BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -----------(cid:1)(cid:2)(cid:3)----------

KHÚC THẾ ANH

DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO

TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN -----------(cid:1)(cid:2)(cid:3)----------

KHÚC THẾ ANH

DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO

TẠI KHU VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã ngành: 9340201

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHAN THỊ THU HÀ

HÀ NỘI - 2020

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi

cam kết bằng danh dự cá nhân rằng bài luận án này do tôi tự thực hiện và không vi

phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Nghiên cứu sinh Khúc Thế Anh

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sĩ này, ngoài sự nỗ lực không ngừng của bản thân,

NCS còn nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện

Ngân hàng Tài chính, các nhà khoa học trong và ngoài nhà trường.

Trước hết, xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS. TS. Phan

Thị Thu Hà, người hướng dẫn khoa học, đồng thời cũng là giảng viên hướng dẫn NCS

từ những ngày tốt nghiệp đại học và ở lại trường. Cô là một tấm gương phấn đấu không

ngừng trong học thuật cũng như tạo điều kiện cho các giảng viên, nghiên cứu viên trẻ

từng bước “đặt chân” vào con đường nghiên cứu một cách nghiêm túc và vững vàng.

Xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong và ngoài trường đã tạo cơ hội

cho NCS được phỏng vấn, trao đổi một cách cởi mở về vấn đề mà NCS theo đuổi khi

hoàn thiện luận án, cũng như phát triển luận án sau này. Các gợi ý mà các nhà khoa

học đưa ra đóng một phần quan trọng trong việc củng cố lý thuyết, giải thích thực tiễn

Việt Nam cũng như đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp đối với Việt Nam.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, các bạn nghiên cứu sinh và sinh

viên đã đồng hành, đã động viên, đã hỗ trợ NCS trong những lúc khó khăn, bế tắc

tưởng như phải dừng lại. Những lời động viên, chia sẻ thẳng thắn của các anh chị, các

bạn, các em cũng như hỗ trợ trong quá trình thực địa điền dã đã giúp NCS rất nhiều

trong việc thu thập và xử lý dữ liệu cũng như có thêm động lực để hoàn thiện công

trình này cũng như các nghiên cứu có thể phát triển trong tương lai.

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Lãnh

đạo Viện Ngân hàng - Tài chính, Lãnh đạo và các chuyên viên của Viện Đào tạo Sau

đại học, Viện Quản lý Châu Á Thái Bình Dương (nay là Viện Phát triển Bền vững)

qua các thời kỳ đã hỗ trợ NCS có được một môi trường học tập và nghiên cứu chuyên

nghiệp, năng động, giúp NCS tiếp cận được các phương pháp mới cũng như các lý

thuyết gốc có liên quan.

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Nghiên cứu sinh Khúc Thế Anh

iii

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... i LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ ii MỤC LỤC .................................................................................................................... iii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ....................................................................................... vi DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. viii DANH MỤC HÌNH ....................................................................................................... x PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH............... 7 1.1. Các nghiên cứu về tài chính hành vi ................................................................. 7 1.2. Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô ............................................................... 10 1.3. Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính ............................................................. 15 1.3.1. Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính ........................ 15 1.3.2. Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập ................. 19 1.4. Khoảng trống nghiên cứu ................................................................................. 20 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN .......................................................................................... 23 2.1. Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn ............................................... 23 2.1.1. Khái quát về khu vực nông thôn ................................................................... 23 2.1.2. Người nghèo khu vực nông thôn .................................................................. 24 2.2. Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn .................................. 25 2.2.1. Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn ............... 25 2.2.2. Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn .................. 29 2.2.3. Các phương pháp đo lường dân trí tài chính ................................................ 33 2.3. Vai trò của dân trí tài chính ............................................................................. 38 2.3.1. Đối với tổng thể nền kinh tế ......................................................................... 38 2.3.2. Đối với các đối tượng của nền kinh tế .......................................................... 40 2.3.3. Đối với thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn ........................... 41 2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính................................................. 46 2.4.1. Trình độ học vấn ........................................................................................... 47 2.4.2. Thu nhập ....................................................................................................... 47 2.4.3. Việc làm ........................................................................................................ 49 2.4.4. Tuổi tác ......................................................................................................... 49 2.4.5. Giới tính ........................................................................................................ 51 2.4.6. Chủng tộc và tôn giáo ................................................................................... 52

iv

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 56 3.1. Quy trình nghiên cứu ........................................................................................ 56 3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ................................................................... 58 3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính ............................................................................. 58 3.2.2 Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính ..................................................... 60 3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập ................................................... 63 3.3. Nghiên cứu sơ bộ ............................................................................................... 64 3.3.1. Nghiên cứu định tính sơ bộ........................................................................... 65 3.3.2. Nghiên cứu định lượng thử nghiệm .............................................................. 68 3.4. Nghiên cứu chính thức ...................................................................................... 79 3.4.1. Nghiên cứu định tính chính thức .................................................................. 79 3.4.2. Nghiên cứu định lượng chính thức ............................................................... 81 CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 88 4.1. Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam ..................... 88 4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh ................................. 90 4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính .................................... 91 4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh ............................... 95 4.2.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha ................................. 95 4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) .............................................................. 96 4.2.3. Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) ...................................... 98 4.3. Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng............................................. 102 4.4. Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập ................................. 107 4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập .................................. 107 4.4.2 Đánh giá tác động của kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính lên thu nhập ........................................................................................................... 109 CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH............................................................................................................ 112 5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu ....................................................................... 112 5.1.1 Kết quả về thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam.... 113 5.1.2 Nhóm kết quả về nhân tố nhân khẩu học ..................................................... 113 5.1.3 Nhóm kết quả về các yếu tố nội hàm dân trí tài chính ................................ 117 5.1.4 Nhóm kết quả về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập ..................... 118 5.2. Một số hàm ý chính sách ................................................................................ 119 5.2.1. Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính ............................................................ 119 5.2.2. Nhóm hàm ý về thái độ tài chính ................................................................ 123 5.2.3. Nhóm hàm ý về hành vi tài chính ............................................................... 124

v

5.3. Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo ................................ 125 5.3.1 Hạn chế của đề tài ........................................................................................ 125 5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo .................................................................. 126 KẾT LUẬN ................................................................................................................ 127 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .......................................................................................................... 128 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 129 PHỤ LỤC ................................................................................................................... 146

vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Ý nghĩa

1 ADB Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển châu Á

Asian Development Bank Institute - Viện Ngân hàng Phát 2 ADBI triển châu Á

3 APR Annual Percentage Rate - Lãi suất phần trăm bình quân

4 ATM Automated Teller Machine – Máy giao dịch ngân hàng tự động

5 Confirmatory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khẳng định CFA

6 Comparative Fix Index - Chỉ số thích hợp so sánh CFI

7 CMIN Chi bình phương - tiêu chuẩn để phân tích CFA

8 CP Chính phủ

America – College Retirement Equities Fund - Quỹ hưu trí Đại 9 CREF học của Hoa Kỳ

DNB Household Survey - Khảo sát hộ gia đình của DNB của 10 DHS Hà Lan

11 DNB De Nederlandsche Bank - Ngân hàng Hà Lan

12 DTTC Dân trí tài chính

13 EFA

14 Exploratory Factor Analysis - Phân tích nhân tố khám phá Financial Literacy Study - Nghiên cứu Dân trí tài chính FILS

15 Financial Services Authority - Ủy ban dịch vụ tài chính FSA

16 Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội GDP

Goodness of Fix Index - Chỉ số kiểm định sự phù hợp của mô 17 GFI hình hồi quy trong CFA

18 GS Giáo sư

Health and Retirement Study - Nghiên cứu về Sức khỏe và 19 HRS Hưu trí của Hoa Kỳ

20 IGI IGI Global, Hoa Kỳ

International Network on Financial Education - Hệ thống giáo 21 INFE dục tài chính quốc tế của OECD

Internatinal Standard Classification of Education - Bảng phân 22 ISCED loại tiêu chuẩn giáo dục quốc tế

Kaiser – Meyer – Olkin - Hệ số thể hiện mức độ thích hợp của 23 KMO tương quan nội tại các biến quan sát

vii

National Financial Education Strategy - Chiến lược giáo dục 24 NFES tài chính quốc gia

Organization for Economic Cooperatin and Development - Tổ OECD 25 chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

PGS Phó giáo sư 26

RMSEA Root Mean Square Error of Approximation - Chỉ số RMSEA 27

SEM Structural Equation Modeling - Mô hình cấu trúc tuyến tính 28

THCS Trung học cơ sở 29

THPT Trung học phổ thông 30

ThS Thạc sĩ 31

The Teachers Insurance and Annuity Association - Hiệp hội TIAA 32 bảo hiểm hàng năm cho giáo viên của Hoa Kỳ

Truth in Lending Act - Đạo luật Trung thực trong cho vay TLA 33

Tucker – Lewis Index - Chỉ số Tucker - Lewis phân tích CFA TLI 34

Doanh nghiệp nghiên cứu thị trường TNS TNS 35

Theory of Planned Behavior - Mô hình lý thuyết hành vi dự TPB 36 định

Theory of Reasoned Action - Mô hình lý thuyết hành động TRA 37 hợp lý

TS Tiến sĩ 38

UBGSTC Ủy ban Giám sát Tài chính 39

UBND Ủy ban nhân dân 40

WB World Bank - Ngân hàng Thế giới 41

viii

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1. Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020 ................................................. 25 Bảng 2.2. Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố ............... 28 Bảng 2.3. Bộ công cụ đo lường DTTC .......................................................................... 36 Bảng 2.4. Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu sử dụng bảng hỏi .............................. 37 Bảng 2.5. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC ............................................... 53 Bảng 3.1. Thang đo Kiến thức tài chính ........................................................................ 69 Bảng 3.2. Thang đo Thái độ tài chính ........................................................................... 70 Bảng 3.3. Thang đo Hành vi tài chính ........................................................................... 70 Bảng 3.4. Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính ........................................... 72 Bảng 3.5. Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính sau khi xóa K4 ................. 72 Bảng 3.6. Kết quả độ tin cậy thang đo Thái độ tài chính .............................................. 73 Bảng 3.7. Kết quả độ tin cậy thang đo Hành vi tài chính .............................................. 73 Bảng 3.8. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA .................................................... 74 Bảng 3.9. Tổng hợp các nhân tố sau khi phân tích EFA ............................................... 75 Bảng 3.10. Bảng độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích sơ bộ ................................... 76 Bảng 3.11. Ngưỡng chấp nhận của các chỉ số phù hợp mô hình .................................. 78 Bảng 3.12. Biến được sử dụng để lọc quan sát ............................................................. 81 Bảng 3.13. Ý nghĩa hệ số Cronbach’s Alpha ................................................................ 85 Bảng 3.14. Ý nghĩa giá trị Factor loading ..................................................................... 86 Bảng 4.1. Thống kê mô tả các nhân tố phản ánh DTTC ............................................... 90 Bảng 4.2. Điểm số dân trí tài chính trung bình phân loại theo nhân tố giới tính .......... 91 Bảng 4.3. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố tuổi tác ............................ 92 Bảng 4.4. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố trình độ học vấn ............. 92 Bảng 4.5. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố thu nhập .......................... 93 Bảng 4.6. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố việc làm .......................... 94 Bảng 4.7. Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức với hệ số Cronbach’s Alpha ............................................................................................................................. 95 Bảng 4.8. Kiểm định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA ................................................................................................................................ 97 Bảng 4.9. Bảng kiểm định KMO và Bartlett ................................................................. 98 Bảng 4.10. Kết quả kiểm định thang đo các nhân tố phản ánh ..................................... 99 Bảng 4.11. Tóm tắt mô hình định lượng chính thức ................................................... 102 Bảng 4.12. Kiểm định ANOVA định lượng chính thức .............................................. 102 Bảng 4.13. Coefficients định lượng chính thức ........................................................... 103

ix

Bảng 4.14. Ý nghĩa kết quả hệ số hồi quy của các nhân tố tác động DTTC ............... 104 Bảng 4.15. Hệ số mô hình cấu trúc ............................................................................. 106 Bảng 4.16 Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000 ........................... 106 Bảng 4.17. Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập .................................. 107 Bảng 4.18. Kiểm định ANOVA phân tích tác động của DTTC lên thu nhập ............. 108 Bảng 4.19. Kết quả Coefficients phân tích tác động của DTTC lên thu nhập ............ 108 Bảng 4.20. Tóm tắt mô hình tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập ........... 109 Bảng 4.21. Kiểm định ANOVA .................................................................................. 110 Bảng 4.22. Kết quả Coefficients phân tích tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập ............................................................................................................................. 110

x

DANH MỤC HÌNH Hình 2.1. Mối quan hệ giữa các nhân tố nội hàm của DTTC ....................................... 30 Hình 2.2. Lý thuyết hành động hợp lý ........................................................................... 31 Hình 2.3. Lý thuyết hành vi dự định ............................................................................. 32 Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu ..................................................................................... 57 Hình 3.2. Hình biểu diễn mối quan hệ giữa DTTC và GDP/người ............................... 60 Hình 3.3. Mô hình nghiên cứu sơ bộ ............................................................................. 63 Hình 3.4. Mô hình CFA định lượng sơ bộ .................................................................... 77 Hình 3.5. Mô hình nghiên cứu chính thức ..................................................................... 82 Hình 3.6. Quy tắc kiểm định d của Durbin-Watson ...................................................... 84 Hình 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu ................................................................... 88 Hình 4.2. Điểm số DTTC trung bình của 512 đối tượng khảo sát ................................ 89 Hình 4.3. Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 1 ..................................... 100 Hình 4.4. Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 2 ..................................... 101 Hình 4.5. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM ............................................................... 105

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây, tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, vì thế tài chính toàn diện là

trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới (World Bank, 2015). Theo Grohmann và cộng sự (2018), dân trí tài chính (DTTC) là một trong những mắt xích quan trọng và ảnh hưởng tích cực lên tài chính toàn diện. Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính

2008 đã chỉ ra khả năng đưa ra những quyết định tài chính rất quan trọng đối với việc phát triển tài chính cá nhân, từ đó tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế. Demirguc-Kunt và cộng sự (2015) cho rằng DTTC là một trong những yếu tố tác động lên thu nhập của cá nhân thông qua việc lên kế hoạch tài chính, đưa ra những quyết định tài chính tích cực

và nhận diện rủi ro. Có thể thấy rằng, DTTC có tác động tích cực đến giảm nghèo thông qua tăng thu nhập của người dân – đặc biệt tại nhóm nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015).

Các nghiên cứu về DTTC đã được thực hiện tại nhiều quốc gia, nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất trong vấn đề về lí thuyết cũng như chưa giúp giải quyết các vấn đề về thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của Research (2008), Lusardi (2008), Dew (2008), Servon và Kaestner (2008), Calamato (2010), OECD (2013), Mottola (2013),

Brown và Graf (2013), Scheresberg (2013), OECD (2015)… đã đưa ra một cách khái quát nhất các quan điểm về dân trí tài chính theo cách hiểu của từng nước, từng vùng; song lại chưa có sự thống nhất về nội hàm. Một vài khái niệm dân trí về tài chính được

chấp nhận rộng rãi như “... khả năng đánh giá một cách có hiểu biết và đưa ra các hành động hiệu quả đối với việc sử dụng và quản lý tiền trong hiện tại và tương lai” (Basu, 2005); hay “khả năng đánh giá và đưa ra quyết định một cách có hiểu biết trong việc sử dụng và quản lý tiền” (Noctor và cộng sự, 1992); hay “bao hàm việc hiểu biết về tài

chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính” (Atkinson và Messy, 2012). Về sau, quan điểm của Atkinson và Messy (2012) được OECD chấp nhận và phát triển thành các khái niệm để đo lường dân trí tài chính.

Về vấn đề đo lường, trong phạm vi nghiên cứu là các nước OECD hoặc chỉ các nước như Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu đã cho thấy, các tác giả đã đề xuất ra một số quan điểm để đo lường dân trí tài chính, như (1) dựa vào lãi suất và phí suất của các loại thẻ tín dụng mà khách hàng sử dụng; (2) câu hỏi đúng/sai liên quan đến nhiều

khía cạnh tín dụng (9 câu), tiết kiệm (5 câu), đầu tư (6 câu), thế chấp (4 câu), và lĩnh vực khác (4 câu); (3) Các câu hỏi liên quan đến tỷ lệ lãi suất, lạm phát, rủi ro đầu tư, và

2

phân tán rủi ro…; và cũng đã đưa ra được một số vấn đề liên quan đến các nhân tố nhân

khẩu học ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người dân như nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ…, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách lớn, trong đó nhấn mạnh vào việc xây dựng thói quen tiết kiệm đối với người dân có thu nhập thấp tại các vùng được điều tra khảo sát (Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, OECD, 2015). Đây là nền tảng để các nhà nghiên cứu và người làm thực tiễn về sau có thể áp dụng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần lại bỏ qua các nền kinh tế ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á (trừ Nhật Bản và Singapore), vốn có nền văn hóa khác biệt so với các nước phương

Tây, thể hiện ở (1) chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo (dẫn lại theo Nguyễn Thừa Hỷ (2000)) nên mối quan hệ của từng thành viên trong gia đình rất bền chặt, và hướng chi tiêu (thể hiện 1 phần của dân trí tài chính) phụ thuộc nhiều vào ý kiến của

người xung quanh (Mai và Tambyah, 2011, Nguyễn Thu Thủy, 2016); (2) Vốn có thói quen tiết kiệm nhiều hơn tiêu dùng (Lê Thanh Tâm, 2015). Những đặc điểm nhân khẩu học hoàn toàn khác biệt này đã dẫn đến vấn đề (1) sự thất bại trong việc hiểu các bảng hỏi của người dân khu vực Đông Á và Đông Nam Á so với các nước phương Tây

(OECD, 2015), từ đó không thể đánh giá được chính xác về DTTC, và cũng không xác định được cụ thể các nhân tố ảnh hưởng (2) những hàm ý chính sách liên quan đến phát triển DTTC không thể thực hiện được như đào tạo về việc tiết kiệm tiền tại các khu vực có thu nhập thấp – vì tỉ lệ tiết kiệm của người dân tại đây (so với thu nhập) rất cao!

Tại Việt Nam, DTTC được đề cập trong một số ít các nghiên cứu, và thường tập trung vào “đào tạo về tài chính” chứ không phải DTTC (Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ, 2018), hoặc đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập của nhóm đối tượng được khảo sát (Morgan và Trinh, 2017). Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy: tại các vùng nghèo thì kể cả người dân có kiến thức tài chính tốt nhưng thu nhập vẫn thấp, bởi thái độ và hành vi về tài chính của nhóm đối tượng này không cao (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Đối với các vấn đề liên quan đến người nghèo và xóa đói giảm nghèo, tại Việt Nam đã tiếp cận trên khá nhiều các góc độ: theo chính sách (Nguyễn Thị Hoa, 2009, World Bank, 2019), theo góc độ tiếp cận tài chính vi mô (Lê Thanh Tâm, 2013, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017), theo góc độ tài chính toàn diện… Các nghiên cứu này đã làm được khía cạnh là dần phổ biến kiến thức đến người dân về các dịch vụ tài chính, sử dụng các dịch vụ tài chính và góp phần thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói và giảm nghèo. Tuy nhiên, người nghèo tại khu vực nông thôn tiếp cận rất hạn chế các dịch vụ này, và thái độ ứng xử cũng như hành vi sử dụng với các dịch vụ này mang tính chất mơ hồ rất cao. Cụ thể, các chính sách của Nhà nước đã hỗ trợ người nghèo tại khu vực nông thôn rất nhiều về mặt đào tạo kiến thức tài chính, song do thái độ và hành vi về tài chính (cùng những lí do khác về mặt thể chế, địa lí…) làm cho các

3

chính sách chưa phát huy được tác dụng như mong muốn. Đồng thời, người nghèo tại khu vực nông thôn khó khăn hơn trong việc tiếp cận sinh kế so với người dân tại khu vực thành thị nên cần phải trang bị những kĩ năng cần thiết để có thể hỗ trợ họ phát triển. Mặt khác, mặc dù đa phần các nghiên cứu phát triển của Fishbein và Ajzen (1975) đều cho rằng từ ý định đến hành vi là gần nhất, song điều này lại chưa phù hợp với người nghèo – đặc biệt tại các nước có nền văn hóa chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo và Phật giáo như Việt Nam, và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường (Mai và cộng sự, 2009). Do vậy, đây vẫn là 1 khoảng trống còn cần tiếp tục nghiên cứu.

Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam (trong đó có các nhân tố phản ánh – là những nội dung cấu thành nên DTTC), cũng như đánh giá ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập. Đồng thời, luận án đưa ra những hàm ý chính sách để phát triển DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn để hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án sẽ sử dụng một khái niệm DTTC thống nhất và hiệu chỉnh cách đo lường cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu. Do đó, đây sẽ là nguồn bổ sung về cả lí thuyết lẫn thực tiễn cho nhánh nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam cũng như trên thế giới.

Vì những lí do trên, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông

thôn Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt

Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của đối tượng này.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả sẽ tập trung vào

các vấn đề sau đây:

• Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh, bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

• Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực

nông thôn Việt Nam.

• Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng

đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.

4

3. Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này trả lời cho những câu hỏi sau:

• Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?

• DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn

Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?

• Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người

nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn.

Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam.

Nghị định số 55/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về khái niệm nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Chính phủ, 2015). Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ nghiên cứu về những đối tượng có hộ khẩu và thường trú tại vùng nông thôn. Các cá nhân này phải đáp ứng được cả 2 điều kiện về thời gian: (1) có ít nhất 1 nửa thời gian sinh sống đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) trong 1 năm, phải có ít nhất 6 tháng sinh sống ở vùng nông thôn.

Người nghèo khu vực nông thôn: được xác định theo quyết định 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2015); tức là người dân sống ở vùng nông thôn có thu nhập thấp hơn 700.000 đồng/tháng đối với bình quân một người, và không quá 1.000.000 nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

Về thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019. Thời gian khảo sát tiến hành 2 lần: khảo sát sơ bộ trong vòng 1 tuần, từ ngày 07/03/2019 – 14/03/2019 tại tỉnh Thái Bình. Lần khảo sát chính thức trong vòng 3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2019. Nghiên cứu chính thức được tiến hành trên phạm vi cả nước.

5. Cách tiếp cận

Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, tác giả dựa trên các học thuyết ban đầu về kinh tế học. Trong giai đoạn những năm 1980 – 1990, nhóm học giả thuộc trường phái

5

Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đã phát triển quan điểm về tiếp cận các dịch vụ tài chính và tài chính toàn diện, giúp các cá nhân có thể đầu tư hoặc sử dụng tốt hơn các dịch vụ trên thị trường, từ đó giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế tự do. Quan điểm này đã đưa ra cách thức thúc đẩy tài chính từ cả hai phía: bên cung và bên cầu. Đối với bên cung, ngoài việc chủ yếu phát triển các tổ chức tài chính, còn có quá trình phát triển các dịch vụ tài chính, và tự đào tạo trong quá trình phát triển tài chính đối với con người (như sử dụng dịch vụ mới hoặc đưa chương trình đào tạo vào nhà trường) – nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho chính các tổ chức này. Đối với bên cầu, để có thể thực hiện được các nghiêp vụ trên thị trường tài chính, điều tất yếu là phải làm tăng thu nhập của cá nhân, tăng khả năng tiếp xúc với công nghệ thông tin và tăng các khía cạnh liên quan đến hiểu biết về các dịch vụ tài chính, tiếp cận dịch vụ tài chính, từ đó đưa ra thái độ và hành vi ứng xử đối với tài chính cho phù hợp. Như vậy, tác giả sẽ tiếp cận hướng nghiên cứu từ phía bên cầu của các dịch vụ tài chính.

Ngoài ra, luận án này cũng tiếp cận theo khía cạnh sinh kế bền vững và vốn con người, do sinh kế bền vững được phát triển dựa trên các lý thuyết về xóa đói giảm nghèo, và lấy con người làm trung tâm của vấn đề phát triển bền vững. Ngoài những vấn đề liên quan đến hỗ trợ người nghèo có cuộc sống tốt hơn – như sử dụng các chương trình trợ cấp của chính phủ - thì các nghiên cứu trên thế giới đều đưa ra hướng: để người dân tự phát triển bằng cách hỗ trợ các nguồn lực để đối tượng này có thể tự đối phó với sự thay đổi của môi trường tự nhiên cũng như về kinh tế, xã hội (Chambers và Conway, 1992, Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003). Thậm chí, nhóm lý thuyết về vốn con người cho rằng, nếu không phát triển được con người dựa trên trí thức thì rất khó có thể quản lý tốt được vốn vật chất (Schultz, 1961, Lucas, 1988, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008).

Đối với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài chính, hiện tại có hai nhóm người đang ít được các ngân hàng thương mại quan tâm đến là người nghèo (vì khả năng vay vốn nhỏ lẻ, và thường không có hoặc ít có tài sản đảm bảo); người sắp về hưu (vì nguồn thu nhập giảm sút, không đủ sức khỏe để sản xuất, kinh doanh…). Tuy nhiên, các đối tượng này lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ ở vùng nông thôn, và vẫn có nhu cầu sử dụng – ít nhất để đảm bảo cuộc sống (với người nghèo) và tiếp tục sử dụng các dịch vụ hàng ngày (với nhóm sắp về hưu). Nếu đẩy mạnh hoạt động liên quan đến dân trí tài chính sẽ giúp nền kinh tế giảm các chi phí liên quan đến giao dịch và tiếp cận dịch vụ tài chính tốt hơn, từ đó, có được hành vi phù hợp liên quan đến sử dụng tiền và phát triển kinh tế.

Từ hai góc độ trên, tác giả sẽ tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ phía cầu dịch vụ tài chính nhằm đưa ra những hàm ý chính sách vừa giúp nền kinh tế giảm chi phí giao dịch, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo.

6

6. Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Dựa trên cách tiếp cận từ phía cầu của tài chính toàn diện theo trường phái Washington Concencus (đồng thuận Washington), luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận như sau:

Thứ nhất, luận án xác định Dân trí tài chính bao hàm 3 khái niệm là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Đồng thời, luận án cũng đề xuất đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập của đối tượng khảo sát dựa trên vốn con

người. Đây là một bổ sung cho cách tiếp cận liên ngành về Dân trí tài chính.

Thứ hai, dựa trên cách tiếp cận của đồng thuận Washington, cách tiếp cận của sinh kế bền vững, tác giả đưa ra kiểm định về các nhân tố phản ánh (refelective factors) đến

dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn. Đây là một trong những gợi ý nhằm đánh giá tác động của các nhân tố cấu thành lên nhân tố tổng, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm nâng cao Dân trí tài chính của nhóm đối tượng được nghiên cứu.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

Thứ nhất, đánh giá được các nhân tố phản ánh của dân trí tài chính (bao gồm thái độ tài chính, kiến thức tài chính và hành vi tài chính) đều có tác động đến dân trí tài chính . Trong các nhân tố này, đáng chú ý là kiến thức tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam được chia thành 2 nhóm chính: kiến thức về tiết kiệm và kiến

thức về sử dụng tiền. Nhóm nhân tố phản ánh thuộc về kiến thức tài chính đóng vai trò lớn nhất, sau đó là hành vi tài chính và cuối cùng là thái độ tài chính.

Thứ hai, dựa trên kết quả của phỏng vấn sâu các chuyên gia, luận án đã đưa ra kết

quả rằng giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam; trong khi đó, tuổi tác và thu nhập có ảnh hưởng rõ ràng. Học vấn của nhóm người dưới tiểu học lại cao hơn nhóm người có trình độ trung học phổ thông.

Thứ ba, Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn bị ảnh hưởng bởi thu nhập, và cũng ảnh hưởng đến thu nhập của họ. Do vậy, muốn tăng dân trí tài chính thì không nên tập trung vào hướng dẫn người dân cách tiết kiệm mà nên tập trung vào cách sử dụng tiền trong chi tiêu và đầu tư. Hoạt động này nên thực hiện thông qua Hội phụ nữ, Hội nông dân. Các cơ quan chức năng có thể xem xét tăng dân trí tài chính dựa trên các ứng dụng điện tử và sự phát triển của công nghệ tài chính.

7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH

“Financial Literacy” là một khái niệm được công bố và sử dụng trên toàn thế giới vào năm 1997 bởi Jump$tart Coalition. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu về tài chính hành vi, về tài chính

vi mô và một số nghiên cứu trực tiếp liên quan đến DTTC.

1.1. Các nghiên cứu về tài chính hành vi

Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên

các thị trường khác. Tài chính hành vi được phát triển bởi Tversky và Kahneman (1974) khi trình bày về phương pháp kinh nghiệm và những lệch lạc xảy ra khi đưa ra các quyết định về tài chính. Sau đó, Tversky và Kahneman (1979), Kahneman và Tversky (1981)

phát triển lí thuyết kì vọng và lí thuyết hữu dụng kì vọng. Tài chính hành vi có 3 nhóm nghiên cứu chính: về doanh nghiệp, về thị trường và về cá nhân (nhà đầu tư). Trong phạm vi luận án này chỉ trình bày tổng quan về tài chính hành vi của cá nhân.

Các giả định của lí thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thông tin được cung cấp

chính xác, tin cậy và cân xứng cho các cá nhân và nhà đầu tư (North, 1994). Tuy nhiên, trên thực tế thì vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi tài chính của các cá nhân. Do đó, tài chính hành vi xem xét con người như một

chủ thể “bình thường”, không hoàn hảo, và do những hạn chế về khả năng xử lý thông tin, con người thường đưa ra những xét đoán sai lệch trong quá trình ra quyết định. Tài chính hành vi ghi nhận vai trò quan trọng của cảm xúc trong các quyết định tài chính, và điều này có khuynh hướng được tìm hiểu thông qua phương pháp kinh nghiệm dựa vào

hiệu ứng – từ đó đưa ra các vấn đề liên quan đến thái độ tài chính và hành vi tài chính.

Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các

quyết định về tài chính thì thường:

Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận (Levy, 2010). Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận, các cá nhân thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn việc cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai. Trong trường hợp

ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ, họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn rất lớn. Điều này cũng cho thấy rằng: các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường (đặc biệt là thị

8

trường chứng khoán) có xu hướng bán các tài sản tài chính đi sớm (trong trường hợp có

lãi), và giữ lại lâu hơn (trong trường hợp bị lỗ).

Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng. Cũng từ đó, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng hợp lý, nhưng thật ra lại sai lầm – từ đây hình thành nên nhóm nghiên cứu về sự tự tin quá mức và vấn đề lệch lạc (Glaser và Weber, 2010). Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà

bị lỗ sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá

tại các thị trường lớn.

Đối với vấn đề tự tin thái quá, các cá nhân thường cho rằng, bản thân mình “giỏi” hơn những người khác, thường “phóng đại” những hiểu biết của mình nên sẽ giao dịch nhiều hơn. Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các

cá nhân sẵn sàng bảo vệ quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm ý kiến từ bên ngoài.

Lệch lạc do tình huống điển hình: các cá nhân có xu hướng phân loại các sự kiện điển hình hoặc tiêu biểu, được xem như khuôn mẫu tin cậy nên sẽ dự đoán về thị trường

theo một khuôn mẫu mà quên đi rằng khả năng để thị trường phát tín hiệu giống nhau rất hiếm.

Tính bảo thủ: Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản

ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó. Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng chỉ tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu. Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải

thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu. Kết quả, thị trường lại biến động bất thường. Vấn đề này cũng thường đi với vấn đề lệch lạc do quen thuộc.

Tâm lý “bầy đàn”: Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của

các cá nhân, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không. Khi cá nhân đối đầu với ý kiến của nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cả những người khác có thể không sai.

Như vậy, thành công của nhóm nghiên cứu về tài chính hành vi đã giải thích được

vấn đề về phản ứng của các cá nhân trên thị trường, trước hết về vấn đề sử dụng tài sản

9

tài chính ra sao. Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có những vấn đề nhất

định như:

Thứ nhất, các nghiên cứu về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu giả định và bị phê phán bởi các nghiên cứu theo lí thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1998). Phần lớn các công trình đã công bố về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh tính phổ biến của thị trường từ đó đưa ra các hàm ý chính sách về hành vi của các cá nhân liên quan đến sử dụng các loại tài sản tài chính. Như vậy, nếu trong một “tổng thể” lớn thì các nghiên cứu về tài chính hành vi khó có thể phát triển được.

Thứ hai, mặc dù có liên quan đến hành vi tài chính của các cá nhân (và sâu xa hơn là hành vi của doanh nghiệp và thị trường) thì nhánh nghiên cứu về tài chính hành vi cũng chỉ tập trung vào cá nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, tức là nhóm các cá

nhân có kiến thức tài chính và thái độ tài chính tốt, đặc biệt là “không nghèo”. Tức là các quyết định liên quan đến tài chính của nhóm người này sẽ khác đối với nhóm người nghèo: trước hết phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản về cuộc sống, sau đó mới tiến đến các khoản đầu tư – dù rằng nhóm người nghèo cũng có những đặc điểm tương tự mà tài

chính hành vi nêu ra: tâm lí bầy đàn, sợ rủi ro, các vấn đề về lệch lạc.

Trong các nghiên cứu về hành vi, mặc dù không thuộc lí thuyết về tài chính hành vi, song vẫn cần đề cập đến lí thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action – TRA) của Fishbein và Ajzen (1975). Nhóm lí thuyết này trả lời các vấn đề liên quan đến

hành vi của con người nói chung – trong đó có hành vi tài chính. Theo lý thuyết này, ý định hành vi có thể được giải thích bằng thái độ đối với hành vi và mức quy chuẩn chủ quan. Thái độ đối với hành vi được định nghĩa là: cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một

cá nhân về thực hiện các hành vi mục tiêu, còn quy chuẩn chủ quan được đề cập là: người khác cảm thấy thế nào khi bạn làm một việc nào đó. Hạn chế lớn nhất của mô hình này là cho rằng toàn bộ hành vi của một cá nhân đều do lí trí của chính mình. Để khắc phục những nhược điểm của mô hình TRA, Ajzen và Fishbein (1980) đã đưa ra

mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB). Mô hình TPB cho rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của con người là thái độ. Sự mở rộng của lý thuyết TPB khi nghiên cứu cho rằng thái độ, hành

vi kiểm soát cảm nhận và mức quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi của cá nhân (Ajzen, 1991). Nhân tố hành vi kiểm soát cảm nhận (Perceived Behavioral Control) được thêm vào để thể hiện sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện một hành vi cụ thể và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay không. Lý thuyết

này được một số nghiên cứu cho rằng tối ưu hơn trong việc giải thích và dự đoán hành vi của người tiêu dùng trong một nội dung và hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, các nghiên

10

cứu của nhóm lí thuyết này đi về vấn đề giải thích hành vi của cá nhân nói chung hơn

các hành vi về vấn đề tài chính – đặc biệt lại không có nghiên cứu nào về hành vi của người nghèo. Do vậy, đây sẽ là một trong những nền tảng của tác giả khi phát triển cơ sở lí thuyết, cùng với lí thuyết về tài chính hành vi.

1.2. Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô

Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên,

tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào 1 số các nhánh nghiên cứu sau đây:

Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền

tảng của phát triển bền vững. Nhánh nghiên cứu về vốn con người cho rằng nếu không phát triển con người thì khó có thể phát triển kinh tế bền vững, bởi nếu không có nhân tố con người thì không thể sử dụng hiệu quả vốn vật chất: ví dụ như đất đai, máy móc…

thì vẫn phải “vận hành” bởi con người (Schultz, 1961). Từ vấn đề vốn con người, các nghiên cứu về dân trí tài chính hay sinh kế bền vững có nền tảng để phát triển. Có thể thấy rằng, nếu ứng dụng nhánh nghiên cứu này vào phát triển DTTC thì có thể phát triển kiến thức tài chính của các cá nhân.

Trong nghiên cứu về vốn con người, có thể chia thành 2 mảng nhỏ hơn

Nhóm nghiên cứu cho rằng một trong các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (và tất nhiên, kéo theo tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của thu nhập của các cá nhân)

là sự tích lũy kiến thức (hoặc các ý tưởng mới), từ đó tập trung vào đánh giá tác động của vốn con người lên tăng trưởng thông qua các mô hình kinh tế (mô hình tăng trưởng nội sinh). Nhóm nghiên cứu này được đặc trưng bởi Arrow (1969), Romer (1990), Audretsch và Feldman (1996). Nhóm nghiên cứu này đã đưa ra những quan điểm khác

nhau về kiến thức và vốn con người: vốn con người là tổng thể các kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi… của một cá nhân và thậm chí là cả một tập thể trong quá trình tích lũy lâu dài. Các nghiên cứu trên có mối quan hệ mật thiết với ý tưởng cho rằng, trong phát

triển kinh tế - đặc biệt là kinh tế tại các nước đang phát triển – cần chú trọng đến vấn đề nghiên cứu và triển khai các hoạt động hình thành nên vốn con người, bởi có phát triển được hoạt động này thì mới có thể tạo ra mức tăng trưởng nhanh và bền vững (Romer, 1990). Tuy nhiên, đưa ra hàm ý chính sách và đánh giá tác động của tác giả này thường

dành cho các nước phát triển, bởi để đạt đến khả năng có thể nghiên cứu và triển khai thì phải có được mức vốn con người – tức là phải tạo ra được một ngưỡng nhất định –

11

và từ ngưỡng này mới có thể nghiên cứu và triển khai các sản phẩm mới. Nhóm nghiên

cứu đã chứng minh được rằng, khi đầu tư vào vốn con người thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong một thời kỳ nhất định, từ đó tác động đến mức thu nhập của một nhóm đối tượng trong một thời kỳ cụ thể. Nhưng hạn chế là khó có thể áp dụng vào khu vực nông thôn tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, bởi khu vực này thiếu cả nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực con người nhất là nhóm đối tượng liên quan đến nghèo đói như người nghèo, vùng nghèo (OECD, 2015, Nguyễn Thị Hoa, 2009, Thái Phúc Thành, 2014). Nếu cho rằng nghiên cứu của Romer (1990) là lý thuyết gốc về vốn con người

thì lại có rất nhiều các giả thuyết ràng buộc – tức là khó có thể áp dụng vào những khu vực hẹp – điển hình là khu vực nông thôn của các nước đang phát triển hoặc các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi; hoặc đối tượng là người nghèo (tất nhiên, tùy theo từng

chuẩn nghèo của các quốc gia). Ngoài ra, nhóm nghiên cứu này vấp phải một quan điểm: trong mối tương quan giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế thì đâu là biến độc lập và đâu là biến phụ thuộc? Nếu coi vốn con người là biến độc lập thì đương nhiên có tác động đến tăng trưởng kinh tế (Romer, 1990). Tuy nhiên, nếu theo chiều ngược lại thì tăng trưởng

kinh tế cũng có những tác động nhất định đến vốn con người bởi khi có tăng trưởng kinh tế thì mỗi quốc gia sẽ có nhiều nguồn lực hơn để phát triển con người, và bản thân việc di cư giữa các vùng hoàn toàn có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế (Lau và cộng sự, 1993).

Ứng dụng hướng nghiên cứu này tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi

như Việt Nam, có thể kể đến nghiên cứu của Moock và cộng sự (2003), Nguyen (2004), Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Thái Phúc Thành (2014), Patrinos và cộng sự (2018). Đa phần các nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận vi mô, tức là đánh giá tác

động của vốn con người lên thu nhập của các đối tượng khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, thường kéo dài trong khoảng giai đoạn 1993 – 2006; và không tập trung vào nhóm đối tượng là người nghèo hoặc đối tượng sinh sống ở khu vực nông thôn. Thậm chí, các nghiên cứu này lại đưa ra những kết quả khác nhau về cùng một

vấn đề nghiên cứu. Ví dụ: theo nguyên tắc thì vốn con người cao hơn thì phải tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cao hơn, nhưng những bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam lại cho thấy vùng đồng bằng sông Hồng có số năm đi học cao nhất Việt Nam nhưng lại

có GDP ở mức thấp; trong khi vùng đồng bằng sông Cửu Long thì tỷ lệ đi học không cao, nhưng GDP lại đứng thứ 3 trong các vùng kinh tế (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008, Patrinos và cộng sự, 2018). Một nghịch lí là nếu như càng đầu tư vào vốn con người (ví dụ như tỷ lệ giáo viên trên học sinh, hay tỉ lệ biết đọc biết viết) thì lại

không đưa ra được những bằng chứng về tăng trưởng kinh tế và thu nhập, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) còn đánh giá, việc đầu tư

12

vào vốn con người (như trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn) cho khu vực nông thôn

không mang lại kết quả, tức là ngược với một số nghiên cứu trước và kể cả sau này.

