARMAN: Lúc này, chúng ta hầu như bế tắc và không ai muốn Hội nghị sẽ chấm
dứt mà không làm một điều gì đó. Ông nghĩ một ủy ban dường như đáp ứng nhất yêu cầu

hiện nay.
Ngài G.MORRIS: Việc lập ủy ban hòa giải là khôn ngoan vì Hội nghị hoàn toàn bất
đồng. Ông tin chắc rằng mô hình bổ nhiệm Thượng viện với quyền bỏ phiếu là bình
đẳng, sẽ đi ngược lại mục đích của cơ quan này.
Thượng viện được lập ra để làm gì? Để kiểm soát sự vội vã, tính dễ thay đổi và thái quá
của Hạ viện. Mọi người đều chứng kiến sự hấp tấp trong các Viện dân chủ của các cơ
quan lập pháp tiểu bang và tính thiếu kiên định của Quốc hội Hợp bang. Trong mọi cơ
quan, sự thái quá đều ảnh hưởng xấu đến sự an toàn và tự do cá nhân. Vậy cần những
phẩm chất nào để thiết lập sự kiểm soát trong trường hợp này? Năng lực và đức hạnh đều
cần thiết ở cả hai Viện. Nhưng bây giờ chúng ta còn muốn hơn thế.
1. Viện kiểm tra cần phải có lợi ích cá nhân trong việc kiểm soát viện kia, lợi ích này sẽ
kiềm chế lợi ích kia. Những sai trái và thói xấu, khi cùng tồn tại, sẽ chống đối và kiềm
chế nhau.
2. Thượng viện phải có tài sản cá nhân thật lớn và phải có tư tưởng quý tộc. Thượng viện
sẽ khao khát vinh quang và sự cao cả nhờ lòng kiêu hãnh và tự trọng của mình. Thực ra,
lòng kiêu hãnh và tự trọng là nguyên tắc vĩ đại thúc đẩy cả người nghèo và người giàu.
Người nghèo thường chống lại còn người giàu thường lạm dụng nó.
3. Viện này cần phải độc lập. Trong tôn giáo, loài người thường quên đi Đấng Tạo hóa.
Mặt khác, trong các hoạt động chính trị, những cuộc tranh luận căng thẳng vừa qua là
những bằng chứng không vui vẻ gì. Viện quý tộc cần phải độc lập và vững chắc để đối
trọng với Viện Bình dân. Nếu các thành viên của Viện này phụ thuộc vào sự bầu chọn
của Viện Dân chủ thì Viện Dân chủ sẽ chiếm ưu thế.
Nước Mỹ cần phải trù tính để bảo đảm các Thượng nghị sĩ không khúm núm và quị lụy
Viện Dân chủ. Nếu Thượng viện phụ thuộc vào Hạ viện, thì tốt hơn chúng ta không nên
lập ra nó. Để Thượng viện trở thành một cơ quan độc lập, Thượng nghị sĩ cần phải được
bầu chọn suốt đời. Người giàu sẽ cố gắng thiết lập ưu thế và sự vượt trội của mình để nô
lệ hóa những người còn lại.
Trước đây, họ luôn luôn làm như vậy và sau này vẫn sẽ làm như vậy. Sự đảm bảo an toàn
đúng đắn chống lại nguy cơ này là phân chia họ thành những lợi ích riêng biệt. Hai lợi
ích riêng biệt sẽ kiểm soát lẫn nhau. Nếu không có lợi ích thương mại, Viện Dân chủ sẽ
chiến thắng.
Điều đó đã xảy ra trên khắp thế giới và cũng sẽ xảy ra trên đất nước chúng ta. Lý trí dạy
chúng ta rằng chúng ta chẳng là ai khác ngoài con người, chúng ta không thể trông đợi
bất cứ sự thần kỳ nào của Thượng đế cứu vớt và bênh vực chúng ta. Bằng sự kết hợp và
tách biệt đó, lợi ích quý tộc và lợi ích bình dân sẽ kiềm chế lẫn nhau để tất cả cùng có lợi.
4. Sự độc lập suốt đời sẽ tạo ra sự bền vững cần thiết. Nếu chúng ta liên tục thay đổi các
đạo luật, thì không còn ai tin chúng ta nữa. Nên để tránh thay đổi các đạo luật quá thường

xuyên, phải làm thế nào tránh sự thay đổi con người. Hãy hỏi bất cứ người dân nào xem
liệu ông ta có tin tưởng vào Quốc hội không, có tin tưởng vào tiểu bang Pennsylvania
không, nếu ông ta cho vay tiền hay ký kết hợp đồng? Ông ta sẽ nói là không. Ông ta
không thấy sự ổn định nên ông ta không thể đặt niềm tin. Nếu nước Anh từ chối đối xử tử
tế với chúng ta, chúng ta cũng phải làm như vậy.
Ông phản đối việc ngăn cản Thượng nghị sĩ được giữ nhiệm kỳ suốt đời, bởi đó là điều
nguy hiểm. Nếu có mối nguy hiểm xuất hiện từ nhánh hành pháp, thì phải ngăn chặn nó
bằng cách nào? Nếu người con trai, người anh, hay người bạn được Tổng thống bổ
nhiệm, mối nguy hiểm này sẽ tăng lên, khi người cha có tư cách kém lại thổi phồng
những ưu việt của những người thân, những phẩm chất mà họ không có.
