
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO CỦA VIỆT NAM
MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện : Vũ Quỳnh Ngọc
Lớp :
Khóa : 41 A
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Trung Văn
Hà Nội, 11/2006

1
LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động sản xuất và tiêu
dùng đều theo kế hoạch chủ quan của Nhà nước. Vì thế cạnh tranh - động lực
cho sự cải tiến, đổi mới và phát triển - đều bị triệt tiêu. Cũng chính vì không có
cạnh tranh nên các nhà sản xuất và kinh doanh cũng không có nhu cầu giới thiệu
về hàng hóa, dịch vụ của mình. Vì vậy ở Việt Nam trước năm 1986, hoạt động
quảng cáo hầu như chưa phát triển và cũng không tồn tại các văn bản pháp luật
điều chỉnh vấn đề này.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã đánh dấu một bước chuyển
quan trọng của nền kinh tế Việt Nam từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị
trường. Sự đổi mới này đã tạo đà cho nền kinh tế nước ta đạt sự tăng trưởng
vững chắc trong thời gian qua. Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nói chung thì một hoạt động kinh doanh mới cũng
ra đời: dịch vụ quảng cáo. Khi nền kinh tế càng phát triển thì quảng cáo ngày
càng đóng một vai trò quan trọng và ngày nay có thể nói con người đang phải
“sống chung với quảng cáo”. Với tư cách là một loại hình kinh doanh đặc biệt,
có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người, dịch vụ này đòi hỏi phải có hệ
thống văn bản pháp luật riêng điều chỉnh. Tuy nhiên do những yếu tố chủ quan
cũng như khách quan mà pháp luật điều chỉnh về hoạt động quảng cáo tại Việt
Nam còn nhiều bất cập. Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng hoạt động quảng
cáo trong thời gian qua còn nhiều lộn xộn.
Với mong muốn tìm hiểu về pháp luật quảng cáo của Việt Nam và đề xuất
một số giải pháp để tạo một môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch và rõ
ràng cho hoạt động này phát triển, em đã chọn đề tài Pháp luật về quảng cáo

2
của Việt Nam - Một số bất cập và giải pháp làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm những mục đích sau:
1. Tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về quảng cáo và pháp luật quảng
cáo.
2. Tìm hiểu thực trạng về hoạt động quảng cáo tại Việt Nam thời gian qua.
3. Nghiên cứu những quy định của Việt Nam về quảng cáo, đồng thời có so
sánh với quy định của một số nước phát triển.
4. Đề xuất một số giải pháp để góp phần hoàn thiện hơn các quy định của
pháp luật về hoạt động này, tạo điều kiện cho hoạt động quảng cáo phát
triển lành mạnh.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động quảng cáo có thể được xem xét dưới nhiều góc độ: là một loại
hình dịch vụ dưới góc độ của nhà kinh doanh hay là một tác phẩm nghệ thuật
dưới góc độ của một nhà thiết kế quảng cáo. Đề tài này nghiên cứu hoạt động
quảng cáo với tư cách là một hành vi thương mại chịu sự điều chỉnh của các văn
bản pháp luật, tuy nhiên dưới góc độ của một thương nhân chứ không phải của
một nhà làm luật. Vì thế, đề tài tập trung vào tìm hiểu khái quát thực trạng hoạt
động quảng cáo ở Việt Nam thời gian qua cũng như phân tích, đánh giá các văn
bản pháp luật điều chỉnh hoạt động này như Luật thương mại 2005, Pháp lệnh
quảng cáo 2001 và các văn bản có liên quan với mục đích đưa ra một số giải
pháp nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động quảng cáo ở nước ta phát
triển lành mạnh.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:

3
- Tư duy trừu tượng
- Thu thập, tổng hợp, đánh giá và phân tích tài liệu
- Phân tích thống kê
Bên cạnh đó, để có thể đánh giá một cách cụ thể, khách quan đối tượng
nghiên cứu, đề tài còn sử dụng các phương pháp hiện đại như:
- Quan sát
- So sánh
5. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
được chia thành 3 chương chính với nội dung như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quảng cáo và pháp luật
quảng cáo
- Chương 2: Đánh giá thực trạng những bất cập về pháp luật quảng cáo
của Việt Nam trong thời gian qua
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quảng cáo của
Việt Nam trong thời gian tới
Đây là một trong những đề tài nghiên cứu còn tương đối mới mẻ tại Việt
Nam nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Vì thế em
mong nhận được sự đánh giá, góp ý của các thầy cô và các bạn nhằm hoàn thiện
hơn đề tài này.
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Trung Vãn đã
tận tình hướng dẫn em trong thời gian hoàn thiện đề tài. Em cũng xin trân trọng
cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình và các bạn đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.

4
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢNG CÁO
VÀ PHÁP LUẬT QUẢNG CÁO
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢNG CÁO
1. Khái niệm quảng cáo và các phƣơng tiện quảng cáo
1.1. Khái niệm quảng cáo
Trong thời đại bùng nổ thông tin với rất nhiều phương tiện truyền thông
như ngày nay, con người đang thực sự phải sống chung với quảng cáo. Hàng
ngày mỗi chúng ta đều tiếp nhận rất nhiều thông tin quảng cáo từ các nguồn khác
nhau. Vậy có phải quảng cáo là một sự truyền tin? Đúng thế. Nhưng không phải
bất kỳ một sự truyền tin nào cũng có thể coi là quảng cáo. Một thông báo của
chính phủ hay của một tổ chức xã hội nào đó thì không thể coi là quảng cáo
được. Người kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua quảng cáo để giới thiệu về
sản phẩm của mình, thuyết phục người tiêu dùng mua sản phẩm đó. Nhưng liệu
họ có cam kết chắc chắn với khách hàng sẽ cung cấp sản phẩm đó khi khách
hàng có nhu cầu mua? Điều đó cũng không. Khi tiến hành một chương trình
quảng cáo cho sản phẩm của mình, các doanh nghiệp đều hướng tới một nhóm
khách hàng tiềm năng nào đó, nhưng rõ ràng đối tượng tiếp nhận quảng cáo có
thể là bất kỳ ai chứ không phải là một hay một số người cụ thể nào.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quảng cáo cũng ngày
càng phát triển và khái niệm quảng cáo cũng mở rộng. Quảng cáo là một hoạt
động kinh tế nhưng cũng đồng thời là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Mỗi
hình ảnh quảng cáo là một tác phẩm hội họa, mỗi sản phẩm quảng cáo trên
truyền hình là một đoạn phim ngắn. Quảng cáo đã sáng tạo ra thứ ngôn ngữ riêng
của nó, cô đọng nhưng nói được nhiều nhất [17].