Hướng nghiên cứu cho rằng vốn con người là sự tích lũy kiến thức, kỹ năng, chuyên môn… theo thời gian. Nhánh này được đặc trưng bởi các nghiên cứu nền tảng của Lucas (1988), sau đó được phát triển bởi Rebelo (1991), Mankiw và cộng sự (1992). Hướng nghiên cứu của Lucas đơn thuần là một dạng mô hình tích hợp kiến thức của các cá nhân trong quá trình sinh sống, nhưng đơn giản hơn so với hướng nghiên cứu thứ nhất (vì ít ràng buộc), nên nhánh này được phát triển nhiều (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết

Nhung, 2008). Nhánh này đã thúc đẩy sự phát triển các nghiên cứu về tài chính vi mô, và cũng chứng minh vấn đề: nếu người nghèo không được hỗ trợ để có thể tiếp cận vốn trên thị trường thì sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Bị giới hạn trong khả

năng vay vốn, người nghèo khó có thể có khả năng sử dụng các dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế (do không có tiền!), nên không thể đầu tư vào học hành hoặc kinh doanh (Morduch, 1999, Ledgerwood, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013). Các nghiên cứu đã đề cao được vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế

thông qua việc đầu tư trực tiếp hay gián tiếp vào giáo dục, đặc biệt là mảng tài chính vi mô và tài chính dành cho người nghèo. Vì vậy, điều cần thiết là cần phải miễn phí giáo dục (tiểu học và trung học) hoặc để có thể tăng trưởng kinh tế bền vững thì có thể tạo ra các chương trình tín dụng công để làm gia tăng phúc lợi xã hội. Các hàm ý chính sách

được đưa ra đã tạo tiền đề để xây dựng các tổ chức tài chính vi mô tại các nước đang phát triển và kém phát triển trên thế giới. Tuy vậy, các nghiên cứu trên vẫn vấp phải một số phê phán từ các bằng chứng thực nghiệm. Điển hình trong các nhóm phê phán có thể

đề cập đến như đã quá đề cao vai trò của vốn con người, và một số chính sách (như chính sách liên quan đến hỗ trợ con người học tập) dường như đang rơi vào ý tưởng trực quan của người viết. Minh chứng cho việc này là nếu chính phủ trợ cấp cho khu vực tư nhân trong giáo dục thì lại làm giảm tăng trưởng (Zhang, 1996), bởi việc này làm cho

khu vực tư nhân sẽ tận dụng các khoản thuế để phát triển các hoạt động khác; hoặc sẽ tạo ra quá nhiều giáo dục dẫn đến sự thay thế không hiệu quả giữa lao động có trình độ chuyên môn cao và lao động phổ thông trong thời gian đủ dài (Upadhyay, 1994). Kết

quả của Jones và Williams (2000) còn cho thấy, việc đầu tư vào vốn con người dường như không có hiệu quả khi tăng trưởng kinh tế không theo kịp với tốc độ đầu tư của chính phủ. Nguyên nhân của tình trạng này là mỗi nước khác nhau có một đặc điểm kinh tế khác biệt về mặt thể chế, các chính sách thương mại, pháp luật… làm cho dữ liệu thu

thập bị sai khác (Tallman và Wang, 1994, Li và cộng sự, 1998, Gujarati và Porter, 2003), nên đưa ra kết quả của mô hình cũng khác nhau.

13

Tại Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đi theo hướng này, trong đó chủ yếu

dựa vào các dữ liệu mảng để phân tích tác động của vốn con người tới tăng trưởng kinh

tế tại từng tỉnh và từng vùng (Scott và Chuyen, 2004, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung,

2008, Klump và Bonschab, 2004). Các hàm ý chính sách đưa ra từ các nghiên cứu về cơ

bản đều đi theo hướng đề xuất của nhóm nghiên cứu thứ nhất, tức là cũng đầu tư vào

con người như giáo dục, y tế, hoặc khuyến khích đầu tư thêm vào cơ sở vật chất. Nhưng

một trong những hạn chế lớn nhất là vẫn không chứng minh được việc đầu tư như thế

nào sẽ có hiệu quả cao.

Như vậy, về cơ bản, nhóm nghiên cứu này cho rằng đầu tư vào con người sẽ mang

lại lợi ích trong tương lai, đặc biệt là đầu tư về kiến thức tài chính. Tuy nhiên, vì những

đặc điểm khác nhau về nhân khẩu học, địa lý, chính sách… nên các bằng chứng thực

nghiệm vẫn đưa ra những kết quả mâu thuẫn. Một số hàm ý chính sách liên quan đến

khu vực nông nghiệp và nông thôn; hoặc về đối tượng là người nghèo vẫn không đạt

được kết quả khả quan như cách thức đào tạo về kiến thức, kỹ năng ra sao; hoặc xác

định mức vốn con người ở thời điểm hiện tại như thế nào để đưa ra các chương trình

định hướng về thái độ, hành vi, kiến thức, nhất là trong mảng tài chính vẫn chưa được

phát triển. Do vậy, việc mở rộng các vấn đề liên quan đến vốn con người (trong đó có

một cấu phần của nó là Dân trí tài chính) cần được bổ sung nhằm đưa ra các bằng chứng

thực nghiệm để phát triển kinh tế bền vững.

Nhánh nghiên cứu thứ hai mà tài chính vi mô dựa vào nền tảng là nhánh nghiên

cứu về sinh kế bền vững. Nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển trên nền

tảng của các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo. Trong các nghiên cứu thuộc nhóm này,

đa phần các tác giả đều đồng thuận: các luận điểm chính của sinh kế bền vững bao gồm:

(1) các cá nhân, hộ gia đình sử dụng các nguồn lực hiện tại (con người, tài chính, tự

nhiên, vật chất và các yếu tố xã hội) nhằm ứng phó với những thay đổi của thiên nhiên

và thị trường nhằm đạt được sinh kế bền vững. (2) Con người là yếu tố cốt lõi trong

khung sinh kế bền vững, do vậy, để có được một khung sinh kế thì chính phủ phải đưa

ra các chương trình trợ cấp liên quan đến việc tạo lập cho người nghèo một khả năng để

có thể tự phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh trong lâu dài. Nhóm nghiên cứu

này là nền tảng chính về tài chính vi mô. (3) Vì con người là vấn đề trung tâm trong sinh

kế, nên việc xóa đói giảm nghèo phải hướng đến việc tạo lập cho các cá thể trong nền

kinh tế một nền tảng vững chắc về thể chế, môi trường, xã hội và kinh tế, trong đó phải

có yếu tố giáo dục về tài chính và cách thức sinh hoạt (Chambers và Conway, 1992,

Scoones, 1998, Ashley và Carney, 1999, Solesbury, 2003).

14

Thành tựu lớn nhất của nhóm nghiên cứu về sinh kế bền vững là đã đưa ra được

một khung nghiên cứu nhóm lại trong 5 yếu tố chính: (1) nguồn lực sinh kế; (2) hoạt động sinh kế; (3) kết quả sinh kế; (4) thể chế và chính sách; (5) các tác động bên ngoài (Solesbury, 2003). Trong 5 nhóm yếu tố này thì nguồn lực sinh kế là yếu tố quan trọng nhất, bao gồm nguồn lực tài chính và nguồn lực con người và một số nguồn lực khác. Việc ứng phó với sự thay đổi của môi trường, đặc biệt là biến đổi khí hậu và việc di cư nông thôn đã đặt vấn đề tài chính và giáo dục về cách làm ăn, sinh sống của các cá nhân lên làm trọng tâm (Dey và Prein, 2004, DfID, 1999). Khi đó mới có thể thay đổi được

thái độ và hành vi của người nghèo tại khu vực nông thôn, nhất là các vấn đề liên quan đến tài chính.

Do nghiên cứu về sinh kế bền vững thường tiến hành với đối tượng là người nghèo

của khu vực nông thôn nên đây cũng là nền tảng của tài chính vi mô (Scoones, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013). Việc đưa ra một khung chương trình nhằm hướng đến việc giảm nghèo cần thiết đối với khu vực này. Chính vì thế, khi đưa ra được hướng giảm nghèo trên cơ sở kết hợp được nhiều chương trình, dự án của chính phủ, ví dụ như

các chương trình hỗ trợ tài chính cho người nghèo tại khu vực nông thôn, giáo dục tài chính cá nhân hay hướng dẫn việc sử dụng các sản phẩm tài chính qua hệ thống ngân hàng (trên góc độ tài chính – nằm trong tính bền vững về xã hội); hoặc tạo ra sản phẩm mới hoặc có cơ chế riêng để giúp người nghèo tại vùng nông thôn có thể tự thích ứng

được trong dài hạn (Armitage và cộng sự, 2009, Smit và Wandel, 2006). Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có một số vấn đề về mặt thực tiễn liên quan đến vấn đề con người, trong đó có người nghèo ở khu vực nông thôn như:

Thứ nhất, mục tiêu của tác giả là vấn đề làm sao người nghèo có thể tồn tại và có thể phát triển được. Đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu của cả các nhà nghiên cứu và các nhà làm luật (Vũ Thị Hoài Thu, 2013). Nhưng khi đã có được một khung sinh kế bền vững (dựa trên các hỗ trợ của chính phủ hoặc các tổ chức khác), và các đối tượng hưởng

lợi đã thoát nghèo thì nhóm lý thuyết này lại không đưa ra được các hàm ý chính sách tiếp theo bởi khi đã thoát nghèo thì nhóm người này lại hướng đến các mục tiêu khác như bình đẳng giới, hoặc sự cân bằng giữa mục tiêu vật chất và phi vật chất.

Thứ hai, trong việc phát triển sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn (thường hướng tới đối tượng là người nghèo) thì thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng (Scoones, 1998). Chính vì thế, các hàm ý về thể chế và chính sách nhằm tạo ra khung sinh kế bền vững cho người nghèo đều liên quan đến việc giáo dục chính sách tài chính

nhằm tạo ra khả năng tiết kiệm, hoặc có thể sử dụng đồng vốn một cách phù hợp. Trong khung sinh kế này, việc hướng dẫn người nghèo biết đọc, biết viết, biết tính toán cũng

15

là một phần quan trọng về mặt thể chế (Ledgerwood và cộng sự, 2013). Sau khi đã biết

đọc và biết viết mới hướng dẫn người nghèo các kiến thức về tài chính. Nhưng việc điều tra thực tiễn cho thấy, người nghèo có được kiến thức tài chính tốt (liên quan đến vấn đề hiểu biết – thuộc phạm trù con người trong sinh kế bền vững) thì vẫn không thể thoát nghèo do những vấn đề liên quan đến thái độ và hành vi tài chính còn “lệch lạc” (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017).

Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển dựa trên lý thuyết về giảm nghèo và có mối liên hệ mật thiết với các nghiên cứu về tài chính

vi mô. Trong giới hạn phạm vi của mình, các nghiên cứu này đã giải quyết được vấn đề về khung sinh kế bền vững, đưa ra được các hàm ý chính sách khác nhau liên quan đến mặt thể chế dành cho người nghèo khu vực nông thôn. Một trong những hàm ý quan

trọng (theo hướng tiếp cận các dịch vụ tài chính) là việc cung cấp cho người dân một nguồn lực sinh kế dựa trên việc có thể cho vay vốn và hình thành thói quen tiết kiệm. Tuy nhiên, nếu chỉ có dịch vụ tài chính và giáo dục tài chính mà không đánh giá tình trạng dân trí tài chính đang ở mức độ nào thì khó có thể đưa ra một hàm ý chính sách

bền vững – đặc biệt là đối với nhóm đối tượng cận nghèo.

1.3. Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính

Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTC

thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) nghiên cứu về phương pháp đo lường DTTC; (3) nghiên cứu về hàm ý chính sách. Trong phạm vi phần này của luận

án, chỉ trình bày về nhân tố tác động đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập.

1.3.1. Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính

● Yếu tố về trình độ học vấn

Các quan điểm về tác động của trình độ học vấn theo cách tiếp cận này cũng có nhiều điểm tương đồng do dựa trên kết luận về vốn con người. Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn. Cùng quan

điểm trên, Atkinson và Messy (2012) cho thấy ở Đức, Malaysia và Ba Lan thì các cá nhân có học vấn cao hơn có điểm số DTTC cao hơn. Tùy từng phạm vi nghiên cứu mà các tác giả đánh giá trình độ học vấn của các cá nhân, ví dụ như học vấn của bố mẹ có tác động đến DTTC của con cái hay không. Tuy nhiên, đối với người nghèo hoặc người

lớn tuổi thì việc xác định trình độ học vấn lại khó khăn, khi mà thế hệ trước của họ không có điều kiện học tập hoặc đã qua đời.

16

Ở mỗi quốc gia đều có cách đo lường trình độ học vấn riêng biệt, nên kết luận cụ thể về tác động của trình độ học vấn lên DTTC vẫn chưa đồng nhất tạo ra khoảng trống của những nghiên cứu này. Một đặc điểm đặc trưng của Việt Nam là tuy trình độ học vấn cao, nhưng thu nhập lại thấp (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) – thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người hoặc GDP. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Hồng là nơi có trình độ học vấn cao nhất cả nước, nhưng tính bình quân GDP lại thấp gần nhất. Vì vậy, việc đánh giá học vấn tác động lên DTTC trong bối cảnh Việt Nam là một khe hở có thể tiếp tục khai thác.

● Yếu tố về thu nhập

Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tiết kiệm của con người: khi thu nhập tăng thì tiết kiệm tăng. Các nghiên cứu ở Estonia, Na Uy, Cộng hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi cho thấy rằng thu nhập càng cao thì điểm DTTC càng tốt (Monticone (2010); Lusardi và Mitchell (2011b), Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015)). Tuy nhiên, ở Armenia và Ireland, người tiêu dùng thu nhập trung bình có hiểu biết về tài chính tốt nhất và ở Na Uy có rất ít sự khác biệt giữa người tiêu dùng trung bình và người có thu nhập cao. Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2007), Lusardi và cộng sự (2011b).

Đa phần, các nghiên cứu trên đều đo lường thu nhập thông qua việc trả qua thẻ ngân hàng, tuy nhiên, tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc sử dụng tiền mặt rất nhiều (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, World Bank, 2014) nên việc đánh giá thu nhập không phù hợp. Thêm vào đó, một trong những đặc trưng của vùng nông thôn Việt Nam là việc “đổi công” trong quá trình sản xuất và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp – và hoạt động này thường không được hạch toán vào thu nhập. Vì vậy, việc tính toán và đánh giá lại thu nhập cũng như tác động của nó lên DTTC là một yêu cầu cần thiết.

● Yếu tố việc làm

Banks và Oldfield (2007) chỉ ra những người có việc làm ổn định sau khi nghỉ hưu có DTTC cao hơn nhóm người có việc làm không ổn định sau khi nghỉ hưu. Bhushan và Medury (2013) dựa trên cơ sở tính chất của việc làm, đã chia đối tượng nghiên cứu thành hai loại là nhân viên chính phủ và phi chính phủ. Kết quả cho thấy cho thấy các nhân viên phi chính phủ có trình độ hiểu biết về tài chính cao hơn so với nhân viên chính phủ. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng kết luận rằng bản chất của việc làm ảnh hưởng đến trình độ DTTC. Kết luận này cũng được ủng hộ bởi Baker và Ricciardi (2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018).

17

Cách tiếp cận theo việc làm phù hợp về mặt đánh giá DTTC, nhưng vẫn để lại một

khoảng trống: đa phần phạm vi nghiên cứu của các nước thuộc các nghiên cứu trên là nước phát triển, thu nhập từ việc làm (cũng như từ trợ cấp xã hội rất cao), trong khi đó các nước phát triển lại không như thế. Và nếu như đối tượng nghiên cứu là người nghèo lại hiếm khi có một việc làm mang tính chất hành chính hoặc đều đặn nên việc kiểm tra tác động của việc làm mang tính chất thời vụ của nhóm đối tượng này tại khu vực nông thôn vẫn còn bỏ ngỏ.

● Yếu tố tuổi tác

Agarwal và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng hiệu suất tài chính cao nhất ở trung niên vào khoảng 53 tuổi khi họ có những quyết định tài chính ít sai lầm hơn so với những người trẻ tuổi hơn hay là những người lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, Brown và Graf (2013)

chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC: những người trả lời có độ tuổi từ 36 - 50 tuổi có trình độ DTTC cao, trong khi đó nhóm tuổi dưới 35 tuổi và trên 65 tuổi chỉ có 45% số người trả lời trả lời tất cả các câu hỏi một cách chính xác. Kết quả này cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi

và Tufano (2015), Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010), Atkinson và Messy (2012), Lusardi và cộng sự (2017). Các nghiên cứu của Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) lại chỉ ra rằng tuổi tác không thật sự có ý nghĩa thống kê khi đo lường DTTC. Một trong những nguyên nhân của sự khác biệt này là các

nghiên cứu này tiến hành trong những môi trường khác nhau (đa phần thuộc khu vực thành thị, và với những nhóm đối tượng không phải người nghèo), bỏ qua các nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Đông Á – khi mà mức độ tiêu dùng hay thái độ tài chính

chịu ảnh hưởng lớn từ những người xung quanh, hoặc nhóm người già (Mai và Tambyah, 2011). Như vậy, các nghiên cứu trên vẫn có sự khác biệt và chưa đưa ra được một kết luận thống nhất về ảnh hưởng của yếu tố tuổi tác lên DTTC – đặc biệt là trong những nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam.

● Yếu tố giới tính

DTTC cũng có sự khác biệt lớn về giới tính, ví dụ, tại Hoa Kỳ, Thụy Điển, Ý, Nga và New Zealand, cũng như các nước có nền kinh tế phát triển (Atkinson và Messy, 2011,

Atkinson và Messy, 2012) cho thấy nam có DTTC tốt hơn nữ. Tuy nhiên, Bucher-Koenen và Lusardi (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về DTTC. Kết quả nghiên cứu này dường như đi ngược lại với hầu như các nghiên cứu hiện nay đang có ở trên thế giới về DTTC. Đây cũng là kết quả của các

nghiên cứu Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018).

18

Một trong những vấn đề mà các nghiên cứu trên đã tiến hành là đa phần mẫu nghiên

cứu đều tại các nước có nền kinh tế phát triển, hoặc vấn đề bình đẳng giới đã được đề ra và giải quyết trong thời gian khá dài. Trong khi đó, tại các vùng nông thôn của các nước Đông Á và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam, bất bình đẳng giới vẫn là một trong những thách thức đối với việc giáo dục về DTTC hoặc tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, Ledgerwood và cộng sự, 2013). Nhưng do sự phát triển của các tổ chức tài chính tài chính vi mô, sự hỗ trợ của chính phủ Việt Nam và các tổ chức khác, nhóm đối tượng phụ nữ nghèo ở vùng nông

thôn đã có khả năng nâng cao DTTC và dần làm chủ cuộc sống của mình (Shakya và Rankin, 2008, Nghiem và cộng sự, 2012). Như vậy, quan điểm về ảnh hưởng của yếu tố giới tính lên DTTC ở trên thế giới vẫn chưa thật sự thống nhất hoàn toàn và vẫn

có những khoảng trống nghiên cứu cần được phát triển thêm, nhất là tại các vùng có sự hỗ trợ của chính phủ về xóa đói giảm nghèo cũng như sự phát triển của tổ chức tài chính vi mô.

● Yếu tố chủng tộc và tôn giáo

Ảnh hưởng của chủng tộc tới DTTC đã được nghiên cứu bằng nhiều công trình khác nhau như Bumcrot và cộng sự (2011) tại Hoa Kỳ, Crossan và cộng sự (2011) ở New Zealand; Alessie và cộng sự (2008) ở Hà Lan; Bagić (2011) ở Bosnia và Herzegovina;... Trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2011b), Lusardi và cộng sự

(2011a) cũng chỉ ra rằng chủng tộc cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến DTTC. Kết quả nhóm tác giả thu lại được là đã có một sự khác biệt nhất định trong việc nhận thức về DTTC giữa các nhóm chủng tộc. Kết quả được ủng hộ trong nghiên cứu của

Zhan (2006) tại Tây Ban Nha. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra rằng, những người tham gia có gốc Tây Ban Nha thường có điểm về kiến thức tài chính thấp hơn so với những dân tộc khác.

Alessie và cộng sự (2008) nghiên cứu đối với hơn 2.000 hộ gia đình bằng phương

pháp điền bảng hỏi đã đưa ra kết quả rằng yếu tố tôn giáo ảnh hưởng tới DTTC. Trong nghiên cứu này chia tôn giáo thành 4 nhóm chính là không có tôn giáo, đạo Tin Lành, Công giáo và các nhóm tôn giáo khác. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm người thuộc

đạo Tin lành có kiểm soát về tài chính tốt hơn những người thuộc đạo Công giáo và các tôn giáo khác trong khi những người không có tôn giáo lại là những người có xu hướng đầu tư vào chứng khoán và bất động sản nhiều hơn những nhóm còn lại. Kết quả này cũng được ủng hộ trong nghiên cứu của Nanziri và Leibbrandt (2018).

Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu trên được tiến hành tại các nước chịu ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa, trong khi đó, tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi như

19

khu vực Đông Nam Á hay Đông Á, Nho giáo và Phật giáo lại là những tư tưởng có ảnh

hưởng lớn nhất. Tran và cộng sự (2017) chỉ ra rằng, tại các nước thuộc khu vực này, người dân có tư tưởng tôn giáo không nặng nề, và cũng thường ít đến các cơ sở thờ tự. Thậm chí, tư tưởng “vô vi” còn cho thấy, việc tìm hiểu kiến thức tài chính cũng không quá nặng nề. Như vậy, các nghiên cứu từ những khu vực khác nhau trên thế giới chỉ ra được rằng chủng tộc và tôn giáo là một yếu tố ảnh hưởng đến việc nhận thức và kiến thức tài chính nên ảnh hưởng của nó tới DTTC, nhưng lại chưa tìm hiểu tại các nước như Việt Nam – đặc biệt là của người nghèo khu vực nông thôn.

1.3.2. Nhóm quan điểm về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Nếu như ảnh hưởng của thu nhập lên DTTC đã nghiên cứu và chứng minh ở trong các nghiên cứu khác nhau (trong tác giả về vốn con người), thì ảnh hưởng của DTTC

lên việc nâng cao thu nhập của cá nhân vẫn chưa được nghiên cứu rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp coi DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để có thể ra quyết định tài chính và nâng cao mức độ tài chính của một cá nhân, thì thu

nhập là một trong những chỉ tiêu đo lường mức độ tài chính của cá nhân. Nói cách khác, DTTC có ảnh hưởng lên thu nhập.

Các nghiên cứu của Stango và Zinman (2009), Lusardi và Mitchell (2007) cũng ủng hộ quan điểm: việc cải thiện DTTC sẽ giúp một cá nhân đưa ra những quyết định

tài chính tốt hơn, cho phép lên kế hoạch tốt hơn trong việc quản lý tài chính và sử dụng tiền bạc, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của một cá nhân.

Ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập còn được chứng minh qua các việc nghiên cứu

các hành vi nợ. Agarwal và cộng sự (2009) đã thực hiện một nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng những cá nhân có kiến thức về thẻ tín dụng sẽ thường đưa ra những sự lựa chọn khoản nợ tốt hơn. Kết quả này cũng được ủng hộ bởi Lusardi và Tufano (2015) khi cho rằng việc điểm số DTTC thấp có liên quan tới việc chi phí nợ cao. Courchane

và Zorn (2005) đã đưa ra kết luận rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến việc lựa chọn khoản vay hay kết quả của việc chi trả nợ chính là hành vi tài chính, một trong những nhân tố phản ánh nên mức độ DTTC của một cá nhân. Việc lựa chọn khoản vay hay chi trả nợ

là một trong những yếu tố được sử dụng để tính toán thu nhập khả dụng của một cá nhân, chính vì vậy, thông qua việc nghiên cứu hành vi nợ cũng có thể thấy rằng DTTC ảnh hưởng lên thu nhập.

Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào trên thế giới đưa ra một khẳng định

rõ ràng về ảnh hưởng và xu hướng tác động của DTTC lên thu nhập của một cá nhân, đặc biệt là người nghèo khu vực nông thôn.

20

1.4. Khoảng trống nghiên cứu

Lusardi và Mitchell (2014) và rất nhiều các nghiên cứu khác trên thế giới đã chỉ ra rằng DTTC có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Thông qua các kết quả của các nghiên cứu đã được nêu ở phần trên, DTTC có tác động tới việc chi tiêu,

đầu tư và tiết kiệm của từng cá nhân trong nền kinh tế biểu hiện qua lý thuyết, thái độ và hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế. Song, các kết quả của các tác giả còn nhiều điểm bất tương đồng; qua đó, bộc lộ ra một số vấn đề có thể được phát triển tiếp

trong các nghiên cứu sau này. Đây chính là khoảng trống của các nghiên cứu đã công bố, cụ thể:

Thứ nhất, về nội hàm của DTTC chưa thống nhất trong các nghiên cứu. Khoảng trống giữa các nhân tố phản ánh DTTC – tức là bản thân DTTC được bao gồm 3 yếu tố

là Thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính – và 3 nhân tố này phản ánh ra sao lên DTTC. Cũng chính vì thế, nên đã xuất hiện khoảng trống về phương pháp tiếp cận để đánh giá về dân trí tài chính.

Thứ hai, việc phân tích và trình bày các kết quả đánh giá của các nghiên cứu tập

trung nhiều đến phân tích định tính.

Nguyên nhân của các điểm bất đồng này có thể do sự khác biệt giữa quan điểm của các nhà nghiên cứu, đặc điểm riêng của từng vị trí địa lý, khác biệt về mẫu nghiên

cứu và phương pháp nghiên cứu. Cụ thể:

- Do các phương pháp đo lường chưa thống nhất, các bảng hỏi sử dụng cần được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như

Việt Nam.

- Đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào nhóm người có thu nhập trung bình trở lên, sinh viên và người sống ở khu vực thành thị. Vậy, đối tượng người nghèo và người sống ở khu vực nông thôn chưa được đề cập đến.

- Các nghiên cứu đang tập trung vào hướng các nước phát triển như các nước OECD,

Mỹ, Nhật… mà bỏ qua các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam.

- Về đặc điểm nhân khẩu học, các nghiên cứu này đang tập trung vào các nước có mảng văn hóa mang tính chất tiêu dùng cao, nhưng lại bỏ qua các nước có tính chất cộng đồng lớn như Việt Nam, hoặc có ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo (Mai và Tambyah, 2011, Nghiem và cộng sự, 2012, Tran và cộng sự, 2017).

Thứ ba, những đặc trưng riêng của Việt Nam có ảnh hưởng đến DTTC chưa được

đề cập đến trong các nghiên cứu đã công bố.

21

Nền kinh tế Việt Nam có giai đoạn phát triển khác biệt so với kinh tế thế giới. Sau

quá trình đổi mới từ năm 1986, Việt Nam đang chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường có định hướng của nhà nước. Hiện tại, Việt Nam đang tạo điều kiện cho chính sách khởi nghiệp bao gồm: khung pháp lý để tạo thuận lợi cho khởi nghiệp; cơ chế vốn và đầu tư riêng cho khởi nghiệp; doanh nghiệp lớn đầu tư, hỗ trợ khởi nghiệp... (Tang và Tan, 2015). Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đồng thời Việt Nam đang cải thiện rất nhiều trong việc nâng cao đời sống của cư dân tại khu vực nông thôn (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) nhưng việc tiếp cận các dịch vụ tài chính tại

khu vực này vẫn rất thấp, đặc biệt là về kiến thức tài chính (Dinh và Nguyen, 2017) hay sử dụng các dịch vụ liên quan đến ngân hàng số (Phạm Bích Liên, 2016). Do vậy, việc đánh giá hiện trạng DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam vẫn còn bỏ

ngỏ. Thêm vào đó, trình độ tri thức của người dân còn kém. Mặc dù World Bank (2014) cho rằng Việt Nam luôn nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ nhanh nhất trên thế giới nhưng đối với một số khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, vấn đề về tài chính hầu như còn nguyên sơ, chưa được phát triển, khả năng tiếp

cận tài chính còn kém. Vì vậy, việc đưa ra các bằng chứng thực nghiệm cũng như các hàm ý chính sách phù hợp để thúc đẩy DTTC cho người nghèo khu vực nông thôn cũng cần được xem xét.

Đến hiện tại, chỉ có một số ít các nghiên cứu về DTTC tại Việt Nam. Các số liệu

DTTC trong các nghiên cứu của Việt Nam thường được đưa ra bởi các tổ chức tài chính quốc tế như World Bank (2015), Klapper và cộng sự (2015). Những số liệu này thường có những điểm hạn chế như số liệu đưa ra phục vụ cho mục đích so sánh các khu vực

với nhau trên toàn thế giới chứ không phải để phục vụ mục đích nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam; số liệu không chuyên sâu cho một nhóm đối tượng ở một vùng miền hay một độ tuổi nhất định; ... Chính vì thế các giải pháp các nhà hoạch định chính sách xây dựng nên trên thế giới vẫn chưa thật sự phù hợp với thực tiễn Việt Nam và có thể áp

dụng tại Việt Nam. Một số các nghiên cứu khác của Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018) tập trung vào vấn đề khởi nghiệp chứ không tập trung vào người nghèo.

Theo tìm hiểu của tác giả thì hầu như các nghiên cứu chưa đề cập tới mối quan hệ

giữa thu nhập của người dân Việt Nam với DTTC. Ở Việt Nam, với mức thu nhập ở mức trung bình thấp so với thế giới. Đây là sự khác biệt rất lớn ở tầng lớp thu nhập trung bình - thấp của Việt Nam so với cùng tầng lớp thu nhập trung bình - thấp ở các nước trên thế giới. Do vậy việc không đi sâu vào nghiên cứu thu nhập có thể gây nên những

lỗ hổng lớn trong nghiên cứu về DTTC.

22

Những tác động của vấn đề này có thể ảnh hưởng trực tiếp tạo ra sai lệch trong kết

quả nghiên cứu từ đó gây ra những sai lầm trong vận hành chính sách tại Việt Nam. Với mục tiêu có thể đưa ra những nhân tố tác động, xây dựng nên một khung nghiên cứu DTTC cụ thể, chính xác; phân tích sự ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập tại nông thôn Việt Nam. Phát triển từ những kinh nghiệm của các nghiên cứu trước, đưa ra một số biện pháp có thể áp dụng phù hợp và dành riêng vào việc nâng cao và cải thiện DTTC tại Việt Nam, đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam” đã được lựa chọn để nghiên cứu.

23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN

2.1. Khái quát về người nghèo khu vực nông thôn

2.1.1. Khái quát về khu vực nông thôn

Khu vực nông thôn là một khu vực rộng lớn, xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên

thế giới. Nhìn chung, các quan điểm của các nghiên cứu đều cho rằng: “khu vực nông

thôn là khu vực địa lý không bao gồm thị trấn và thành phố”. Cụ thể hơn về quan điểm

này, thì khu vực nông thôn bao gồm toàn bộ các cá nhân, hộ gia đình, vùng lãnh thổ

không nằm trong khu vực đô thị.

Về đặc điểm của khu vực nông thôn, có thể kể đến như sau:

Đây là khu vực người sinh sống, hoạt động kinh tế chủ yếu dưới dạng nông nghiệp.

Dân số tại đây thường tập trung dưới dạng nhóm nhỏ. Đối với các nước đang phát triển,

đời sống của người dân tại khu vực nông thôn phụ thuộc vào sản xuất nông – lâm – thủy

sản; và thường không cao so với khu vực thành thị - tập trung nhiều ngành sản xuất công

nghiệp và dịch vụ.

Do mức sống của người dân tại khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành thị nên

khu vực nông thôn thường là nơi tập trung nhiều người nghèo, và cũng xảy ra hai hiện

tượng chính: (1) đô thị hóa khu vực nông thôn, do những tác động về mặt chính sách,

kinh tế cũng như đầu tư làm cho khu vực này dần trở thành khu vực thành thị do có thêm

các nhà máy, khu công nghiệp cũng như đông dân cư hơn; (2) di cư từ khu vực nông

thôn ra khu vực thành thị. Nguyên nhân của việc này là người dân tại khu vực nông thôn

muốn tìm một cuộc sống mới với thu nhập cao hơn ở khu vực thành thị. Hậu quả làm

cho khu vực nông thôn trở nên ít người sinh sống hơn, người còn ở lại phần nhiều là

người già và trẻ em.

Phương thức sản xuất tại khu vực nông thôn của các nước đang phát triển phụ

thuộc nhiều vào thời tiết, địa hình, chưa ứng dụng nhiều khoa học kỹ thuật. Cũng vì thế,

nên các sản phẩm đặc trưng của khu vực này chưa được biết đến nhiều thông qua các

chỉ dẫn địa lý hay bảo hộ sản phẩm.

Đa phần các quan điểm về khu vực nông thôn trên thế giới được pháp điển hóa

thông qua luật – tức là xác định khu vực nào là khu vực thành thị, phần còn lại sẽ là khu

vực nông thôn. Trong luận án này, khu vực nông thôn được hiểu theo quan điểm của

nghị định 55/2015/NĐ-CP: “Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm

24

địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố”. Trong luận án này, khi nghiên cứu

về khu vực nông thôn, tác giả sẽ tìm các xã thuộc các huyện sau khi đã điều chỉnh địa

giới hành chính nhằm tránh tình trạng có các cá nhân thuộc khu vực thành thị.

Cá nhân thuộc khu vực nông thôn trong luận án này được hiểu là những người có

hộ khẩu thường trú tại khu vực nông thôn (theo nghị định 55/2015/NĐ-CP) và có thời

gian thực trú tại địa bàn ít nhất 6 tháng/năm; đồng thời có tổng thời gian cư trú (từ lúc

sinh ra đến thời điểm hiện tại) ít nhất 50%. Việc này nhằm tránh tình trạng các cá nhân

đi học xa (trường hợp học sinh – sinh viên tham gia học tập tại các cơ sở giáo dục); hoặc

có mức thu nhập không mang lại từ khu vực nông thôn.

2.1.2. Người nghèo khu vực nông thôn

Quan điểm về nghèo đói được nghiên cứu tại một số nước và khu vực trên thế giới,

và cũng phát triển theo từng thời kỳ - do thu nhập của người dân tăng lên. Có một số

quan điểm về nghèo đói như Watts (1968) cho rằng: “nghèo được hiểu là thiếu khả năng

thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường”; còn theo Sen (1976): “nghèo là thiếu

khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều”; theo ADB (1999):

“nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được

hưởng”. Một số cách tiếp cận khác có thể đề cập đến nghèo đói thông qua ngưỡng nghèo

như (1) xác định ngưỡng nghèo dựa vào thu nhập; (2) xác định ngưỡng nghèo dựa vào

lượng calo đảm bảo cho 1 ngày làm việc; (3) xác định ngưỡng nghèo căn cứ vào các

nhu cầu đời sống hàng ngày (Nguyễn Thị Hoa, 2009).

Nghèo có thể được xem xét với nghĩa là nghèo tuyệt đối hay tương đối. Trần Xuân

Cầu (2013) cho rằng: “Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả

năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở,

nước sạch, vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế, giáo dục, đi lại. Nghèo tương đối, hay

nghèo so sánh là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối của

cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý”.

Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, về lý thuyết, phải đo lường

được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản. Ví

dụ, thiếu hụt về nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu về mặc

(đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),… Trên thực tế, do có sự tương

quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu

cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùng

càng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng

25

cao. Chính vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt đối) thường được xác định trên cơ sở một mức thu

nhập hay chi tiêu, mà với mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thoả mãn được

những nhu cầu cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội. Đây là cách xác định

chuẩn nghèo phổ biến ở các nước trên thế giới trong những năm gần đây.

Tất cả các chuẩn nghèo ở Việt Nam được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền là chuẩn nghèo tuyệt đối. Chuẩn nghèo quốc gia là chuẩn nghèo do Chính

phủ ban hành, quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Chuẩn nghèo

này được dùng để xác định đối tượng nghèo để thực hiện các chính sách, chương trình

giảm nghèo của Chính phủ.

Bảng 2.1. Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000-2020

Giai đoạn Chuẩn nghèo/đói và khu vực áp dụng

2001 – 2005

2006 – 2010

– Nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng. – Nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng. – Thành thị: 150.000 đồng/người/tháng. – Thành thị: 260.000 đồng/người/tháng. – Nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000

đồng/người/tháng

2011-2015

2015 - 2020 – Thành thị: 500.000 đồng/người/tháng. – Nông thôn: 400.000 đồng/người/tháng – Thành thị: 900.000 đồng/người/tháng hoặc 1.300.000

đồng/người/tháng nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều

– Nông thôn: 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000

đồng/người/tháng nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều

Nguồn: Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, Chỉ thị

số 1752/CT-TTg; Quyết định 09/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, người nghèo khu vực nông thôn là người có

thu nhập không quá 700.000 đồng/người/tháng hoặc 1.000.000 đồng/người/tháng khi

thiếu hụt 3 trong 5 tiêu chí sau đây: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin.

2.2. Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

2.2.1. Khái niệm Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

“Financial Literacy” là một thuật ngữ có được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng cách hiểu “financial literacy” là DTTC

26

(Chi tiết xem Phụ lục 1). Việc hiểu “literacy” thành dân trí phản ánh tương đối đầy đủ

phương diện về hiểu biết và khả năng vận dụng các nguyên tắc, phương pháp về tài chính, kinh tế. Nghiên cứu đầu tiên về DTTC được công bố vào năm 1992 (Noctor và cộng sự, 1992), và đến bây giờ, đây là một thuật ngữ được quan tâm và sử dụng trên toàn thế giới. Cho đến nay đã rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa và cách giải thích, tuy nhiên thuật ngữ này vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau theo từng nghiên cứu cụ thể.

DTTC được Noctor và cộng sự (1992) định nghĩa là khả năng đưa ra những phán

đoán sáng suốt và đưa ra những quyết định hiệu quả liên quan đến việc sử dụng và quản lý tiền. Trong khi đó, Schagen và Lines (1996) cho rằng một cá nhân được cho là có DTTC sẽ được hưởng lợi ích về thái độ và khả năng như hiểu biết về khái niệm quản lý

tiền, kiến thức về các tổ chức tài chính và thái độ cho phép quản lý các vấn đề tài chính hiệu quả và có trách nhiệm. Như vậy, ngoài ủng hộ quan điểm của Noctor và cộng sự (1992), Schagen và Lines (1996) đã nghiên cứu và phát triển thêm khía cạnh thái độ của chủ thể.

Vitt và Anderson (2000) cho rằng DTTC có thể được định nghĩa là một người có khả năng hiểu, phân tích, quản lý và truyền đạt các vấn đề tài chính cá nhân. DTTC là khả năng và kỹ năng để có kiến thức đúng đắn về các vấn đề tài chính của một cá nhân. Trình độ DTTC thấp có thể dẫn đến việc ra quyết định tài chính không phù hợp và điều

này có thể dẫn đến nhiều vấn đề như nợ hoặc phá sản. Phát triển từ nghiên cứu của mình, Vitt (2004) đưa ra định nghĩa DTTC bao gồm khả năng nhận thức các lựa chọn tài chính, thảo luận vấn đề về tiền và tài chính mà không có gặp trở ngại, dự định trong tương lai,

và phản ứng lại thành thạo đến biến cố trong đời thực ảnh hưởng đến quyết định tài chính hàng ngày, trong đó có sự kiện trong nền kinh tế tổng quát. Quan điểm này cũng tương đồng với khái niệm được đưa ra trong nghiên cứu của Mason và Wilson (2000).

