TP CHÍ KHOA HC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S 31 - 2024 ISSN 2354-1482
80
CH TCH H CHÍ MINH VI S VN DNG TRIT LÝ “DĨ BT BIN,
NG VN BIẾN” TRONG CÁCH MẠNG VIT NAM
Nguyn Th Thanh Hin
Trường Chính tr tỉnh Đồng Nai
Email liên h: hiennguyenn43@gmail.com
(Ngày nhn i: 17/5/2024, ngày nhn bài chnh sa: 26/5/2024, ny duyệt đăng: 21/6/2024)
TÓM TT
Triết “dĩ bất biến ng vn biến đã trở thành phương pháp luận cách mng
đặc sc, phương châm hành động luôn nhất quán quan điểm ly thc tiễn làm đim
xut phát ca H Chí Minh. Trong thc tiễn lãnh đạo cách mng Vit Nam, H Chí
Minh đã vận dng thành công triết y trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, từ đó
nhấn mạnh rằng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng cần cương quyết, mềm dẻo,
chủ động trong mọi tình huống, hoàn cảnh dựa trên cơ sở của những nền tảng không
thể thay thế, biến đổi được. Nhng ch dn ca Ch tch H Chí Minh v s vn
dng triết dĩ bt biến ng vn biến” vẫn còn nguyên giá tr, cn phải được tiếp
tc nghiên cu và vn dng trong thc tiễn đổi mới đất nước hin nay.
T khóa: H Chí Minh, dĩ bất biến ứng vạn biến, cách mạng Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong sut quá trình hoạt động cách
mng ca Ch tch H Chí Minh,
Người đã để li di sn lý luận đồ s trên
nhiều lĩnh vực vi mt h thng phương
pháp lun cách mạng đc sc, phương
châm hành động luôn nht quán quan
điểm ly thc tiễn làm điểm xut phát.
Trong đó, triết lý “dĩ bất biến ng vn
biến, chúng tâm vi k tâm” đã trở
thành nguyên tc hoạt động ngh
thut ng x để đạt được thành quả cao
nhất của cách mạng trong bất cứ hoàn
cảnh nào. Nhờ có sự vận dụng linh hoạt,
tài tình phương châm này phương
pháp cách mạng đúng đắn, Ch tch H
Chí Minh đã đưa cách mạng đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác. Trong phạm
vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung vào
luận giải về hai vấn đề: một ý nghĩa
của “bất biến” “vạn biến” trong
ng H Chí Minh; hai sự vận dụng
triết dĩ bất biến ứng vạn biến” của
Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng
Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Ý nghĩa của “bất biến” “vạn
biến” trong tư tưởng H Chí Minh
Theo nhà ngoại giao Dương
Huân - nhà ci cách chính trị, tướng
soái quân s đồng thời cũng một nhà
lý lun quân s xut sc - triết lý “dĩ bất
biến ứng vạn biến” điển cố được suy
từ binh pháp của N Khởi, thiên thứ
năm về ứng biến. Ông nhà binh hc
ni tiếng ngang với Tôn Vũ, nhà chính
tr ni tiếng ngang với Thương Ưng
như lời đánh giá của Quách Mạt Nhược.
Triết lý “dĩ bất biến ng vn biến,
chúng tâm vi k tâm” đưc hiu ly
cái bn cht, cái nguyên tc không bao
gi thay đổi để ứng đối phó vi nhng
cái vn biến trong cuộc đời. Hiu theo
nghĩa đen lấy cái bất động để đối phó
vi nhiều cái manh động. “Dĩ bất biến”
cũng thể hiu s bình tĩnh, sáng
sut cng rn, không nóng vi thay
đổi, “biến” động theo “vạn biến”. Như
vy, triết lý “dĩ chúng tâm vi k tâm”
(ly tâm chúng sinh làm tâm ca mình)
TP CHÍ KHOA HC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S 31 - 2024 ISSN 2354-1482
81
được xem như một kíp vào nhng
thời điểm nhất định vi ý nghĩa ly
mt s bình tĩnh, chống li ngàn s biến
động, lấy sự không đổi ứng phó với vạn
điều thay đổi, lấy cái tâm bất biến để
đối phó với hoàn cảnh bên ngoài liên
lục biến động nhằm thực hiện mục tiêu
không đổi. Vn vt luôn vận động
biến đổi, biu hin ra bên ngoài rt
phong phú, đa dạng, sinh hóa y theo
hoàn cảnh nhưng theo mt quy lut nht
định bn cht ca thế giới cũng như
quy lut vận động của tương đối
ổn định. thế, con người phi nm
được quy luật “cái bất biến” thì mi
th nhn thc và hoạt động cho phù hp
vi mọi điều biến hóa cái vn biến”
trong hin thực. Đây cũng chính mối
quan h gia bn th hiện tượng,
vấn đề trung tâm, vấn đề bản ca
triết hc xuyên sut trong mi nền văn
hóa t Đông sang Tây.