Qui định đó sẽ ngăn cản những công dân tốt nhất, có tư cách cao quý nhất, có khả năng
nhất không được giữ chức vụ này. Khi đó ai sẽ giữ chức Thượng nghị sĩ? Ông cũng phản
đối việc trả lương cho các Thượng nghị sĩ. Họ phải tự trả tiền cho mình.
Họ phải là những người giàu có và có thể làm việc mà không cần trả lương. Thượng viện
phải gồm những người đủ khả năng nuôi sống mình. Nhánh hành pháp phải có quyền bổ
nhiệm Thượng nghị sĩ và sẽ bổ nhiệm những người mới cho những chỗ trống. Điều này
sẽ loại bỏ những khó khăn hiện nay.
Các Thượng nghị sĩ cần được độc lập nên phải được làm việc suốt đời. Cũng cần phải
xem xét phương pháp bầu chọn tiến hành ở các tiểu bang. Ông hy vọng những quý ngài
trong Hội nghị này đủ sáng suốt để nhận ra sự thật đó. Do đó, ông không do dự để nói
rằng bổng lộc sẽ làm hư hỏng những kẻ mị dân. Một Thượng nghị sĩ suốt đời sẽ là cái
mồi quý phái. Nếu không có những triển vọng hấp dẫn đó, các nhà lãnh đạo của dân
chúng sẽ phản đối và bác bỏ kế hoạch này.
Hạ viện được dân chúng các tiểu bang chọn, còn Thượng viện được toàn thể dân chúng
Hợp chúng quốc chọn, nên đó sẽ không phải là chính quyền của các tiểu bang mà là một
chính quyền bởi sự kết hợp giữa những người Virginia tại Thượng viện và Hạ viện với
những người của Massachusetts tại Thượng viện và Hạ viện…
Hệ thống đó rồi sẽ trở thành một thứ Hiệp ước thuần tuý và chẳng còn là chính quyền
nữa, sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào các tiểu bang và chống lại những điều chúng ta đang làm
hiện nay. Một chính quyền vững chắc mới có thể bảo vệ được tự do của chúng ta.
Ông e sợ ảnh hưởng của người giàu. Họ sẽ có cùng ảnh hưởng và tác hại như bất kỳ nơi
nào khác, nếu chúng ta không thiết lập được một chính quyền kiềm giữ họ trong những
giới hạn nhất định. Chúng ta cần phải nhớ rằng dân chúng không bao giờ hành động chỉ
vì lý trí. Người giàu sẽ lợi dụng tâm trạng của người nghèo làm công cụ để đàn áp họ.
Kết quả của cuộc xung đột đó là tạo ra một giới quý tộc bạo lực, hay thậm chí là một nền
chuyên quyền bạo lực.
Mưu mô của người giàu sẽ gặp thuận lợi nhờ sự mở rộng lãnh thổ quốc gia. Dân chúng ở
những vùng xa xôi không thể trao đổi với nhau và không thể thống nhất hành động

chung. Họ sẽ bị những người khôn ngoan, có nhiều thông tin hơn, thường xuyên trao đổi
với nhau, lừa dối. Sự đảm bảo an toàn duy nhất chống lại những lạm quyền và xâm lấn
đó là chọn ra được một cơ quan gồm những người khôn ngoan để kiềm chế và kiểm soát
mọi phe phái.
Ngài RANDOLPH: Tán thành việc thiết lập một ủy ban, dù không nghĩ rằng ủy ban này
mang lại nhiều điều tốt lành. Ông chỉ trích những ngôn từ thái quá, quá hấp tấp và quá
gay gắt của Ngài Bedford hôm thứ bảy. Nếu các bang lớn kết hợp lại với nhau có thể gây
nguy hiểm, nhưng ông tin là cần trao cho Tổng thống quyền phủ quyết để kiểm soát mối
nguy hiểm này hiệu quả hơn. Ông cũng tán thành cho mỗi bang có một lá phiếu bình
đẳng trong việc chọn Tổng thống.
Ông tin rằng hai cơ quan đối kháng như Ngài Morris đề ra sẽ không bao giờ cùng nhau
tồn tại lâu dài. Sự bất đồng có thể nảy sinh như từng có giữa Thượng viện và Hạ viện
Maryland. Khi đó, các phe phái đều kêu gọi dân chúng ủng hộ mình và chỉ trong một thời
gian ngắn, những rối loạn sẽ nảy sinh. Trái lại, ông nghĩ rằng các bang lớn sẽ đảm bảo sự
tồn tại của mình dễ hơn là các bang nhỏ. Nhưng việc các bang nhỏ từ chối gia nhập liên
minh sẽ làm cho toàn thể đất nước này điêu tàn. Ông quyết tâm theo đuổi một mô hình
chính quyền chống lại tai họa đó.