Willis (2008) định nghĩa DTTC là khả năng có thể sử dụng kiến thức và kĩ năng

để quản lý những nguồn lực tài chính của một cá nhân một cách hiệu quả cho việc bảo đảm tài chính trọn đời. Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các một số nghiên cứu khác trong đó nổi bật là của (Lusardi và Mitchell, 2011c, Lusardi và cộng sự, 2011a,

Lusardi và cộng sự, 2017), khi định nghĩa DTTC là khả năng của cá nhân tiếp thu các thông tin về kinh tế và đưa ra những quyết định về kế hoạch tài chính, tích lũy của cải, lên kế hoạch hưu trí và các khoản nợ.

Ở một phương diện khác, Cutler và Devlin (1996) quan niệm về DTTC bao gồm

các khía cạnh của kiến thức và sự tự tin. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả tập trung chủ yếu vào kiến thức tài chính xung quanh các vấn đề đối với hưu trí và người sắp về hưu.

27

Ngoài ra, nghiên cứu không đề cập đến việc mọi người giải quyết vấn đề tài chính của

họ hiệu quả như thế nào, nhưng ngụ ý rằng DTTC về cơ bản là một chức năng của việc truy cập thông tin tài chính. Tương tự, trong một số nghiên cứu về DTTC trên thế giới cũng định nghĩa DTTC như “các kiến thức liên quan đến vấn đề tài chính” (Hilgert và cộng sự, 2003). Phát triển từ cách định nghĩa này, theo Moore (2003) DTTC lại được định nghĩa như những kinh nghiệm thực tế và hội nhập một cách chủ động kiến thức về vấn đề tài chính của những cá nhân.

Hiểu theo một cách rộng hơn thì Holzmann (2010) chỉ ra DTTC tại một số quốc

gia là việc “chuyển đổi” kiến thức và hiểu biết về tài chính sang kỹ năng và năng lực tài chính, thái độ và hành vi, tức là ứng dụng được vào cuộc sống (hiện tại, các nghiên cứu này đề cập đến khái niệm well-being financial). DTTC được coi là quá trình mà người

tiêu dùng cải thiện hiểu biết về các khái niệm và sản phẩm tài chính thông qua thông tin, hướng dẫn hoặc nhà đầu tư tài chính mục tiêu tư vấn, phát triển các kỹ năng và sự tự tin để nhận thức được các rủi ro và cơ hội tài chính, để thực hiện lựa chọn thông báo, để biết nơi cần giúp đỡ và thực hiện các hành động hiệu quả khác để cải thiện phúc lợi tài

chính và bảo vệ người tham gia hoạt động. OECD (2013) định nghĩa DTTC là việc kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ, và hành vi cần để ra quyết định tài chính và cuối cùng đạt được sự “giàu có” tài chính cá nhân. Kết hợp từ những nghiên cứu trên, những năm gần đây, định nghĩa về DTTC đã được phát triển hơn. Sekar và Gowri (2015)

định nghĩa DTTC là tổng hợp của sự nhận thức, thái độ và kỹ năng của cá nhân về những vấn đề tài chính.

Cho đến nay, định nghĩa về DTTC của OECD (2013), Lusardi và cộng sự (2011b),

Lusardi và Mitchell (2017) được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác trên thế giới. Tại Việt Nam, những nghiên cứu về DTTC cũng thường sử dụng cách định nghĩa của OECD, ví dụ như Khúc Thế Anh và Đặng Anh Tuấn (2017), Nguyen (2017), Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018), Phùng Thanh Quang và Khúc Thế Anh (2018),

Khúc Thế Anh và cộng sự (2020).

Như vậy, tuy là một khái niệm xuất hiện trong nhiều nghiên cứu trên thế giới trong lĩnh vực kinh tế - tài chính, nhưng DTTC vẫn chưa có một sự thống nhất về cách định

nghĩa, mà còn phụ thuộc vào khía cạnh và chủ đề của nghiên cứu. Trên cơ sở tìm hiểu về DTTC trong các nghiên cứu đã công bố, khái niệm về DTTC được tổng hợp trong bảng sau đây:

28

Bảng 2.2. Tổng hợp các khái niệm DTTC trong các nghiên cứu đã công bố

STT Nghiên cứu Khái niệm

1 Noctor và cộng sự (1992) DTTC là khả năng đưa ra những phán quyết và quyết định hiệu quả liên quan đến sử dụng và quản lý tiền.

2 Servon và Kaestner (2008) DTTC được hiểu là khả năng đọc hiểu và sử dụng các khái niệm tài chính của một cá nhân.

3 Lusardi và Mitchell (2011c) DTTC là khả năng xử lý thông tin kinh tế và đưa ra quyết định về hoạch định tài chính, tích lũy tài sản, hưu trí và nợ.

4 Huston (2010)

Kiến thức tài chính và áp dụng kiến thức đó với tự tin của áp dụng kiến thức bản thân để đưa ra các quyết định tài chính.

5 Vitt và Anderson (2000)

DTTC có thể là định nghĩa như khả năng đọc, phân tích, quản lý tốt và viết về điều kiện tài chính cá nhân mà ảnh hưởng đến sự sung túc về vật chất. Nó bao gồm khả năng nhận thức các lựa chọn tài chính, thảo luận vấn đề về tiền và tài chính mà không có gặp trở ngại, dự định trong tương lai, và phản ứng lại thành thạo đến biến cố trong đời.

6 Miller và cộng sự (2009)

DTTC là hiểu biết của khách hàng hoặc nhà đầu tư về khái niệm hay sự thật tài chính, và khả năng của họ khi biết tận dụng rủi ro và cơ hội để đưa ra quyết định hiệu quả để cải thiện mức độ giàu có của họ.

7 Bumcrot và cộng sự (2011)

DTTC là việc hiểu các khái niệm cơ bản về kinh tế và tài chính gặp phải trong cuộc sống hàng ngày bao gồm: các tính toán đơn giản về lãi suất và lạm phát, hoạt động phân tán rủi ro, mối quan hệ giữa giá trái phiếu và lãi suất và mối quan hệ giữa thanh toán lãi và đáo hạn trong các khoản thế chấp.

8 Robb và cộng sự (2012) DTTC là khả năng hiểu được thông tin tài chính và quyết định hiệu quả, bằng cách sử dụng các thông tin.

9

OECD (2013), OECD (2015), Lusardi và Mitchell (2017) DTTC được định nghĩa như “sự nhận thức, hiểu biết và khả năng xử lý các thông tin về các lĩnh vực tài chính khác nhau bao gồm các chủ đề liên quan đến quản lý tài chính cá nhân, tiền bạc và đầu tư.”

Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2020

Tóm lại, đa phần các nghiên cứu kể trên đều định nghĩa DTTC tương tự như cách định nghĩa kiến thức tài chính (Financial knowledge) hay khả năng hiểu biết các định nghĩa về tài chính như lãi suất, chiết khấu,... và có khả năng đưa ra được quyết định của

29

chủ thể đó. Một số tác giả đã phát triển khái quát và đầy đủ hơn định nghĩa về DTTC,

chỉ ra rằng DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và kĩ năng tài chính. Các nghiên cứu trước cho thấy tính đa dạng trong quan điểm về DTTC, tùy thuộc vào mục đích (như giáo dục tài chính cho người dân). Đối với phạm vi của luận án, đối tượng nghiên cứu là người nghèo khu vực nông thôn, nếu chỉ phát triển kiến thức tài chính thì chưa đủ (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017), mà còn cần phải tác động đến thái độ và hành vi tài chính. Do đó, theo quan điểm của tác giả, DTTC là những hiểu biết của các cá nhân nhằm xử lí những thông tin trên thị trường, từ đó đưa ra những quyết định về tài chính

phù hợp. Như vậy, quan điểm này cho rằng: DTTC sẽ bao gồm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

Dựa trên các quan điểm về dân trí tài chính, nghèo đói và khu vực nông thôn, thì

trong luận án này, tác giả quan niệm rằng DTTC được cấu thành bởi ba bộ phận là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được hiểu là việc áp dụng kiến thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời

gian thực trú tại vùng nông thôn đảm bảo 2 điều kiện (1) ít nhất một nửa thời gian sinh sống đến hiện tại là ở vùng nông thôn và (2) trong 1 năm có ít nhất 6 tháng sống ở vùng nông thôn.

2.2.2. Nội dung dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

Do DTTC bao gồm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính nên DTTC của người nghèo khu vực nông thôn cũng phải bao hàm 3 nội dung trên.

Kiến thức tài chính (financial knowledge) là mức độ hiểu biết của chủ thể đối với các khái niệm của các thuật ngữ trong tài chính (lãi suất, trái phiếu...) và phương thức hoạt động của các tổ chức tài chính (ngân hàng, tổ chức tín dụng,...). Như vậy, kiến thức tài chính sẽ là yếu tố tiền đề để hình thành hành vi và thái độ tài chính của chủ thể.

Thái độ tài chính (financial attitude) là quan điểm của chủ thể đối với sự diễn ra của tình hình tài chính xung quanh. Ví dụ như nhận định của chính phủ về tình hình chuyển biến của nền kinh tế,... Việc xác định thái độ của chủ thể đối với tình hình kinh

tế tài chính là hệ quả của kiến thức tài chính của chủ thể đó, tạo tiền đề cho hành vi tài chính của chủ thể đó.

Hành vi tài chính (financial behavior) được hiểu là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Thông qua các phản ứng của chủ thể đối

với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi.

30

Ba nhân tố trên cũng có tác động qua lại với nhau trong nội hàm DTTC, cụ thể:

Hình 2.1. Mối quan hệ giữa các nhân tố nội hàm của DTTC

Nguồn: Baker và Ricciardi (2014)

● Kiến thức tài chính – Thái độ tài chính

Shim và cộng sự (2010) cho thấy kiến thức tài chính dự đoán thái độ tài chính.

Hoặc theo Louw và cộng sự (2013) cho rằng kiến thức tài chính giúp phát triển thái độ

tài chính tích cực. Ở đây, thái độ tài chính có thể thay đổi trong việc nâng cao kiến thức

về tài chính của con người. Potrich và cộng sự (2015) cũng chỉ ra rằng việc đào tạo nâng

cao kiến thức tài chính là một trong những nhân tố cấu thành nên thái độ tài chính và

hành vi tài chính. Norvilitis và MacLean (2010) cũng đã chỉ ra rằng kiến thức có ảnh

hưởng lên thái độ, từ đó ảnh hưởng tới hành vi tài chính của một cá nhân. Quan điểm

trên cũng được ủng hộ bởi Garber và Koyama (2016) khi cho rằng kiến thức và thái độ

tài chính hỗ trợ nhau trong việc giải thích các hành vi tài chính. Kết quả trên cũng phù

hợp với thuyết KAB (Knowledge - Attitude - Behavior) lần đầu tiên được tìm hiểu và

khai thác bởi Thomas & Znaniecki (1918) (trích dẫn lại theo Chase (2005)). Dù mối

quan hệ này vẫn được coi là hiển nhiên, việc khai thác triệt để mối quan hệ này là một

trong những yếu tố có thể thúc đẩy các nhà kinh tế học cũng như người tiêu dùng có thể

dễ dàng đạt được mục đích của mình.

Như vậy, sự tương quan giữa kiến thức và thái độ tài chính đã được một số tác giả

kiểm định và thừa nhận trong nghiên cứu của mình.

● Thái độ tài chính – Hành vi tài chính

Trong lý thuyết hành động hợp lý (TRA) thái độ được đo lường bằng nhận thức về

các thuộc tính của sản phẩm mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác

nhau cho người tiêu dùng (Ajzen và Fishbein, 1980). Theo đó, thái độ của một cá nhân

tới hành vi tài chính bị ảnh hưởng bởi kỳ vọng của họ về kết quả của hành vi. Mặt khác,

31

niềm tin về hành vi là sự kết hợp của cá nhân đó về các kết quả của một hành vi tài chính

xác định và cách cá nhân đó đo lường những kết quả tiềm năng của hành vi đó. Vì thế,

niềm tin về hành vi, một trong những yếu tố cấu thành thái độ tài chính có thể được dùng

để thay đổi hành vi tài chính của một người. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì

có thể dự đoán gần kết quả hành vi thực sự của chủ thể.

Thuyết hành vi dự định (TPB) (Ajzen, 1991), được phát triển từ thuyết hành động

hợp lý (TRA), cho rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng

hành vi để thực hiện hành vi đó. Việc đưa biến kiểm soát hành vi cảm nhận (biến cảm

tính), mô hình đã làm rõ hơn mối quan hệ giữa thái độ và hành vi thực sự của chủ thể.

Hình 2.2. Lý thuyết hành động hợp lý

Nguồn: Ajzen và Fishbein (1980)

Theo Xiao (2008), thuyết hành vi dự định (TPB) là học thuyết phù hợp nhất có liên

quan tới hành vi tài chính để có thể dự đoán và hiểu được các hành vi này, và học thuyết

này giải thích dự định của một cá nhân tới việc thực hiện một hành vi được chấp nhận.

Một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng đưa ra quan điểm tương tự khi cho rằng thái

độ tài chính có ảnh hưởng thuận chiều tới hành vi quản lý tài chính, như Mien và Thao

(2015), Herdjiono và Damanik (2016).

32

Hình 2.3. Lý thuyết hành vi dự định

Nguồn: Ajzen (1991)

Thái độ tài chính của cá nhân cho thấy phán đoán tâm lý và tinh thần về các vấn

đề tài chính trong từng hoàn cảnh. Nói cách khác, thái độ có ảnh hưởng tới cách tất cả

các hoạt động đang diễn ra. Shim và cộng sự (2010) thấy rằng kiến thức tài chính dự

đoán thái độ tài chính và thái độ tài chính góp phần vào hành vi tài chính của một người.

Atkinson và Messy (2012) cho rằng thái độ tài chính tiêu cực của một người dẫn đến

một hành vi tài chính tiêu cực. Thêm vào đó, hành vi tài chính đã được chỉ ra rằng có sự

liên kết với nhận định rủi ro cá nhân, kiến thức, nhận định, các đặc điểm cá nhân và các

yếu tố tâm lý khác (Lusardi và Mitchell, 2011a, Meier và Sprenger, 2013). Hơn nữa,

nghiên cứu kinh tế học thần kinh (neuroeconomics) đã đưa ra bằng chứng rằng các vùng

não tạo ra những trạng thái cảm xúc để xử lý những thông tin về rủi ro, từ đó cho thấy

cảm xúc ảnh hưởng đến những quyết định tài chính (Kuhnen và Knutson, 2011).

● Kiến thức tài chính – Hành vi tài chính

Sheldon và Kasser (1995) đã phát triển thuyết nhận thức – hành vi, và chỉ ra rằng

thông qua những hiểu biết của chính các chủ thể, những hành vi của chủ thể đó có thể

sinh ra và cũng có thể bị ức chế. Những hành vi tích cực và tiêu cực cũng sẽ trở thành

nhận thức của chủ thể đó. Đây là sự tác động và học hỏi có chọn lọc.

Hilgert và cộng sự (2003) đã chỉ ra kiến thức không có giá trị nếu không có kinh

nghiệm thực tế, và nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kinh nghiệm tạo ra cầu nối giữa kiến

thức và khả năng, từ đó tạo ra ảnh hưởng tới việc quản lý tiền bạc của một cá nhân. Để

xem xét kỹ hơn về mối quan hệ này, Lusardi và Mitchell (2011b) đã tìm ra được sự liên

kết giữa kiến thức tài chính và khả năng lên kế hoạch hưu trí của một cá nhân và kết quả

cũng đã chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa hai biến trên. Kết quả này cũng được ủng

33

hộ bởi một số tác giả khác như Calvert (2005), Zhan (2006), Kimball và Shumway

(2006), Hathaway và Khatiwada (2008), Scheresberg (2013) và Brown và Graf (2013).

Ngoài ra, Grohmann và cộng sự (2018) đã đưa ra nguyên nhân về sự hạn chế của

kiến thức tài chính của nhiều người và sự thiếu hiểu biết về những chủ đề tài chính như

lãi suất, lạm phát hay phân loại rủi ro đã dẫn đến việc thu nhập của nhóm cá nhân này

không cao. Đây cũng là một trong những nghiên cứu bổ sung cho việc chứng minh rằng

mô hình tăng trưởng nội sinh hoặc mô hình về vốn con người chưa đưa đến những hàm

ý chính xác. Như vậy, việc thiếu kiến thức tài chính là một trong những nguyên nhân

lớn dẫn tới hành vi tài chính yếu, kém.

Bộ nhân tố này được đề xuất bởi OECD (2013), có tính kế thừa và phát triển từ các

nghiên cứu trước đây và đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về DTTC tại

Việt Nam và trên thế giới. Tác giả sẽ làm rõ khái niệm cụ thể về kiến thức tài chính,

hành vi tài chính và thái độ tài chính như những khía cạnh của DTTC và làm rõ tác động,

tầm quan trọng của chúng lên DTTC ở những chương sau của nghiên cứu này.

2.2.3. Các phương pháp đo lường dân trí tài chính

Trên thế giới, phương pháp đo lường DTTC cũng đa dạng và có những sự khác

biệt giữa các nghiên cứu. Mặt khác, DTTC là một khái niệm đa chiều và khá trừu tượng,

thế nên đo lường DTTC không phải là dễ dàng. Một số phương pháp đo lường DTTC

trong các nghiên cứu trên thế giới đã được sử dụng như: phương pháp FILS, đánh giá

2.2.3.1. Phương pháp FILS

DTTC theo thang đo FSA hay phương pháp bảng hỏi. Cụ thể

Nội dung

FILS là một phương pháp nghiên cứu điện toán hóa được Schuhen và Schürkmann

(2016) thiết kế cho học sinh 15-16 tuổi từ những trường học thông thường tại Đức.

Phương pháp này sử dụng CFA (phương pháp thử nghiệm giả thuyết để kiểm tra giả

thiết và giả thuyết về cấu trúc mô hình bằng các yếu tố chất lượng do đó cho thấy chất

lượng của việc điều chỉnh mô hình của các biến biểu hiện theo phân bổ cho các biến

tiềm ẩn cụ thể). Việc phân bổ các biến biểu hiện riêng lẻ được thực hiện bằng phương

tiện của phương thức được đưa ra bởi các mô hình đường dẫn. Các câu hỏi trong FILS

được sắp xếp có chọn lọc theo các nội dung và tương ứng với một cấu trúc định hướng

năng lực được định hướng hướng tới các khía cạnh khác nhau.

34

Ưu và nhược điểm

Ưu điểm: Schuhen và Schürkmann (2016) chỉ ra rằng FILS là một phương pháp

được thiết kế đặc biệt dành cho học sinh từ 15 -16 tuổi tại những trường học thông

thường ở Đức. Phương pháp này sử dụng định nghĩa DTTC như đã được định nghĩa của

OECD (2013). Nội dung của phương pháp có đề cập tới cả môi trường trực tiếp của học

sinh. Hơn thế nữa, cấu trúc của FILS là nhất quán và đã được chứng minh bằng tính hợp

lệ của cấu trúc dựa trên lý thuyết.

Nhược điểm: Phương pháp này được thiết kế đặc biệt cho nhóm đối tượng cụ thể

là học sinh từ 15-16 tuổi và ở khu vực cụ thể là Đức. Schuhen và Schürkmann (2016)

cũng đã chỉ ra một câu hỏi là liệu phương pháp này có thật sự phản ánh năng lực và kỹ

năng của sinh viên hay liệu phương pháp này đánh giá kiến thức tài chính và các kĩ năng

toán học nên dẫn đến những kiến thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của các quốc

gia. Một số quốc gia đã từ chối tham gia vào FILS 2012. Như vậy, phương pháp này có

thể không phù hợp khi đánh giá DTTC ở những nhóm đối tượng khác và những khu vực

khác trên thế giới.

Phạm vi áp dụng

Hiện tại, phương pháp này thích hợp để nghiên cứu đối với các đối tượng là thanh

thiếu niên và sinh viên, hoặc những người dưới 30 tuổi – bởi tập trung rất nhiều vào vấn

2.2.3.2. Phương pháp FSA

đề toán học trong kiến thức tài chính

Nội dung

FSA là phương pháp đo lường DTTC được Atkinson và cộng sự (2007) phát triển,

dựa trên 5 vấn đề chính yếu: (1) Giám sát tài chính; (2) Đảm bảo chi tiêu; (3) Lập kế

hoạch trước; (4) Chọn sản phẩm; (5) Luôn cập nhật.

Ưu nhược điểm

Ưu điểm: Phương pháp này được phát triển trong các nghiên cứu ở Ireland và

Canada, Úc và Hoa Kỳ, do đó có thể phổ biến để đo lường DTTC tại các nước có nền

kinh tế phát triển.

Nhược điểm: Thách thức chính của phương pháp là chuyển hoá chúng thành các câu hỏi và mã hóa có tính đến hoàn cảnh quốc gia và địa phương và đặc biệt là tình huống của những người có thu nhập thấp ở các nước thu nhập thấp hoặc trung bình. Phương pháp này có thể yêu cầu điều chỉnh và/hoặc mã hóa theo quốc gia và theo ngữ

35

cảnh cụ thể trong câu hỏi. Để làm tốt như vậy sẽ cần chuẩn bị đáng kể làm việc và phối

2.2.3.3. Phương pháp bảng hỏi

hợp giữa các quốc gia để đạt được kết quả tương đương.

Đây là phương pháp sử dụng các bảng hỏi để đo lường DTTC. Dựa trên các câu

hỏi tập trung vào các chủ đề về tài chính như lãi suất, thời hạn đầu tư… các nghiên cứu như Atkinson và Messy (2012); Lusardi (2008); OECD (2013); Lusardi và cộng sự (2017) đã đưa ra đánh giá về DTTC tại các mẫu nghiên cứu.

Ưu điểm: phương pháp này cho phép đo lường được riêng từng chỉ tiêu là kiến thức, hành vi và thái độ tài chính từ đó mới chấm điểm và kết luận về DTTC khiến cho điểm số này công bằng hơn.

Nhược điểm: phương pháp này yêu cầu phải kiểm soát chất lượng dữ liệu và việc nhập dữ liệu một cách chặt chẽ. Và việc xây dựng nên một khung điểm phù hợp để đánh giá và đo lường được DTTC là rất quan trọng, đóng vai trò quyết định trong phương pháp này.

Hầu hết trong các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, DTTC chủ yếu được đo lường bằng phương pháp bảng hỏi dựa trên khảo sát. Với phương pháp bảng hỏi, các câu hỏi thường là đúng/sai, nhiều lựa chọn hoặc dựa trên thang đo Likert 5 điểm liên quan đến tài chính cá nhân (thu nhập, quản lý tiền, tiết kiệm, chi tiêu, ...). Bên cạnh đó,

một số câu hỏi là về các yếu tố vĩ mô và thị trường tài chính (lạm phát, lãi suất, đa dạng hóa rủi ro, trái phiếu, chứng khoán, ...). Các câu hỏi có thể khác nhau theo cách tiếp cận được áp dụng trong mỗi nghiên cứu.

Chen và Volpe (1998) sử dụng hệ thống 36 câu hỏi khảo sát bao gồm kích thước trên kiến thức tài chính tổng quát, khoản tiết kiệm và vay mượn, bảo hiểm và đầu tư. Taft và cộng sự (2013) đã sử dụng bảng câu hỏi trong nghiên cứu Chen và Volpe (1998) để đo lường mức độ DTTC của mỗi cá nhân. Bảng câu hỏi này đã cố gắng xem xét các

yếu tố tài chính cá nhân quan trọng nhất trong việc đo lường DTTC. Những yếu tố này bao gồm: kiến thức chung về tài chính bao gồm 9 câu hỏi, tiết kiệm và cho vay bao gồm 9 câu hỏi, đầu tư bao gồm 6 câu hỏi, bảo hiểm bao gồm 7 câu hỏi và quyết định tài chính,

ý kiến tài chính và đào tạo tài chính bao gồm 8 câu hỏi. Thang đo Likert gồm năm tùy chọn đã được sử dụng trong bảng câu hỏi sao cho điểm 1 đại diện cho điều tồi tệ nhất và 5 cho thấy tình huống tốt nhất cho một cá nhân đối với câu hỏi đó. Nghiên cứu thực hiện phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi, sau đó được phân tích và xử lý dữ

liệu, kiểm định lại giả thuyết.

36

Bảng 2.1. Bộ công cụ đo lường DTTC

Cấu trúc Nội dung đánh giá Số lượng câu hỏi Cách thực hiện Tiêu chuẩn đánh giá (điểm) Nội dung

Kiến thức tài chính Câu hỏi Kiến thức 07 - Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm. trắc nghiệm không chuyên ngành (sơ đẳng) - Điểm tối đa : 7

- Tổng số điểm của các câu: 5 Thái độ Quan điểm và xu hướng ưu tiên giữa nhu cầu ngắn hạn và Câu hỏi về thái độ (mức độ 05

- Điểm tối đa : 5

kế hoạch tài chính dài hạn đồng ý từ 1-5)

- Mỗi hành vi tài

Số lượng hành vi tài Phỏng vấn Hành vi 09 chính tích cực sẽ được 1 điểm chính tích cực thực tế

- Điểm tối đa : 9

Nguồn: OECD (2013); Lusardi và cộng sự (2017)

Phát triển từ những bộ câu hỏi trên, OECD (2013) đã công bố ra một bảng hỏi đầy đủ và chi tiết hơn để đo lường DTTC gồm ba nhân tố: kiến thức tài chính (ảnh hưởng của lạm phát, nhận thức lãi suất, tính toán lãi suất thông thường, định nghĩa lạm phát, phân loại rủi ro ...); hành vi tài chính (quản lý ngân quỹ, tiết kiệm chủ động, kế hoạch

trả nợ ...); thái độ tài chính (có xu hướng tiết kiệm cho tương lai hay không). Bộ câu hỏi này được sử dụng như một công cụ khảo sát, đánh giá DTTC được sử dụng trên nhiều quốc gia trên thế giới. Bộ công cụ của OECD (2013) và sau đó là OECD (2015) có cấu

trúc 03 mục theo thang 21 điểm (tương ứng 7 cho kiến thức, 9 cho hành động, và 5 cho thái độ) để có kết quả chung.

37

Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu sử dụng bảng hỏi

Tác giả Kết quả nghiên cứu Phương pháp định lượng Đặc điểm mẫu nghiên cứu và số mẫu nghiên cứu

Mẫu

Zhan (2006)

Chương trình hỗ trợ này có hiệu quả làm tăng DTTC trong khu vực.

Bảng hỏi về cách sử dụng tiền của người dần. Sử dụng phần mềm SPSS và mô hình mã hóa biến của FLLIP.

nghiên cứu lấy thông qua chương trình liên kết tài chính người có thu nhập thấp tại Tây Ban Nha

Người gốc Tây Ban Nha và người biết nói tiếng Anh có sự gia tăng về DTTC nhanh hơn khi tham gia chương trình hỗ trợ.

Brown và Graf (2013)

Nghiên cứu kế hoạch nghỉ hưu của nhóm người từ 20 đến 74 tuổi tại Thụy Sỹ; gần 1500 trong sát quan nghiên cứu.

Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát về các đặc điểm kinh tế xã hội (tuổi, giới tính, giáo dục, ...), chỉ số về đặc điểm hành vi (ác cảm rủi ro, ưu tiên thời gian) và thông tin về mối quan hệ ngân hàng và các sản phẩm tài chính được sử dụng. Dùng STATA để xử lý.

Kiến thức về lạm phát lãi suất rủi ro của người trẻ còn thấp so với nhóm dân số sắp và đã nghỉ hưu. Bên cạnh đó kết quả cũng chỉ ra rằng có mối tương quan chặt chẽ của DTTC với tự chủ tiết kiệm cho hưu trí cũng như tham gia thị trường tài chính và thế chấp vay.

Nghiên

cứu tổng quát về các nước OECD với nhiều mẫu khác nhau.

Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi, tổng hợp và phân tích đánh giá DTTC thông qua 3 yếu tố: kiến thức, thái độ và hành vi (mỗi yếu tố gồm 6 – 8 câu hỏi). Mỗi câu hỏi có thang chấm điểm riêng.

Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức tài chính của 8 nước tham gia nghiên cứu có điểm cao hơn thái độ và hành vi. Bên cạnh đó, các nước chỉ yếu cao một hoặc hai trong 3 yếu tố. Dùng SPSS và STATA để Atkinson và Messy (2012), OECD (2015), Lusardi và cộng sự (2017)

xử lý dữ liệu.

Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động cùng chiều của kiến thức tài chính đối với thái độ và hành vi tài chính.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

38

Ngoài phương pháp bảng hỏi, các nghiên cứu trên thế giới còn sử dụng một số phương pháp khác, ví dụ như đo lường DTTC thông qua nhận thức và hiểu biết về tỷ lệ phần trăm hàng năm (APR). Báo cáo về APR đã được yêu cầu bắt buộc bởi luật Hành động trung thực trong cho vay (TLA, 1968 – đạo luật liên bang Mỹ yêu cầu người cho vay phải công bố bằng văn bản lãi suất cho vay và một số điều khoản khác). Tuy nhiên, đây là một phương pháp được sử dụng khá ít khi đo lường DTTC trong các nghiên cứu.

Trên thế giới, DTTC được cụ thể hóa đo lường bằng nhiều phương pháp khác nhau và phục vụ cho từng mục đích nghiên cứu cũng như cho từng đối tượng khác nhau. Trong phạm vi của luận án này, đối tượng hướng đến là người nghèo của khu vực nông thôn Việt Nam, có hiểu biết về tài chính không cao (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) nên việc sử dụng phương pháp FILS hay FSA khó khả thi (vì các nghiên cứu này tập trung quá nhiều vào kĩ thuật đo lường lãi suất, hoặc phân tán rủi ro của các khoản đầu tư – do các phương pháp này tập trung vào đối tượng là người trẻ tuổi, hoặc đều ở các nước có nền tài chính phát triển). Vì vậy, tác giả sẽ sử dụng phương pháp bảng hỏi, nhưng sẽ hiệu chỉnh để phù hợp với đối tượng nghiên cứu để tránh những sai lệch trong kết quả là điều cần thiết. Tác giả sẽ trình bày chi tiết hơn trong chương 3 của nghiên cứu.

2.3. Vai trò của dân trí tài chính

DTTC dần được được xem là một yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển hệ thống tài chính, và nền kinh tế vững mạnh (Lusardi, 2008, Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013). Vai trò và tầm quan trọng của DTTC đã được đề cập và chứng minh trong rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới.

2.3.1. Đối với tổng thể nền kinh tế

● Bảo vệ người tiêu dùng khỏi sự thiếu hụt tài chính gây ra những vụ lừa đảo

Lusardi và Mitchell (2014) cho rằng bằng cách tăng DTTC thông qua cả kỹ năng, thái độ và hành vi và tài chính sẽ góp phần làm tăng khả năng bảo vệ tài chính người tiêu dùng – nhất là nhóm người khó có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chínhchính thức (thường là người nghèo ở khu vực nông thôn). Ngày nay, công nghệ tài chính ngày càng phát triển đòi hỏi sự hiểu biết của người dân về những thao tác, cách thức sử dụng những công nghệ này càng cao. Nghiên cứu của Servon và Kaestner (2008) đã đo lường DTTC và mức độ ảnh hưởng của DTTC đến các dịch vụ online của ngân hàng, và cho thấy: Những người đã tham gia chương trình hỗ trợ này tiếp tục muốn được đào tạo nhiều hơn so với những người không tham gia vào trang trực tuyến được tạo để giải quyết nội dung không đáp ứng nhu cầu của những người này, và có thể tính toán được mức lãi suất phù hợp đối với các khoản vay và khoản đầu tư, từ đó tránh được phần nào các khoản tín dụng phi chính thức trên thị trường.

39

Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng: những người thiếu hụt về DTTC sẽ có thể

có những quyết định tài chính như đầu tư, mua bán thiếu chính xác. Những người có kiến thức tài chính thấp hơn có xu hướng mua bằng tín dụng và không thể thanh toán toàn bộ số dư mỗi tháng và cuối cùng chi nhiều tiền lãi hơn. Nhóm này cũng không đầu tư, gặp rắc rối với nợ nần và hiểu biết kém về các điều khoản của các khoản thế chấp hoặc khoản vay của họ. Đáng lo ngại hơn, nhiều người tiêu dùng tin rằng họ hiểu biết về tài chính hơn nhiều so với thực tế. Thực trạng lừa đảo tài chính xuất hiện rất nhiều tại vùng nông thôn Việt Nam (như vỡ hụi tại Bến Tre 2013,...), những khu vực có thu

nhập thấp và khả năng tiếp cận những thông tin và sản phẩm tài chính hiện đại thấp (Thanh Du, 2016). Việc định hướng cho việc tiêu dùng tài chính thông minh góp phần bảo vệ người tiêu dùng tài chính khỏi những hệ lụy do sự kém hiểu biết mang lại, thông

qua đó Chính phủ sẽ có những chính sách đo lường phù hợp và hiệu quả hơn.

● Thay đổi thói quen giữ tiền nhàn rỗi

Trình độ DTTC có mối quan hệ tích cực với sự phát triển tài chính và kinh tế (Beck và cộng sự, 2007). Dân số có kiến thức tài chính tốt hơn có khả năng sử dụng khoản tiền

nhàn rỗi như một khoản vốn đầu tư trong nước; kết quả là, giảm sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn (Yoshino và cộng sự, 2015).

Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô cũng cho thấy, khi người nghèo hoặc người dân khu vực nông thôn được đào tạo về các sản phẩm tài chính thì sẽ có khả năng sử

dụng đồng tiền nhàn rỗi tốt hơn thông qua mở rộng tỷ lệ tiết kiệm, từ đó hướng đến mục tiêu tái đầu tư, tái sử dụng khoản vay và tiến tới xóa đói giảm nghèo (Lê Thanh Tâm, 2013, Ledgerwood và cộng sự, 2013, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Thêm vào

đó, việc tăng nhu cầu đầu tư của người dân sẽ tạo cơ hội phát triển cho khu vực tài chính trung gian bao gồm các ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối,... Mở rộng các chính sách và định hướng lại mục tiêu giúp cho các công ty khu vực tài chính trung gian có thể phát triển các dịch vụ mới, hiệu quả hơn như e-banking,...

Huy động vốn hiệu quả hơn từ việc phát triển khu vực tài chính trung gian môi giới tạo cơ hội cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ có cơ hội tiếp cận được nguồn vốn rẻ hơn. Qua đó góp phần hoàn thiện mục tiêu

tài chính của quốc gia.

Như vậy, việc nâng cao DTTC của người nghèo nói chung và tại khu vực nông thôn nói riêng sẽ thay đổi thói quen tiêu dùng thông qua tiết kiệm nhiều hơn, chấp nhận sử dụng các dịch vụ tài chính khác nhau – từ đó góp phần nâng cao thu nhập.

40

● Làm giảm chênh lệch giàu nghèo ở mỗi quốc gia

Tác động của DTTC lên nền kinh tế được Lusardi và cộng sự (2017) chỉ ra rằng DTTC có thể giải thích cho hơn 50% sự chênh lệch giàu nghèo đang diễn ra ở Mỹ. Kết quả này cũng được ủng hộ trong nghiên cứu của Holzmann (2010): Những người có điểm số DTTC thấp có những khoản đầu tư, chi tiêu kém hiệu quả hơn từ đó gây tác động tiêu cực lên thu nhập của họ. Và đối với các nền kinh tế mới nổi, người có DTTC cao có thể đảm bảo mức sống cho chính mình, từ đó đóng góp hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế thực sự và giảm nghèo (Faboyede và cộng sự, 2015).

Tóm lại, vai trò của DTTC là rất quan trọng, không thể phủ nhận. DTTC ảnh hưởng không chỉ ảnh hưởng tới các cá thể riêng biệt của nền kinh tế, mà còn ảnh hưởng tới tổng thể nền kinh tế nói chung. Có thể cho rằng DTTC đang ứng dụng kiến thức, hiểu

biết, kỹ năng và giá trị trong bối cảnh tài chính và các quyết định liên quan ảnh hưởng đến bản thân, người khác, cộng đồng và môi trường (MCCEECDYA, 2011). Quan điểm này cho thấy DTTC có tác động không chỉ đối với cá nhân mà còn đối với xã hội cũng như môi trường.

2.3.2. Đối với các đối tượng của nền kinh tế

● Tác động lên hành vi tài chính của người có thu nhập trung bình - thấp

Holzmann (2010) khi nghiên cứu nhóm đối tượng có thu nhập trung bình - thấp chỉ ra rằng những người có DTTC kém thường có những khoản chi tiêu, đầu tư không hiệu quả gây lãng phí vốn và ảnh hưởng tới thu nhập của chủ thể đó. Những người, khu vực có DTTC cao thường có hiểu biết rộng về những vấn đề tài chính và các phương thức đầu tư, tiết kiệm. Tư duy cao về tài chính giúp nhóm người này có được sự chính xác tương đối trong việc nắm bắt cơ hội và tạo ra một nguồn thu nhập tiếp theo cho mình thông qua các hoạt động được tính toán cụ thể như mua trái phiếu, đầu tư vào thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán,... Những người có DTTC thấp thường thiếu hiểu biết về thị trường tài chính. Những người này sẽ hoặc khó khăn trong việc tính toán, ra quyết định đầu tư, tiết kiệm. Những khoản đầu tư này không phát huy được mục đích của mình, làm giảm nguồn thu nhập cho chính chủ nhân của nó. Việc tăng DTTC cho những người có thu nhập thấp là một trong những vấn đề góp phần cải thiện lại thu nhập và mức sống của nhóm người này.

● Tác động đến năng suất của người lao động

Nói về khía cạnh trong cuộc sống và công việc, Brennan (1998) chỉ ra rằng trình độ DTTC cao làm gia tăng tính hiệu quả, hiệu suất của công việc và sẽ giúp người lao động hiểu rõ hơn về lợi ích mà tổ chức mang lại và cải thiện sự hài lòng của họ. Fox và

41

cộng sự (2005) cho rằng việc nâng cao DTTC có tác động tích cực đến mọi người trong

cuộc sống cá nhân và công việc. DTTC cao giúp giảm áp lực xã hội và tâm lý và tăng phúc lợi cho các hộ gia đình. Tương tự, Kim (2007) nêu ra DTTC cao làm giảm nguy cơ bị căng thẳng và lo lắng tại nơi làm việc. Theo Vitt và Anderson (2000), lợi thế lớn nhất của việc nâng cao DTTC là làm giảm đi các sai lầm trong tài chính của nhân viên và khiến họ có trách nhiệm hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân, điều này sẽ góp phần làm tăng chất lượng sống của các hộ gia đình.

2.3.3. Đối với thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn

Khái niệm thu nhập

Thu nhập là một khái niệm được sử dụng trong rất nhiều các bài nghiên cứu để đo lường các vấn đề của nền kinh tế. Do sự khác biệt về văn hoá, chính trị nên định nghĩa thu nhập chưa có được sự thống nhất chung. Các nghiên cứu về thu nhập được đề cập trong các nghiên cứu về vốn con người, về sinh kế bền vững, và về cả các nghiên cứu thuộc dân trí tài chính.

Đối với nhánh nghiên cứu về vốn con người, thường cho rằng thu nhập là tiền mà một cá nhân hoặc doanh nghiệp nhận được để đổi lấy việc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc thông qua vốn đầu tư (Romer, 1990, Moock và cộng sự, 2003, Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008). Những người từ 65 tuổi trở xuống thường nhận phần lớn thu

nhập của họ từ tiền lương hoặc tiền công kiếm được từ một công việc. Đầu tư, lương hưu và an sinh xã hội là nguồn thu nhập chính của người về hưu.