Vượt qua không gian và thời gian,
câu nói mang đậm chất triết của triết
học phương Đông y được Chủ tịch
Hồ Chí Minh sử dụng tại thời điểm vận
mệnh dân tộc ngàn cân treo sợi tóc. “Dĩ
bất biến ứng vạn biến” cẩm nang giữ
nước Chủ tịch Hồ Chí Minh trao lại
cho cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền
Chủ tịch nước, trước khi Người sang
Pháp vào tháng 5 năm 1946. Với
phương châm này, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã cho thấy quan điểm phải kết
hợp một cách linh hoạt chặt chẽ giữa
tính nguyên tắc, sự kiên định của mục
tiêu chiến lược với sách lược, giữa
đường lối cách mạng của cả dân tộc
sách lược cách mạng trong từng giai
đoạn cụ thể. Điều này trở thành nguyên
tắc, tưởng chỉ đạo xuyên suốt
phương châm hành động của cách mạng
Việt Nam. Cao hơn nữa, trở thành
triết nhân sinh của dân tộc ta trong
từng giai đoạn cụ thể với ý nghĩa biện
chứng sâu sắc.
Trong ng ca H Chí Minh
thì “không quý hơn độc lp, t
do”. Đây quyền thiêng liêng bt kh
xâm phm ca mi dân tộc. Người
khẳng định: “tất c các dân tc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng, dân tc nào
cũng quyền sng, quyền sung sướng
quyn t do” (Hồ Chí Minh, 2011a,
tr. 1). T điều bt biến ấy trong
ng ca H Chí Minh, điu
“không ai chối cãi được”, đã tr thành ý
chí, nguyn vng hành động ca
cuộc đấu tranh cho quyền con người,
đấu tranh cho đc lp dân tc trong sut
cuộc đời của Người. Mc tiêu bt biến
ấy đã được th hin ngay t trong
Cương lĩnh chính tr 1930 - cương lĩnh
đầu tiên của Đảng, cương lĩnh gii
phóng dân tộc đúng đắn sáng to
tưởng bt biến độc lp dân tộc đã
th hin rất rõ. Sau đó, đến tháng 8 năm
1945, Người mt ln na khích l tinh
thần, ý chí đấu tranh ca c dân tc
trong lúc những điều kin khách quan
ch quan ca lch s đã tới bng câu
nói bt h: “Lúc y thời thuận li
đã tới, hy sinh tới đâu, phải đốt
cháy c dãy Trường Sơn cũng phi kiên
quyết giành cho được độc lập” (
Nguyên Giáp, 2011, tr.129-130). Kết
qu ca ý chí, mc tiêu bt biến đó
thành qu của quá trình đấu tranh cho
độc lp, t do ca c dân tc. Cách
mng Tháng Tám thành công, Người
thay mt chính ph lâm thời đọc
“Tuyên ngôn đc lp”, trnh trng
khẳng định trước thế giới: “Nước Vit
Nam quyền hưởng t do độc lp,
TP CHÍ KHOA HC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S 31 - 2024 ISSN 2354-1482
82
s thực đã thành một nước t do
độc lp. Toàn th dân Vit Nam quyết
đem tất c tinh thn lực lượng, tính
mnh ca cải để gi vng quyn t
do và độc lp ấy” (Hồ Chí Minh, 2011a,
tr. 3).