Ngài STRONG: Tán thành việc lập ủy ban và hy vọng sẽ tìm ra giải pháp thiết lập cả hai
Viện của cơ quan lập pháp. Nếu hai Viện này thiết lập trên những nguyên tắc khác nhau,
sự xung đột và bất hòa sẽ luôn luôn xuất hiện, nên họ sẽ không bao giờ đồng tâm nhất trí
trong các biện pháp cần thiết.
Bác sĩ WILLIAMSON: Nếu cả hai phe không nhường nhịn, thì toàn bộ công việc của
chúng ta sẽ chấm dứt. Ông chấp nhận lập ủy ban này. Ủy ban càng nhỏ, càng dễ đạt thỏa
hiệp.
Ngài WILSON: Phản đối việc thành lập ủy ban, bởi vì ủy ban này chỉ quyết định căn cứ
vào chính điều luật bỏ phiếu bình đẳng từng bị một bên phản đối. Kinh nghiệm của ông
tại Quốc hội cũng chứng tỏ sự vô ích của các ủy ban như vậy.
Ngài LANSING: Không phản đối việc lập ủy ban, nhưng cho rằng sẽ chẳng thu được
nhiều kết quả.
Ngài MADISON: Phản đối việc thành lập ủy ban này. Ông không thấy ủy ban này sẽ
mang lại bất cứ ích lợi nào ngoài sự trì hoãn, như trong Quốc hội Hợp bang. Bất kỳ thỏa
hiệp nào, nếu được đề xuất trong ủy ban đó, đều có thể đề xuất ngay trong Hội nghị này.
Bản báo cáo của ủy ban này chỉ thuần tuý là ý kiến của riêng nó mà thôi, nên việc lập ủy
ban cũng sẽ chẳng rút ngắn quá trình thảo luận và cũng chẳng ảnh hưởng đến quyết định
của Hội nghị.
Ngài GERRY: Ủng hộ việc lập ủy ban. Có thể họ sẽ làm được một việc gì đó, hoặc chúng
ta không chỉ làm cả nước Mỹ mà còn cả thế giới thất vọng. Những Hiệp ước của chúng ta
là gì? Những món nợ nước ngoài của chúng ta là gì? Những hoạt động trong nước là gì?

Chúng ta phải thừa nhận sự cần thiết của cả hai phía. Nếu không có những điều đó, chẳng
có bản Hiến pháp tiểu bang nào được lập ra cả.
Cuộc bỏ phiếu về việc "thành lập ủy ban hòa giải", kết quả bỏ phiếu như sau:
MA: đồng ý; CT: đồng ý; NY: đồng ý; NJ: phản đối; PA: đồng ý; DE: phản đối; MD:
đồng ý; VA: đồng ý; NC: đồng ý; SC: đồng ý; GA: đồng ý. (9 bang đồng ý, 2 bang phản
đối).
Về việc ủy ban này sẽ bao gồm "mỗi tiểu bang được cử một đại biểu":
MA: đồng ý; CT: đồng ý; NY: đồng ý; NJ: đồng ý; PA: phản đối; DE: đồng ý; MD: đồng
ý; VA: đồng ý; NC: đồng ý; SC: đồng ý; GA: đồng ý.
Ủy ban này được bầu chọn gồm Ngài Gerry, Ngài Elseworth, Ngài Yates, Ngài Paterson,
Bác sĩ Franklin, Ngài Bedford, Ngài Martin, Ngài Mason, Ngài Davy, Ngài Rutlidge và
Ngài Baldwin.
Ngày 5 tháng Bảy
Ngài GERRY đọc bản báo cáo của Ủy ban:
"Ủy ban xin đệ trình bản báo cáo như sau:
Rằng những đề xuất sau được gửi lên Hội nghị, sau khi về cơ bản, được cả hai bên đồng
ý.
I. Hạ viện sẽ bao gồm đại biểu của các tiểu bang. Cứ 40.000 dân sẽ có một người đại
diện. Tiểu bang nào không đủ số người đó cũng có một đại biểu. Mọi đạo luật liên quan
đến lợi tức và thuế khoá, hay qui định lương bổng của các nhân viên chính quyền liên
bang đều do Hạ viện khởi xướng. Thượng viện không có quyền thay đổi hay bổ sung.
Không một khoản tiền nào được lấy khỏi ngân khố của liên bang nếu không có sự phê
chuẩn của Hạ viện.
II. Tại Thượng viện, mỗi tiểu bang sẽ có một phiếu bầu".
Ngài GHORUM: Bản báo cáo này đã bao gồm những điều khoản có lợi cho cả hai phía,
nhưng muốn nghe những lời giải thích nền tảng thiết lập nên những điều khoản này.
Ngài GERRY: Ủy ban bất đồng về ý kiến đúng như sự bất đồng cả các tiểu bang mà các
đại biểu là người đại diện và đồng ý rằng bản báo cáo này chỉ làm nền tảng cho sự hòa
giải của Hội nghị mà thôi.
Ngài WILSON: Nghĩ rằng Ủy ban này đã đi quá phạm vi quyền hạn được phép.
Ngài MADISON: Không coi việc ban đặc ân cho Hạ viện trong việc khởi thảo những đạo