Đối với nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững hay xóa đói giảm nghèo, thu nhập

cá nhân đề cập đến tất cả thu nhập được nhận bởi tất cả các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một quốc gia, bao gồm cả tiền đổi công (Rebelo, 1991, Chambers và Conway, 1992, Nguyễn Thị Hoa, 2009, Thái Phúc Thành, 2014). Thu nhập cá nhân bao gồm tiền bồi thường từ một số nguồn bao gồm tiền lương, tiền công và tiền thưởng nhận được từ

việc làm hoặc tự làm chủ; cổ tức và phân phối nhận được từ các khoản đầu tư; biên lai cho thuê từ đầu tư bất động sản và chia sẻ lợi nhuận từ các doanh nghiệp. Ngoài ra, thu nhập có các định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực kinh doanh được chỉ định. Thu

nhập nói chung là tiền mặt hoặc tương đương tiền phát sinh từ tiền lương, tiền thuê đất, nhà, tiền lãi, cổ tức hoặc lợi nhuận từ đầu tư. Về mặt kinh tế, thu nhập là động lực thực sự của nền kinh tế, vì nhu cầu của người mua hàng hóa và dịch vụ chỉ có thể tồn tại nếu người mua có thu nhập. Tiền mặt, các tài sản tương đương tiền, tài sản hoặc bất kỳ hình

thức thanh toán nào khác mà một người nhận được định kỳ hoặc thường xuyên cũng được coi là thu nhập.

42

Tại Việt Nam, Trần Xuân Cầu (2013) đưa ra định nghĩa: “Thu nhập là khoản tiền

thu được từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong một thời kỳ. Các khoản tiền thu được từ lao động, tư bản, đất đai và năng lực kinh doanh là thu nhập từ tiền lương, lãi suất, địa tô và lợi nhuận. Doanh nhân (người sở hữu năng lực kinh doanh) là người kết hợp các nhân tố sản xuất để tạo ra sản lượng và thu nhập cho các nhân tố sản xuất”. Tuy nhiên, tác giả này cho rằng khi sử dụng thuật ngữ thu nhập thì cần phải thận trọng do nó có thể có những ý nghĩa khác nhau. Người nhận được tiền từ chương trình phúc lợi xã hội coi là thu nhập, những xét trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, đó là khoản

chuyển giao thu nhập, thường gọi là trợ cấp.

Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa thu nhập là tổng tất cả các khoản tiền mà một cá nhân có được trong một khoảng thời gian cố định từ tất cả các

hoạt động: lợi nhuận kinh doanh, tiền lương, tiền công, các khoản nhận thừa kế, các khoản phụ cấp, trợ cấp từ người thân và Chính phủ, kể cả các khoản đổi công ở khu vực nông thôn (không thể hiện bằng tiền).

Thang đo thu nhập

Mỗi bài nghiên cứu đều hướng đến mục tiêu và đối tượng nghiên cứu khác nhau, nên các thang đo thu nhập của các bài nghiên cứu cũng rất đa dạng và được thiết kế và hiệu chỉnh để có thể phù hợp với số liệu cần thiết của bài nghiên cứu đó.

Nhiều nghiên cứu về DTTC sử dụng dữ liệu thu nhập của những tổ chức chuyên

khảo sát và đo lường chỉ số kinh tế ở quốc gia, khu vực đó. Nhánh nghiên cứu về sinh kế bền vững và xóa đói giảm nghèo, ví dụ như Alessie và cộng sự (2008) sử dụng dữ liệu từ khảo sát hộ gia đình năm 2005. Đây là một cuộc khảo sát hộ gia đình hàng năm

của Hà Lan bao gồm những thông tin về nhân khẩu học và đặc điểm kinh tế, và tập trung chủ yếu vào dữ liệu về mức sống và tiết kiệm của cư dân.

Tương tự, Lusardi và Tufano (2015) cũng sử dụng dữ liệu của cuộc khảo sát năm 2007 bởi TNS, một trong những doanh nghiệp hàng đầu về nghiên cứu thị trường. Dữ

liệu được thu thập thông qua phỏng vấn điện thoại với mẫu nghiên cứu là những người trả lời đến từ Mỹ. Cuộc khảo sát này cung cấp thông tin về nhân khẩu học, như là tuổi tác, giới tính, chủng tộc và tôn giáo, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm... Thêm

vào đó, nó còn cung cấp những thông tin mà đối tượng nghiên cứu tự đánh giá về thu nhập và tổng tài sản của gia đình mình.

Ngoài ra, đặc biệt những nghiên cứu hướng tới đối tượng nghiên cứu là hưu trí tại Mỹ, bộ dữ liệu từ HRS được sử dụng thường xuyên. Đây là một bộ dữ liệu mang tính đại diện quốc gia cho những người Mỹ có độ tuổi hơn 50. Cuộc khảo sát này được thực hiện

43

2 năm một lần, bắt đầu từ năm 1992, được thiết kế để đo lường các thông tin về sức khỏe, tài sản, nợ và độ giàu có của những đối tượng nghiên cứu. Bộ dữ liệu này được sử dụng để phân tích và đánh giá trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2011b).

Tại Việt Nam, khảo sát để đo lường thu nhập của dân số quốc gia có độ tin cậy cao nhất được thực hiện bởi Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Tổng cục Thống kê đã chuẩn hóa một bảng riêng nhằm đo lường và đánh giá thu nhập cá nhân của công dân trên toàn Việt Nam thông qua hệ thống câu hỏi khảo sát về các yếu tố khác nhau như nhân khẩu học, việc làm, lương,... Bên cạnh đó, Tổng cục Thống kê cũng quy định rõ ràng về việc những khoản không được tính vào thu nhập như: các khoản thu đột xuất (như: bán/chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở...), trợ cấp cho các đối tượng được hỗ trợ của chính phủ... Do tính chất đặc thù về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật... so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới, tác giả quyết định chọn thang đo của Tổng cục thống kê Việt Nam làm thang đo mẫu để đo lường và đánh giá thu nhập của người dân.

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng thang đo định danh có hiệu chỉnh từ thang đo thu nhập của Tổng cục thống kê Việt Nam. Từ một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng như giới tính, địa điểm sống, nghề nghiệp, thu nhập tại địa phương nghiên cứu nhằm đo lường những thông tin của các đối tượng tham gia khảo sát về: tình trạng công việc trong 1 năm, thông tin về công việc chính, công việc phụ của hộ gia đình nghiên cứu giúp đem lại những thông tin tổng quan và chính xác khi đo lường thu nhập trong phạm vi đối tượng của nghiên cứu này.

Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn

DTTC bao hàm 3 yếu tố là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng DTTC đóng vai trò trong việc ra các quyết định về tài chính cũng như sự hiệu quả của các quyết định đó. Từ đó DTTC tác động tới thu nhập của các cá nhân cũng như doanh nghiệp, quốc gia.

a. Kiến thức

Kiến thức là một phần cơ bản tạo nên vốn con người, nên tác động của kiến thức lên thu nhập rất rõ ràng, nhất là trong nhánh nghiên cứu về vốn con người. Mincer (1974) chỉ ra rằng cứ thêm 1 năm học thì thu nhập tăng thêm khoảng 10 phần trăm tại Hoa Kỳ. Phát triển trên nghiên cứu này, Lee và Lee (2018) cung cấp bằng chứng rằng vốn nhân lực, được đo bằng trình độ học vấn, đóng một vai trò quan trọng trong phân phối thu nhập.

Filmer và Pritchett (1999) đưa ra một phân tích thực nghiệm sử dụng khảo sát hộ gia đình ở 35 quốc gia, và sử dụng chỉ số về nghèo đói làm đại diện cho tình trạng kinh tế của hộ gia đình. Kết quả cho thấy chỉ số về nghèo đói có tương quan với việc giảm trình độ học tập ở 40% dân số nghèo nhất.

44

Đo lường mức độ ảnh hưởng của vốn con người lên năng suất lao động của cá

nhân, Lucas (1988) đưa ra mô hình có dạng hàm:

(Với Y là năng suất lao động, h là “vốn con người”)

Mô hình trên có thể rút ra được rằng việc gia tăng vốn con người giúp làm gia tăng năng suất lao động con người. Từ đó, thu nhập của người lao động tăng lên. Nhận định

về mối quan hệ cùng chiều giữa năng suất lao động và thu nhập cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu khác (Bosworth, 1994, Fisher và Hostland, 2002).

Schultz (1961) cho rằng đầu tư vào vốn con người là một trong những yếu tố quan trọng đối với việc gia tăng thu nhập bình quân đầu người. Vốn con người có năng suất

cao phản ánh kiến thức của nhân lực và ảnh hưởng đến năng suất công việc của đối tượng nghiên cứu. Đầu tư về giáo dục được coi là một trong những yếu tố là thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người. Đây cũng là kết quả của những nghiên cứu khác như

Moock và cộng sự (2003); Nguyen (2004).

Hanushek và Woessmann (2009) so sánh mẫu của các quốc gia OECD với mẫu của các quốc gia không thuộc OECD, với ước tính điểm về ảnh hưởng của chất lượng giáo dục lớn hơn một chút ở các quốc gia không thuộc OECD. Khi mẫu được phân tách

dựa trên việc một quốc gia thấp hơn hoặc trung bình GDP bình quân đầu người năm 1960, ảnh hưởng của chất lượng giáo dục lớn hơn đáng kể về mặt thống kê ở các nước thu nhập thấp so với các nước thu nhập cao. Có thể thấy rằng giáo dục có ảnh hưởng đến thu nhập, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Theo Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), những người lao động có trình độ càng cao đạt được những mức tiền công cao hơn. Ở các bậc học thấp, sự gia tăng trình độ dẫn đến sự gia tăng tiền công nhưng với mức tăng rất chậm. Mức tiền công tăng vọt

từ bậc học trung học phổ thông đến bậc cao đẳng, bậc học đầu tiên trong hệ thống đào tạo chuyên môn. Đối với lao động không có trình độ, tiền công của người lao động được trả dựa chủ yếu trên thể lực của họ nên lao động nam thường có tiền công hơn lao động nữ. Ủng hộ ý kiến trên, Thái Phúc Thành (2014) cho rằng tại Việt Nam, trong thu nhập

giữa các nhóm nghề nghiệp, nhóm lao động có chuyên môn bậc cao (tức nhóm có kiến thức, trình độ học vấn cao) được trả một khoản thu nhập cao nhất so với các nhóm nghề nghiệp khác khi lấy lao động giản đơn làm mốc so sánh trong tất cả các khoảng phân vị. Tương tự, nhóm lao động bậc cao luôn cho thấy sự ổn định của mình. Nhìn vào sự so

sánh thu nhập của lao động là lãnh đạo, ta thấy càng đến khoảng phân vị cao thì khoảng cách thu nhập của nhóm lãnh đạo càng tăng và ở khoảng phân vị cuối cùng nhóm lãnh đạo vượt lên là nhóm có cách biệt lớn nhất so với các nhóm nghề nghiệp còn lại.

45

Các nghiên cứu trên đều có đồng quan điểm rằng số năm đi học và kinh nghiệm

làm việc ảnh hưởng cùng chiều lên thu nhập của họ. Những đối tượng có số năm đi học và kinh nghiệm nhiều hơn, sẽ có thu nhập cao hơn và thu được lợi nhuận nhiều hơn từ các khoản đầu tư. Như vậy, kiến thức tài chính, một khía cạnh trong DTTC có ảnh hưởng cùng chiều đến thu nhập của các đối tượng trong nền kinh tế.

b. Thái độ

Đối với nhánh nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt về sinh kế bền vững và tài chính vi mô sau này, đều cho rằng thái độ của các cá nhân có ảnh hưởng đến thu

nhập. Mincer (1958) chỉ ra rằng các quyết định đầu tư trong tương lai cũng như thái độ của chủ thể đối với nền kinh tế là một trong những yếu tố quyết định tới thu nhập của người đó cũng như sự mất cân bằng thu nhập của quốc gia đó. Nghiên cứu này được

phát triển bởi một số nghiên cứu như Furnham (1984) cho rằng thái độ tài chính định hình cách mọi người chi tiêu, tiết kiệm, tích trữ và lãng phí tiền bạc. Thái độ tài chính ảnh hưởng đến các vấn đề khácnhư nợ đọng trong thanh toán hóa đơn và thiếu thu nhập để kiếm đủ tiền. Đồng quan điểm với ý kiến trên, Hayhoe và cộng sự (1999) cũng cho

rằng thái độ tài chính của một cá nhân cũng ảnh hưởng đến cách một người quản lý hành vi tài chính chính người đó.

Lusardi và cộng sự (2017) đã nghiên cứu tác động của DTTC trong hành vi ra quyết định tài chính của chủ thể. Cụ thể, các cá nhân sẽ có thái độ và cách tiếp cận kinh

tế, ra quyết định tiết kiệm cũng như tiêu dùng các sản phẩm. Đối với những cá nhân có thái độ thận trọng và hiểu biết đầy đủ các thông tin sẽ chi tiêu ít hơn khi thu nhập cao, xu hướng tiết kiệm tăng và sẽ sử dụng khoản tiết kiệm đó khi thu nhập giảm. Mô hình

này sẽ được làm tối đa hóa lợi ích cho cá nhân. Các nghiên cứu trước đây cũng cho ra kết quả tương tự như Modigliani và Brumberg (1954), Friedman (1957).

Như vậy, có thể cho rằng thái độ tài chính có ảnh hưởng đến cách một cá nhân điều chỉnh hành vi tài chính của mình, từ đó tạo nên sự ảnh hưởng lên thu nhập của đối

tượng nghiên cứu.

c. Hành vi

Trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, Schultz (1961) cho rằng những người

có hành vi sai lệch trong việc đầu tư cũng như không có hành vi gì đối với tài chính đều ảnh hưởng xấu tới thu nhập. Perry và Morris (2005) đã phát triển trên quan điểm trên và chứng minh rằng hiểu biết ảnh hưởng tới kết quả của hành vi tài chính, tạo ra thu nhập cho chủ thể. Việc tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của chủ thể thúc đẩy một thu nhập đều

đặn và khả thi hơn so với những hành vi sai lệch khác (như cướp bóc, trộm cắp,..).

46

Servon và Kaestner (2008) thông qua hệ thống câu hỏi của mình, đã chỉ ra tỉ lệ những

người có hành vi tài chính có quyết định tài chính đúng đắn hơn so với những người không đặt mục tiêu về tài chính. Nghiên cứu này đồng quan điểm với Holzmann (2010) và Huston (2010).

Đối với nghiên cứu riêng biệt về DTTC, Hilgert và cộng sự (2003) đã tìm ra được mối tương quan giữa DTTC và kỹ năng quản lý tài chính hàng ngày. Những hành vi và quyết định tài chính trên có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập. Những người có kỹ năng quản lý tài chính tốt hơn thường có thu nhập cao hơn và có xu hướng tiết kiệm để phòng

tránh rủi ro có thể xảy ra (Scheresberg, 2013). Kết luận cũng được tương đồng với một số nghiên cứu tại Mỹ và trên thế giới khi cho rằng những người có DTTC cao thường có xu hướng tham gia vào thị trường tài chính và đầu tư vào cổ phiếu hơn (Kimball và

Shumway, 2006, Christelis và cộng sự, 2010, Almenberg và Säve-Söderbergh, 2011).

OECD (2009) cũng chỉ ra rằng những quyết định tài chính sai sót - thường được gây ra bởi sự thiếu hụt DTTC – có thể gây ra những hậu quả tiêu cực. Calvert (2005) cho rằng việc đưa ra những quyết định tài chính sai lầm, gây ảnh hưởng không chỉ tới

cá nhân đó mà còn dẫn đến hệ lụy đối với những người xung quanh và có thể là toàn bộ nền kinh tế. Tương tự, Agarwal và cộng sự (2009) cũng tập trung vào những “sai lầm tài chính” và đưa ra nhận định rằng điều này hay xảy ra nhất đối với nhóm đối tượng người trẻ và người cao tuổi, những nhóm đối tượng mà thường phản ánh chỉ số DTTC,

đặc biệt là kiến thức tài chính thấp nhất.

Như vậy, hành vi tài chính là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lên thu nhập. Những hành vi tài chính tiêu cực có thể giúp cho thu nhập của một cá nhân tăng lên và

ngược lại.

2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính

Cho đến hiện nay, DTTC xuất hiện trong ngày càng nhiều nghiên cứu trên thế giới.

Phần lớn trong số chúng được thực hiện cho các nước phát triển, như Ý, Hoa Kỳ, Thụy Điển và Úc. Một số bài báo tập trung vào các nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn như Ấn Độ, Indonesia,... Kết quả của các nghiên cứu cũng đã chỉ ra nhiều điểm thống nhất

và tương đồng về các nhân tố ảnh hưởng. Qua đó, có thể thấy có một số nhân tố đã được rất nhiều nghiên cứu cùng đề cập, đó là sự kết hợp và ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội (socioeconomic factors) và yếu tố nhân khẩu (demographic factors) lên trình độ DTTC của cá nhân.

47

2.4.1. Trình độ học vấn

Bhushan và Medury (2013) cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa trình độ học vấn và DTTC: trình độ học vấn cao thì DTTC cao và ngược lại. Kết quả cho thấy trình độ DTTC cao nhất đối với những người được hỏi có bằng tiến sĩ (66,54%), theo sau là

những người được hỏi có bằng sau đại học (61,43%).

Brown và Graf (2013) cũng đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn: chỉ 26,6% nhóm đối tượng có trình độ giáo dục tiểu học hoặc tương đương có

thể trả lời chính xác những câu hỏi liên quan đến lãi suất, lạm phát và rủi ro; trong khi tỷ lệ này ở nhóm đối tượng có trình độ đại học lên tới 68,69%. Tỷ lệ những người không xác định được câu trả lời cũng giảm dần: 34,7% ở nhóm đối tượng có trình độ tiểu học và tương đương; 22,8% ở nhóm đối tượng có trình độ phổ thông trở lên, 17,2% ở nhóm

đối tượng học nghề, và 10,2% ở nhóm đối tượng có trình độ đại học. Kết quả của nghiên cứu trên cũng tương đồng với Alessie và cộng sự (2008) khi chỉ ra rằng những người có điểm số DTTC thấp nhất nằm trong nhóm có trình độ tiểu học hoặc trung cấp nghề dự

bị; những người có trình độ giáo dục đại học cao hơn và nằm trong nhóm có chỉ số DTTC cơ bản cao nhất.

Tại Việt Nam, một số bài nghiên cứu cũng đã cho ra các kết quả tương tự. Morgan và Trinh (2017) chỉ ra là trình độ học vấn cao hơn có mối tương quan chặt chẽ và có ý

nghĩa tích cực với DTTC ở Việt Nam. Kết quả trình độ học vấn có tác động cùng chiều với DTTC như đã được chỉ ra trong các nghiên cứu trước (Banks và Oldfield, 2007, Christelis và cộng sự, 2010, Lusardi và cộng sự, 2017).

Kết quả của những nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng trình độ học vấn là một yếu tố ảnh hưởng tích cực lên DTTC của một cá nhân; những nhóm đối tượng có trình độ giáo dục càng cao thì tỷ lệ trả lời đúng những câu hỏi về tài chính càng cao và ngược lại.

2.4.2. Thu nhập

Về thu nhập, hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều đưa ra nhận định rằng thu nhập có ảnh hưởng cùng chiều lên DTTC, tức thu nhập càng cao thì điểm số DTTC của

cá nhân càng cao và ngược lại. Cụ thể, Mandell và Klein (2009) đã chỉ ra rằng những sinh viên từ gia đình có thu nhập cao (hơn $80.000 mỗi năm) sẽ có điểm số DTTC cao vượt trội so với nhóm sinh viên từ gia đình có thu nhập thấp.

Kết quả cho rằng DTTC có mối quan hệ thuận chiều với thu nhập cũng được đưa

ra trong nghiên cứu của Lusardi và Tufano (2015). Khi được hỏi về lãi gộp, 48% những người có thu nhập hàng năm cao hơn $75.000 trả lời đúng, trong khi con số này ở nhóm

48

đối tượng có thu nhập hàng năm thấp hơn $30.000 chỉ là 26%. Kết quả này cũng xảy ra

tương tự với các câu hỏi còn lại trong bài nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là tỉ lệ câu trả lời đúng ở cả 3 câu hỏi trong bài nghiên cứu đều thấp hơn 50% kể cả ở nhóm đối tượng có thu nhập cao nhất. Hơn thế nữa, có hơn 42% những người có thu nhập cao trong bài nghiên cứu này không phân biệt được giữa những khoản thanh toán một lần với những khoản thanh toán theo niên kim.

Ngoài ra, hành vi tiết kiệm cùng được các nhà nghiên cứu dùng để thể hiện cho mức độ hiểu biết DTTC, Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng vai một

vai trò quan trọng trong hành vi tiết kiệm của con người. Dấu hiệu tích cực cho thấy rằng khi thu nhập tăng thì khả năng tiết kiệm tăng. Kết quả trên cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu khác (De Clercq và cộng sự, 2009, Monticone, 2010, Hastings và Mitchell,

2020, Bhushan và Medury, 2013, Potrich và cộng sự, 2015, Sekar và Gowri, 2015).

Phân tích hồi quy trong nghiên cứu về DTTC của Atkinson và Messy (2012) đã

chỉ ra rằng những người trả lời có thu nhập cao hơn thường có điểm số DTTC cao hơn.

Ví dụ, ở Ba Lan, điểm số DTTC của nhóm đối tượng thu nhập thấp là gần điểm trong

khi điểm số của nhóm đối tượng thu nhập cao cao hơn khoảng 25% (tức hơn 15 điểm).

Khoảng cách DTTC giữa các nhóm đối tượng có thu nhập này dễ dàng nhận ra ở Cộng

hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi. Điều này có thể được giải thích bởi

những người có DTTC cao thường sẽ có chiến lược để tận dụng thu nhập và xu hướng

tránh được những rủi ro không cần thiết. Tuy nhiên, điểm số DTTC cao có thể có ở tất cả

những nhóm đối tượng có thu nhập khác nhau. Bởi thu nhập không ảnh hưởng trực tiếp tới

khả năng cá nhân tiếp nhận kiến thức, hình thành thái độ hay có những hành vi tài chính tích

cực, nhưng thu nhập thấp thường là một trong những nguyên do dẫn đến những hành vi tài

chính tiêu cực, như vay mượn để trả nợ, tiêu dùng không có kế hoạch...

Như vậy, kết quả của hầu hết các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng thu nhập là một

trong những yếu tố tác động lên điểm số DTTC của một cá nhân. Những đối tượng có

thu nhập cao hơn thường có xu hướng có điểm số DTTC cao hơn và ngược lại. Tuy

nhiên, các nghiên cứu trên cũng chỉ ra một thực trạng rằng, điểm số DTTC và tỉ lệ những

người có kiến thức tài chính chính xác vẫn còn thấp, thậm chí ở nhóm đối tượng có thu

nhập cao nhất. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao và cải thiện DTTC không chỉ ở

những người có thu nhập thấp mà còn ở cả những nhóm đối tượng có thu nhập trung

bình và thu nhập cao.

49

2.4.3. Việc làm

Kết quả chỉ ra mối quan hệ giữa việc làm và DTTC đã xuất hiện từ lâu trong các

nghiên cứu về DTTC, kể cả trong các nghiên cứu về lý thuyết tăng trưởng nội sinh, vốn

con người và sinh kế bền vững. Scheresberg (2013) và Uppal (2016) đã phân nhóm và

tìm ra điểm khác biệt về DTTC giữa ba nhóm đối tượng: có việc làm, tự chủ, thất nghiệp.

Mở rộng hơn, Nanziri và Leibbrandt (2018) chỉ ra được sự khác biệt về điểm số DTTC

giữa những nhóm đối tượng có đặc điểm công việc khác nhau. Nghiên cứu chia các đối

tượng nghiên cứu thành 7 nhóm việc làm: có việc làm chính thức (formally employed),

tự làm chủ doanh nghiệp (self-employed), nghỉ hưu (pensioner), nội trợ (housewife), có

việc làm không chính thức (informally employed), sinh viên (student) và thất nghiệp

(unemployed). Nhóm đối tượng có việc làm chính thức có điểm số DTTC cao nhất,

trung bình là 55,73 trong khi điểm số của nhóm đối tượng thất nghiệp thấp hơn khoảng

25% (41,74 điểm) (Ansong và Gyensare, 2012). Điểm số DTTC của nhóm đối tượng có

việc làm chính thức, tự làm chủ doanh nghiệp và nghỉ hưu cao hơn, trong khi sinh viên

và thất nghiệp là những người có điểm số thấp nhất trong 7 nhóm đối tượng trên. Điểm

số DTTC thấp ở những đối tượng sinh viên và thất nghiệp cũng đã được chỉ ra trong các

nghiên cứu trước đây (Mandell và Klein, 2009, Chen và Volpe, 2002, Beal và

Delpachitra, 2003, Worthington, 2004, Markow và Bagnaschi, 2005, Lusardi và

Mitchell, 2011c, Ansong và Gyensare, 2012). Tại Việt Nam, kết quả trên cũng được ủng

hộ bởi Morgan và Trinh (2017).

Tóm lại, tất cả các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng tình trạng việc làm là một trong những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC. Nhóm đối tượng có việc làm, đặc biệt là liên quan đến kinh tế và tài chính thường có những kiến thức tài chính chính xác và thỏa đáng

hơn, dẫn đến điểm số DTTC cũng cao hơn nhóm đối tượng không có việc làm.

2.4.4. Tuổi tác

Một trong những nhân tố nhân khẩu học ảnh hưởng lên DTTC là tuổi tác. Sự tác

động của tuổi tác lên DTTC đã được phân tích cụ thể trong một số nghiên cứu trên thế giới. Alessie và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng điểm số DTTC thấp ở những đối tượng trẻ, và những đối tượng trung niên thường có điểm số cao nhất. Điều này có thể được

giải thích bởi tuổi tác ảnh hưởng tới hành vi và thói quen của đối tượng với thị trường tài chính. Ví dụ, những người sở hữu cổ phiếu trên thị trường chủ yếu tập trung ở độ tuổi 40 và tương đương; thị phần thị trường chứng khoán cũng tăng lên theo độ tuổi của những người sở hữu. Nghiên cứu trên còn chỉ ra một số vấn đề tài chính mà nhóm độ

tuổi trẻ thường gặp phải cũng đã được ủng hộ trong các nghiên cứu khác trên thế giới.

50

Sinha (2018) chỉ ra rằng: 22% trong số 3.050 người có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi trong

mẫu nghiên cứu được coi là ổn định về mặt tài chính. Những cá nhân này lập kế hoạch và quản lý tài chính của họ tốt hơn, họ đã kiểm tra hoặc tiết kiệm tài khoản trong các ngân hàng chủ đạo và ít có khả năng sử dụng các dịch vụ tài chính thay thế tốn kém như người cho vay qua đêm. Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra gần một phần ba thanh niên được nhận định là "tài chính không ổn định" vì họ có hiểu biết về tài chính kém và thiếu kỹ năng quản lý tiền và ổn định thu nhập.

Kết quả trên cũng tương đồng với nghiên cứu của Lusardi và Tufano (2015) khi

chỉ ra những đặc điểm của DTTC theo từng nhóm độ tuổi: những đối tượng có độ tuổi lớn thường có sự nhầm lẫn khi tính toán những phép tính về lãi suất cơ bản. Lusardi và Mitchelli (2007) cũng đã chỉ ra chỉ có một tỉ lệ nhỏ nhóm đối tượng từ 51 đến 56 tuổi

trả lời đúng những câu hỏi về lãi suất kép. Cụ thể, về kiến thức liên quan đến lãi suất, nhóm đối tượng có độ tuổi lớn hơn 65 thường trả lời sai hoặc không xác định được câu trả lời, nhóm đối tượng có độ tuổi dưới 30 có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất (43,16%) trong câu hỏi này. Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng nhóm đối tượng có độ tuổi lớn sẽ có

điểm số DTTC thấp hơn. Đây là một trong những phát hiện quan trọng, và điều tương tự đã được phát hiện trong nghiên cứu của Agarwal và cộng sự (2009). Tại Việt Nam, Do (2017) chỉ ra rằng: “Người Việt Nam trưởng thành (hơn 30 tuổi) làm việc và có thu nhập cao hơn trung bình thể hiện kỹ năng tài chính tốt hơn so với các nhóm khác, phù

hợp với kết quả của các nước Châu Á Thái Bình Dương”.

Trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2017), điều đáng quan tâm là những người lớn tuổi tự đánh giá cho mình điểm số rất cao về DTTC, trong khi lại đạt điểm

kém trong các câu hỏi về kiến thức tài chính cơ bản (Lusardi và Mitchell, 2011b, Lusardi và Tufano, 2015). Tương tự, Finke và cộng sự (2017) phát triển một thước đo đa chiều về DTTC cho người già và xác nhận rằng, mặc dù kiến thức tài chính thực tế giảm theo tuổi tác, nhưng người dân tự tin vào khả năng ra quyết định tài chính của họ

thực sự tăng theo tuổi. Atkinson và Messy (2012) đã đưa ra hai nguyên nhân giải thích cho hiện tượng trên:

Có thể yếu tố thói quen làm ảnh hưởng tới những người tiêu dùng lớn tuổi. Những

người lớn tuổi, với kinh nghiệm ở một thị trường tài chính thế hệ trước sẽ khó có thể bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính bây giờ, bao gồm cả sự xuất hiện của nhiều công nghệ mới.

Sự giảm sút về nhận thức có thể làm giảm mức độ kiến thức tài chính mà người

tiêu dùng có độ tuổi cao có thể duy trì và áp dụng trong thị trường tài chính.

51

Bhushan và Medury (2013) cũng cho thấy tuổi càng cao thì trình độ DTTC cũng

tăng lên. Mức độ DTTC tối đa là 65,38% được thể hiện bởi những người được hỏi rơi vào nhóm tuổi trên 60 tuổi, sau đó là 59,66% cho nhóm tuổi 51- 60 tuổi. Tuy nhiên, kết quả kiểm định ANOVA lại cho thấy sự khác biệt về trình độ hiểu biết về tài chính của người trả lời dựa trên độ tuổi không có ý nghĩa thống kê. Tương tự, Nanziri và Leibbrandt (2018) cũng đưa ra một quan điểm cho rằng mặc dù đồ thị của số điểm DTTC và độ tuổi là đồ thị có dạng chữ U ngược, tuy nhiên yếu tố tuổi tác không phải là một biến mang ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra kết quả rằng không có sự khác

biệt quá nhiều giữa điểm số DTTC ở các độ tuổi khác nhau.

Như vậy, yếu tố tuổi tác là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập rất nhiều trong các nghiên cứu ở trên thế giới. Tuy vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn,

nhưng nhiều các nghiên cứu đều đồng tình với quan điểm cho rằng: Điểm số DTTC sẽ cao nhất ở độ tuổi trung niên và thấp dần đi ở những độ tuổi trẻ hơn hoặc già hơn.

2.4.5. Giới tính

Lusardi và Mitchell (2011a) đưa ra quan điểm cho rằng có sự khác biệt về điểm số DTTC giữa nữ giới và nam giới. Cụ thể, phụ nữ thường có DTTC thấp hơn đàn ông trong đa số các trường hợp. Hơn thế nữa, phụ nữ còn đưa ra những câu trả lời không xác định cho những vấn đề liên quan đến tài chính. Lusardi và Mitchell (2014) chỉ ra kết

quả: tỷ lệ phụ nữ trả lời câu hỏi “tôi không biết” nhiều hơn rất nhiều so với nam như ở Mỹ, 26% nam giới không xác định câu trả lời, trong khi đó tỷ lệ ở phụ nữ lên tới 47%; còn ở Hà Lan, tỷ lệ này đối với nam là 26%, trong khi nữ là 42%. Điều này có thể được

giải thích bởi nguyên nhân phụ nữ thường khó tiếp cận và bắt kịp với những sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính và nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ và nam giới thường quyết đoán hơn phụ nữ.

Phát triển từ kết quả của nghiên cứu trên, Brown và Graf (2013) đã đưa ra kết quả

rằng có tới 62% nam giới tham gia nghiên cứu trả lời đúng những câu hỏi về lĩnh vực tài chính, trong khi đó con số này ở nữ giới chỉ là 39%. Tỷ lệ nữ giới không xác định câu trả lời hoặc từ chối trả lời những câu hỏi này ở phụ nữ lên tới 22%, gần gấp đôi ở

nam giới (12%). Hơn thế nữa, nghiên cứu này đã phát triển sâu hơn khi nghiên cứu về khoảng cách giới tính khi đo lường DTTC theo tình trạng hôn nhân và sự yêu thích về lĩnh vực tài chính. Kết quả chỉ ra rằng, tỉ lệ những người không xác định được câu trả lời như nhau ở nam giới và nữ giới khi những đối tượng này không có sự thích thú với

lĩnh vực tài chính. Điều này đồng nghĩa với việc nam giới không chỉ tự tin hơn trong việc trả lời các câu hỏi về tài chính mà còn quan tâm tới những vấn đề tài chính.

52

Tại Việt Nam, Morgan và Trinh (2017) có kết luận rằng yếu tố giới tính có ảnh

hưởng ít hơn so với các nước khác (ở Việt Nam hệ số giới tính chỉ bằng một nửa khi so với 30 nước OECD năm 2016). Kết quả này cho rằng việc giới tính có tác động đến DTTC là còn phụ thuộc từng vùng, quốc gia do sự khác biệt về lối tư duy và phong tục tập quán.

Tuy nhiên, Nanziri và Leibbrandt (2018) lại đưa ra một quan điểm ngược lại khi nhận định rằng ảnh hưởng của giới tính lên điểm số DTTC là không rõ ràng. Nghiên cứu đưa ra điểm số trung bình của nữ giới là 47,87, ở nam giới là 49,02. Mặc dù nam

giới có kết quả trình độ DTTC cao hơn nữ giới, tuy nhiên ảnh hưởng này là không nhiều, vì thế biến giới tính không phải là một biến mang ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này. Kết quả này cũng được ủng hộ bởi nghiên cứu của Bucher and Lusardi (2011) cho

rằng giới tính không có sự tác động đáng kể tới trình độ DTTC của một cá nhân. Như vậy, ảnh hưởng của giới tính lên DTTC vẫn là một trong những nhân tố chưa có được sự thống nhất giữa các nghiên cứu về DTTC trên thế giới.

2.4.6. Chủng tộc và tôn giáo

Về chủng tộc, một số các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra được sự khác biệt điểm số DTTC giữa các nhóm đối tượng khác nhau. Zhan (2006) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố chủng tộc lên điểm số DTTC đã đưa ra kết luận những người có gốc

Tây Ban Nha thường có điểm số DTTC thấp hơn những nhóm đối tượng còn lại (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và những đối tượng khác).

Quan điểm này cũng được ủng hộ trong nghiên cứu của Lusardi và Mitchell

(2011b) khi đưa ra kết luận rằng những người có nguồn gốc Tây Ban Nha thường là nhóm đối tượng có điểm số DTTC thấp nhất. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ rõ ra một số lĩnh vực mà nhóm đối tượng gốc Tây Ban Nha (Hispanic) có điểm số cao hơn nhóm đối tượng người da đen (Black) như: xổ số, lãi suất. Trong khi đó, Scheresberg (2013)

lại chỉ ra rằng những người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha có trình độ DTTC thấp nhất trong mẫu nghiên cứu khảo sát tại Hoa Kỳ.

Lusardi và cộng sự (2010) cho thấy sự khác biệt về DTTC theo chủng tộc và dân

tộc: người da trắng trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức tài chính nhiều hơn người da đen và người gốc Tây Ban Nha. Khoảng cách về tỷ lệ trả lời đúng giữa người da đen và người da trắng là khoảng 17% cho câu hỏi lạm phát và gần 12% cho câu hỏi phân tán rủi ro. Khoảng cách tương ứng cho người gốc Tây Ban Nha là khoảng 12% và 7%. Phát hiện

này phù hợp với các nghiên cứu khác đã tìm thấy sự khác biệt về DTTC theo sự khác biệt về chủng tộc và sắc tộc giữa các học sinh trung học (Mandell và Klein, 2009).

53

Bên cạnh đó, tôn giáo cũng là một nhân tố được xem xét trong các nghiên cứu. Alessie và cộng sự (2008) nghiên cứu đối với hơn 2.000 hộ gia đình bằng phương pháp điền bảng hỏi đã đưa ra kết quả rằng yếu tố tôn giáo ảnh hưởng tới DTTC. Kết quả chỉ ra rằng người thuộc đạo Tin Lành kiểm soát về tài chính tốt hơn người thuộc những tôn giáo khác.

Như vậy, các nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng chủng tộc và tôn giáo là nhân tố tạo ra ảnh hưởng lên DTTC. Tuy nhiên, sự khác biệt về phương pháp đo lường và việc chia mẫu đo lường khiến cho kết quả các nghiên cứu này chưa thật sự thống nhất và rõ ràng.

Từ những phân tích trên, tác giả tổng hợp những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC ở

bảng dưới đây:

Bảng 2.3. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC

Nhân tố Mối quan hệ với DTTC Nghiên cứu ảnh hưởng

Zhan (2006); Mandell và Klein (2007);

- Tác động dương, những người có trình độ giáo dục cao thì DTTC cao.

Alessie và cộng sự (2008); Lusardi và Mitchell (2011a); Scheresberg (2013); Brown và Graf (2013); Bhushan và Yếu tố về trình độ học vấn

Medury (2013); Baker và Ricciardi (2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018).

- Có mối liên quan có ý nghĩa

thống kê với DTTC. Campbell (2006); Lusardi và Mitchell (2011b); Lusardi và Tufano (2015);

- Mức thu nhập thấp gắn liền

với mức DTTC thấp Monticone (2010); Hastings và Mitchell (2020); Atkinson và Messy (2012); Bhushan và Medury (2013); Jonubi và Yếu tố về thu nhập

Abad (2013); Potrich và cộng sự (2015); Sekar và Gowri (2015)

Atkinson và Messy (2012)

- Điểm số DTTC cao có thể xuất hiện ở mọi mức thu nhập.

Lusardi và Mitchell (2011b); Mandell và

Yếu tố việc làm - Những đối tượng có việc làm có điểm số DTTC cao hơn. Klein (2007); Beal và Delpachitra (2003); Research (2008); Worthington (2004);

54

Markow và Bagnaschi (2005); Banks và Oldfield (2007); Lusardi và Mitchell

(2017); Calamato (2010); Lusardi và Mitchell (2011b); Almenberg và Säve- Söderbergh (2011); Ansong và Gyensare

(2012); Bhushan và Medury (2013)

Chen và Volpe (1998); Nanziri và Leibbrandt (2018).

- Những đối tượng có thâm niên làm việc càng lâu năm, điểm số DTTC càng cao.

- Nhóm đối tượng trung niên có điểm số DTTC cao nhất Alessie và cộng sự (2008); Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự

Yếu tố tuổi tác

trong khi điểm số DTTC thấp thường xuất hiện ở nhóm độ tuổi trẻ hoặc người già.

(2010); Lusardi và Mitchell (2011b); Atkinson và Messy (2012); Lusardi và cộng sự (2017)); Brown (2013); Do (2017); Nanziri và Leibbrandt (2018). Bhushan và Medury (2013)

- Biến tuổi tác không thật sự mang ý nghĩa thống kê khi đo lường DTTC.

- Phụ nữ thường có DTTC thấp hơn đàn ông trong đa số các trường hợp.

Chen và Volpe (1998); Banks và Oldfield (2007); Lusardi và Mitchell (2008); Lusardi và Tufano (2015); Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010); Lusardi và Mitchell (2011b);

Yếu tố giới tính

Atkinson và Messy (2012); Almenberg và Säve-Söderbergh (2011); Scheresberg (2013); Brown và Graf (2013); Bhushan

(2013); OECD (2013);

và Medury Morgan và Trinh (2017)

Nanziri và Leibbrandt (2018).