Bên cnh mc tiêu cách mng, vic
la chọn được con đường cách mng
đúng đắn là điều quan trng không kém.
Vic la chọn như thế nào sẽ quyết định
đến giai cấp lãnh đạo ai, lực lượng
cách mạng đối tượng như thế nào. T
đó sẽ ảnh hưởng đến định hướng,
đường li phát trin ca c dân tc. Ch
tch H Chí Minh đã tìm ra quy luật vn
động phát trin phù hp vi cách
mng Vit Nam, mt quy luật đáp ng
yêu cu gii phóng ca toàn th dân tc
Việt Nam nói chung cũng như của mi
con người nói riêng. Người cho rng:
“Yêu tổ quc, yêu nhân dân phi gn
lin vi yêu ch nghĩa hội, tiến
lên ch nghĩa xã hội thì nhân dân mình
mi ngày mt no m thêm, T quc mi
ngày mt giàu mạnh thêm” (H Chí
Minh, 2011g, tr. 401). Đó chính điều
bt biến th hai trong tưởng ca H
Chí Minh, đưa đến việc Người chn con
đường “độc lp dân tc kết hp vi ch
nghĩa hội”, chọn con đường cách
mạng sản để gii phóng dân tc, giải
phóng con người. Ý nghĩa của điều bất
biến y được xác định ngay khi người
thanh niên Nguyễn Ái Quốc đọc được
thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc vấn đề thuộc địa
của V.I. Lênin trên tờ báo Nhân đạo
năm 1920. Người đã phải thốt lên: “Đây
cái cần thiết cho chúng ta, đây con
đường giải phóng chúng ta!” (H Chí
Minh, 2011h, tr.562). Đây cũng chính là
điểm khác bit giữa con đường cu
nước ca H Chí Minh vi con đường
cứu nước của các phu yêu nước trước
đó. Người đã viết: “Dần dn tôi hiu
được rng ch ch nghĩa hội, ch
nghĩa cộng sn mi giải phóng được các
dân tc b áp bc những người lao
động trên thế gii khi ách l(H
Chí Minh, 2011h, tr. 563).
Mc tiêu gắn độc lp dân tc vi
ch nghĩa hi nhm mang li s
thng nht toàn vn lãnh th, mang
đến cho dân tc quyn t quyết vốn
phi thuc v mình, theo đó s m
no, hnh phúc ca mi tng lp nhân
dân. Đó mong mỏi ca H Chí Minh,
đáp lại nhng khát vng của người dân
Việt Nam cũng như nhiều dân tc b áp
bc khác lúc by giờ. Đó cũng chính
điều bất biến của cách mạng Việt Nam;
chân lý, mc tiêu ca cách mng Vit
Nam. Kết qu tt yếu đó xut hin khi
điều kin thc tin ch ra rng yếu t
lực lượng sn xut trong xã hi ngày
mt ln mạnh hơn, giai cấp công nhân
nông dân dần trưởng thành hơn
gi vai trò lực lượng cách mng chính.
Tuy nhiên, thc tế cho thy mỗi nước
có bi cnh lch s khác nhau, điểm đặc
thù ca mi dân tc khác nhau nên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội mi
nước không ging nhau. “Tt c các dân
tộc đều s đi đến ch nghĩa xã hội, đó
điều không tránh khỏi, nhưng tt c các
dân tộc đều tiến ti ch nghĩa xã hội
không phi mt cách hoàn toàn ging
nhau; mi dân tc s đưa đặc đim ca
mình vào hình thc này hay hình thc
khác ca chế độ dân ch, vào loi này
hay loi khác ca chuyên chính sn,
vào nhịp độ này hay nhp độ khác ca
vic ci to xã hi ch nghĩa đối vi các
mt khác nhau của đời sng hội”
TP CHÍ KHOA HC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S 31 - 2024 ISSN 2354-1482
83
(Lênin, 2005, tr.160). Ch tch H Chí
Minh cũng từng khẳng định: “Ta không
th ging Liên Xô, vì Liên Xô có phong
tc tp quán khác, lch s địa
khác... ta th đi con đường khác để
tiến lên ch nghĩa xã hội” (H Chí
Minh, 2011e, tr. 391). Ch nghĩa xã hội
mc tiêu, nguyên chung ging
nhau nhưng mỗi nước hoàn cảnh đc
thù khác nhau nên cn phải phương
thc hoạt động, bin pháp xây dng
cũng như cách làm khác nhau cho phù
hp với điều kin c th ca từng nước.
