
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN ĐỌC
CHO HỌC SINH Ở LỚP 5/1 TRƯỜNG
TIỂU HỌC TRẦN BÌNH TRỌNG

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
Trong cuộc sống hằng ngày, dù ở môi trường nào con người cũng
cần phải có hoạt động giao tiếp. Trong xã hội hiện đại, hoạt động giao tiếp
lại càng quan trọng hơn. Để giao tiếp tốt mỗi người cần phải có kĩ năng sử
dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói). Muốn có một lớp người trong
tương lai năng động, linh hoạt trong giao tiếp thì ngay từ bây giờ chúng ta
phải bồi dưỡng cho mầm non của đất nước, đặc biệt đối với cấp Tiểu học.
Dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi
hỏi cơ bản đầu tiên đối với những người đi học. Đầu tiên các em phải học
đọc, sau đó phải đọc để học. Có đọc tốt thì mới phát triển tốt các kĩ năng
viết, nghe, nói. Đọc giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ để dùng trong
giao tiếp và học tập. Đọc là công cụ để học tập các môn học khác,đồng
thời tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo điều kiện để học sinh có
khả năng tự học và tinh thần học tập suốt cuộc đời, đó là một khả năng
không thể thiếu được của con người thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn
ngữ cũng như tư duy của người đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu
biết hơn, bồi dưỡng cho các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các
em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như
vậy, đọc có một ý nghĩa to lớn, nó bao gồm nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo
dục và phát triển.
Những điều ở trên đã khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và
phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh.
Tập đọc với tư cách là một phân môn Tiếng Việt ở tiểu học, có nhiệm vụ
đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Mặc dù hiện nay chương trình sách giáo khoa đã đổi mới, phương
pháp dạy học nói chung, dạy tập đọc nói riêng đã được cải tiến, nhưng ở
các trường tiểu học hiện nay việc dạy đọc vẫn còn nhiều hạn chế. Giáo
viên nặng về truyền đạt, quen sử dụng phương pháp truyền thống, không

kích thích được hứng thú học tập của học sinh tham gia tìm hiểu, xây
dựng cách đọc bài.
Với ý nghĩa quan trọng của phân môn Tập đọc và thực trạng về kĩ
năng đọc ở lớp tôi hiện nay, tôi mạnh dạn chọn phân môn này để nghiên
cứu và thể hiện trong việc đổi mới phương pháp dạy - học tập đọc ở tiểu
học. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm rèn đọc cho
học sinh ở lớp 5/1 Trường Tiểu học Trần Bình Trọng”.
II. Mục đích của đề tài: Tìm ra phương pháp dạy đọc tốt nhất để giúp
học sinh lớp 5/1 Trường Tiểu học Trần Bình Trọng học tốt phân môn Tập
đọc.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG
Năm học 2009- 2010 tôi được phân công dạy lớp 5/1. Lớp tôi chủ
nhiệm có 30 học sinh - Nữ 16. Đa số học sinh vào đầu năm đã có đầy đủ
sách vở, đồ dùng học tập đặc biệt là sách Tiếng Việt. Các bậc phụ huynh
phần lớn đều quan tâm đến việc học tập của con em mình. Cơ sở vật chất
đầy đủ. Giáo viên được tham gia các chuyên đề thay sách giáo khoa và
học tập các phương pháp mới trong dạy học. Nhà trường tổ chức học hai
buổi trên ngày cho 100% học sinh.
Tuy nhiên, đối với học sinh lớp tôi thì trình độ không đồng đều. Có
nhiều học sinh đọc đúng, nhanh và diễn cảm nhưng cũng không ít học
sinh đọc còn ngắc ngứ, lý nhí, chưa tốt. Một số em còn mắc lỗi phát âm,
chủ yếu là lỗi phát âm do từ địa phương.
Đây là kết quả khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt lớp 5/1 -
lớp tôi phụ trách năm học 2009- 2010.

TSHS
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
30
SL
T
L
SL
TL
SL
TL
SL
TL
3 10 %
16 53,3%
7 23,3% 4 13,3%
Như vậy, chất lượng đọc thực tế cho thấy còn thấp(đọc không tốt dẫn
đến kĩ năng viết chính tả, làm văn thấp).
II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH
Trong một giờ tập đọc tôi luôn chú ý: Rèn cho học sinh kỹ năng đọc
ngày càng thành thạo. Đây là yêu cầu có tính đặc trưng của phân môn tập
đọc. Dạy tập đọc cho học sinh chính là quá trình làm việc của thầy và trò
để thực hiện hai hình thức: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Đây chính là: “
Hai biện pháp dạy đọc”. Hai hình thức đọc này gắn bó chặt chẽ với nhau,
cộng tác cùng thực hiện để đạt một mục đích cuối cùng của đọc: Thông
hiểu nội dung văn bản.
Chất lượng đọc thành tiếng bao gồm 4 mức độ: đọc đúng, đọc lưu loát,
đọc có ý thức ( thông hiểu nội dung văn bản ) và đọc diễn cảm.
Chất lượng của đọc thầm chỉ gồm 3 mức độ đầu, đọc diễn cảm không
được bàn đến khi nói về đọc thầm.
1. Chuẩn bị cho việc đọc:
Giáo viên luôn chú ý đến tư thế đọc của học sinh. Khi ngồi đọc cần
ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách khoảng 30 - 35 cm, cổ và đầu
thẳng. Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
Tư thế đứng đọc phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải được mở rộng và
cầm bằng hai tay.
Giáo viên luôn cho học sinh hiểu khi đọc thành tiếng: Các em đọc
không phải chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn trong lớp cùng
nghe, nên cần đọc đủ cho tất cả nghe rõ. Nhưng không có nghĩa là đọc quá

to hoặc gào lên. Đối với học sinh đọc quá nhỏ “ lý nhí”, giáo viên kiên
nhẫn luyện và động viên các em đọc to dần.
2. Luyện đọc đúng:
a. Khái niệm:
Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần và
tiếng. Đọc đúng bao gồm đọc đúng các âm thanh ( đúng các âm vị ), nghỉ
ngắt hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Biện pháp:
Đầu năm tôi đã phân loại để nắm được trình độ đọc của học sinh, từ
đó có kế hoạch luyện đọc cho từng em. Trước khi lên lớp, tôi dự tính các
lỗi học sinh lớp tôi dễ mắc, những từ, những câu khó lần trước chưa đọc
tốt để luyện.
Luyện đọc đúng các âm đầu:
Đọc đúng các âm khó đối với địa phương ví dụ : quẹo vô, truyền
thuyết, tháp khoan, mải miết,ngạc nhiên, chất phác,…Phần luyện này tôi
kết hợp trong lúc đọc cá nhân.
Ví dụ: Khi dạy bài: “ Kì diệu rừng xanh”
Học sinh A đọc đoạn 3. Học sinh B nhận xét: bạn đọc sai “ leng lắt
mải miếc”, sửa lại là: “ len lách mải miết”, …Tôi cho học sinh A đọc lại
cho đúng. Sau đó gọi 2 đến 3 học sinh khác nhắc lại.
Đọc đúng bao gồm đúng cả tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu câu.
Việc ngắt nghỉ hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ
lâu hơn ở dấu chấm. Tôi dựa vào nghĩa và quan hệ ngữ pháp để xác định
cách ngắt nhịp đúng các câu:
- “ Những con vượn bạc má ôm con gọn ghẽ / chuyền nhanh như tia
chớp”.
- “Những con chồn sóc với chùm lông đuôi to/ đẹp / vút qua / không kịp
đưa mắt nhìn theo”.