- Ảnh hưởng của giới tính lên điểm số DTTC là không rõ ràng.

55

- Nhóm đối tượng da trắng thường có điểm số DTTC Zhan (2006); Lusardi và Mitchell (2011b); Lusardi và Mitchell (2017);

cao nhất. Nanziri và Leibbrandt (2018).

- Nhóm đối tượng gốc Tây Ban Nha và nhóm đối tượng

da đen thường có điểm số DTTC thấp nhất. Chủng tộc và tôn giáo - Yếu tố tôn giáo ảnh hưởng Alessie và cộng sự (2008).

tới DTTC.

- Người thuộc đạo Tin Lành kiểm soát về tài chính tốt hơn người thuộc những tôn giáo khác.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

56

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về DTTC là một đề tài còn mới và vẫn chưa có nhiều nghiên cứu trực tiếp về đề tài này, đặc biệt là tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu được thực hiện và chứng minh tại nhiều quốc gia, nhưng chủ yếu đều là những quốc gia phát triển.

Do đặc điểm khác nhau về đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội và sự nhận thức của mỗi người, đặc biệt là về vấn đề tài chính. Chính vì vậy kết quả những nghiên cứu trên chưa thật sự phù hợp với bối cảnh nền kinh tế Việt Nam. Tác giả đã thực hiện thêm nghiên

cứu sơ bộ để có thể khẳng định lại độ tin cậy của thang đo DTTC cũng như những nhân tố ảnh hưởng tới DTTC của một cá nhân.

Nghiên cứu gồm hai giai đoạn chính: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu sơ bộ có mục đích kiểm định lại độ tin cậy của thang đo, mô hình và các

biến độc lập và xây dựng bảng hỏi chính thức. Nghiên cứu chính thức nhằm hoàn thiện bảng hỏi, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra kết luận, tìm hiểu trọng số và mối quan hệ của các nhân tố trong mô hình với nhau.

3.1. Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu này kết hợp cả hai phương pháp là nghiên cứu định tính và nghiên cứu

định lượng. Cụ thể như sau:

Trên cơ sở tổng hợp và phát triển các lý thuyết từ các nghiên cứu trước cũng như các lý thuyết DTTC, tác giả đã phân tích định tính các yếu tố ảnh hưởng đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập của người dân ở vùng nông thôn.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng, mô hình hóa những dữ liệu điều tra về các cá nhân để có những thông tin về DTTC và thu nhập của đối tượng nghiên cứu. Bộ chỉ số đo lường DTTC theo phương pháp định lượng sẽ được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của OECD (2015), sau đó hiệu chỉnh để phù hợp với Việt Nam. Cụ thể, bảng

hỏi đầy đủ và chi tiết hơn để đo lường DTTC gồm ba nhân tố: kiến thức tài chính (nhận thức lãi suất, tính toán lãi suất thông thường, định nghĩa lạm phát, giá trị thời gian của dòng tiền, phân loại rủi ro...); hành vi tài chính (quản lý ngân quỹ, tiết kiệm chủ động,

kế hoạch trả nợ...); thái độ tài chính (có xu hướng tiết kiệm cho tương lai hay không). Cấu trúc 03 mục của bảng hỏi sẽ theo thang 21 điểm theo thang đo Likert gồm 5 mức độ (tương ứng 7 cho kiến thức, 9 cho hành động, và 5 cho thái độ) để đưa ra các kết quả thống kê và mô hình nghiên cứu.

Bên cạnh đó, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã phỏng vấn sâu các chuyên gia về lĩnh vực dân trí tài chính và tài chính cá nhân nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi phù hợp với

57

Việt Nam, làm rõ hơn nữa các mối liên hệ định tính giữa các biến trong nghiên cứu và

giải thích rõ được các kết quả định lượng đạt được trong nghiên cứu này.

Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ sau:

Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

58

3.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.2.1 Đo lường Dân trí tài chính

● Dân trí tài chính (DTTC)

Định nghĩa: Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả phát triển từ định nghĩa của OECD (2013), Lusardi và Mitchell (2011c) và có hiệu chỉnh lại để phù hợp với Việt Nam cho rằng DTTC là sự kết hợp của kiến thức, thái độ và hành vi tài chính để có thể

ra quyết định tài chính và nâng cao mức độ “giàu có” của một cá nhân (well-being financial). Từ cách định nghĩa trên, điểm số DTTC được tính bằng cách cộng tổng điểm số kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

Các nhân tố phản ánh và sự biểu hiện của DTTC:

● Kiến thức tài chính

Định nghĩa: Trong phạm vi bài nghiên cứu này, kiến thức tài chính được hiểu là những kiến thức về lí thuyết và thực tiễn cần thiết để một cá nhân có thể đưa ra quyết

định tài chính một cách hiệu quả.

Giả thuyết:

- Mối quan hệ giữa kiến thức tài chính và DTTC

Kiến thức là một nhân tố hiển nhiên nhất và được nhắc tới trong tất cả các cách

định nghĩa khác nhau của dân trí tài chính. Tầm quan trọng của kiến thức được đo lường trong nghiên cứu của Vitt và Anderson (2000). Kết quả chỉ ra rằng kiến thức là một trong những nhân tố quan trọng giúp cải thiện tình hình tài chính của một cá nhân. Nhiều

nhà nghiên cứu, phân tích hay nhà hoạch định chính sách cũng chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức tài chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn tới tình trạng DTTC yếu kém (Collins và O’rourke, 2010, Huston, 2010, Nicolini và cộng sự, 2013). Zhan (2006) đã phân tích và chỉ ra rằng tăng hiểu biết về tài chính đồng nghĩa với tăng DTTC. Như vậy,

có thể cho rằng

(cid:1) H1: DTTC được thể hiện qua Kiến thức tài chính (reflective model)

● Thái độ tài chính

Định nghĩa: Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả sử dụng định nghĩa thái độ tài chính là những suy nghĩ hay niềm tin của một cá nhân về những vấn đề, lĩnh vực tài chính, từ đó ảnh hưởng tới các hành vi và việc đưa ra quyết định của cá nhân đó. Điểm số thái độ tài chính cũng được đo lường trên thang đo của Likert, dựa trên các thái độ

tài chính tích cực của các đối tượng tham gia nghiên cứu này.

59

Giả thuyết:

- Mối quan hệ giữa thái độ tài chính và DTTC

Atkinson và cộng sự (2007), Atkinson và Messy (2012) đã chỉ ra rằng thái độ là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên dân trí tài chính. Ví dụ nếu một người có những thái độ tiêu cực tới việc tiết kiệm trong tương lai, thì họ sẽ có xu hướng sẽ thực hiện các hành vi như vậy trong tương lai. Tương tự, những người có xu hướng coi trọng tài chính ngắn hạn hơn sẽ thường ít khi xem xét tới những khoản đề phòng cho những rủi ro trong tương lai hoặc có những kế hoach tài chính dài hạn. Biến đo lường thái độ tài chính cũng đã xuất hiện và được đo lường trong một số nghiên cứu trên thế giới – thường nằm trong nhánh nghiên cứu về tài chính vi mô hoặc về sinh kế bền vững (Godwin, 1994, Godwin và Carroll, 1986, Godwin và Koonce, 1992). Trong đó, Godwin (1994) đã xem xét thái độ tài chính như một biến độc lập, ảnh hưởng của biến này tới việc quản lý tài chính của một cá nhân và đưa ra kết luận thái độ tài chính là một trong những nhân tố quan trọng để dự đoán quản lý dòng tiền. Những đối tượng có thái độ tài chính tích cực thường có xu hướng quản lý dòng tiền của mình tốt hơn. Ảnh hưởng của thái độ tài chính lên DTTC cũng được ủng hộ bởi số nghiên cứu gần đây như Atkinson và Messy (2012), OECD (2013). Moore (2003) khẳng định những người kém tự tin vào khả năng của mình, thường bị mắc phải những khoản nợ chi phí cao hoặc bị rơi vào bất lợi đối với những khoản đầu tư.

(cid:1) H2: DTTC được thể hiện qua Thái độ tài chính (reflective model)

● Hành vi tài chính

Định nghĩa: Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa hành vi tài chính là những tác động của chủ thể đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Thông qua các phản ứng của chủ thể đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi.

Giả thuyết:

- Mối quan hệ giữa hành vi tài chính và DTTC

Theo Atkinson và Messy (2012), OECD (2013), hành vi tài chính là một nhân tố thiết yếu của DTTC. Nhiều nghiên cứu cho thấy hành vi tài chính có mối tương quan tích cực với DTTC. Hilgert và cộng sự (2003) bổ sung hành vi tài chính vào bảng câu hỏi khảo sát tài chính tiêu dùng quốc gia, sau đó so sánh chỉ số với điểm số DTTC nhận thấy rằng những người có điểm số DTTC cao hơn cũng có chỉ số thực hành tài chính cao hơn cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hành vi tài chính với DTTC mặc dù xu hướng tác động của quan hệ vẫn chưa rõ ràng.

60

Taft và cộng sự (2013) cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa DTTC và hành vi tài chính, do đó, để thay đổi hành vi tài chính của những người vay nhỏ, DTTC của họ sẽ được cải thiện. Các kết quả nghiên cứu khác như Robb và cộng sự (2012) cũng cho thấy một hành vi tài chính tốt ảnh hưởng chủ quan và khách quan đến DTTC cao hơn đáng kể.

(cid:1) H3: DTTC được thể hiện qua Hành vi tài chính (reflective model)

3.2.2 Các nhân tố tác động lên dân trí tài chính

● Thu nhập

Thu nhập là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến DTTC được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu – kể cả trong nhánh nghiên cứu về vốn con người, các mô hình tăng trưởng nội sinh và lý thuyết về sinh kế bền vững. Lusardi và Tufano (2015) đã chỉ ra rằng DTTC có mối quan hệ thuận chiều với thu nhập dựa trên các nghiên cứu về kiến thức tài chính. Quan điểm trên cũng tương tự với một số nghiên cứu khác (De Clercq và cộng sự, 2009, Monticone, 2010, Hastings và Mitchell, 2020, Meier và Sprenger, 2013, Potrich và cộng sự, 2015, Sekar và Gowri, 2015).

Để đo lường mức độ ảnh hưởng của thu nhập lên DTTC, Morgan và Trinh (2017)

đã đề xuất một hàm hồi quy tuyến tính như sau:

(cid:1)(cid:2)(cid:3) = (cid:6)(cid:7) + (cid:6)(cid:9)(cid:10)(cid:11)(cid:12)(cid:13)(cid:14)(cid:15)(cid:9) + (cid:16)(cid:3)(cid:6)(cid:17) + (cid:18)(cid:9)

Với (cid:1)(cid:2)(cid:19) là điểm số DTTC của cá nhân đó, bao gồm kiến thức tài chính, hành vi tài chính và thái độ tài chính của cá nhân i; (cid:10)(cid:11)(cid:12)(cid:13)(cid:14)(cid:15)(cid:3) là logarit tự nhiên của thu nhập cá nhân i; (cid:16)(cid:3) là véc-tơ của biến kiểm soát; (cid:18)(cid:3) là sai số ngẫu nhiên. Kết quả sau khi phân tích mô hình trên cho thấy mối quan hệ giữa điểm số DTTC và Thu nhập như sau:

Hình 3.2. Hình biểu diễn mối quan hệ giữa DTTC và GDP/người

Nguồn:OECD (2009), Morgan và Trinh (2017)

61

Như vậy, thu nhập có ảnh hưởng thuận chiều tới DTTC. Kết quả này cũng được ủng hộ trong nhiều nghiên cứu khác trên thế giới như Lusardi và Mitchell (2011a), Atkinson và Messy (2012), Jonubi và Abad (2013).Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả đề xuất giả thuyết:

(cid:1) H4: Thu nhập có tác động cùng chiều lên DTTC

● Trình độ học vấn

Trong nhánh nghiên cứu về vốn con người như Rebelo (1991); Moock và cộng sự (2003), trình độ học vấn đã đạt được của một người được định nghĩa là lớp học cao nhất đã hoàn tất trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người đó đã theo học. Theo Luật Giáo dục hiện hành của Việt Nam: “Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm Hệ thống giáo dục chính quy và Hệ thống giáo dục thường xuyên, bắt đầu từ bậc giáo dục mầm non, giáo

dục phổ thông, dạy nghề cho đến các bậc giáo dục chuyên nghiệp”.

Đã có một số nghiên cứu đã tìm hiểu về tác động của trình độ học vấn đối với DTTC. Cụ thể, Friedman (1957) cho rằng những rào cản về học vấn ảnh hưởng tiêu cực tới hành động của cá nhân trong quản lý tài chính. Lusardi và Mitchell (2011b) cũng

đồng tình với nghiên cứu trên khi kết quả thực nghiệm cho thấy những người sống trong thời kỳ bùng nổ dân số sau chiến tranh thế giới thứ 2, những người có bằng đại học có điểm DTTC cao hơn tới 5 lần so với những người chỉ học tới bậc trung học.

Tùy thuộc vào khu vực và đối tượng nghiên cứu, thang đo trình độ học vấn cũng

khác nhau ở các bài nghiên cứu. Zhan (2006) và Uppal (2016) đã đưa ra cùng một thang đo cùng 3 mức trình độ học vấn: Dưới trung học, Trung học và Trên trung học. Mở rộng hơn, Mottola (2013) đưa ra một thang đo bao gồm 5 mức trình độ học vấn: Chưa hoàn

thành trung học, tốt nghiệp trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học. Các nghiên cứu này đều cho rằng học vấn có tác động dương lên DTTC.

Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sử dụng thang đo trình độ học vấn của Mottola

(2013) và đề xuất giả thuyết:

(cid:1) H5: Trình độ học vấn có tác động cùng chiều lên DTTC

• Việc làm

Theo Moock và cộng sự (2003), Trần Xuân Cầu (2013) việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: (1) Làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. (2) Có mục đích thu lợi cho bản thân, mà bản thân có đầy đủ yếu tố để

làm công việc đó. (3) Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không nhận thù lao dưới hình thức tiền lương cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông

62

nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong

gia đình quản lý.

Cherian và Jacob (2013) cho rằng các trạng thái về việc làm như có việc làm hay thất nghiệp cũng như nhóm ngành nghề ảnh hưởng tới hành vi vay tiền và đầu tư của cá nhân. Cụ thể, những người có việc làm sẽ có điểm số DTTC cao hơn những đối tượng thất nghiệp và những người làm trong lĩnh vực tài chính và quản lý nhà nước có xu hướng có điểm số cao hơn những đối tượng còn lại. Kết quả này cũng được tương đồng với các kết trong các nghiên cứu trước đó (Calamato, 2010, Lusardi và cộng sự, 2011a, Bhushan và Medury, 2013).

Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả sẽ tiến hành đo lường phân loại việc làm

thành các nhóm với các nhóm ngành như trên và đề xuất giả thuyết:

(cid:1) H6: Việc làm có tác động lên DTTC

• Tuổi tác

Lusardi và Mitchell (2011b) khẳng định rằng hành vi và kết quả của việc lên kế hoạch và chi tiêu giữa những người trẻ và trung tuổi có sự khác biệt. Tuy nhiên, trong nghiên cứu Scheresberg (2013) về nhóm người trẻ và trung tuổi cho rằng không có sự khác biệt về điểm số DTTC. Như vậy, quan điểm về tác động của tuổi tác lên DTTC vẫn chưa thống nhất giữa các nghiên cứu. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

(cid:1) H7: Tuổi tác có tác động lên DTTC

• Giới tính

Chen và Volpe (1998); Banks và Oldfield (2007); Lusardi (2008); Lusardi và Mitchell (2017) và Scheresberg (2013) đều cho rằng phụ nữ nữ giới ít tự tin hơn nam giới về các kiến thức tài chính.

Tuy nhiên, Bucher-Koenen và Lusardi (2011) đã chỉ ra rằng không có sự khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về DTTC. Đây cũng là kết quả của các nghiên cứu Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018).

Như vậy, giới tính là một nhân tố tác động lên DTTC đã được phát hiện trong một

số nghiên cứu trước đây. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

(cid:1) H8: Giới tính có tác động lên DTTC

• Chủng tộc và tôn giáo

Tác động của chủng tộc lên DTTC đã được phát hiện và đo lường trong các nghiên cứu trên thế giới như Zhan (2006), Scheresberg (2013), (Mottola, 2013), Nanziri và Leibbrandt (2018). Nghiên cứu Scheresberg (2013) chia mẫu thành 5 nhóm người bao

63

gồm: người da trắng, người châu Mỹ gốc Phi, người Tây Ban Nha, người châu Mỹ gốc Á và những quốc gia khác. Đánh giá thông qua khả năng vay mượn lãi suất cao, tiết kiệm cho việc nguy cấp trong tương lai và lập kế hoạch nghỉ hưu, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhóm người Mỹ gốc Á các chỉ số liên quan đến hành vi mang hướng tích cực cao nhất trong khi nhóm người châu Mỹ gốc Phi lại mang hướng tiêu cực hơn.

Như vậy, yếu tố chủng tộc là một trong những nhân tố ảnh hưởng lên DTTC. Tuy nhiên, tùy thuộc vào khu vực nghiên cứu, việc phân loại và kết quả tác động của chủng tộc lên DTTC chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất

(cid:1) H9: Chủng tộc và tôn giáo có tác động lên DTTC

3.2.3 Tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Các nghiên cứu về vốn con người, về mô hình tăng trưởng nội sinh đều đề cập rằng học vấn nói chung có tác động lên thu nhập. Lucas (1988), Fisher và Hostland (2002), Lusardi và Mitchell (2011d), Stango và Zinman (2009), Lusardi và Tufano (2015), Lusardi và Mitchell (2014) đã lần lượt chỉ ra kiến thức, thái độ, hành vi – các nhân tố phản ánh DTTC đều có tác động tích cực tới thu nhập cá nhân. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đề xuất giả thuyết

(cid:1) H10: DTTC có tác động lên thu nhập

Tổng hợp từ những giả thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình:

Hình 3.3. Mô hình nghiên cứu sơ bộ

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

64

3.3. Nghiên cứu sơ bộ

Theo Nguyễn Đình Thọ (2013); Nguyễn Văn Thắng (2014); Yin (2015) trước khi nghiên cứu chính thức (đối với các nghiên cứu dùng dữ liệu sơ cấp) cần phải thực hiện nghiên cứu tại một tỉnh nào đó riêng biệt và đủ tính phổ quát, sau đó mới tiến hành ở địa điểm khác để chọn mẫu để bài nghiên cứu có thể mang tính khách quan nhất. Vì vậy Thái Bình là nơi tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu sơ bộ. Các dữ liệu thu thập được sẽ được sử dụng để đánh giá độ tin cậy và điều chỉnh thang đo trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức. Giai đoạn này giúp cho nghiên cứu đạt được hiệu quả cao hơn và giảm thiểu những sai sót trong quá trình điều tra chính thức.

Nghiên cứu sơ bộ gồm hai bước là nghiên cứu định tính sơ bộ và nghiên cứu định lượng thử nghiệm. Phương pháp nghiên cứu định tính dùng để xác định cách đo lường biến phụ thuộc, khám phá các biến độc lập và bổ sung thêm các biến quan sát để điều chỉnh lại mô hình lý thuyết, xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, kiểm định độ phù hợp của mô hình trên thị trường Việt Nam, đồng thời thiết kế bảng hỏi cho nghiên cứu định lượng thử nghiệm.

Nghiên cứu định tính sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn sâu với một số chuyên gia trong lĩnh vực Tài chính, tài chính cá nhân và tài chính vi mô theo nội dung được chuẩn bị trước.

Nghiên cứu định lượng thử nghiệm được thực hiện thông qua phương pháp khảo sát với 154 quan sát tại tỉnh Thái Bình. Thái Bình là một trong những tỉnh có sản lượng nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo đứng đầu cả nước. Dân số trung bình toàn tỉnh khoảng 1.789,9 nghìn người, trong đó tỷ lệ dân số nông thôn chiếm 89,52%, chiếm hơn 8,64% so với dân số vùng đồng bằng sông Hồng và khoảng 1,97% so với dân số cả nước; trong đó nữ chiếm 51,67%, nam chiếm 48,33%, chủ yếu là dân tộc Kinh (Cục thống kê tỉnh Thái Bình, 2018). Bên cạnh đó, đời sống vật chất, tinh thần của người trong khu vực nông thôn của tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ đói nghèo cao tỷ lệ bình quân cả nước. Thái Bình cũng là một trong những tỉnh đi đầu trong xây dựng nông thôn mới, dự kiến hết năm 2018, toàn tỉnh có 234 xã (bằng 88%) và 1/7 huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia nông thôn mới; 100% xã, phường, thị trấn có nước sạch phục vụ nhân dân. Vì là một tỉnh có đa phần dân số sống tại nông thôn, và là một trong những khu vực đại diện cho phát triển nông thôn mới Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 nên tác giả chọn tỉnh Thái Bình, chủ đích để làm không gian nghiên cứu cho đề tài, từ đó có thể đo lường DTTC tại khu vực nông thôn Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hiện tại.

65

3.3.1. Nghiên cứu định tính sơ bộ

Nghiên cứu định tính sơ bộ nhằm xác định lại các vấn đề thuộc quy luật khách quan, và khai phá mới. Do đó, nghiên cứu định tính được xác định bằng hình thức phỏng vấn sâu các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực DTTC, Tài chính cá nhân, tài chính vi mô và các lĩnh vực chung thuộc khối kiến thức Tài chính - Ngân hàng.

a. Mục tiêu phỏng vấn sâu

Hiệu chỉnh, bổ sung nội dung bảng hỏi và thang đo các biến trong nghiên cứu định lượng. Do đề tài này còn mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, nên thang đo từ các nghiên cứu trước đây cần phải được hiệu chỉnh lại để phù hợp với đặc điểm về kiến thức, hành vi, thái độ của người dân, đặc biệt là vùng nông thôn Việt Nam trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng.

Chọn lọc những biến độc lập ảnh hưởng đến DTTC của cá nhân được dựa trên

tổng quan và cơ sở lý thuyết.

Xác định mối quan hệ giữa các nhân tố phản ánh, các nhân tố độc lập tác động lên

DTTC và xây dựng mô hình đề xuất nghiên cứu.

Chỉnh sửa câu chữ, nội dung bảng hỏi để từ ngữ, cấu trúc, ý nghĩa dễ hiểu để người

đọc có thể hiểu và dễ trả lời.

b. Đối tượng phỏng vấn sâu

Theo Hair và cộng sự (2016) thì phỏng vấn sâu phải được lựa chọn dựa trên các chuyên gia trong ngành, bao gồm cả chuyên sâu và thực tiễn. Mỗi nhóm chuyên gia (hoặc chuyên sâu hoặc thực tiễn cần có khoảng từ 3 người trở lên). Do đó, tác giả lựa chọn 8 chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, bao gồm:

PGS. TS Lê Thanh Tâm, chuyên gia tài chính vi mô và tài chính toàn diện, Đại

học Kinh tế Quốc dân;

PGS. TS. Ngô Văn Thứ, chuyên gia định lượng, Đại học Kinh tế Quốc dân;

TS. Nguyễn Đăng Tuệ, chuyên gia tài chính cá nhân, Đại học Bách khoa Hà Nội;

TS. Phạm Bích Liên, chuyên gia tài chính, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu

Điện Liên Việt;

TS. Bùi Kiên Trung, chuyên gia giáo dục, Đại học Kinh tế Quốc dân;

TS. Nguyễn Đức Hải, chuyên gia tài chính vi mô, Học viện Ngân hàng;

TS. Đinh Thị Thanh Vân, chuyên gia Tài chính Cá nhân và Dân trí Tài chính, Đại

học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội;

66

ThS Phan Cử Nhân, chuyên gia tài chính vi mô, Ngân hàng Chính sách Xã hội

Việt Nam.

Nội dung phỏng vấn sâu bao gồm các câu hỏi mở về các nhân tố nhân khẩu học tác động lên DTTC tại Việt Nam; đo lường DTTC thông qua kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính; đo lường thu nhập và ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập tại Việt Nam; ý kiến về mô hình đề xuất và giả thiết nghiên cứu, độ phù hợp của mô hình tại Việt Nam (chi tiết xem tại phụ lục 2).

c. Kết quả nghiên cứu định tính sơ bộ

Sau khi phỏng vấn sâu các chuyên gia trong ngành, các kết quả sau được rút ra từ

quá trình khảo sát cho thấy rằng:

• Về các nhân tố ảnh hưởng

Tại Việt Nam, các vấn đề liên quan đến đến chủng tộc và tôn giáo thường khó có tác động rõ ràng, bởi tại Việt Nam, các tôn giáo sống hòa bình với nhau, và không có sự

khác biệt trong việc giáo dục cũng như chi tiêu của các nhóm tôn giáo. Có thể với dấu ấn lịch sử để lại nên người Việt thường không quá quan tâm đến các vấn đề về tôn giáo. Nhóm nhân tố có liên quan đến Phật giáo thường không rõ ràng, không nên đưa vào mô hình. Ngoài ra, với đa phần người dân Việt Nam là người Việt nên nhân tố nhân chủng

sẽ khó có thể đạt được khi lựa chọn mẫu. Đây là nhân tố thứ hai không nên đưa vào mô hình. Như vậy, những nhân tố nhân khẩu học bao gồm: giới tính, tuổi tác, trình độc học vấn, việc làm, thu nhập.

Vì DTTC được bao hàm bởi 3 nhóm chính là thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính thì phải có tác động của kiến thức tài chính tới thái độ tài chính và hành vi tài chính. Đồng thời, 3 nhóm nhân tố này tác động chung đến DTTC.

• Về các vấn đề thuộc bảng hỏi

Bảng hỏi được nghiên cứu tại vùng nông thôn Việt Nam, và liên quan đến người

nghèo nên sẽ có một số vấn đề khác có ảnh hưởng bởi hộ nghèo: có thể một cá nhân trong gia đình không nghèo (do có thu nhập cao), nhưng số người phụ thuộc lớn, nên bảng hỏi cần nêu ra những vấn đề như sau:

Thứ nhất, về các lĩnh vực hoạt động của cá nhân được phỏng vấn tại vùng nông

thôn nên chia thành 9 lĩnh vực sau để đảm bảo tính bao quát của các ngành nghề:

(1) Lĩnh vực Quản lý hành chính

(2) Lĩnh vực Công nghiệp

67

(3) Lĩnh vực Nông nghiệp

(4) Lĩnh vực Kỹ thuật

(5) Lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và công nghệ

(6) Lĩnh vực Đào tạo

(7) Lĩnh vực Y tế

(8) Lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng

(9) Lĩnh vực khác

Thứ hai, do phạm vi của bài viết là vùng nông thôn – và mặc dù đã có chính sách

phổ cập giáo dục trung học cở sở - nhưng tuổi của người phỏng vấn không giới hạn nên tác giả nên chia thành 6 mức độ (như dưới đây):

(1) Dưới tiểu học

(2) Tiểu học/ Trung học cơ sở

(3) Trung học phổ thông

(4) Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề

(5) Cao đẳng và đại học

(6) Trên đại học

Thứ ba, về tuổi của người được hỏi: do tính chất tâm lý nên người thuộc vùng nông thôn, nhất là người lớn tuổi thường tính thêm 1 tuổi (tuổi âm hoặc tuổi mụ theo quan điểm riêng có của người Việt Nam). Tác giả nên chú thích rằng tuổi ở đây được tính

theo năm dương lịch.

Thứ tư, về thu nhập: nên căn cứ tính thu nhập dựa vào bảng khảo sát về hộ gia đình của Tổng cục Thống kê để có thể bao quát hết các vấn đề. Ngoài ra, để tiện đối chiếu thì

nên so sánh chi tiêu của vùng nông thôn để biết được cụ thể hơn thu nhập. Cuối cùng là cần điều tra số người lao động, số người phụ thuộc để thấy được thu nhập bình quan của hộ gia đình bằng cách tính: mỗi người phụ thuộc (chưa đến 18 tuổi – và trên 60 tuổi nếu không có lương) sẽ có trọng số bằng ½ người thuộc độ tuổi lao động.

Thứ năm, về bảng hỏi: tác giả sử dụng bảng hỏi của OECD (2015) để đo lường. Tuy nhiên, vì tác giả muốn bao hàm 2 vấn đề (1) Đo lường DTTC của người nghèo khu vực nông thôn và (2) đánh giá các nhân tố tác động lên các vấn đề khác nhau. Do đó,

với các câu hỏi thuộc kiến thức tài chính, tác giả nên hiệu chỉnh trở thành thang đo Likert 5 cấp độ, sau đó vẫn giữ nguyên ý tưởng của câu hỏi.

68

Thứ sáu, về cách đo lường DTTC: Sau khi kiểm định thang đo của các nhân tố phản

ánh (Kiến thức tài chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài chính), DTTC sẽ được tính bằng cách lấy trung bình điểm số của các biến quan sát có ý nghĩa thống kê trong mô hình.

3.3.2. Nghiên cứu định lượng thử nghiệm

a. Bảng hỏi

Dựa vào quá trình nghiên cứu tổng quan, mục tiêu nghiên cứu, mô hình nghiên

cứu và kết quả phỏng vấn sâu sơ bộ, tác giả tiến hành phác thảo một bảng hỏi. Bảng hỏi được thiết kế dựa vào các nghiên cứu nước ngoài được dịch ra tiếng Việt, sau đó hiệu chỉnh cho phù hợp với Việt Nam.

- Bảng hỏi khảo sát đối tượng gồm 2 phần chính:

Phần 1: Thông tin chung bao gồm thông tin cá nhân như: giới tính, tuổi, trình độ học vấn, việc làm, số năm kinh nghiệm, thu nhập và việc tiếp cận với các ứng dụng thanh toán điện tử hiện đại.

Phần 2: Những câu hỏi đo lường DTTC của cá nhân bằng cách đo lường thái độ tài chính, hành vi tài chính thông qua thang đo Likert 5 mức độ với 14 biến quan sát (1 -hoàn toàn không đồng ý; 2 - không đồng ý; 3 - bình thường; 4 - đồng ý; 5 - hoàn toàn

đồng ý); đo lường kiến thức tài chính thông qua thang đo Likert 5 mức độ với 7 biến. Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này sẽ được phân tích trên phần mềm SPSS 22 và AMOS 20.

- Đối tượng khảo sát:

Đối tượng được chọn để tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 18 trở lên, thuộc đối tượng là hộ nghèo, và thỏa mãn điều kiện về thời gian: (1) tổng thời gian sống tại tỉnh Thái Bình phải bằng ít nhất ½ số tuổi và (2) hàng năm, thời gian sinh sống trong tỉnh

phải ít nhất 6 tháng (không cần liên tục).

- Thu thập dữ liệu:

Nghiên cứu tiến thành thu thập dữ liệu với kích thước mẫu là 250 quan sát. Phương pháp thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi là điều tra trực tiếp bằng cách phát phiếu khảo sát

và thu lại ngay sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời xong. Khi thu bảng hỏi, có một số bảng hỏi không có giá trị do không trả lời hết hoặc chọn tất cả câu hỏi cùng một phương án, hoặc không trả lời hết các câu hỏi (với 96 bảng hỏi). Do vậy, số quan sát có ý nghĩa

là 154. Mỗi câu hỏi được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 điểm. Cuộc khảo sát được thực hiện trong tháng 03/2019. Mọi dữ liệu thu thập được sẽ được sàng lọc và phân tích trên phần mềm SPSS 22 và AMOS 20.

69

- Chỉnh sửa:

Trên cơ sở bảng hỏi đã được xây dựng và hiệu chỉnh sau khi phỏng vấn sâu, để đảm bảo các câu hỏi rõ ràng, tác giả tiến hành thử nghiệm đối với một nhóm khoảng 30 đối tượng đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau như: Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Gia Lai... Tác giả cho nhóm đối tượng trên thử trả lời bảng hỏi, sau đó thảo luận với nhau về các nội dung trong bảng hỏi và ghi nhận lại kết quả từ buổi thảo luận đó. Dựa trên kết quả của các cuộc thảo luận, tác giả cân nhắc và điều chỉnh, diễn giải lại nội dung của một số câu hỏi chưa rõ ràng, đảm bảo không có sự hiểu lầm về ngôn ngữ, nội dung

câu hỏi (chi tiết xem tại phụ lục 3).

b. Thang đo

Thang đo được tác giả xây dựng dựa trên các câu hỏi mang tính khảo sát thực tế

về kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính của người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam. Nội dung các câu hỏi được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa có chọn lọc những câu hỏi được sử dụng trong các công trình nghiên cứu trước đây ở trên thế giới. Tuy nhiên, để phù hợp hơn với tình hình thực tế của Việt Nam, các câu

hỏi này đã được dịch thuật và hiệu chỉnh lại để phù hợp và dễ hiểu hơn. Sau nghiên cứu định tính sơ bộ, các nhân tố và thang đo mã hóa được xác định như sau:

Thang đo Kiến thức tài chính (ký hiệu K): đo lường sự hiểu biết của một cá nhân về những kiến thức về lí thuyết và thực tiễn cần thiết để có thể đưa ra quyết định

tài chính một cách hiệu quả. Nhân tố Kiến thức tài chính được đo lường bởi 7 biến quan sát với thang đo Likert 5 điểm từ (1) Hoàn toàn không đồng ý đến (5) Hoàn toàn đồng ý. Thang đo này dược xây dựng và hiệu chỉnh dựa trên nghiên cứu của OECD (2013)

và OECD (2015).

Bảng 3.1. Thang đo Kiến thức tài chính

Khái niệm nghiên cứu Thang đo Mã hóa

Định nghĩa lạm phát. K1

Tính toán lãi suất đi vay. K2

Tính toán lãi suất gửi tiền ngân hàng. K3

Tính toán lãi suất đơn. K4

Tính toán lãi suất trong trường hợp có lạm phát. K5

Kiến thức tài chính – Financial Knowledge (K) Đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro. K6

Chi phí cơ hội. K7

Nguồn: OECD (2013) và OECD (2015)

70

Thang đo Thái độ tài chính (ký hiệu A): đánh giá suy nghĩ hay niềm tin tích cực của một cá nhân về những vấn đề, lĩnh vực tài chính, từ đó ảnh hưởng tới các hành vi và việc đưa ra quyết định của cá nhân đó. Nhân tố Thái độ tài chính được đo lường bởi 5 biến quan sát với thang đo Likert 5 điểm từ (1) Hoàn toàn không đồng ý đến (5) Hoàn toàn đồng ý. Thang đo này dược xây dựng và hiệu chỉnh dựa trên nghiên cứu của OECD (2013) và OECD (2015).

Bảng 3.2. Thang đo Thái độ tài chính

Khái niệm nghiên cứu Thang đo Mã hóa

Tiết kiệm là việc trong khả năng của tôi. A1

Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc A2

mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình.

A3

Tôi rất dễ dàng lên kế hoạch chi tiêu cho bản thân. Thái độ tài chính – Financial Attitude (A)

A4

Tôi sẵn sàng chi tiền cho những hàng hóa hay công việc quan trọng với tôi.

Kể cả khi không tiết kiệm được thì tôi cũng thấy A5

rằng việc chi tiêu hiện tại là phù hợp.

Nguồn: OECD (2013) và OECD (2015)

Thang đo Hành vi tài chính (ký hiệu B): những tác động tích cực của cá nhân đối với sự biến động của nền kinh tế xung quanh. Thông qua các phản ứng của chủ thể

đối với nền kinh tế, chúng ta có thể nhận ra được độ nhạy cảm của chủ thể đối với nền kinh tế khi có sự thay đổi. Hành vi tài chính được đo lường bởi 9 biến quan sát với thang đo Likert 5 điểm từ (1) Hoàn toàn không đồng ý đến (5) Hoàn toàn đồng ý. Thang đo này dược xây dựng và hiệu chỉnh dựa trên nghiên cứu của OECD (2013) và OECD (2015).

Bảng 3.3. Thang đo Hành vi tài chính

Khái niệm nghiên cứu Thang đo Mã hóa

Tôi thường so sánh giá cả khi mua hàng. B1

B2

Tôi sẽ để lại 1 phần tiền kiếm được hàng tháng cho nhu cầu cấp bách trong tương lai.

71

B3

Tôi có những kế hoạch chi tiêu và lên kế hoạch cất giữ tiền trong nhà.

Tôi có khả năng xác định tổng tiền mà tôi phải B4

trả nếu mua chịu hàng hóa.

B5 Hành vi tài chính – Financial Behavior

(B) Tôi thường quyết định tiêu tiền dựa trên các dự định từ trước, như ma chay, cưới hỏi, các khoản đóng góp hoặc mua bán hàng hóa.

Hiếm khi tôi phải đi vay tiền để mua hàng hóa B6

hay đóng góp.

B7

Tôi thường để dành tiền cho những khoản chi tiêu hoặc phải đóng góp, phải trả trong thời gian trên 1 năm như tiền ăn học của con cái, tiền trả

nợ…

B8

Khi kiếm được nhiều tiền hơn thì tôi cũng để dành nhiều tiền hơn.

B9

Trước khi mua sắm hay đóng góp một khoản gì đó, tôi thường kiểm tra xem mình có khả năng trả hay không.

Nguồn: OECD (2013) và OECD (2015)

c. Đánh giá thang đo

Dữ liệu từ các phiếu khảo sát này được tiến hành các bước phân tích, đánh giá về độ tin cậy và tính hội tụ của các thang đo thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu của phần mềm SPSS 22. Phân tích, đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, giá trị phân biệt thông qua phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA.

• Cronbach’s Alpha

Theo Hair và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng với hệ số Cronbach’s Alpha nếu nằm trong khoảng [0.7;0.8] có nghĩa là thang đo sử dụng tốt còn với hệ số α ≥ 0.60 thì thang đo lường đủ điều kiện để sử dụng (có thể chấp nhận được về độ tin cậy). Ngoài ra, cũng cần chú ý đến giá trị của cột Cronbach's Alpha if Item Deleted, cột này biểu diễn hệ số Cronbach's Alpha nếu loại biến đang xem xét. Thông thường, nếu giá trị Cronbach's Alpha if Item Deleted lớn hơn hệ số Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn 0.3 thì sẽ loại biến quan sát đang xem xét để tăng độ tin cậy của thang đo. Nhận

72

định này cũng tương đồng với quan điểm của Nunnally (1978), khi cho rằng nếu một biến đo lường có hệ số tương quan biến tổng ≥ 0.3 thì biến đó đạt yêu cầu.

° Thang đo Kiến thức tài chính

Bảng 3.4. Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính

Thang đo Tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha tổng Mã thành phần bảng đo Cronbach’s Alpha nếu loại biến

K1 .487 .651

K2 .317 .696

K3 .593 .616

.705 K4 .081 .757 Kiến thức tài chính – Financial K5 .623 .626 Knowledge K6 .517 .645

K7 .383 .681

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 - Biến K4 có hệ số tương quan biến tổng là 0.081 < 0.3 và nếu loại biến K1 thì

Cronbach’s Alpha tổng tăng từ 0.705 lên 0.757.