Người làm cách mng phi biết sáng to
để la chn bin pháp x trí các tình
hung cách mng trong thc tế mt
cách mm do, linh hoạt để giữ vững
được mục tiêu bất biến. Mặt khác, vận
dụng sáng tạo vào những điều khả biến
thể xuất hiện bất cứ khi nào trong
các tình huống vấn đề hoàn cảnh
thực tiễn để đưa cách mạng đến thành
công. Đó lý do Ch tch H Chí
Minh từng xác định: “Mục đích bất di
bt dch ca ta vn hòa bình, thng
nhất, độc lp, dân ch. Nguyên tc ca
ta thì phi vng chắc, nhưng sách lược
ca ta thì linh hoạt” (H Chí Minh,
2011d, tr. 555). ng vạn biến chính
như thế.
2.2. Hồ Chí Minh với việc vận dụng
triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”
th nhn thy nguyên tắc “dĩ bất
biến ứng vạn biến trong binh pháp của
người phương Đông được vn dng rt
tinh tế, sâu sắc trong tưởng ca Ch
tch H Chí Minh. Trong nguyên tc y,
cái bất biến và cái khả biến có mối quan
hệ biện chứng với nhau cái bản thể
tính ổn định, không thay đổi với cái
biểu hiện đa dạng, luôn vận động, biến
đổi chuyển hóa không ngừng trên cơ sở,
nền tảng cái bản thể sự liên hệ mật
thiết với nhau. Ngoài ra, nguyên tắc đó
còn th hin tính khoa hc ca triết hc
mác xít bi bên trong chứa đựng đầy
đủ tính bin chng, tính duy vt lch s,
nguyên lý ca phát trin, ca mi liên
h ph biến... những nguyên lý
bn nht ca ch nghĩa Mác nin.
Trong quá trình vn dng nguyên tc
này vào thc tiễn, người s dng không
b bó buc mà luôn có th ch động linh
hot trong mi tình hung, sáng to
trong hoàn cnh khách quan ca hot
động đang diễn ra. thế, câu nói y
không bao gi tr nên cng nhắc, k
hay nhàm chán luôn chứa đựng s
tinh tế, mi mẻ. Điều này ý nghĩa
không ch đối vi cách mng còn c
quá trình xây dng, phát trin; không
ch cho c hi n cho tng gia
đình, mỗi nhân trong hi. Bản
thân mỗi người cần phải nắm giữ, kiên
định với cái bản thể, cái quan trọng nhất
của nh từ đó thể thay đổi, điều
chỉnh, ứng biến một cách linh hoạt với
những cái biến đổi, cái nhỏ nhặt vic
xảy ra xung quanh. Đ thc hiện được
điều đó, trước hết cn phi trang b lp
trường vng chắc kiên định, phi
bình tĩnh và sáng suốt để nhận định thi
để th đưa ra nhng cách thc
hành động phù hp, hiu qu. Có th
nhận định, phương châm bất biến
ng vn biến” đã được H Chí Minh
vn dng thành công trong hoàn cảnh
lịch sử cụ thể, từ đó nhấn mạnh rằng,
trong quá trình lãnh đạo cách mạng cần
cương quyết, mềm dẻo, chủ động trong
mọi nh huống, hoàn cảnh dựa trên
sở của những nền tảng không thể thay
thế, biến đổi được.
