Làng đồng bằng Bắc Bộ
Kho tàng truyn thuyết và huyn thoi luôn nhc nh mi
con người Vit Nam vng ging Tiên Rng ca mình.
Xưa kia, 18 đời vua Hùng Vương đã cư ngụ trên đất Trung
Du và làm căn cứ xut phát vng chc đ cho sau này các cư
dân Vit c tiến xung chiếm lĩnh vùng châu th Bc B, lp
nên các làng đồng bng.
Min châu th Bc B nguyên nh h thng sông Hng và
sông Thái Bình bồi đắp mà thành, song cho đến nay, người ta
vn quyen gọi nó là đồng bng sông Hng, và gi nền văn
minh khu vực này là văn minh sông Hồng. Nhng c liu s
hc và kho c hc cho thấy, sau đợt bin tiến toàn tân cách
ngày nay chừng 3000 năm, lần theo dòng chy ca các dòng
sông, t tiên người Vit t nhng vùng trước núi đã tràn
xuống đồng bng. Những ưu điểm ca một vùng đất màu m
nh phù sa bồi đắp đã gi chân được nhng người đi khai
phá. H li, lp n ni lp kia, bám tr trên mảnh đất đồng
bng, trn mình trong cái khc nghit ca khí hu vùng nhit
đới gió mùa để làm ăn, sinh con, đẻ cái m mang làng
xóm. Những khó khăn trong quá trình chinh phục đồng bng
đã được đưa vào truyn thuyết, huyn thoại như việc đắp đê,
ngăn lũ trong truyện Sơn Tinh - Thu Tinh, vic khai phá
đầm ly, phù sa ven sông Hng trong truyn Ch Đồng T -
Tiên Dung. Ngày nay, nhiu ng ven sông Hng và sông
Đuống vn còn nhng khu đền th Ch Đồng T và Tiên
Dung như ngôi đền Đa Hoà ven sông Hồng thuộc đất Hưng
Yên. Câu chuyn v mi tình của chàng trai đánh cá nghèo
vi nàng công chúa con vua Hùng không ch là biu trưng
cho lòng hiếu tho, cho tình yêu đôi la, mà còn là biu
tượng cho chí hướng phát trin ca c cộng đồng nhm m
mang khai phá vùng đồng bng ly trũng thành nhng cánh
đồng tốt tươi, trù phú.
Nghiên cu vng châu th Bc Bộ, cho đến đầu thế k 20,
các nhà dân tc học và địa lý học đã coi đây là một ô trũng
rng ln, được hp thành bi nhiu ô trũng lớn nh. Mi ô
trũng gồm nhiu bc vi thế đất, thế nước và chế độ th
nhưỡng khác nhau, đòi hỏi cư dân các làng phải có thế ng
x thích hp, linh hot. Vì thế hình thành phía trên
ming trũng những làng đồng mùa, có rung thế cao. Dưới
rn trũng là những làng đồng chiêm, ch cày cấy được sau
mùa mưa khi nước đã rút hết khỏi các đồng trũng. Giữa
ming và rn trũng là những làng nép dưới chân các dải đồi
hoc các triền đất thấp, cư dân sống da ch yếu vào mt v
mu, din tích cy lúa hn hp. Ngoài ra còn có nhng làng
ven sông vi các bãi bi rng ln, thun li cho vic trng
các loi rau mầu như: ngô, khoai, đậu, đỗ... H thng làng
dày đặc được phân b trên khp vùng tam giác châu th, t
đỉnh Vit Trì chy dc theo hai cnh xung tn ven bin Hi
Phòng - Qung Yên, Ninh Bình - Nam Định. Trong vô s các
làng y, có không ít làng mang tên Nôm là t K đi kèm với
một tên nôm khác như Kẻ Noi, K Chèm, K V, K M, K
Ngà... vn là nhng làng cổ, ra đời trong quá trình khai phá
vùng đồng bng của các cư dân người Vit và tn ti bn
vững cho đến ngày nay. Đối vi những cư dân vùng đồng
bng Bc B, mt trong những khó khăn lớn nht chính là
nn lt li vào mùa mưa bão. Sông Hồng mang đến cái li
bồi đắp phù sa cho đồng bng, song cũng là mối lo cho người
dân vì thường gây ra lt lớn. Để chng chi vi thiên nhiên,
nhng người nông dân Bc B đã sáng to, bồi đắp nên mt
h thống đê điều ngày mt hoàn chnh và ngày nay có chiu
dài lên ti khong 1700 km. Theo s sách thì đê ở Bc B
t xưa vào đời Đường khoảng năm 867 - 875, Cao Biền đã
đắp đê quanh thành Đại La dài 2125 trượng để ngăn nước
sông. Sau này các đời vua Lý, vua Trn, vua Lê ri nhà
Nguyn đu rất quan tâm đến việc đắp đê và coi sóc đê bởi
ảnh hưởng trc tiếp đến s no đói, thái bình trong thiên h
và liên quan mt thiết đến vic gi yên kinh thành. Chính vì
vy, không có gì ngạc nhiên khi đánh giá về vùng đồng bng
Bc B người ta cho rng nn nông nghiệp lúa nước cùng vi
h thống đê điều là những đặc trưng không thể thiếu ca
vùng đồng bng này, và nó s còn tiếp tc ảnh hưởng, tiếp
tc chi phối đến đời sng kinh tế văn hoá của các cư dân