(cid:1) Nên loại biến K4 ra khỏi thang đo để tăng độ tin cậy. Sau khi loại K4, kết quả phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo Kiến thức tài

chính như sau:

Bảng 3.5. Kết quả độ tin cậy thang đo Kiến thức tài chính sau khi xóa K4

Thang đo Tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha tổng Mã thành phần bảng đo Cronbach’s Alpha nếu loại biến

K1 .543 .709

K2 .300 .774 Kiến thức

K3 .615 .686 .757 K5 .638 .690

tài chính – Financial Knowledge K6 .505 .719

K7 .435 .738

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

Thang đo Kiến thức tài chính sau khi bỏ biến K4 có hệ số Cronbach’s Alpha là

73

0.725 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo Thái độ tài chính

đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

° Thang đo Thái độ tài chính

Bảng 3.6. Kết quả độ tin cậy thang đo Thái độ tài chính

Cronbach’s Mã thành Cronbach’s Thang đo phần bảng đo Tương quan biến tổng Alpha tổng Alpha nếu loại biến

A1 .461 .687 Thái độ A2 .637 .624

.725 A3 .460 .688

A4 .371 .729 tài chính – Financial Attitude A5 .529 .660

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

Thang đo Thái độ tài chính có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.725 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo Thái độ tài chính đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

° Thang đo Hành vi tài chính

Bảng 3.7. Kết quả độ tin cậy thang đo Hành vi tài chính

Thang đo Mã thành phần bảng đo Tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha tổng Cronbach’s Alpha nếu loại biến

B1 .564 .835

B2 .662 .825

B3 .387 .854

B4 .590 .833

.850 B5 .634 .828 Hành vi tài chính – Financial B6 .484 .844 Behavior

B7 .611 .830

B8 .617 .830

B9 .593 .833

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

74

Thang đo Hành vi tài chính có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.850 và các hệ số tương

quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo hành vi tài chính đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

• Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Kiểm định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố EFA. Theo Hair và cộng sự (2016) thì Factor loading (hệ số tải nhân tố hay trọng số nhân tố) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA:

- Factor Loading ở mức ± 0.3: Điều kiện tối thiểu để biến quan sát được giữ lại. - Factor Loading ở mức mức ± 0.5: Biến quan sát có ý nghĩa thống kê tốt. - Factor Loading ở mức ± 0.7: Biến quan sát có ý nghĩa thống kê rất tốt. - 0.5 ≤ KMO ≤ 1: Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) Trong phạm vi nghiên cứu sơ bộ, với kích thước mẫu là 154, tác giả sẽ sử dụng hệ số tải 0.5 làm mức tiêu chuẩn vì vậy biến B3 có hệ số tải là 0.478 < 0.5 sẽ bị loại khỏi mô hình.

Bảng 3.8. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA

Nhân tố (Component) Biến quan sát 2

3

4

1 .753 .737 .721 .710 .704 .692 .683 .596 .478 4.239 .869 .831 .774 3.844 .849 .730 .664 .637 1.768 .965 .943 1.534 5 .857 .627 1.162

21.195 40.416 49.255 56.928 62.739

B2 B5 B8 B7 B9 B4 B1 B6 B3 K1 K3 K5 K6 K2 A3 K7 A5 A2 A4 A1 Eigenvalues Phương sai trích KMO= .728 Sig.= .000

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

75

Để chọn số lượng nhân tố, ba phương pháp thường được sử dụng là tiêu chí

Eigenvalue, tiêu chí điểm uốn, xác định trước số lượng nhân tố. Trong nghiên cứu này tác giả chọn tiêu chí eigenvalue. Với tiêu chí này, số lượng nhân tố được xác định ở nhân tố có eigenvalue tối thiểu bằng 1 (≥1) (Hair và cộng sự, 2016).

Bảng 3.9. Tổng hợp các nhân tố sau khi phân tích EFA

Nhân tố Diễn giải biến

STT 1 Biến B1

2 B2

3 B4

4 B5

5 B6

Nhân tố 1: B1, B2, B4, B5, B6, B7, B8, B9

6 B7

7 B8

B9 8

Nhân tố 2: K1, K3, K5

Nhân tố 3: K6, K2, A3, K7 9 10 11 12 13 14 15 K1 K3 K5 K6 K2 A3 K7

16 A5

Nhân tố 4: A5, A2 17 A2

A4 18 Nhân tố 5: –

A4, A1 19 Tôi thường so sánh giá cả khi mua hàng. Tôi sẽ để lại 1 phần tiền kiếm được hàng tháng cho nhu cầu cấp bách trong tương lai. Tôi có khả năng xác định tổng tiền mà tôi phải trả nếu mua chịu hàng hóa. Tôi thường quyết định tiêu tiền dựa trên các dự định từ trước, như ma chay, cưới hỏi, các khoản đóng góp hoặc mua bán hàng hóa. Hiếm khi tôi phải đi vay tiền để mua hàng hóa hay đóng góp. Tôi thường để dành tiền cho những khoản chi tiêu hoặc phải đóng góp, phải trả trong thời gian trên 1 năm như tiền ăn học của con cái, tiền trả nợ… Khi kiếm được nhiều tiền hơn thì tôi cũng để dành nhiều tiền hơn. Trước khi mua sắm hay đóng góp một khoản gì đó, tôi thường kiểm tra xem mình có khả năng trả hay không. Định nghĩa lạm phát. Tính toán lãi suất gửi tiền ngân hàng. Tính toán lãi suất trong trường hợp có lạm phát. Đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Tính toán lãi suất đi vay. Tôi thấy việc chi tiêu theo kế hoạch rất dễ dàng. Chi phí cơ hội. Kể cả khi không tiết kiệm được thì tôi cũng thấy rằng việc chi tiêu hiện tại là phù hợp. Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình. Tôi sẵn sàng chi tiền cho những hàng hóa hay công việc quan trọng với tôi. Tiết kiệm là việc trong khả năng của tôi A1

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

76

Kết quả phân tích nhân tố khám phá với các biến quan sát khảo sát người tiêu dùng

cho kết quả tốt, thể hiện ở hệ số KMO = 0.728 > 0.5, Sig= 0.000, đều cho thấy kết quả phân tích nhân tố khám phá có sự tin cậy cao.

Giá trị tổng phương sai trích của nhân tố thứ tư là 62.739% và giá trị hệ số hội tụ eigenvalues của nhân tố này là 1.162 > 1, từ đó cho thấy, các biến quan sát ban đầu có sự hội tụ ở 5 nhân tố, các nhân tố này biểu diễn được 62.739% sự biến thiên của dữ liệu khảo sát. Do đó, các nhân tố đảm bảo được khả năng đại diện cho dữ liệu khảo sát ban đầu.

• Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) Từ mô hình CFA (Hình 3.4), kết quả phân tích độ tin cậy tổng hợp và phương sai

trích được tổng hợp trong bảng sau:

Bảng 3.10. Bảng độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích sơ bộ

Thang đo Các chỉ tiêu Độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability) Phương sai trích (Average Variance Extracted)

Behavior .853 Chi-square/df= 4.428 .425

Knowledge_1 .844 GFI = 0.924 .646

Knowledge_2 .752 TLI = 0.894 .570

Attitude_1 .973 CFI = 0.920 .950

Attitude_2 .658 RMSEA = 0.072 .497

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

77

Hình 3.4. Mô hình CFA định lượng sơ bộ

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

78

Theo Hair và cộng sự (2016), các chỉ số phù hợp của mô hình phải đảm bảo ngưỡng

như sau:

Bảng 3.11. Ngưỡng chấp nhận của các chỉ số phù hợp mô hình

Chỉ số Ngưỡng chấp nhận

Chi-square/df (cmin/df) <3: Tốt

<5: Có thể chấp nhận được

CFI >0.9

GFI >0.9

TLI >0.9

RMSEA <0.08

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá

trị Chi-square/df = <5, GFI=, CFI= đều lớn hơn 0.9, TLI = 0.894 bé hơn 0.9 không đáng

kể, hệ số RMSEA= <0.8, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường. Kết quả các giá trị

P-value của các biến quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000. Các biến quan

sát được khẳng định có khả năng biểu diễn tốt cho nhân tố trong mô hình CFA.

Hệ số độ tin cậy tổng hợp của tất cả các thang đo đều cao hơn 0.5, tuy nhiên hệ số

tổng phương sai trích của thang đo HV là 0.425 và thang đo TD_2 là 0.497 < 0.5. Có

thể giải thích kết quả này do biến B3 đã bị xóa khỏi mô hình và A1 biểu thị thái độ lại

nằm trong nhân tố KT_2.

d. Kết quả nghiên cứu định lượng thử nghiệm

Trong lần nghiên cứu định lượng thử nghiệm, tác giả phát ra 250 phiếu điều tra.

Các đơn vị mẫu được chọn ra theo phương pháp chọn mẫu phi xác suất (phương pháp

thuận tiện). Trong tổng phiếu thu về, có 154 phiếu có thể sử dụng được, đạt 61.6%. Dựa

vào số liệu điều tra thông qua bảng câu hỏi, kết quả đánh giá sơ bộ thang đo như sau:

Đối với bảng ma trận xoay từ phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả cho thấy

các biến K6, K2, K7 và A3 được xếp vào cùng một thành phần nhân tố và được kết hợp

thành nhân tố 3. Tuy nhiên, theo các tác giả nghiên cứu trước, các biến này có sự khác

biệt về nội dung. Vì vậy để có được thang đo hoàn chỉnh, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn

sâu lần 2 với các chuyên gia để làm rõ về vấn đề này.

79

Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu định lượng thử nghiệm, các đối tượng khảo

sát đã đưa ra những góp ý về cách diễn đạt của bảng hỏi. Nhìn chung, các ý kiến điều

đồng tình về nội dung biến quan sát đo lường về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định.

Những góp ý nhận xét về hình thức trình bày, cách diễn đạt câu chữ của bảng hỏi đều

đã được ghi nhận để chỉnh sửa cho lần nghiên cứu định lượng chính thức.

3.4. Nghiên cứu chính thức

Nghiên cứu chính thức được tác giả triển khai theo hai bước bao gồm: nghiên cứu

định tính chính thức và nghiên cứu định lượng chính thức. Nghiên cứu định tính chính

thức được nhóm thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong

lĩnh vực tài chính vi mô và lĩnh vực tài chính. Thông qua đó, tác giả kiểm định, chỉnh

sửa lại mô hình, thang đo và sự phù hợp, đại diện của mô hình, thang đo về DTTC của

người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Nghiên cứu định lượng chính thức được nhóm tiến hành thông qua phương pháp

khảo sát, phát bảng hỏi trực tiếp với số quan sát 600 người trên phạm vi ở các vùng nông

thôn Việt Nam – và phải thuộc hộ nghèo. Nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định và

đánh giá độ tin cậy, giá trị của thang đo các nhóm nhân tố phản ánh và nhóm nhân tố

tác động trong mô hình nghiên cứu. Thông qua bước này, tác giả đo lường tính tương

quan của các nhân tố, mức ý nghĩa của các nhóm nhân tố, ước lượng mối quan hệ giữa

biến tiềm ẩn và các nhóm nhân tố, từ đó rút ra kết luận chính thức của đề tài nghiên cứu.

3.4.1. Nghiên cứu định tính chính thức

a. Mục tiêu phỏng vấn sâu

Các cuộc phỏng vấn này được thực hiện ngay sau khi nghiên cứu định tính sơ bộ

có kết quả nhằm xác định lại các nhóm nhân tố phản ánh và nhóm nhân tố tác động trong

mô hình nghiên cứu có thực hiện được tại khu vực nông thôn Việt Nam hay không, có

nhân tố nào được loại bỏ hay thêm vào mô hình hay không.

Thang đo và mô hình được kiểm định lại thêm một lần nữa thông qua kết quả của

nghiên cứu sơ bộ cùng với ý kiến của các chuyên gia về tài chính vi mô và tài chính từ

đó xác định lại sự phù hợp của các biến bao gồm định nghĩa, giả thuyết và xu hướng tác

động của các biến lên biến tiềm ẩn tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Những nhận xét về bảng hỏi, cách diễn đạt và đánh giá thang điểm từ tiêu cực đến

tích cực được đưa ra nhằm hoàn chỉnh bảng hỏi, giúp nghiên cứu khách quan, tăng độ

tin cậy và tính chính xác của nghiên cứu định lượng chính thức.

80

b. Đối tượng phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu được thực hiện với 11 chuyên gia trong lĩnh vực tài chính và giáo

dục, bao gồm:

- GS. TS. Nguyễn Văn Nam, Chuyên gia Tài chính – Ngân hàng, Đại học Kinh

tế Quốc dân;

- PGS. TS. Nguyễn Thị Bất, chuyên gia Tài chính Công, Đại học Kinh tế Quốc dân;

- PGS. TS. Ngô Văn Thứ, chuyên gia định lượng, Đại học Kinh tế Quốc dân;

- PGS. TS Phạm Thị Hoàng Anh, chuyên gia tài chính ngân hàng, Học viện Ngân hàng;

- TS. Đinh Thị Thanh Vân, chuyên gia tài chính cá nhân, Đại học Kinh tế, Đại

học Quốc gia Hà Nội;

- TS. Nguyễn Đức Hải, chuyên gia tài chính vi mô, Học viện Ngân hàng;

- TS. Bùi Kiên Trung, chuyên gia giáo dục, Đại học Kinh tế Quốc dân;

- TS. Phạm Bích Liên, chuyên gia Tài chính, Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Bưu Điện Liên Việt;

- ThS. Phan Cử nhân, Chuyên gia Tài chính vi mô, Ngân hàng Chính sách Xã hội;

- TS. Nguyễn Tuấn Anh, Viện Nghiên cứu Thanh niên;

- TS. Hoàng Văn Cương, Chuyên gia Tài chính Phát triển, Bộ Tài chính.

Nội dung của nghiên cứu định tính chính thức bao gồm các câu hỏi mở liên quan

tới tác động của nhân tố phản ánh và nhân tố tác động tới DTTC của người dân khu vực

nông thôn Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả của nghiên cứu sơ bộ, góp ý về

bảng hỏi của nghiên cứu sơ bộ của nghiên cứu và những sai lệch có thể xảy ra khi nghiên

cứu khu vực nông thôn và đưa ra những lưu ý khi khảo sát nhóm người này. Nội dung

chi tiết của phỏng vấn sâu nghiên cứu định tính chính thức xem tại phụ lục 2.

c. Kết quả phỏng vấn sâu

Thứ nhất, do mục tiêu và phạm vi nghiên cứu tuy không thể hiện nhưng cần phải

bao hàm đo lường dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam

nên vẫn phải bao hàm đầy đủ các câu hỏi tương tự như của OECD, do cần lấy OECD

(2013) làm lý thuyết nền tảng để nghiên cứu. Do đó, khi khảo sát thì vẫn phải có các câu

hỏi cũ, nhưng khi kiểm định mô hình thì có thể loại bỏ nhóm này (đối với các biến cần

loại khỏi mô hình khi nghiên cứu thử nghiệm).

81

Thứ hai, khi các nhân tố nhỏ gộp lại thành 1 nhân tố lớn, bao gồm K1, K3 và K5

(lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất trong trường hợp có lạm phát) thì sẽ có mối quan

hệ tác động bởi 3 nhân tố này thường đi kèm với nhau và nằm trong các nhân tố tiết

kiệm tiền của người nghèo khu vực nông thôn. Khi tác giả phỏng vấn tại khu vực miền

Bắc Việt Nam, là nơi có khả năng tiết kiệm rất cao. Nhóm nhân K6, K2, K7 và A3 liên

quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của người dân nên vẫn có thể chấp nhận

được các vấn đề này. Việc giải thích này tương tự như A2 và A5; A1 và A4.

Nhân tố K4 (tính toán lãi suất đơn) bị loại ra khỏi mô hình bởi hiện tại, đa phần

các khoản vay trên thị trường đều tính theo lãi gộp, hoặc tính lãi theo ngày. Đây là vấn

đề phù hợp với Việt Nam.

3.4.2. Nghiên cứu định lượng chính thức

Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện sau khi có kết quả về định tính

chính thức nhằm mục đích kiểm định lại mô hình, giả thuyết và hướng tác động, tương

quan của nhóm nhân tố phản ánh (Kiến thức tài chính, Thái độ tài chính, Hành vi tài

chính) tới nhân tố tiềm ẩn (DTTC); tác động của các nhân tố ảnh hưởng (Giới tính; Tuổi

tác; Trình độ học vấn; Thu nhập) tới DTTC; ảnh hưởng của DTTC tới thu nhập tại vùng

nông thôn Việt Nam.

a. Bảng hỏi

Thông qua kế quả nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu định tính chính thức, những

biến quan sát cần được hiệu chỉnh thay đổi để phù hợp hơn với người nghèo tại vùng

nông thôn Việt Nam và các đối tượng khảo sát (Chi tiết xem tại phụ lục 4).

Thang đo thái độ tài chính được bổ sung thêm một biến nhằm lọc ra những quan

sát có thể gây nhiễu mô hình:

Bảng 3.12. Biến được sử dụng để lọc quan sát

Tên Nhận định

Tôi cảm thấy khó khăn trong việc tiết kiệm để chi tiêu trong tương lai. A6

82

b. Mô hình nghiên cứu chính thức

Hình 3.5. Mô hình nghiên cứu chính thức

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

c. Mẫu nghiên cứu

• Kích thước mẫu nghiên cứu

Khi phân tích Kiểm định độ tin cậy của thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha nhân tố khám phá EFA và phân tích hàm hồi quy đa biến, mẫu nghiên cứu phải đủ lớn và đảm

bảo về kích thước mẫu. Hair và cộng sự (2016) đề xuất mẫu nghiên cứu phải đảm bảo gấp 5 lần tổng số biến quan sát: M ≥ m x 5, trong đó m là số lượng biến quan sát, M là số lượng mẫu trong nghiên cứu. Đây cũng là kết quả nghiên cứu của Reise và cộng sự

(2000). Như vậy, số lượng quan sát tối thiểu để đảm bảo yêu cầu trên:

M = 21 x 5 = 105 (quan sát)

Trong phạm vi nghiên cứu chính thức, tác giả sử dụng bộ dữ liệu bao gồm 512

quan sát.

• Đối tượng quan sát

Đối tượng được chọn để tham gia nghiên cứu có độ tuổi trên 18 tuổi, sống ở khu vực nông thôn, có đầy đủ các điều kiện về trách nhiệm dân sự và hình sự theo quy định và có khả năng tạo ra thu nhập, và phải thuộc hộ nghèo. Mẫu nghiên cứu được khảo

83

sát trên phạm vi chủ yếu ở các vùng trong cả nước. Mẫu khảo sát được thực hiện có

sự đa dạng về tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, thu nhập nhằm nâng cao độ tin cậy của mẫu.

• Cách thức khảo sát

Phương thức khảo sát được tác giả sử dụng đó là phát bảng hỏi trực tiếp đến từng đối tượng khảo sát. Sau khi phát 600 bảng hỏi, tác giả nhận về 512 quan sát phù hợp với nghiên cứu. Các nhận định được đo lường dựa trên thang đo Likert 5 điểm. Điểm số DTTC được tính bằng cách lấy trung bình điểm số của các nhận định (biến quan sát) có ý nghĩa trong mô hình. Khảo sát nghiên cứu định lượng chính thức bắt đầu từ 19/05/2019 đến ngày 28/08/2019. Sau khi quá trình thu thập số liệu kết thúc, tác giả tiến hành quá trình lọc số liệu, loại bỏ những câu trả lời không phù hợp với nghiên cứu, nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS 22 và AMOS 20 rồi kiểm định và phân tích dữ liệu thông qua các kiểm định Cronbach’s Alpha, EFA, CFA, SEM.

Thông qua ước lượng mô hình hồi quy OLS và các kiểm định Cronbach’s Alpha, EFA, CFA bậc 1, CFA bậc 2, tác giả phân tích ý nghĩa, kiểm định lại lý thuyết từ đó đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Ước lượng mô hình hồi quy OLS

Phương pháp ước lượng mô hình hồi quy đa biến là phương pháp sử dụng phương pháp thống kê phân tích mối quan hệ giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập (biến ngẫu nhiên). Thành phần xác định được gọi là bộ dự đoán (predictor) và thành phần ngẫu nhiên được gọi là phần sai số (error term).

Các kiểm định được sử dụng trong phương pháp hồi quy đa biến thông qua phần mềm SPSS 22 bao gồm: R-square (hoặc Adjusted R-square) (kiểm định mức độ giải thích của mô hình), Durbin - Watson (kiểm định tự tương quan), kiểm định F trong bảng ANOVA (kiểm định khả năng phù hợp của mô hình), kiểm định t, hệ số VIF (kiểm định độ đa cộng tuyến của mô hình); ngoài ra còn có hệ số chuẩn hóa và chưa chuẩn hóa Beta.

- Kiểm định mức độ giải thích của mô hình

Giá trị R-square (R bình phương) hoặc Adjusted R-square (R bình phương hiệu chỉnh) cho biết mức độ tác động của các nhóm biến độc lập tác động tới biến phụ thuộc. Cụ thể, giả sử giá trị R-square là a, điều này có nghĩa các biến độc lập ảnh hưởng a% sự thay đổi của biến phụ thuộc. Giá trị a thường lớn hơn 50% mô hình càng có ý nghĩa, tuy nhiên còn tùy thuộc vào từng mô hình chúng ta có thể có những kết luận khác nhau.

- Kiểm định tự tương quan sử dụng Durbin - Watson

84

Giá trị Durbin - Watson dùng để kiểm định tự tương quan của các sai số kề nhau

(hay còn gọi là tương quan chuỗi bậc nhất) có giá trị biến thiên trong khoảng từ 0 đến

4. Với giá trị du và dl được xác định theo n (khối lượng mẫu), k’ (số biến độc lập) tra bảng thống kê Durbin - Watson; trị thống kê Durbin-Watson sẽ được xác định theo các khoảng sau:

Hình 3.6. Quy tắc kiểm định d của Durbin-Watson

Nguồn: (Durbin và Watson, 1951)

- Kiểm định khả năng phù hợp của mô hình

Giá trị Sig trong bảng ANOVA được sử dụng trong kiểm định khả năng phù hợp của mô hình đối với tổng thể. Cụ thể, giá trị Sig nhỏ hơn 0.05 đồng nghĩa với mô hình phù hợp với tổng thể, hay còn nói có thể suy rộng ra tổng thể từ mô hình. Ngược lại, giá

trị SIG lớn hơn 0.05 đồng nghĩa với việc mô hình không có ý nghĩa.

- Kiểm định t

Giá trị Sig trong kiểm định t trong bảng Coefficients thể hiện mức độ có ý nghĩa của từng biến trong mô hình. Cụ thể, giá trị Sig lớn hơn 0.05 chứng tỏ biến không có ý

nghĩa trong mô hình. Ngược lại, giá trị Sig nhỏ hơn hoặc bằng 0.05 nghĩa là biến có ý nghĩa trong mô hình.

- Kiểm định độ đa cộng tuyến sử dụng giá trị VIF

Giá trị VIF được sử dụng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình.

Trong các mô hình thống kê thông thường, giá trị VIF <10 sẽ không có hiện tượng đa cộng tuyến. Trên thực tế, với các nghiên cứu có mô hình sử dụng thang đo Likert thì VIF < 2 mô hình sẽ không có đa cộng tuyến, trong khi VIF > 2 khả năng cáo sẽ xảy ra

đa cộng tuyến.

85

- Hệ số Beta chưa chuẩn hóa

Hệ số Beta chưa chuẩn hóa phản ánh lượng biến thiên của Y khi một đơn vị X thay đổi. Trong khi đó Hệ số Beta đã chuẩn hóa phản ánh lượng thay đổi của Y khi một đơn vị của X thay đổi. Cụ thể hơn, hệ số Beta đã chuẩn hóa là kết quả của việc giải phương

trình hồi quy mà các biến độc lập, biến phụ thuộc đã được chuẩn hóa (phương sai = 1).

- Hệ số Beta chuẩn hóa

Hệ số Beta chuẩn hóa là kết quả của việc giải phương trình hồi quy mà các biến được giữ nguyên giá trị thô. Việc chuẩn hóa hệ số beta thường dùng để đánh giá biến

độc lập nào có tác động mạnh hơn vào biến phụ thuộc khi phân tích hồi quy đa biến, khi mà các biến đo lường độc lập có đơn vị đo lường khác nhau.

Kiểm định Cronbach’s Alpha

Cronbach (1951) đã đề xuất đo lường hệ số tin cậy cho thang đo. Hair và cộng sự

(2016) bổ sung thêm rằng Cronbach’s Alpha chỉ phù hợp với những thang đó có ít nhất 3 biến quan sát. Hệ số này dao động từ 0 đến 1. Hệ số này càng cao chứng tỏ độ tin cậy của thang đo càng cao. Tuy nhiên hệ số Cronbach’s Alpha cao trên 0.95 sẽ xảy ra đa

cộng tuyến, các biến trong thang đo không có gì khác biệt, đây được coi là hiện tượng trùng lặp trong thang đo. Nunnally (1994) cho rằng những biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) lớn hơn 0,3 và có hệ số Cronbach’s

Alpha lớn hơn 0,6 thì mới đảm bảo độ tin cậy của thang đo.

Các biến có hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation) sẽ

được xem xét và loại bỏ khi nhỏ hơn 0.3. Bên cạnh đó, hệ số Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0.3 cũng sẽ được xem xét có nên loại biến quan sát làm tăng độ tin

cậy của thang đo.

Bảng 3.13. Ý nghĩa hệ số Cronbach’s Alpha

STT Giá trị hệ số Cronbach’s Alpha Ý nghĩa

±0.01 đến ±0.1 Thang đo lường không có ý nghĩa 1

±0.2 đến ±0.3 Thang đo lường có ý nghĩa thấp 2

±0.4 đến ±0.5 Thang đo lường có ý nghĩa trung bình 3

±0.6 đến ±0.7 Thang đo lường đủ điều kiện 4

±0.7 đến ±0.8 Thang đo lường tốt 5

Trên 0.8 Thang đo lường rất tốt 6

Nguồn: Hair và cộng sự (2016)

86

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA

Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) là phương pháp giúp đánh giá hai loại giá trị quan trọng của thang đo là giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Phương pháp phân tích nhân tố EFA phân tich sự tương quan giữa các biến với nhau (interrelationship). Trong phân tích nhân tố, phương pháp trích Pricipal Component Analysis và phép xoay Varimax là cách thức được sử dụng phổ biến nhất (Hair và cộng sự, 2016). Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai được trích ít nhất bằng 50%. Hệ số tải nhân tố (factor loading) được coi là chỉ tiêu đảm bảo mức ý

nghĩa thiết thực của EFA. Hệ số tải phải lớn hơn hoặc bằng 0.5 để đảm bảo mức ý nghĩa thực tiễn của CFA.

Bảng 3.44. Ý nghĩa giá trị Factor loading

STT Giá trị Factor loading Ý nghĩa

1 <0.3 Không có mức ý nghĩa

2 >0.3 Đạt mức ý nghĩa tối thiểu

3 >0.4 Đạt mức ý nghĩa quan trọng

4 >0.5 Có ý nghĩa thực tiễn

Nguồn: Hair và cộng sự (2016)

Hệ số KMO là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp để phân tích nhân tố. KMO lớn có nghĩa rằng phân tich nhân tố là thích hợp.Trị số KMO phân bổ từ 0 đến 1 và trị số này phải đạt giá trị 0.5 trở lên là điều kiện đủ để phân tích nhân tố có khả năng

thích hợp với tập dữ liệu nghiên cứu (Hair và cộng sự, 2016).

Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

Phân tích nhân tố khẳng định CFA là một trong những kỹ thuật của mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. CFA cho phép kiểm định các biến quan sát đại diện các nhân tố tốt

đến mức nào. CFA là bước tiếp theo của EFA. CFA được sử dụng để khẳng định lại tính đơn biến, đa biến, giá trị hội tụ và phân biệt của bộ thang đo. Bao gồm các chỉ số:

- Chi-square (CMIN);

- Chi-square điều chỉnh theo bậc tự do (CMIN/df);

- Chỉ số thích hợp so sánh (CFI_ Comparative Fit Index).

- Chỉ số Tucker và Lewis (TLI_Tucker và Lewis Index);

- Chỉ số RMSEA (Root Mean Square Error Approximation).

87

Khi kiểm định mô hình, các yếu tố để một mô hình đạt độ thích hợp với dữ liệu thị

trường khi:

- P-value >0.05

- GFI, TLI, CFI >=0.9

- Chi-square/df <=3 (Trong nhiều trường hơp có thể <=5)

- RMSEA<=0.08 (mức tiêu chuẩn), RMSEA <=0.05 là chỉ số lý tưởng, phù hợp

với dữ liệu thị trường.

Đồng thời tại bảng tương quan các nhân tố, các hệ số tương quan từng cặp khái

niệm cùng với sai lệch chuẩn của các thang đo cần khác 1 tại độ tin cậy 95% (P-value = 0.0000) để đạt mức ý nghĩa thống kê.

Phương pháp phân tích nhân tố bậc 2 trong mô hình CFA

Theo Hair và cộng sự (2016), trong mô hình CFA với nhiều nhân tố, cấu trúc phương sai, hiệp phương sai của các nhân tố có thể được phân tích thêm bởi việc sử dụng nhân tố bậc 2 (second-order factors) nếu thỏa mãn điều kiện sau:

- Các nhân tố trong mô hình nhân tố bậc 1 (First-order factors) có thực sự tương

quan với nhau.

- Các nhân tố trong mô hình nhân tố bậc 2 (Second-order factors) có thể đóng

góp vào sự biến thiên giữa các nhân tố trong mô hình nhân tố bậc 1.

Trong mô hình nghiên cứu, các nhân tố tiềm ẩn bậc 1 (Kiến thức tài chính, Thái

độ tài chính, Hành vi tài chính) thực sự có tương quan với nhau và nhân tố bậc 2 (DTTC) có thể đóng góp vào sự biến thiên của các nhân nhân tố trong mô hình bậc 1. Như vậy, thỏa mãn đủ điều kiện để có thể đưa vào mô hình phân tích với nhân tố bậc 2 là DTTC.

88

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam

Trong thời gian khải sát, tổng số phản hồi thu về được là 592 quan sát trong đó có 80 quan sát không hợp lệ do điền thiếu thông tin và không trung thực, có 512 quan sát hợp lệ, điền đầy đủ thông tin. Như vậy, số quan sát đưa vào nghiên cứu là 512 quan sát, đạt tỷ lệ 86.5% đảm bảo điều kiện chọn mẫu cho phép. Cơ cấu mẫu khảo sát không có

sự chênh lệch lớn, đa dạng và đáng tin cậy.

Giới tính

Khu vực

Độ tuổi

18 - 25 tuổi

Bắc

Nam

26 - 40 tuổi

Nam

41 - 55 tuổi

Nữ

Trung

56 - 70 tuổi

Hình 4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trong quá trình làm bảng hỏi, với biến giới tính, tác giả đưa ra 3 lựa chọn là nam, nữ và khác. Bộ quan sát thu về với lựa chọn giới tính khác chiếm 1.2%, tỷ lệ này là rất

nhỏ và không ảnh hưởng đến mô hình nghiên cứu, do vậy, tác giả bỏ lựa chọn giới tính khác. Sau khi bỏ, số quan sát ý nghĩa còn lại là 512 quan sát. Trong số này, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với nam giới, do thời điểm hiện tại, vấn đề di dân nông thôn lên các vùng thành thị đã làm cho phụ nữ sinh sống ở khu vực nông thôn nhiều hơn hẳn

nam giới. Việc tác giả thu thập được 61,5% tổng số phiếu là nữ phù hợp với thực tế và các nghiên cứu trước đây (Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu, 2015, Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu, 2018).

Đối với khu vực, miền Bắc chiếm tỷ trọng 52%, miền Nam chiếm tỷ trọng 38%, số còn lại là miền Trung. Điều này tương đối phù hợp với kết quả về dân số là người nghèo, hộ nghèo ở các vùng thuộc 3 khu vực này: đa phần người dân (nghèo) tại các vùng nông thôn đều chuyển ra các thành phố lớn nên vấn đề người dân còn lại ở các

vùng nông thôn miền Bắc nhiều hơn các vùng còn lại. Số ít nhất thuộc về khu vực miền Trung nên mẫu nghiên cứu vẫn đảm bảo tính đại diện.

Về độ tuổi từ 26-40 tuổi chiếm 42% là tỉ lệ lớn nhất, sau đó là độ tuổi từ 41-55 tuổi chiếm 35.2%, về trình độ học vốn đa phần là cao đẳng và đại học chiếm 49.2%, sau đó là trung học phổ thông chiếm 20.1%. Đối tượng khảo sát chủ yếu là người nghèo

89

sống ở vùng nông thôn và đa số là đối tượng làm trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp nên mức thu chủ yếu là từ 3-5 triệu một tháng1 (chiếm 30.7%) và 1-3 triệu một tháng (chiếm 23.4%), còn lại là đối tượng có thu nhập từ 1 triệu trở xuống. Tuy nhiên, đa phần nhóm đối tượng được phỏng vấn là đối tượng lao động chính trong gia đình, số lượng người phụ thuộc từ 1 – 3 người nên vẫn nằm trong đối tượng hộ nghèo.

Ngoài ra, do nghiên cứu thực hiện khảo sát tại vùng nông thôn nên tỷ lệ người tham gia khảo sát có lĩnh vực thuộc về nông nghiệp là nhiều nhất (chiếm 39.6%), sau đó là lĩnh vực công nghiệp chiếm 39.6%. Còn tỷ lệ về giới tính, nam chiếm 38.5% và nữ chiếm 61.5%, tỷ lệ này có sự chênh lệch khá lớn.

Các kết quả thống kê mô tả sẽ được tiếp cận chi tiết tại mục 4.1.2 về ngành nghề,

độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và thu nhập.

Kết quả đo lường cho thấy điểm số DTTC của các đối tượng quan sát nằm trong khoảng từ [2.3;4.7] và điểm số trung bình của 512 đối tượng quan sát là 3.74/5. Cụ thể, điểm số trung bình của các nhân tố phản ánh DTTC lần lượt là 3.58, 3.72, 3.88/5 cho các nhân tố thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính. Như vậy, để nâng cao DTTC cần có các biện pháp tác động vào cả thái độ và hành vi tài chính chứ không phải tập trung vào giáo dục kiến thức tài chính đơn thuần. Như vậy, điểm số DTTC của khu vực nông thôn Việt Nam nhìn chung ở mức trên trung bình. Tuy nhiên, cách biệt giữa điểm số DTTC vẫn còn rất lớn, vì thế có thể nhận định rằng DTTC chưa đồng đều giữa các đối tượng khác nhau ở khu vực nông thôn Việt Nam.

5

4.5

4

3.5

3

2.5

DTTC

2

1.5

1

0.5

0

Dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam

Hình 4.2. Điểm số DTTC trung bình của 512 đối tượng khảo sát

1 Các đối tượng được khảo sát nằm trong hộ nghèo của xã, có nhiều người phụ thuộc (và không tách hộ) nên thu nhập có thể cao.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

90

4.1.1 Thực trạng dân trí tài chính theo các nhân tố phản ánh

Qua Bảng 4.1, ta có thể thấy đa số các biến quan sát Thái độ tài chính và Hành vi tài chính có giá trị trong khoảng [3.41;4.2] khá lớn, cho thấy phần lớn người dân đều đồng tình với ý kiến từ thang đo. Tuy nhiên, nhiều người được khảo sát lại có ý kiến trung lập về Thái độ tài chính “Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình.” (độ trung bình 3.24) cho thấy thái độ với việc mua sắm hàng hóa của người dân.

Với biến quan sát Kiến thức tài chính, toàn bộ các biến quan sát cũng đều có giá trị trong khoảng [3.65;4.1] khá câu, tuy nhiên sự chênh lệch giữa điểm số trung bình giữa các câu là khá lớn, điều này thể hiện sự không chắc chắn của người điền khảo sát trong các câu hỏi về kiến thức tài chính. Đặc biệt ở câu hỏi về kiến thức định nghĩa lạm phát K1, có tới 102/152 đối tượng trả lời “Tôi không chắc chắn” việc tiếp cận về những kiến thức tài chính như lạm phát, lãi suất,… của người dân còn khá hạn chế.

Bảng 4.1. Thống kê mô tả các nhân tố phản ánh DTTC

N Lớn nhất Biến quan sát Trung bình Nhỏ nhất Độ lệch chuẩn

512 1.00 A1 5.00 3.79 .889

512 1.00 A2 5.00 3.24 .962

512 1.00 A3 5.00 3.57 .834 Thái độ tài chính – Financial Attitude (A)

512 1.00 A4 5.00 3.80 1.193

512 1.00 A5 5.00 3.50 1.109

TỔNG 3.58 0.232

512 1.00 B1 5.00 3.79 .917

512 1.00 B2 5.00 3.87 .974

512 1.00 B3 5.00 3.59 .887

512 1.00 B4 5.00 3.75 .999

512 1.00 B5 5.00 3.59 .995 Hành vi tài chính – Financial Behavior (B)

512 1.00 B6 5.00 3.58 1.002

512 1.00 B7 5.00 3.49 1.020

512 1.00 B8 5.00 3.77 1.000

512 1.00 B9 5.00 4.01 .907

91

TỔNG 3.72 0.166

K1 512 1.00 5.00 3.81 .941

K2 512 1.00 5.00 4.10 .878

K3 512 1.00 5.00 3.89 1.026

K4 512 1.00 5.00 3.80 1.062 Kiến thức tài chính – Financial Knowledge (K) K5 512 1.00 5.00 3.97 1.081

K6 512 1.00 5.00 3.65 1.114

K7 512 1.00 5.00 3.95 .970

TỔNG 3.88 0145

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

4.1.2 Thực trạng các nhân tố tác động tới dân trí tài chính

Mẫu nghiên cứu được thực hiện ở khu vực nông thôn với với tỷ lệ nam tham gia

nghiên cứu là 38.5% và tỷ lệ nữ là 61.5%; và đều là người nghèo. Thống kê số liệu cho

thấy điểm DTTC giữa nam giới và nữ giới không có sự chênh lệch đáng kể, điểm số

DTTC của nữ giới cao hơn nam giới là 0.0506 điểm. Điều này cho thấy, không có sự

khác biệt quá rõ ràng giữa nam và nữ khi cùng đo lường về DTTC. Kết quả này cũng

tương tự kết quả trong bài nghiên cứu của Bucher-Koenen và Lusardi (2011), tuy nhiên

lại đi ngược lại với kết quả của đa phần các nghiên cứu về DTTC trước đây (Lusardi và

cộng sự, 2010, Atkinson và Messy, 2012, OECD, 2013, Lusardi và cộng sự, 2017).

Bảng 4.2. Điểm số dân trí tài chính trung bình phân loại theo nhân tố giới tính

Nhân tố Phân loại Số người Tỉ lệ (%) Giá trị TB SD

Nam 197 38.5 3.705 0.448 Giới tính -

Gender 315 61.5 3.756 0.426 Nữ

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Kết quả trên có thể được giải thích rằng đối với người nghèo tại khu vực nông thôn

Việt Nam, chủ yếu phụ nữ là những người chi tiêu chính và đưa ra các quyết định tài

chính hàng ngày trong gia đình. Từ đó, kiến thức và kinh nghiệm tài chính của họ cũng

được tích lũy nhiều hơn từ đó các thái độ, hành vi tài chính cũng tích cực hơn. Vậy nên,

điểm số DTTC của họ cũng cao hơn nam giới.

92

Bảng 4.3. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố tuổi tác

Số người Nhân tố Phân loại Tỉ lệ (%) Giá trị TB SD

Từ 18 – 25 tuổi 12 2.3 2.754 0.491

Từ 26 – 40 tuổi 215 42 3.516 0.423

Tuổi tác – Age Từ 41 – 55 tuổi 180 35.2 3.871 0.202

Từ 56 – 70 tuổi 105 20.5 4.069 0.329

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã chia tuổi tác thành 4 nhóm chính bao gồm: Từ 18 – 25 tuổi, từ 26 – 40 tuổi, từ 41 – 55 tuổi và từ 56 – 70 tuổi. Trong đó, hai nhóm đối tượng có điểm số DTTC trung bình cao nhất nằm ở độ tuổi từ 56 - 70 tuổi và 41 - 55 tuổi, lần lượt là 4.069 và 3.871 điểm. Nhóm có độ tuổi từ 18 - 25 tuổi có điểm số DTTC thấp nhất là 2.754 điểm. Với kết quả này, có thể thấy rằng DTTC phân hóa theo độ tuổi. Cụ thể, những người thuộc nhóm đối tượng có độ tuổi cao nhất (từ 56 - 70 tuổi) có DTTC cao nhất và thấp dần theo độ tuổi. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu

trước của Lusardi và Mitchell (2007). Tuy nhiên, kết quả này lại đi ngược với kết quả cho rằng với kết luận cho rằng người cao tuổi thường có DTTC thấp ở trong những nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi và Tufano (2015), Atkinson và Messy (2012).