TP CHÍ KHOA HC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, S 31 - 2024 ISSN 2354-1482
84
C th vi cách mng Vit Nam
giai đoạn 1945-1946, sau khi Cách
mạng Tháng Tám thành công, nước
Vit Nam Dân ch Cộng hòa đưc
thành lp - nhà nước công - nông đầu
tiên Đông Nam Á. Đó nhà nước
kiu mi do Ch tch H Chí Minh
đứng đầu. Khi đó, Chính phủ lâm thi
phải đương đu vi rt nhiều nguy cơ.
Các thế lực thù đch với hơn hai mươi
vạn quân Tưởng tràn vào min Bc
nhm gii giáp quân Nht; quân Anh
quân Pháp tiến vào min Nam, ly danh
nghĩa quân đồng minh để ớc khí
quân Nhật, đây là ý đồ ca quân Pháp
mun tr li xâm chiếm nước ta mt ln
na. Bên cạnh đó, còn tay sai của
thực dân, địa ch phong kiến phn cách
mng, Vit Quc, Vit Cách bám gót
quân Tưởng v nước chng phá cách
mạng… Đứng trước tình cnh ngàn
cân treo si tóc của đất nước, H Chí
Minh đã kiên định vi chân lý không
quý hơn độc lp t do”, vn dng
phương châm “dĩ bất biến ng vn
biến” để phân hóa lần lượt loi b
tng mối nguy để gi vững được
chính quyn cách mạng. Đảng Cng sn
Việt Nam đứng đầu là Ch tch H
Chí Minh đã chủ trương hòa hoãn vi
quân Tưởng min Bắc để tp trung
đánh thực dân Pháp min Nam. Sau
đó, để đuổi Tưởng ra khi min Bc, ta
li tm hòa với Pháp. Như vy, đồng
thời ta đuổi luôn bn phản động theo
đuôi quân Tưởng ra khi Vit Nam.
Quay tr li vi k thù chính thc
dân Pháp, Đảng Bác H đã đưa ra
sách lược “hòa để tiến” bng Hiệp định
sơ bộ 6/3/1946. Nhà nước ta đồng ý cho
15.000 quân Pháp vào min Bc thay
thế cho 200.000 quân quân Tưởng để
giải giáp quân đội Nhật. Đây là văn bn
pháp quc tế đầu tiên của nước Vit
Nam Dân ch Cng a với nước
ngoài, đã tạo cơ sở pháp lý cho các cuc
đấu tranh ngoi giao ca Vit Nam sau
đó, trong đó Tạm ước 14/9/1946.
Trong bi cnh lch s năm 1946, vic
Hiệp định bộ đã giúp ta loại b
quân Tưởng bn phản động theo
đuôi, tập trung lực lượng vào kẻ thù
chính thực dân Pháp. Đây mt
quyết định sáng sut v sách lược, v
vic tn dng thời cơ, về s nhân
nhượng nguyên tc. Vi Tạm ước
14/9/1946, đây đưc xem là mt gii
pháp chính tr linh hot, tài nh nhm
bo v Hip định bộ 6/3/1946, đồng
thi kéo i thêm mt khong thi gian
hòa bình quý giá cho Vit Nam tiếp tc
y dng, cng c lực ng cho ti
ngày Toàn quc kháng chiến
19/12/1946. Theo Tạm ước y, các
lực ng quân s hai bên gi nguyên
tình trng chiếm đóng trên chiến
trưng, Pháp s đưc trao thêm mt s
li ích kinh tế nhưng nhất định phi tôn
trng quyền độc lp dân tc ca ta. Tm
ước nhm kéo dài thi gian, tạo điều
kin cho ta tiếp tc cng c chính quyn
cách mng non tr, chun b lực lượng
cho cuộc trường kháng chiến ca
dân tc. Văn bản này tạm đẩy lùi nguy
xung đột lớn, được Đảng ta coi
bước nhân nhượng cuối cùng, nhân
nhượng nữa ảnh hưởng đến chủ
quyền của đất nước, làm hại đến lợi ích
của dân tộc.
Việc Hiệp định bộ 6/3
Tạm ước 14/9 một chủ trương rất
sáng suốt, th hiện duy sáng tạo ca
Đảng Cng sn Việt Nam đứng đầu
Ch tch H Chí Minh, cũng như