Kết quả trên có thế được giải thích do hầu hết ở khu vực nông thôn Việt Nam, hầu hết các đối tượng được phỏng vấn là người nghèo đều chi tiêu và đưa ra các quyết định tài chính dựa trên kinh nghiệm tài chính cá nhân. Vậy nên khi độ tuổi càng cao, kinh nghiệm tài chính

tích lũy được của họ càng nhiều, các thái độ, hành vi tài chính càng tích cực. Vì thế, điểm số DTTC trung bình ở khu vực nông thôn Việt Nam tăng dần theo độ tuổi.

Bảng 4.4. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố trình độ học vấn

Nhân tố Phân loại Số người Tỉ lệ (%) Giá trị TB SD

20 3.9 3.658 0.435

Dưới tiểu học (Biết đọc biết viết)

Tiểu học/THCS 62 12.1 3.606 0.483

THPT 103 20.1 3.616 0.45 Trình độ

Trung cấp chuyên 42 8.2 3.814 0.403

học vấn - Education nghiệp và học nghề

252 49.2 3.788 0.418

Cao đẳng và Đại học

Sau Đại học 33 6.5 3.908 0.3

Nguồn: Tổng hợp của tác giả.

93

Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đã chia trình độ học vấn thành 6 nhóm chính

bao gồm: Dưới Tiểu học (Biết đọc biết viết), Tiểu học/Trung học Cơ sở, Trung học Phổ

thông, Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề, Cao đẳng và Đại học, Sau Đại học. Trong

đó, tỷ lệ người dân nông thôn trong mẫu có trình độ học vấn Tiểu học/Trung học Cơ sở

có điểm DTTC thấp nhất là 3.6575 điểm trong khi người dân nông thôn có trình độ sau

đại học có điểm DTTC cao nhất, đạt 3.9076 điểm. Người dân thuộc nhóm trình độ Cao

đẳng và Đại học cùng nhóm Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề có điểm DTTC

tương đồng khi đạt lần lượt 3.7881 điểm và 3.8143 điểm.

Bên cạnh đó nhóm người có trình độ học vấn Dưới Tiểu học (Biết đọc biết viết)

lại có điểm DTTC đạt 3.6575, cao hơn nhóm Trung học Phổ thông khi nhóm này đạt

3.616 điểm. Như vậy, nhóm người có trình độ học vấn càng cao thì điểm DTTC của họ

càng cao.

Mặc dù xu hướng trong mẫu có thể chỉ ra trình độ học vấn càng cao thì DTTC càng

cao, trường hợp đặc biệt xảy ra với nhóm người có trình độ học vấn là Dưới Tiểu học

(Biết đọc biết viết) và Cao đẳng và Đại học. Sự chênh lệch giữa nhóm Dưới Tiểu học

(Biết đọc biết viết) được giải thích bởi những người biết đọc biết viết ở nông thôn trong

khảo sát này đa phần là những người ở độ tuổi trung niên, nên họ có xu hướng có những

kiến thức tài chính từ thực nghiệm, từ đó rút ra những kinh nghiệm để có những thái độ

và hành vi tài chính được đánh giá là tích cực. Trong khi đó, sự chênh lệch không đáng

kể giữa hai nhóm có trình độ học vấn tương đồng là Cao đẳng và Đại học cùng nhóm

Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. Vì vậy, có thể nói trình độ học vấn càng cao thì

điểm số DTTC càng được cải thiện.

Bảng 4.5. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố thu nhập2

SD

Nhân tố

Phân loại

Số người Tỉ lệ (%) Giá trị TB

Dưới 500 nghìn VND

10.9

3.5

0.448

86

97

9.2

3.434

0.593

500 nghìn – 1 triệu VND

Thu nhập – Income

1 triệu – 3 triệu VND

202

13.9

3.756

0.384

3 triệu – 5 triệu VND

127

23.4

3.747

0.384

2 Tính theo một hộ nghèo nên số người phụ thuộc cao, và có cả những khoản trợ cấp xã hội như trợ cấp cho người già, người tàn tật.

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

94

Ở phần thu nhập, tác giả chia thu nhập ra thành 6 nhóm để đo lường là: Dưới 500

nghìn VND/ tháng, 500 nghìn – 1 triệu VND/ tháng, 1 triệu – 3 triệu VND/tháng, 3 triệu – 5 triệu VND/tháng. Với kết quả thu thập dữ liệu, có thể thấy rằng phần lớn người được khảo sát nằm trong khoảng có thu nhập từ 1 triệu – 3 triệu VND/tháng (chiếm 39,45%) và 3 triệu – 5 triệu VND/tháng (chiếm 24,80%) với điểm số DTTC lần lượt là 3.747 điểm và 3.857 điểm. Ở các nhóm thu nhập thấp nhất có điểm số DTTC thấp hơn so với các nhóm trên lần lượt là nhóm dưới 500 nghìn VND/tháng (chiếm 16,80%) với 3.5 điểm, nhóm 500 nghìn – 1 triệu VND/tháng (chiếm 18,9%) với 3.434 điểm. Qua bảng

dữ liệu, có thể nhận ra rằng là điểm DTTC xu hướng tăng cùng chiều với thu nhập, điều này cũng tương đồng với kết luận đưa ra trong nghiên cứu của tác giả Lusardi và Tufano (2015). Mặc dù sự chênh lệch không nhiều, nhưng xu hướng tăng lên của DTTC có thể

thấy rõ.

Kết quả này có thể được giải thích là do với mức thu nhập càng cao, các cá nhân có xu hướng sẽ tiêu dùng và sử dụng các dịch vụ tài chính nhiều hơn, vậy nên kinh nghiệm của họ cũng cao hơn so với các nhóm đối tượng có thu nhập thấp. Với mức thu

nhập thấp nhất thì có một bộ phận là sinh viên, người trẻ đã được tiếp xúc và học tập các kiến thức, hành vi về tài chính nhưng do chưa đi làm nên chưa có thu nhập, do đó kéo điểm trung bình DTTC của nhóm này cao lên so với nhóm liền tiếp. Vậy nên, việc nói thu nhập ảnh hưởng lên DTTC là hoàn toàn có cơ cở.

Bảng 4.6. Điểm số dân trí tài chính trung bình theo nhân tố việc làm

Nhân tố Phân loại Số người Tỉ lệ (%) Giá trị TB SD

Lĩnh vực công nghiệp 84 16.4 0.435 3.552

Lĩnh vực đào tạo 56 10.9 0.36 3.998

Lĩnh vực kỹ thuật 39 7.6 0.375 3.775

Lĩnh vực nông nghiệp 203 39.6 0.402 3.676

39 7.6 0.344 4.036

Lĩnh vực quản lý hành chính Việc làm – Occupation 23 4.5 4.211 0.171

Lĩnh vực tài chính – ngân hàng

Lĩnh vực y tế 6 1.2 3.792 0.188

Sinh viên 42 8.2 3.676 0.457

Lĩnh vực khác 20 3.9 3.617 0.492

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

95

Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả sẽ chia thu nhập ra làm 9 nhóm chính: Lĩnh vực

công nghiệp, lĩnh vực đào tạo, lĩnh vực kỹ thuật, lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực quản lý hành chính, lĩnh vực tài chính – ngân hàng, lĩnh vực y tế, sinh viên và lĩnh vực khác. Điểm số DTTC có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm đối tượng trên.

Nhóm việc làm thuộc lĩnh vực khác (thợ xây, thợ phụ, giúp việc gia đình…) có điểm số DTTC thấp nhất là 3.617 điểm và nhóm có việc làm thuộc lĩnh vực tài chính - ngân hàng có điểm số DTTC cao nhất là 4.211 điểm. Điều này hoàn toàn phù hợp và dễ lý giải, bởi những người có việc làm thuộc về lĩnh vực tài chính - ngân hàng sẽ có những

kiến thức về tài chính tốt hơn những người thuộc lĩnh vực khác, bên cạnh đó thái độ và hành vi tài chính của họ cũng sẽ tích cực hơn. Có điểm số DTTC cao thứ hai là nhóm đối tượng có việc làm thuộc lĩnh vực quản lý hành chính với điểm số DTTC trung bình

là 4.036 điểm. Nhóm đối tượng thuộc lĩnh vực đào tạo cũng có điểm số DTTC khá ấn tượng là 3.998 điểm, nhóm đối tượng này có đặc điểm là có kiến thức rất vững chắc và trình độ học vấn cao, từ đó tác động tích cực đến thái độ và hành vi tài chính của họ. Vậy nên, có thể thấy rõ kết quả rằng DTTC phân hóa theo nhóm việc làm của các đối

tượng nghiên cứu.

4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo các nhân tố phản ánh

4.2.1. Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha

Bảng 4.7. Phân tích đánh giá độ tin cậy của thang đo chính thức với hệ số Cronbach’s Alpha

Thang Đo Cronbach’s alpha Mã thành phần thang đo Tương quan biến tổng Cronbach’s alpha nếu loại biến

K1 .420 .707

K2 .459 .694

K3 .499 .681 .729 K5 .503 .679 Kiến thức tài chính – Financial Knowledge (K)

K6 .454 .695

K7 .456 .694

.834 A1 .507 .832

96

A2 .693 .784

A3 .611 .809

A4 .726 .774 Thái độ tài chính – Financial Attitude (A)

A5 .660 .793

B1 .570 .860

B2 .680 .850

B3 .568 .860

B4 .591 .858

.871 B5 .654 .853

Hành vi tài chính – Financial Behavior (B) B6 .495 .867

B7 .631 .855

B8 .601 .858

B9 .676 .851

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Thang đo “Kiến thức tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.729 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Kiến thức tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

Thang đo “Thái độ tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.834 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Thái độ tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

Thang đo “Hành vi tài chính” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.871 và các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.3. Thang đo “Hành vi tài chính” đạt yêu cầu để thực hiện các phân tích tiếp theo.

4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Kết quả EFA về Hành vi tài chính cho thấy 9 tiêu chí đo lường từ B1 đến B9 được tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.592 đến 0.766 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với nhân tố.

Kết quả EFA về Thái độ tài chính cho thấy 5 tiêu chí đo lường từ A1 đến A5 được

97

tải vào một nhân tố với các hệ số tải lần lượt từ 0.658 đến 0.838 chứng tỏ các tuyên bố

gốc có quan hệ ý nghĩa với nhân tố.

Bảng 4.8. Kiểm định giá trị của thang đo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA

Nhân tố (Component) Biến quan sát 3 4 1

2 B2 .766

B9 .757

B5 .748

B7 .725

B8 .698

B4 .691

B1 .670

B3 .662

B6 .592

A4 .838

A2 .812

A5 .800

A3 .730

A1 .658

K5 .844

K1 .706

K3 .644

K2 .625

K6 .883

K7 .855

2.046 1.334 Eigenvalues 4.528 3.581

50.778 57.447 Phương sai trích 22.642 40.550

KMO= .806 Sig.= .000

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

Kết quả EFA về Kiến thức tài chính cho thấy 6 tiêu chí đo lường từ K1 đến K6

được tải vào hai nhân tố riêng biệt:

Nhân tố 1 (Nhân tố về lãi suất và lạm phát): bao gồm K2, K3, K1, K5 với hệ số tải lần lượt từ 0.625 đến 0.844 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các nhân tố.

98

Nhân tố 2 (Nhân tố về rủi ro và chi phí cơ hội): bao gồm K7, K6 với hệ số tải lần

lượt là 0.883 và 0.855 chứng tỏ các tuyên bố gốc có quan hệ ý nghĩa với các nhân tố.

Bảng 4.9. Bảng kiểm định KMO và Bartlett

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .806

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 3901.069

Df 190

Sig. .000

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho kết quả tốt, thể hiện ở hệ số KMO =0.806,

Sig=0.00 đều cho thấy rằng kết quả phân tích nhân tố khám phá là có sự tin cậy cao. Giá trị tổng phương sai trích của nhân tố thứ tư là 57.447% > 50% và giá trị hệ số hội tụ eigenvalues của nhân tố này là 1.334>1, từ đó cho thấy, các biến quan sát ban đầu có sự

hội tụ ở 04 nhân tố, các nhân tố này biểu diễn được sự biến thiên của dữ liệu khảo sát. Do đó, các nhân tố đảm bảo được khả năng đại diện cho dữ liệu khảo sát ban đầu.

4.2.3. Phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

• Mô hình CFA bậc 1 đo lường các nhân tố phản ánh DTTC

Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy,

giá trị Chi-square/df = <3, TLI=, CFI=, NFI= đều lớn hơn 0.9, hệ số RMSEA= <0.08, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường. Kết quả các giá trị P-value của các biến quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000. Các biến quan sát được khẳng định có khả năng biểu diễn tốt cho nhân tố trong mô hình CFA. Hệ số độ tin cậy tổng hợp của các thang đo đều đạt giá trị cao hơn 0.5 và hệ số phương sai trích nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được, vì thế, có thể khẳng định thang đo đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Như vậy, các thang đo nghiên cứu đối với các nhân tố phản ánh

đã đảm bảo các yêu cầu phân tích.

99

Bảng 4.10. Kết quả kiểm định thang đo các nhân tố phản ánh

Thang đo Số biến Các chỉ tiêu

Độ tin cậy tổng hợp (CR) Phương sai trích (AVE) Maximum Shared Variance (MSV)

.867 0.422 0.0059 Behavior 9

Chi-square/df= 2.717 .815 0.477 0.0858 Attitude 5 TLI= 0.913

CFI= 0.928 4 Knowledge_1 .752 0.435 0.1576

GFI= 0.920

2 Knowledge_2 .818 0.691 0.1576 RMSEA= 0.058

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Kết quả trong Bảng 4.10 cho thấy, phương sai trích của các thành phần dao động từ 0.422 đến 0.691. Trong đó, có ba thành phần có phương sai trích nhỏ hơn 0.5 gồm Behavior (Hành vi tài chính) với phương sai trích được là 0.422; Attitude (Thái độ tài

chính) với phương sai trích được là 0.477 và Knowledge_1 (Kiến thức tài chính 1) với phương sai trích là 0.435. Tuy nhiên, chúng vẫn nằm trong giá trị có thể chấp nhận được (Nguyễn Đình Thọ, 2013, Hair và cộng sự, 2016) và vẫn đạt giá trị về nội dung.

100

Hình 4.3. Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 1

(Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20)

Như vậy, sau phân tích CFA thang đo DTTC bao gồm 4 thành phần nhân tố (Behavior, Attitude, Knowledge_1, Knowledge_2) với 20 biến quan sát. Kết quả phân tích CFA cho thấy các thành phần của thang đo đều đạt được yêu cầu về giá trị cũng

như độ tin cậy.

• Mô hình CFA bậc 2 đo lường DTTC

Kết quả phân tích CFA các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df = <3, TLI=, CFI=, NFI= đều lớn hơn 0.9, hệ số RMSEA= <0.08, vì thế mô hình có sự phù hợp với thị trường. Kết quả các giá trị P-value của các biến

101

quan sát biểu diễn các nhân tố đều có giá trị bằng 0.000Các biến quan sát được khẳng

định có khả năng biểu diễn tốt cho nhân tố trong mô hình CFA. Hệ số độ tin cậy tổng hợp của thang đo đạt giá trị cao hơn 0.5, và hệ số phương sai trích nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận, vì thế, có thể khẳng định thang đo đạt được giá trị hội tụ và tính đơn hướng. Như vậy, thang đo nghiên cứu đối với DTTC đã đảm bảo các yêu cầu phân tích.

Hình 4.4. Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA bậc 2

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

102

4.3. Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng

a. Ước lượng mô hình hồi quy OLS

Bằng việc thu thập số liệu thực tế thông qua bảng hỏi tại khu vực nông thôn, tác giả thu lại được hơn 512 nghiên cứu phù hợp với thực tế. Thông qua phần mềm SPSS

tác giả kiểm định các giả thuyết được lập từ phần trên với phương pháp hồi quy.

Bảng 4.11. Tóm tắt mô hình định lượng chính thức

Mẫu R Durbin-Watson R bình phương R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng

1 .570a .325 .320 .395 1.705

Bộ dự báo: (hằng số), giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập.

Biến phụ thuộc: Financial Literacy

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Từ bảng Model Summaryb, ta thu thập được những kết quả sau:

- Giá trị Adjusted R Square đạt 32%. Điều này nghĩa là các biến bao gồm giáo dục, giới tính, tuổi, thu nhập.ảnh hưởng 32% sự thay đổi của biến phụ thuộc DTTC, còn lại 68% là do các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

- Giá trị Durbin - Watson của mô hình đạt 1.705 nằm trong khoảng từ 1 đến 3

đồng nghĩa với mô hình hồi quy tuyến tính đơn tốt.

Bảng 4.12. Kiểm định ANOVA định lượng chính thức

Hàm sử dụng Giá trị F Sig

Hàm hồi quy tuyến tính 60.980 .000b

a. Biến phụ thuộc:Financial Literacy

b. Bộ dự báo: Hằng số, Trình độ giáo dục, Giới tính, Tuổi tác, Thu nhập.

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Trong mô hình hồi quy tuyến tính này, giá trị Sig của kiểm định F là 0.000 nhỏ hơn 0.05 chứng tỏ mô hình trong nghiên cứu phù hợp và có tính đại diện cho tổng thể hay có

khả năng suy rộng ra tổng thể.

Từ bảng coefficients của mô hình, kết quả được thu lại như sau:

103

- Giá trị Sig của các biến giới tính, tuổi, thu nhập, giáo dục lần lượt là 0.591, 0.000, 0.002, 0.008 ,trong đó chỉ có biến giới tính có giá trị sig lớn hơn 0.05 hay nói cách khác, biến Gender không có ý nghĩa trong mô hình.

- Trong kết quả mô hình, các giá trị VIF của các biến tuổi, thu nhập, giáo dục lần lượt là 1.036, 1.065 và 1.055. Bài nghiên cứu này có mô hình và sử dụng bảng câu hỏi sử dụng thang đo Likert có các giá trị VIF < 2. Như vậy, nghiên cứu trong bài không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Bảng 4.13. Coefficients định lượng chính thức

Hệ số chưa chuẩn hóa

Mẫu Giá trị t Độ lệch Hệ số Beta chuẩn hóa Giá trị Sig Giá trị VIF Beta chuẩn

Hằng số 2.545 0.088 29.037 0.000

Giới tính 0.019 0.036 0.020 0.537 0.591 1.007

Tuổi 0.021 0.001 0.515 13.874 0.000 1.036

Thu nhập 0.038 0.012 0.118 3.138 0.001 1.065

0.036 0.013 0.099 2.647 0.008 1.055 Trình độ học vấn

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

a. Biến phụ thuộc: DTTC

- Giá trị beta chưa chuẩn hóa của các biến tuổi, thu nhập, giáo dục lần lượt là 0.021, 0.038, 0.036 đều lớn hơn 0 chứng tỏ các biến này có tác động cùng chiều tới DTTC.

Bảng kết quả mô hình hồi quy tuyến tính của nhóm nhân tố ảnh hưởng tới DTTC

của người nghèo khu vực nông thôn:

104

Bảng 4.14. Ý nghĩa kết quả hệ số hồi quy của các nhân tố tác động DTTC

STT Ý nghĩa Mức độ tác động Tên nhân tố Hướng tác động Hệ số hồi quy chưa chuẩn hóa

Cùng Tác động lớn nhất tới Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, tăng 1 Tuổi 0.021 chiều DTTC.

thêm 1 sẽ tăng điểm DTTC 0.021 điểm.

Thu Cùng Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, thu nhập tăng 1 bậc thì điểm Tác động tới DTTC thấp hơn tuổi 2 0.038 nhập chiều DTTC tăng 0.038 điểm.

nhưng cao hơn trình độ giáo dục.

Tác động tới Trong trường hợp các nhân

3 0.036 Trình độ học vấn Cùng chiều DTTC kém nhất trong 3 nhân tố. tố khác không thay đổi, trình độ giáo dục tăng 1 bậc thì điểm DTTC tăng 0.036

điểm.

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Như vậy, phương trình hồi quy chưa chuẩn hóa là:

(cid:20)(cid:21)(cid:21)(cid:22) = 2.545 + 0.021 × (cid:21)(cid:30)ổ + 0.038 × (cid:21)ℎ(cid:30) (cid:11)ℎậ%

+ 0.036 × (cid:21)'ì(cid:11)ℎ độ + á(cid:13) -ụ(cid:12)

Phương trình hồi quy chuẩn hóa là:

(cid:20)(cid:21)(cid:21)(cid:22) = 0.515 × (cid:21)(cid:30)ổ + 0.118 × (cid:21)ℎ(cid:30) (cid:11)ℎậ% + 0.099 × (cid:21)'ì(cid:11)ℎ độ + á(cid:13) -ụ(cid:12)

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram (phụ lục 5.4) là đường phân phối chuẩn và biểu đồ tần số được đặt chồng lên nhau. Đồ thị tần số có dạng hình chuông phù hợp với hàm phân phối chuẩn. Giá trị trung bình Mean xấp xỉ 0 và độ lệch chuẩn gần bằng 1. Như vậy, có thể nói, phân phối phần dư xấp xỉ chuẩn. Có thể kết luận giả thiết phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Biểu đồ phần dư chuẩn hóa trong Normal P – P Plot (phụ lục cuối) cho thấy các chấm tròn tập trung thành một đường chéo. Điều này có nghĩa rằng cùng với chứng tỏ

105

cùng với kết quả từ biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa Histogram, kết quả từ biểu đồ

phần dư chuẩn hóa trong Normal P – P Plot cũng cho thấy giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Biểu đồ phân tán Scatter Plot (phụ lục cuối) được sử dụng nhằm kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính của mô hình. Kết quả từ biểu đồ cho thấy phần dư chuẩn hóa phân bổ tập trung xung quanh đường có hoành độ bằng 0. Như vậy giả định quan hệ tuyến tính không vi phạm.

b. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

Hình 4.5. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

106

Hệ số hồi quy đã chuẩn hóa của các biến độc lập cho thấy, mức độ tác động của

Tuổi tác lên DTTC là 1.182, lớn nhất trong tất cả yếu tố. Mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn và tuổi tác lần lượt là 0.321 và 0.133. Các chỉ tiêu đo lường độ phù hợp của mô hình cho thấy, giá trị Chi-square/df= 2.861<3, GFI= 0.904, CFI=0.906 đều lớn hơn 0.9, TLI nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận được, hệ số RMSEA= 0.060<0.08, vì thế mô hình đạt được sự phù hợp dữ liệu thị trường. Kết quả của các giá trị P-value của các biến độc lập đều có giá trị thấp hơn giá trị 0.05Các biến độc lập đều thể hiện sự ảnh hưởng tới biến phụ thuộc là DTTC.

Bảng 4.15. Hệ số mô hình cấu trúc

Estimate

Financial_Literacy <--- Age 1.182

Financial_Literacy <--- Income .321

Financial_Literacy <--- Education .133

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22

c. Kiểm định độ tin cậy của mô hình với phương pháp Bootstrap

Bảng 4.16 Kết quả ước lượng mô hình qua Bootstrap với n= 1000

Parameter SE SE-SE Mean Bias SE- Bias Critical Ratios

.148 .003 1.105 .027 .005 0.54 Financial_Literacy <--- Age

.082 .002 .291 .002 .003 0.67 Financial_Literacy <--- Income

.066 .001 .131 .003 .002 1.5 Financial Literacy <--- Education

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Kiểm định này giúp đánh giá lại độ tin cậy của các ước lượng trong mô hình với mẫu lặp lại N=1000. Kết quả ước lượng từ 1000 quan sát được tính trung bình với độ chệch được trình bày trong bảng trên. Qua bảng trên, các hệ số CR đều bé hơn 1.96 từ

đó có thể kết luận từ kết quả ước lượng mô hình, sự chênh lệch của nhóm hệ số trong

107

mô hình với 1000 quan sát là rất nhỏ. Suy ra, mô hình DTTC vẫn có ý nghĩa đối với cỡ

mẫu lớn, ước lượng mô hình có thể tin cậy

4.4. Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

4.4.1 Đánh giá tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Từ bộ số liệu gồm 512 thu thập được qua bảng hỏi khảo sát tại các vùng nông thôn ở Việt Nam, tác giả tiến hành sử dụng phương pháp hồi quy lập mô hình hồi quy và

kiểm định nhằm xác định tác động của dân trí tài chính lên thu nhập.

Với mô hình ban đầu được xác định bởi các biến là:

- Biến phụ thuộc: INCOME - thu nhập, được mã hoá từ 1 - 6 theo các mức thu

nhập.

- Biến độc lập: DTTC - Dân trí tài chính, được tính bằng cách lấy mean của các

biến phản ánh.

Phương trình tuyến tính: (cid:10)0(cid:22)123 = 4(cid:9) + 4(cid:17) × (cid:20)(cid:21)(cid:21)(cid:22)

Sử dụng các kiểm định ANOVA, Durbin-Watson cùng với phương pháp hồi quy

và các đồ thị kiểm tra vi phạm giả thuyết, thu được kết quả như sau:

Bảng 4.17. Tóm tắt mô hình tác động của DTTC lên thu nhập

Sai số chuẩn Mẫu R R bình phương R bình phương hiệu chỉnh của ước lượng

1 .305a .093 .091 1.435

Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy

Biến phụ thuộc: Thu nhập

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Từ bảng, tác giả thu được giá trị R bình phương hiệu chỉnh của mô hình đạt 9.1%. Điều này có ý nghĩa rằng biến DTTC trong mô hình giải thích được 9.1% sự biến động

của biến thu nhập, còn lại 90.9% là do các biến số khác ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

108

Bảng 4.18. Kiểm định ANOVA phân tích tác động của DTTC lên thu nhập

Hàm sử dụng Giá trị F Sig

Hàm hồi quy tuyến tính 53.331 .000b

Biến phụ thuộc: Income

Bộ dự đoán: Hằng số, Financial Literacy

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Với giá trị Sig của kiểm định F là 0.000 < 0.05, kết luận rằng mô hình phù hợp với

tổng thể.

Bảng 4.19. Kết quả Coefficients phân tích tác động của DTTC lên thu nhập

Hệ số chưa chuẩn hóa Mẫu Giá trị t Giá trị Sig Giá trị VIF Hệ số Beta chuẩn hóa Beta Độ lệch chuẩn

C 0.011 0.541 0.021 0.983

1.038 0.143 0.305 7.234 0.000 1.000 Financial Literacy

a. Biến phụ thuộc: Income

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Qua bảng Coefficients, tác giả rút ra các kết luận sau:

- Giá trị sig kiểm đinh t của biến độc lập bằng 0.000 < 0.05 suy ra biến độc lập

(DTTC) có ý nghĩa thống kê.

- Hệ số Beta của biến độc lập bằng 1.038 > 0 suy ra biến độc lập (DTTC) ảnh

hưởng cùng chiều lên biến phụ thuộc (INCOME).

Phương trình hồi quy tuyến tính thu được là

(cid:10)0(cid:22)123 = 0.011 + 1.038 × (cid:1) (cid:11)5(cid:11)(cid:12) 56_(cid:2) 8(cid:15)'5(cid:12)9

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hoá Histogram (chi tiết xem tại phụ lục 6) là biểu đồ

đường cong có dạng hình chuông, phù hợp với dạng đồ thị của phân phối chuẩn. Giá trị trung bình Mean = -1.17E - 15 xấp xỉ bằng 0, độ lệch chuẩn là 0.999 gần bằng 1, như vậy có thể nói, phân phối phần dư xấp xỉ chuẩn. Có thể kết luận rằng: Giả thiết phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

109

Biểu đồ phần dư chuẩn hóa trong Normal P – P Plot (chi tiết xem tại phụ lục 6)

cho thấy các điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành một đường chéo, do đó phần dư sẽ có phân phối chuẩn.

Biểu đồ phân tán Scatter Plot (chi tiết xem tại phụ lục 6) cho thấy phần dư phân tán ngẫu nhiên trong một vùng xung quanh đường hoành độ 0, nên giả định quan hệ tuyến tính không vi phạm.

Từ các kết quả trên, tác giả rút ra kết luận rằng DTTC thực sự có tác động lên thu

nhập, cùng quan điểm với các lý thuyết đước ra ở phần trên.

4.4.2 Đánh giá tác động của kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính lên thu nhập

Theo như lý thuyết ở trên, DTTC được phản ánh bởi hành vi tài chính, thái độ tài chính, kiến thức tài chính và để làm rõ hơn vai trò và mối quan hệ của các nhân tố phản ánh với thu nhập, tác giả quyết định giả định phương trình tuyến tính và kiểm định:

(cid:10)0(cid:22)123 = 4(cid:9) + 4(cid:17) × :; + 4< × (cid:21)Đ + 4> × ?(cid:21)1 + 4> × ?(cid:21)2

Với biến phụ thuộc INCOME là thu nhập; biến độc lập là mean của các nhân tố được

lấy từ kiểm định EFA, CFA, cụ thể:

- Behavior: Hành vi tài chính - Attitude: Thái độ tài chính - Knowledge_1: Kiến thức (liên quan đến lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất) - Knowledge_2: Kiến thức (liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của

người dân)

Kết quả thu được như sau:

Bảng 4.20. Tóm tắt mô hình tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập

Mẫu R Durbin-Watson

R bình phương R bình phương hiệu chỉnh Sai số chuẩn của ước lượng

1 .329a .109 .102 1.427 1.425

Bộ dự đoán: Hằng số, Knowledge_2, Knowledge_1, Attitude, Knowledge

Biến phụ thuộc: Thu nhập

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Từ bảng, rút ra các kết luận sau:

110

- Giá trị R bình phương hiệu chỉnh đạt 10.2%, có nghĩa là các biến độc lập HV, TĐ, KT1 và KT2 giải thich được 10.2% sự biến động của biến phụ thuộc (INCOME). Còn 89.1% còn lại là sự ảnh hưởng của các biến ngoài mô hình và sai số ngẫu nhiên.

- Giá trị của kiểm định Durbin-Watson bằng 1.425 với mẫu n = 500, k = 4 nên mô

hình không xảy ra hiện tượng tự tương quan.

Bảng 4.21. Kiểm định ANOVA

Hàm sử dụng Giá trị F Sig

Hàm hồi quy tuyến tính 15.436 .000b

a. Biến phụ thuộc: Thu nhập

b. Bộ dự đoán: Hằng số, Knowledge_2, Knowledge_1, Attitude, Knowledge

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Với bảng ANOVA, Giá trị sig của kiểm định F bằng 0.000 < 0.05 cho thấy mô

hình phù hợp và có thể suy rộng ra tổng thể.

Bảng 4.22. Kết quả Coefficients phân tích tác động của các nhân tố phản ánh lên thu nhập

Hệ số chưa chuẩn hóa Mẫu Giá trị t Giá trị Sig Giá trị VIF Hệ số Beta chuẩn hóa Beta

Độ lệch chuẩn

Hằng số 3.895 61.750 0.000

Behavior 0.444 0.295 0.295 7.026 0.000 1.000

Attitude 0.141 0.093 0.093 2.226 0.026 1.000

Knowledge_1 0.031 0.02 0.02 0.486 0.627 1.000

Knowledge_2 0.169 0.112 0.112 2.680 0.008 1.000

a. Biến phụ thuộc: Thu nhập

Nguồn: Kết quả tính toán từ SPSS 22 và AMOS 20

Từ bảng Coefficients, rút ra các kết luận sau:

- Giá trị sig của các biến Behavior, Attitude, Knowledge_2 lần lượt bằng 0.000;

111

0.026; 0.008 đều bé hơn 0.05 nên các biến này có ý nghĩa thống kê. Biến

Knowledge_1 có giá trị sig bằng 0.627 > 0.05 nên biến này không có ý nghĩa. - Hệ số beta của tất cả các biến đều lớn hơn 0 cho thấy các biến độc lập tác động cùng chiều lên biến phụ thuộc. So sánh hệ số beta chuẩn hoá với beta lần lượt của các biến là Behavior > Knowledge_2 > Attitude > Knowledge_1 có ý nghĩa rằng biến Behavior tác động mạnh nhất tới biến phụ thuộc; sau đó tới các biến Knowledge_2, Attitude; cuối cùng là biến Knowledge_1 gần như không có tác động lên biến phụ thuộc.

- Giá trị VIF của các biến đều < 2, do đó không xảy ra hiện tượng tự tương quan

giữa các biến độc lập.

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hoá Histogram (chi tiết xem tại phụ lục 6) là biểu đồ

đường cong có dạng hình chuông, phù hợp với dạng đồ thị của phân phối chuẩn. Giá trị trung bình Mean = 2.78E - 17 xấp xỉ bằng 0, độ lệch chuẩn là 0.996 gần bằng 1, như vậy có thể nói, phân phối phần dư xấp xỉ chuẩn. Có thể kết luận rằng: Giả thiết phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Biểu đồ phần dư chuẩn hóa trong Normal P – P Plot (chi tiết xem tại phụ lục 6) cho thấy được các điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành một đường chéo, phần dư sẽ có phân phối chuẩn.

Biểu đồ phân tán Scatter Plot (chi tiết xem tại phụ lục 6) cho thấy phần dư phân

tán ngẫu nhiên trong một vùng xung quanh đường hoành độ 0, nên giả định quan hệ tuyến tính không vi phạm.

Từ các kết quả trên, tác giả kết luận rằng DTTC có sự tác động rõ ràng tới thu nhập

của người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam với yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới thu nhập là hành vi tài chính tích cực. Giải thích về việc biến KT1 không có ý nghĩa, tác giả cho rằng kiến thức tài chính về lạm phát, lãi suất tiền gửi và lãi suất trong trường hợp có lạm phát tác động chủ yếu đến không có ý nghĩa tác động cùng với thu nhập cho

những người dân tại vùng nông thôn chi tiêu và tiết kiệm trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Còn đối với nhóm nhân tố KT_2, liên quan đến khả năng đầu tư và sử dụng tiền một cách hiệu quả của người dân, nên có tác động mạnh lên thu nhập của

người dân. Vì vậy, nhóm kiến thức về kinh tế liên quan đến kế hoạch và khả năng sử dụng tiền của người dân, thái độ tài chính và hành vi tài chính mới thực sự tác động lên thu nhập của người dân.

112

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH

5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Do hiện nay DTTC là một vấn đề khá mới tại Việt Nam, và cũng chưa có một chương trình triển khai cụ thể nhằm nâng cao DTTC cho người nghèo tại vùng nông

thôn Việt Nam nên việc đưa ra định hướng còn khá khó khăn.

Trên cơ sở kết hợp các nghiên cứu trước đây về DTTC và phát triển dựa trên những đóng góp của các nhóm chuyên gia cùng với sự phù hợp đối với tình hình kinh tế Việt Nam, tác giả xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới DTTC, nhân tố phản ánh

DTTC và ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập. Hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu nhằm kiểm định lại mô hình, thang đo và giả thuyết nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định tính và định lượng đều được diễn ra 2 bước đó là nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Nghiên cứu chính thức được phát triển trên nền của nghiên cứu sơ bộ sau khi hiệu chỉnh bởi chuyên gia và tác giả.

Dữ liệu phục vụ nghiên cứu định lượng được thu thập bằng phương pháp bảng hỏi.

Bảng hỏi chính thức được hiệu chỉnh dựa trên bảng hỏi của OECD sau đó hiệu chỉnh để phù hợp với nền kinh tế Việt Nam. Cụ thể:

- Kiến thức tài chính: tác giả đã hiệu chỉnh lại các câu hỏi thuộc các chủ đề: tính toán lãi suất, lạm phát, lãi suất có lạm phát, đầu tư, phân loại rủi ro, chi phí cơ hội. Ngoài ra, từ ngữ, cách diễn đạt được hiệu chỉnh để dễ hiểu và thực tế hơn, thang đo được thay đổi để phù hợp với người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam - Thái độ tài chính: Nội dung của các nhận định được giữ nguyên, nhưng từ ngữ, cách diễn đạt được hiệu chỉnh để dễ hiểu và thực tế hơn, thang đo được thay đổi để phù hợp với người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam

- Hành vi tài chính: Nội dung của các nhận định hầu như được giữ nguyên, chỉ lược bỏ đi một số câu hỏi về lựa chọn các sản phẩm tài chính hiện đại, vì nhóm đã

đưa vào nghiên cứu sơ bộ nhưng nhận thấy không có hiệu quả ở khu vực nông thôn Việt Nam. Từ ngữ, cách diễn đạt được hiệu chỉnh để dễ hiểu và thực tế hơn, thang đo được thay đổi để phù hợp với người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam.

Với dữ liệu được thu thập tại vùng nông thôn, tác giả đã lọc ra 512 quan sát phù hợp. Nguồn dữ liệu này được xử lý bằng phần mềm SPSS và AMOS thông qua các phương pháp đánh giá và kiểm định để đưa ra kết quả của bài nghiên cứu.

113

Từ cơ sở lý thuyết, có 6 nhóm nhân tố được xác định có ảnh hưởng tới DTTC bao

gồm trình độ học vấn, thu nhập, việc làm, tuổi tác, giới tính, chủng tộc và tôn giáo. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố được kiểm định có ảnh hưởng tới DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam bao gồm trình độ học vấn, tuổi tác và thu nhập. Các nhân tố còn lại bao gồm việc làm, giới tính, chủng tộc và tôn giáo được xác định không phù hợp mẫu nghiên cứu, không tác động tới DTTC và không phù hợp với Việt Nam. Mô hình nhóm nhân tố phản ánh DTTC bao gồm các nhân tố bao gồm: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính được kiểm định phù hợp và có ý

nghĩa. Dân trí tài chính được kiểm định có tác động cùng chiều tới thu nhập. Cùng với đó, nhóm các nhân tố phản ánh DTTC cũng được kiểm định tác động tới DTTC. Kết quả, mô hình này phù hợp và có tác động khác nhau theo từng nhóm nhân tố.

5.1.1 Kết quả về thực trạng dân trí tài chính tại khu vực nông thôn Việt Nam

Kết quả đo lường cho thấy điểm số DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam nhìn chung đạt mức trên trung bình, tuy nhiên cách biệt còn rất lớn, có sự

phân hóa cao trong kiến thức, thái độ và hành vi tài chính của các đối tượng nghiên cứu. Ngoài ra, có rất nhiều câu trả lời “Tôi không chắc chắn”, kể cả những câu hỏi về định nghĩa lãi suất hay lạm phát cơ bản. Sự khác biệt này được phân tích rõ hơn theo từng nhân tố ảnh hưởng đến DTTC trong nghiên cứu và có thể dẫn đến kết luận rằng: Có sự

chênh lệch về điểm số DTTC giữa các đối tượng có khác biệt về học vấn, thu nhập, tuổi tác, giới tính. Phân tích ý nghĩa thống kê của các sự khác biệt này cũng đã được làm rõ trong nghiên cứu.

Như vậy, mặc dù điểm số DTTC vẫn đạt mức trung bình, nhưng nhìn chung kiến thức, thái độ và hành vi tài chính của người dân vẫn chưa chắc chắn và còn sự phân hóa lớn giữa các đối tượng khảo sát tại khu vực nông thôn Việt Nam.

5.1.2 Nhóm kết quả về nhân tố nhân khẩu học

Kết quả đo lường cho thấy, hiện tại có các nhóm nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn bao gồm học vấn (thể hiện qua giáo dục),

tuổi, thu nhập; trong khi đó, một số biến khác lại không thể hiện tác động như giới tính và nghề nghiệp.

Thứ nhất, về học vấn

Học vấn (và trình độ giáo dục) có tác động cùng chiều lên DTTC. Kết quả này

đồng thuận với các nghiên cứu của Bhushan và Medury (2013); Brown và Graf (2013); Morgan và Trinh (2017); Banks và Oldfield (2007), Christelis và cộng sự (2010),

114

Lusardi và cộng sự (2017). Tuy nhiên, kết quả này lại đi ngược với kết quả cho rằng với

kết luận cho rằng người cao tuổi thường có DTTC thấp ở trong nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi và Tufano (2015), Atkinson và Messy (2012). Với điểm số đạt được, có thể thấy rằng người nghèo sống tại khu vực nông thôn Việt Nam, nếu chia theo trình độ học vấn hoặc giáo dục thì người có trình độ học vấn các cao càng có DTTC tốt. Tuy nhiên, một kết quả thú vị cho thấy, nhóm người có trình độ học vấn Dưới Tiểu học (Biết đọc biết viết) lại có điểm DTTC đạt 3.6575, cao hơn nhóm Trung học Phổ thông khi nhóm này đạt 3.616 điểm. Sự chênh lệch giữa nhóm Dưới Tiểu học (Biết đọc

biết viết) được giải thích bởi những người biết đọc biết viết ở nông thôn trong khảo sát này đa phần là những người ở độ tuổi trung niên, nên thường có xu hướng có những kiến thức tài chính từ thực nghiệm, từ đó rút ra những kinh nghiệm để có những thái độ

và hành vi tài chính được đánh giá là tích cực. Trong khi đó, sự chênh lệch không đáng kể giữa hai nhóm có trình độ học vấn tương đồng là độ Cao đẳng và Đại học cùng nhóm Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. Vì vậy, có thể nói trình độ học vấn càng cao thì điểm số DTTC càng được cải thiện.

Bên cạnh đó, kết quả hồi quy cho thầy, Giá trị Sig = 0.008 < 0.05 và giá trị VIF = 1.055 điều này có nghĩa là trình độ học vấn có tác động tới DTTC. Hệ số Beta chuẩn hóa của mô hình là 0.099, đứng cuối trong các nhân tố ảnh hưởng tới DTTC chứng tỏ trình độ học vấn tác động yếu nhất trong nhóm nhân tố tác động tới DTTC. Hệ số Beta

chưa chuẩn hóa trong mô hình bằng 0.036 > 0 chứng tỏ trình độ học vấn ảnh hưởng cùng chiều tới DTTC. Như vậy giả thuyết H5 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của một số nghiên cứu như Lusardi và Mitchell (2011b); Lusardi và cộng sự (2017).

Thứ hai, về thu nhập

Kết quả thống kê về thực trạng DTTC cho thấy, điểm DTTC xu hướng tăng cùng chiều với thu nhập, điều này cũng tương đồng với kết luận đưa ra trong nghiên cứu của tác giả Lusardi và Tufano (2015). Mặc dù sự chênh lệch không nhiều, nhưng xu hướng

tăng lên của DTTC có thể thấy rõ.

Kết quả này được giải thích là do với mức thu nhập càng cao, các cá nhân có xu hướng sẽ tiêu dùng và sử dụng các dịch vụ tài chính nhiều hơn, vậy nên kinh nghiệm

của họ cũng cao hơn so với các nhóm đối tượng có thu nhập thấp. Với mức thu nhập thấp nhất thì có một bộ phận là sinh viên, người trẻ đã được tiếp xúc và học tập các kiến thức, hành vi về tài chính nhưng do chưa đi làm nên chưa có thu nhập, do đó kéo điểm trung bình DTTC của nhóm này cao lên so với nhóm liền tiếp. Vậy nên, việc nói thu

nhập ảnh hưởng lên DTTC là có cơ cở. Tuy nhiên, vấn đề này cũng đang cho thấy một

115

hiện trạng: một lượng (cựu) học sinh sinh viên đang không sử dụng được kiến thức của

mình khi đang đi học, gây ra sự lãng phí lớn trong nguồn lực giáo dục của nhà nước.

Đối với kết quả kiểm định mô hình, giá trị Sig = 0.002 < 0.05 và giá trị VIF = 1.065 điều này có nghĩa là thu nhập có tác động tới DTTC. Hệ số Beta chuẩn hóa của nhân tố này là 0.118, tác động mạnh thứ 2 trong nhóm nhân tố ảnh hưởng. Hệ số Beta chưa chuẩn hóa trong mô hình bằng 0.038 > 0 chứng tỏ thu nhập ảnh hưởng cùng chiều tới DTTC. Như vậy giả thuyết H4 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của một số nghiên cứu De Clercq và cộng sự (2009), Monticone (2010), Meier và Sprenger (2013), Hastings và Mitchell (2020), Potrich và cộng sự (2015), Sekar và Gowri (2015). Giải thích về giả thuyết này, các nhóm chủ thể có thu nhập cao thường có kinh nghiệm nhiều hơn không chỉ trong chi tiêu, tiết kiệm và đầu tư mà còn hiểu biết về các chỉ số và cách vận hành tài chính và thái độ của họ đối với các vấn đề liên quan tới tài chính của họ càng cao.

Thứ ba, về tuổi tác

Giá trị Sig = 0.000 < 0. 05 và giá trị VIF = 1.036 điều này có nghĩa là tuổi tác có tác động tới DTTC. Hệ số Beta chuẩn hóa của biến tuổi tác là 0.515 lớn nhất trong các biến ảnh hưởng tới DTTC hay nói cách khác tuổi tác có tác động mạnh nhất trong các nhân tố nhân khẩu học tới điểm số của DTTC. Hệ số Beta chưa chuẩn hóa trong mô hình bằng 0.021 > 0 chứng tỏ tuổi tác ảnh hưởng cùng chiều tới DTTC. Như vậy giả thuyết H7 được chấp nhận. Lusardi và Mitchell (2011a) cũng cho kết quả tương tự.

Giải thích về giả thuyết này, người nghèo vùng nông thôn thường có xu hướng đưa ra các quyết định tài chính theo kinh nghiệm trước đó. Các nhóm chủ thể có tuổi tác cao thường có nhiều kinh nghiệm trong hiểu biết tài chính và thái độ đối với các vấn đề liên quan tới tài chính. Vì vậy, tuổi tác càng cao thì DTTC càng cao. Một số tác giả trong nước về hành vi người tiêu dùng cũng đưa ra một số kết quả tương tự: đối với các quốc gia chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, thì vấn đề tính cộng đồng rất cao (Nguyễn Thừa Hỷ, 2000, Mai và Tambyah, 2011, Tran và cộng sự, 2017) nên các xu hướng chi tiêu và tiết kiệm mang tính chất cộng đồng rất lớn. Các nghiên cứu đi trước còn cho thấy, việc người dân tại khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng bởi kinh nghiệm của người già hoặc người có uy tín đang tác động đến mức DTTC nói chung. Do vậy, các biện pháp thực hiện nâng cao DTTC có thể thông qua nhóm đối tượng người cao tuổi.

Thứ tư, các nhóm nhân tố không tác động hoặc không rõ tác động

Trong nghiên cứu của tác giả, một số nhân tố không rõ tác động hoặc không thể hiện nổi bật tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn, có thể kể đến như:

116

Giới tính không có tác động đến DTTC. Mặc dù kết quả thống kê về thực trạng

cho thấy, mặc dù nữ có điểm số cao hơn nam, nhưng không có sự khác biệt quá rõ ràng khi cùng đo lường về DTTC. Kết quả trên có thể được giải thích rằng người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam, chủ yếu phụ nữ là những người chi tiêu chính và đưa ra các quyết định tài chính hàng ngày trong gia đình – tất nhiên với các món chi tiêu không lớn (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Từ đó, kiến thức và kinh nghiệm tài chính của họ cũng được tích lũy nhiều hơn từ đó các thái độ, hành vi tài chính cũng tích cực hơn. Vậy nên, điểm số DTTC của họ cũng cao hơn đàn ông. Kết quả này cũng tương tự kết

quả trong nghiên cứu của Bucher-Koenen và Lusardi (2011), tuy nhiên lại đi ngược lại với kết quả của đa phần các nghiên cứu về DTTC trước đây (Lusardi và cộng sự, 2010, Atkinson và Messy, 2012).

Nếu như kết quả thống kê cho ra sự khác biệt ít ỏi thì kết quả của mô hình nghiên cứu lại đưa ra một ảnh hưởng khác. Giá trị Sig của nhân tố giới tính là 0.51 > 0.05 điều này có nghĩa biến giới tính không có ý nghĩa trong mô hình. Nói cách khác, không có sự khác biệt của tác động về giới tính lên DTTC. Các nghiên cứu Bucher-Koenen và

Lusardi (2011), Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) cũng đưa ra kết quả tương tự.

Giải thích về điều này, tại vùng nông thôn Việt Nam, đàn ông đóng vai trò là trụ cột trong gia đình còn phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu, tiết kiệm. Các khoản

chi tiêu nhỏ (mua thức ăn, đóng học cho con gái, đóng góp vào dòng họ…) thường do phụ nữ quyết định, nhưng các khoản chi lớn (sửa chữa nhà cửa, mua đồ đạc như ti vi, tủ…) thì lại do đàn ông quyết định. Vì vậy, ảnh hưởng của giới tính lên DTTC chưa thật

sự có ý nghĩa thống kê.

Thứ hai, dân tộc và tôn giáo không có tác động đến DTTC. Kết quả này có được không dựa vào điều tra khảo sát mà dựa vào việc phát triển bảng hỏi và thang đo khi phỏng vấn các chuyên gia trong cùng lĩnh vực. Kết quả này ngược với đa phần các

nghiên cứu trước đây (người dân theo đạo Thiên Chúa và đạo Hồi là chủ yếu). Nguyên nhân của tình trạng này được giải thích bằng việc (1) trên 80% người dân Việt Nam là người Việt. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm một tỉ trọng không quá lớn trong cộng

đồng. Bên cạnh đó, việc thu thập dữ liệu cho thấy, số lượng người khảo sát khi được hỏi cũng ít có người dân tộc thiểu số. (2) gười dân Việt Nam được đánh giá là ít quan tâm đến tôn giáo hoặc các vấn đề về tôn giáo, mà đa phần chỉ là tín ngưỡng (Tran và cộng sự, 2017). Chính vì thế, nhóm 2 nhân tố này được cho là không ảnh hưởng đến DTTC

của khu vực nông thôn Việt Nam.

117

5.1.3 Nhóm kết quả về các yếu tố nội hàm dân trí tài chính

Nghiên cứu này cho rằng: DTTC bao gồm 3 nhóm nhân tố phản ánh là hiểu biết tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Do đó, tác động lên DTTC thì sẽ bao gồm chính 3 nhóm nhân tố này.

Thứ nhất, DTTC được phản ánh qua Kiến thức tài chính

Kết quả từ mô hình cho thấy hệ số tương thích của 2 nhóm kiến thức 1 và 2 đối với DTTC lần lượt là 0.44 và 0.40 điểm và hệ số Sig = 0.000 < 0.05. Điều này có nghĩa

hai nhóm nhân tố kiến thức tài chính nói riêng hay nhóm nhân tố kiến thức tài chính phản ánh DTTC hay giả thuyết H1 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của các nghiên cứu Huston (2010), Collins (2012), Nicolini và cộng sự (2013), Scheresberg (2013).

Như vậy, đối với người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam, kiến thức tài chính

là một trong những nhân tố phản ánh DTTC. DTTC cao của một cá nhân có thể được phản ánh qua kiến thức tài chính của họ. Khi hiểu biết thông thạo về các chỉ tiêu tài chính, khả năng đầu tư, tiết kiệm của chủ thể càng tốt hơn và phù hợp với mục đích của

họ. Vấn đề này đặc biệt phù hợp với người dân khu vực miền Bắc Việt Nam, khi khả năng hiểu biết được thể hiện qua việc học vấn: đa phần người dân khu vực này rất chú trọng đến việc đào tạo con cái khi tham gia các trường đại học và cao đẳng, nên đã tự nâng cao tri thức của mình qua vấn đề này (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, Tran

và cộng sự, 2017).

Trong nhóm nhân tố về hiểu biết tài chính, có 2 cụm nhân tố tác động đến DTTC. Thứ nhất nhóm nhân tố K6 và K7 lại có những tác động riêng biệt đến DTTC: nhóm

nhân tố này được hiểu là các biến thuộc việc đa dạng hóa nguồn tiết kiệm, trong đó phải hiểu tiết kiệm bao gồm các khoản đầu tư của cá nhân nhằm mục đích sinh lời. Thứ hai, nhóm các nhân tố K1, K2, K3 và K5 cùng đồng thời tác động đến DTTC cho thấy, các nhân tố tương tự thuộc về kiến thức (thuộc vấn đề về việc sẽ tiết kiệm ra sao) đồng thời

tác động đến DTTC.

Thứ hai, DTTC được phản ánh qua Thái độ tài chính

Kết quả từ mô hình cho thấy hệ số tương quan của thái độ tài chính đối với DTTC

là 0.29 và hệ số Sig = 0.000 < 0.05. Điều này có nghĩa nhân tố thái độ tài chính tích cực phản ánh DTTC cao hay giả thuyết H2 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của các nghiên cứu Atkinson và Messy (2012), OECD (2013), Moore (2003).

Như vậy, thái độ tài chính càng tích cực phản ánh trình độ DTTC càng cao. Cụ thể,

chủ thể đánh giá chính xác, tích cực các sự thay đổi, biến động của nền kinh tế, khả năng

118

về hiểu biết cũng như đầu tư tiết kiệm của người đó càng chính xác, tích cực. Nhóm

quan điểm này cũng được sự ủng hộ của Benjamin và Brandt (2004), Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017) khi cho rằng: đa phần người nghèo tại khu vực nông thôn có thái độ tiết kiệm nhiều hơn là chi tiêu, nhất là tại miền Bắc Việt Nam. Chính vì vậy, việc nâng cao thái độ tài chính thông qua các hình thức khác nhau có thể làm cho người dân tăng mức độ về DTTC.

Thứ ba, DTTC được phản ánh qua Hành vi tài chính

Kết quả từ mô hình cho thấy hệ số tương quan của hành vi tài chính đối với DTTC

là 0.37 và hệ số Sig = 0.000 < 0.05. Điều này có nghĩa nhân tố hành vi tài chính phản ánh DTTC hay giả thuyết H3 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của các nghiên cứu Hilgert và cộng sự (2003), Atkinson và Messy (2012), OECD (2013), Moore (2003),

Taft và cộng sự (2013), OECD (2015). Như vậy, hành vi tài chính càng tốt phản ánh trình độ DTTC càng cao. Cụ thể, khi người nghèo càng tiết kiệm, chi tiêu càng chính xác, khả năng về hiểu biết cũng thái độ của người đó đối với nền kinh tế càng chính xác, tích cực. Các quan điểm này đồng thời phản ánh rằng: các hành vi tiết kiệm càng cao thì

điểm của khu vực này càng tốt. Cụ thể, nếu như một cá nhân (là người nghèo tại khu vực nông thôn) càng để dành được nhiều tiền từ các hoạt động tạo nguồn thu thì càng được đánh giá tích cực. Tuy nhiên, các quan điểm này hiện tại cũng đang bị phản bác bởi các nghiên cứu khác nhau về tài chính toàn diện: nếu các cá nhân chỉ tiết kiệm mà

không sử dụng số tiền đầu tư thì số tiền này mang lại khả năng sinh lời không cao! Do vậy, điều cần thiết là cần phải điều chỉnh các khoản mục này cho phù hợp với danh mục đầu tư hoặc chi phí cơ hội.

5.1.4 Nhóm kết quả về tác động của dân trí tài chính lên thu nhập

Một điều thú vị là DTTC bị tác động bởi thu nhập, và sau đó, chính DTTC lại tác động ngược trở lại với thu nhập. Giá trị Sig = 0.000 < 0.05 và giá trị VIF = 1.000 điều

này có nghĩa DTTC có tác động tới thu nhập. Hệ số Beta chưa chuẩn hóa trong mô hình bằng 1.038 > 0 chứng tỏ DTTC ảnh hưởng tích cực tới thu nhập. Như vậy giả thuyết H10 được chấp nhận. Đây cũng là kết quả của một số nghiên cứu thuộc về nhóm vốn

con người và mô hình tăng trưởng nội sinh như Lucas (1988), Bosworth (1994), Fisher và Hostland (2002); Lusardi và cộng sự (2017).

Để gia tăng thu nhập cho người nghèo tại khu vực nông thôn, một trong những biện pháp đặt ra là có thể tăng DTTC của người dân thông qua các vấn đề khác nhau

trong các biến nhân khẩu học hoặc các vấn đề nội tại trong các cấu phần của DTTC. Tuy nhiên, hệ số R(cid:17) của mô hình không cao, thì cho thấy rằng: ảnh hưởng đến thu nhập của

119

người dân nông thôn còn rất nhiều các nhân tố khác (ví dụ, kết quả khảo sát trực tiếp

cho thấy, thu nhập của các hộ nghèo của nông thôn phụ thuộc vào trợ cấp của nhà nước, của họ hàng, của các tổ chức từ thiện chứ không phải từ bản thân những người này tự nâng cao hiểu biết của chính mình). Vì thế, việc đưa ra những hàm ý chính sách nâng cao dân trí tài chính để tăng thu nhập của người dân cần phải đi với những chính sách khác.

5.2. Một số hàm ý chính sách

Việc nâng cao DTTC, bên cạnh chứng minh được rằng có ảnh hưởng đến thu nhập

của người nghèo tại khu vực nông thôn, còn có thể ảnh hưởng đến những chính sách của chính phủ. Nếu DTTC tăng cao, thì người nghèo sẽ dễ hấp thụ được các chính sách đưa ra (tức là sẽ hạn chế những rủi ro về mặt vĩ mô), đồng thời sẽ có hành vi phù hợp về mặt tài chính. Đối với các tổ chức tín dụng, tăng DTTC sẽ giúp tiết kiệm được chi phí quảng

bá, hoặc đào tạo người dân sử dụng các sản phẩm tài chính, giảm dần việc sử dụng tín dụng đen.

Từ thảo luận kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách về nâng

cao DTTC cho người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam.

5.2.1. Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính

Đối với nhà nước

Nâng cao DTTC cho người nghèo tại khu vực nông thôn nói riêng và toàn dân nói chung là một trong những chính sách trọng điểm của quốc gia, nhất là khi các dịch vụ tài chính đang có tốc độ phát triển rất cao trong giai đoạn hiện nay. Dựa vào những mô

hình đã kiểm định, tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Thứ nhất, xây dựng các chương trình, chính sách nhằm nâng cao DTTC của người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam. Cụ thể là ưu tiên cho giáo dục tài chính và phát triển định hướng và các chương trình, với một bước quan trọng đầu tiên là một cuộc

khảo sát khả năng cấp quốc gia. Mục đích của cuộc khảo sát này là tiền đề để phát triển và thiết kế chiến lược giáo dục tài chính quốc gia (NFES). Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tác giả, chỉ ra mức độ tác động của thu nhập lên DTTC là 0.053, lớn nhất

trong tất cả yếu tố, trong khi đó mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn và tuổi tác lần lượt là 0.026 và 0.025. Do đó, chiến lược giáo dục tài chính quốc gia nên chú trọng tập trung vào đối tượng người dân tại vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là những người dân có thu nhập thấp, người nghèo và các tỉnh miền núi. Chiến lược này nên chia làm

các giai đoạn nhỏ, cụ thể là chia làm 2 giai đoạn:

120

- Giai đoạn 1: Giáo dục tài chính cho người nghèo, thu nhập thấp, phụ nữ ở khu

vực nông thôn, và các tỉnh miền núi.

• Phát triển chương trình giáo dục tài chính quốc gia bằng việc phát triển một bộ mô-đun chuẩn cơ bản cho giáo dục tài chính làm nền tảng cho các chương trình đào tạo cụ thể.

• Đề xuất sửa đổi hoặc thiết lập các chính sách và quy định mới của chính phủ để

hỗ trợ chương trình quốc gia.

- Giai đoạn 2: Giáo dục tài chính tổng quát cho tất cả các nhóm dân số thông qua hệ thống giáo dục chính quy thông qua kết hợp giáo dục tài chính như các đơn vị chính thức trong chương trình giảng dạy của các trường từ tiểu học đến trung học và các trường đại học; thành lập các trung tâm đào tạo giáo dục tài chính hoặc các trung tâm hỗ trợ giáo

dục tài chính cho các nhu cầu khác nhau; yêu cầu và thiết lập các dịch vụ giáo dục tài chính cho khách hàng tại các ngân hàng, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.

Các chương trình này nên được thiết kế có sự linh hoạt và có thể được chỉnh sửa lại vào bất kỳ lúc nào khi môi trường bên ngoài thay đổi hoặc để phản ánh sự tiến bộ của quá trình phát triển DTTC. Bên cạnh đó các chương trình này có thể được phát triển kết hợp thông qua các kênh tin tức, các chương trình truyền hình.

Trong khi xây dựng các chương trình đào tạo, các vấn đề sau nên được chú ý:

- Tập trung vào truyền đạt các kiến thức cho người có độ tuổi đủ lớn, nhằm (1) có thể tiếp thu thêm kiến thức từ các vấn đề liên quan đến kiến thức tài chính và giáo dục tài chính; (2) Do kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi tác có tác động tích cực đến DTTC nên những người có tuổi tác đủ lớn tại khu vực nông thôn đang có những tác động tích

cực đến những người khác do ảnh hưởng của tâm lý tập thể.

- Các kiến thức nên được lồng ghép vào các trò chơi để mang tính tương thích cao. Vấn đề này có thể được xây dựng dựa trên các mô hình đào tạo như mô hình “trò chơi

kinh doanh nhỏ”. Trò chơi kinh doanh nhỏ (Micro Business Game) là một hình thức mô phỏng hoạt động kinh doanh một cửa hàng nước trái cây tại một đất nước được gọi là Culiar, với đồng tiền cùng tên. Trò chơi có 4 vòng tương ứng với 4 năm hoạt động kinh doanh. Người học sẽ được cung cấp thông tin về các tình huống giả định về các vấn đề

liên quan đến hoạt động kinh doanh nước trái cây này qua các thẻ Sự kiện, trong đó có các phương án lựa chọn khác nhau. Từng đội chơi sẽ bàn bạc để đưa ra quyết định lựa chọn phương án phù hợp. Tiếp theo các đội chơi được phát thẻ Kết quả để biết được quyết định của mình dẫn đến kết quả như thế nào. Căn cứ vào sự lựa chọn, cùng với dự

121

báo doanh số bán hàng trước đó, trên cơ sở hướng dẫn của giảng viên, các đội chơi tính

toán chi phí, doanh thu và lập báo cáo tài chính cho hoạt động kinh doanh.

Thứ hai, nhà nước nên tổ chức những chương trình tập huấn đào tạo nguồn nhân lực nguồn. Cụ thể là mỗi tỉnh sẽ có những lãnh đạo, chuyên viên được đào tạo về DTTC và nhận thức tầm quan trọng của DTTC đến nền kinh tế quốc gia, từ đó có ý thức về nâng cao DTTC trực tiếp tại tỉnh và địa phương của mình nhằm hiểu rõ tầm quan trọng của DTTC tới nền kinh tế quốc gia. Từ đó, đề xuất ra một khung chương trình đào tạo DTTC cho các tỉnh và địa phương, dựa trên đó mỗi tỉnh và địa phương sẽ có sự thay đổi

linh hoạt để phù hợp với tỉnh và địa phương của mình.

Cụ thể, đối với các chương trình tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực thì có thể

kết hợp các phương pháp sau để tiến hành

- Phối hợp với các tổ chức trên thị trường để giảng dạy cho các đối tượng khác nhau. Cụ thể, trong trường hợp khi đào tạo về kiến thức tài chính, có thể kết hợp thông qua (1) Tổ chức tài chính vi mô; (2) Các trường đại học và học viện có liên quan đến vấn đề tài chính vi mô như Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Ngân hàng, Học viện

Phụ nữ; (3) thông qua các tổ chức như hội Nông dân, hội Phụ nữ; (4) thông qua nhóm ngân hàng có cung cấp dịch vụ tài chính vi mô như Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam… Các tổ chức này sẽ lựa chọn hội viên phù hợp cho các hoạt động của mình, sau đó tiến hành giảng dạy thông

qua các chương trình trực quan về các vấn đề thực tiễn. Như thế, các kiến thức về tài chính sẽ được truyền đạt phù hợp hơn.

- Tạo ra khung chính sách nhất định trong việc hợp tác với các tổ chức khác nhau để phát triển vấn đề này, đặc biệt là các khóa học nhằm nâng cao dân trí tài chính tại các vùng nông thôn thông qua quá trình hợp tác.

Thứ ba, đa dạng các vấn đề đầu tư, và nên nghiên cứu phát triển các hoạt động hiệp hội tín dụng và tín dụng xoay vòng (ROSCA) để giúp người dân phát triển kinh tế,

cũng như đa dạng các khoản đầu tư. Hoạt động này có thể thể hiện thông qua tín dụng bán chính thức như thành lập phường/họ/hụi/biêu tại các các địa phương trong khu vực nông thôn, nhưng trên cơ sở phải đăng ký với cơ sở (ví dụ đăng kí tại ủy ban nhân dân

phường/xã). Các hoạt động này có thể phục vụ cho mô hình kinh doanh nhỏ.

Đối với địa phương

Bên cạnh những chương trình của chính phủ với mục tiêu quốc gia, các địa phương cũng nên có những kế hoạch nhằm cải thiện DTTC của người dân tại địa

phương của mình.

122

Thứ nhất, tổ chức các chương trình đào tạo, các buổi tuyên truyền nhằm nâng cao

DTTC cho địa phương của mình.

- Nên có những chương trình chú trọng vào việc nâng cao DTTC cho những người dân có thu nhập thấp và người nghèo bởi với những đối tượng này việc tiếp cận thông tin còn rất hạn chế.

- Tổ chức những lớp học nhỏ mỗi tuần để có thể phổ cập được kiến thức tài chính đến người dân, là nơi người dân có thể chia sẻ kiến thức cho nhau. Những lớp học nên chia theo các thôn, xóm tập trung vào đối tượng những người có học vấn thấp.

Thứ hai, các địa phương nên phát huy sức mạnh của phương tiện hình ảnh, âm thanh trực tiếp thông qua băng rôn và hệ thống phát thanh, với những thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu. Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm, DTTC có sự tác động rõ ràng tới

thu nhập của người dân tại vùng nông thôn Việt Nam với yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới thu nhập là hành vi tài chính tích cực. Địa phương nên tuyên truyền những thông điệp mang ý nghĩa với thái độ tài chính và hành vi tài chính tích cực, vì thái độ tài chính tốt thì cũng sẽ dẫn tới hành vi tài chính tốt.

Thứ ba, địa phương nên chú trọng vào việc nâng cao DTTC cho nguồn nhân lực có tiềm năng phát triển là những người trẻ tuổi thông qua các chương trình định hướng, đào tạo về tài chính. Vì những người này sẽ trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế của địa phương và tạo ra được những giá trị gia tăng cho địa phương của mình.

Việc nâng cao DTTC cho đối tượng này là một trong những yếu tố góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Thứ tư, từ ngày 05/04/2019, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP về họ, hụi, biêu, phường

đã có hiệu lực, khắc phục được nhiều khoảng trống pháp lý của Nghị định định 144/2006/NĐ-CP, cụ thể là Nghị định này đã quy định khá chi tiết về nguyên tắc tổ chức họ; điều kiện làm thành viên, chủ họ; gia nhập, rút khỏi họ; văn bản thỏa thuận về họ; thứ tự lĩnh họ, lãi suất; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của thành viên, chủ họ.

Tuy nhiên trên thực tế việc buông lỏng quản lý và thiếu nắm bắt thông tin kịp thời của chính quyền địa phương cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến nhiều sự việc đáng tiếc như vỡ họ, vỡ hụi xảy ra. Cùng đó, công tác tuyên truyền, cảnh báo để người dân cảnh giác

cũng chưa được chú trọng. Do vậy, các địa phương nên có phương án tuyên truyền thông tin về quy định phường, họ, hụi trong nhân dân để người dân có thể tiếp cận được nguồn thông tin chính xác và tin cậy, hạn chế việc người dân tìm đến tín dụng đen và các chủ hụi có mục đích xấu cũng ít đất sống hơn. Để làm được điều này, địa phương phải xây

dựng những phương án, khung chương trình để có thể quản lý và năm bắt thông tin kịp

123

thời, đồng thời cũng kiểm soát tốt các phường, họ, hụi đang hoạt động trên địa bàn địa

phương mình.

Thứ năm, công nghệ thông tin cần phải được phổ biến rộng rãi hơn ở khắp các khu vực nông thôn Việt Nam. Người dân có thể tiếp cận các thông tin và các sản phẩm tài chính hiện đại theo hướng chủ động hơn. Từ đó, có thể bắt kịp xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện đại trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

5.2.2. Nhóm hàm ý về thái độ tài chính

Thái độ tài chính là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên hành vi tài chính, bởi các nghiên cứu đã minh chứng rằng, từ thái độ sẽ có thể hình thành nên các vấn đề khác nhau về hành vi tài chính. Do vậy, nhằm thúc đẩy các vấn đề liên quan đến thái độ tài chính, có thể thực hiện qua các công việc sau đây:

Thứ nhất, sau quá trình đi thực nghiệm tại địa phương, tác giả nhận thấy vấn đề: tại khu vực nông thôn, thái độ của người dân rất thờ ơ về các vấn đề tài chính, đặc biệt là tài chính hiện đại. Vì vậy, cần xây dựng một số chương trình đào tạo, tấp huấn để thay

đổi dần dần thói quen, thái độ của người dân đối với các vấn đề này. Việc này có thể áp dụng một số kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới: cho vay để sử dụng điện thoại thông minh, sau đó áp dụng dần các phương thức thanh toán trên điện thoại, ví dụ gửi tiền tiết kiệm hoặc thanh toán trực tuyến tiền điện. Dựa vào đó, sẽ dần

tạo ra các thói quen sử dụng tài chính chính thức, nhằm thúc đẩy người nghèo tiến tới tiếp cận dịch vụ tín dụng.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về tầm quan trọng của việc

nâng cao DTTC đối với người nghèo tại vùng nông thôn. Các nhà hoạch định chính sách nên phát huy sức mạnh của phương tiện hình ảnh, âm thanh trực tiếp thông qua băng rôn và hệ thống phát thanh, với những thông điệp ngắn gọn, dễ hiểu và mở rộng hơn nữa các kênh truyền thông hiện đại về các thông tin, tin tức tài chính. Ngoài ra, việc

truyền thông tại địa phương này còn có thể cho người dân cơ hội được tiếp cận gần hơnvới các sản phẩm tài chính mới, từ đó nâng cao kiến thức tài chính và thay đổi thái độ của người dân đối với những sản phẩm mới này.

Thứ ba, chú trọng vào tính hiệu quả và dễ sử dụng khi xây dựng các chương trình, sản phẩm tài chính. Tập trung đa dạng hóa các dịch vụ, sản phẩm tài chính cho các đối tượng có trình độ DTTC khác nhau tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Thứ tư, là các bộ, ban, ngành nên hợp tác với nhau, cùng với các tổ chức tài chính

trong nước và quốc tế để lên các chương trình phù hợp với đặc điểm của Việt Nam nhằm

124

phổ biến những kiến thức về tài chính và các gói tài chính cho người dân, để người dân

có cơ hội tiếp cận gần hơn với những sản phẩm tài chính hiện đại.

5.2.3. Nhóm hàm ý về hành vi tài chính

Hành vi tài chính là một trong những nhóm nhân tố có tác động trực tiếp lên DTTC.

Do đó, để tăng DTTC từ đó tăng thu nhập cho người dân khu vực nông thôn, có thể thực hiện các hoạt động sau đây:

Thứ nhất, tăng thói quen tiết kiệm với người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam.

Hiện tại, các chương trình hỗ trợ của Ngân hàng Chính sách xã hội và một số tổ chức tài chính vi mô đã không yêu cầu người dân tham gia tiết kiệm bắt buộc mà chuyển thành tiết kiệm tự nguyện. Tuy nhiên, để duy trì thói quen tiết kiệm thì nên hỗ trợ thành lập các họ/hụi/phường/biêu dựa trên nền tảng của các tổ tiết kiệm. Việc này sẽ thúc đẩy

được khả năng để dành tiền trong tương lai của người nghèo và việc chi tiêu cũng sẽ phù hợp hơn do người dân giám sát lẫn nhau.

Thứ hai, đối với quy mô tiết kiệm, thành viên gửi số tiền tiết kiệm nhỏ định kỳ

hàng tháng. Mức gửi hàng tháng là 50.000 đồng. Mức gửi hàng tuần là 20.000 đồng. Mức gửi hàng quý là 150.000 đồng. Người vay có thể cam kết đóng số tiền bắt buộc hàng tháng cao hơn, tuy nhiên phải đảm bảo số tiền tối thiểu là 50.000 đồng/tháng hoặc 20.000 đồng/tuần, 150.000 đồng/quý. Hoạt động này có thể kết hợp với hoạt động hình

thành các Hiệp hội tín dụng và tiết kiệm xoay vòng để có thể phát triển.

Thứ ba, các địa phương nên có phương án hỗ trợ cho vay để đầu tư theo hướng hộ gia đình với những gói vay ưu đãi, kích thích phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt ở

những địa phương phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và làng nghề. Bên cạnh đó, việc này cũng tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vay vốn hợp pháp đa dạng, thuận tiện, đơn giản hơn, hạn chế việc người dân tìm đến nguồn tín dụng đen không hợp pháp. Hoạt động này sẽ thúc đẩy hành vi tài chính tích cực của người dân trong việc tiếp cận

nguồn vốn hợp pháp.

Thứ tư, trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện tại, cần quan tâm hơn nữa đến việc phát triển các hoạt động liên quan đến công nghệ tài chính, nhất là ở khu vực nông thôn

Việt Nam. Không thể phủ nhận những lợi ích về quản lý tài chính mà này đang hỗ trợ cho người dân. Công nghệ đang đơn giản hóa lĩnh vực tài chính, mang lại nhiều lựa chọn hơn cho người tiêu dùng. Theo đó, những giao dịch hay hoạt động tài chính chuyển tiền, đầu tư, thanh toán cá nhân và vay tiền ngân hàng… đều có thể được thực hiện qua thiết

bị di động thông minh. Trên thực nghiệm khi tác giả đi thu thập bảng hỏi, tỷ lệ người dân tiếp cận và sử dụng các ứng dụng thanh toán điện tử, hay dùng thẻ ATM chiếm tỷ

125

lệ rất nhỏ, nguyên nhân này có thể là do thông tin của người dân còn hạn chế, dẫn đến

việc tiếp cận đến những hoạt động liên quan đến công nghệ tài chính còn gặp rất nhiều khó khăn, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi tài chính của người dân. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách hay địa phương nên có những phương án nhằm tăng những nguồn thông tin về các dịch vụ tài chính để người dân có thể dễ dàng tiếp cận nguồn thông tin đúng, giúp cải thiện hành vi tài chính cá nhân và bắt kịp xu thế trong thời đại công nghiệp 4.0.

5.3. Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1 Hạn chế của đề tài

Nghiên cứu đã chỉ ra được các kết quả như trên nhưng do thời gian và nguồn tài

chính hạn hẹp nên vẫn còn những hạn chế như sau:

Thứ nhất, kích thước mẫu nghiên cứu là 512 quan sát có thể hiện được một số khía cạnh nhưng chưa bao hàm được tất cả các đặc điểm của tổng thể người dân tại vùng

nông thôn Việt Nam. Cụ thể, dữ liệu chưa thể hiện được sự tương quan của một số nhân tố nhân khẩu học như giới tính, việc làm. Đặc biệt, nghiên cứu này chưa đánh giá được tính tác động của vùng miền lên DTTC.

Thứ hai, nghiên cứu sẽ tốt hơn nếu trong thời gian tương lai tác giả đưa được các

biến kiểm soát vào mô hình. Hiện tại, dưới sự phát triển của các mạng công nghiệp 4.0 thì vấn đề liên quan đến Fintech cũng đang được nghiên cứu. Trong tương lai, hướng nghiên cứu này có thể còn được mở rộng.

Thứ ba, thu nhập được đo lường bởi tác giả là thu nhập theo cá nhân; nên sẽ có một số vấn đề sẽ chưa được thể hiện rõ ràng. Một số chuyên gia khi phỏng vấn sâu cho rằng, ở trong các hộ gia đình khi từ 2 người có thu nhập trở lên thì việc chi tiêu sẽ khác biệt so với việc chi tiêu cho cá nhân, từ đó dẫn đến các hành vi tài chính sẽ theo xu

hướng khác cần được phân tích thêm.

Thứ tư, nghiên cứu này đang tập trung vào người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam, nên bỏ qua các nhóm đối tượng khác: (1) người sắp nghỉ hưu hoặc cần kế hoạch

hưu trí; (2) đối tượng cận nghèo hoặc bản thân không nghèo nhưng đang nằm trong hộ nghèo do có người phụ thuộc; (3) khu vực thành thị. Do vậy, trong thời gian tới, nếu có thể đánh giá dân trí tài chính của các nhóm đối tượng này thì sẽ là một hướng đi phù hợp. Đối với nghiên cứu về người nghèo, hiện tại luận án đang tiếp cận nghèo dưới góc

độ thu nhập, nên chưa đánh giá dưới góc độ nghèo đa chiều. Thêm vào đó, đánh giá tác

126

động của DTTC lên thu nhập cần phải có thu nhập theo thời gian (thu nhập kỳ trước tác

động lên kỳ sau).

Cuối cùng, DTTC là một lĩnh vực mới, còn ít các nghiên cứu đi trước tại Việt Nam, và cũng mang tính chất liên ngành nên việc đưa ra hàm ý chính sách cụ thể đối với từng vùng rất khó. Do đó, việc nghiên cứu tại các khu vực nhỏ hơn (ví dụ, theo các khu vực kinh tế, thậm chí từng xã) cần được đưa ra trong thời gian tới.

5.3.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo

Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC và đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm thuyết phục thể hiện DTTC có ảnh hưởng lên thu nhập. Các nghiên cứu sau này có thể phát triển dựa trên những ý tưởng sau:

- Nghiên cứu có thể mở rộng mẫu lớn hơn và đa dạng hơn nhằm đánh giá chặt chẽ cũng như bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến DTTC, nhóm yếu tố phản ánh DTTC và ảnh hưởng của DTTC lên thu nhập.

- Nghiên cứu có thể mở rộng phân tích sâu hơn về các hướng ảnh hưởng của Kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính dựa trên các mô hình lý thuyết trước đó.

- Nghiên cứu có thể mở rộng thời gian nhằm đánh giá hiệu quả của các biến trễ trong mô hình cũng như hiệu quả lâu dài của DTTC lên thu nhập người dân khu vực

nông thôn.

- Nghiên cứu mở rộng các đối tượng khác nhau trong nền kinh tế, ví dụ như người

sắp về hưu, người nghèo tại thành thị hoặc các đối tượng có người phụ thuộc.

- Nghiên cứu các vấn đề về nghèo đa chiều trong DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. Đồng thời, đối với đánh giá của DTTC cần có dữ liệu theo thời gian để biết được cụ thể tác động.

127

KẾT LUẬN

“Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam” là luận án tiến sĩ thuộc ngành Tài chính – Ngân hàng, tiếp cận theo trường phái Washington Concencus (Đồng thuận Washington) đồng thời tiếp cận theo hướng sinh kế bền vững và tài chính

toàn diện (financial inclusion).

Với việc sử dụng cách tiếp cận đa ngành, đồng thời quan điểm DTTC bao hàm 3 khía cạnh là kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính; luận án đã đánh

giá được tác động của nhân tố phản ánh lên DTTC. Kiến thức tài chính được tách ra thành 2 nhóm: nhóm kiến thức về tiết kiệm và nhóm kiến thức về sử dụng tiền. Đây là một trong những bằng chứng thực nghiệm cho thấy: muốn nâng cao dân trí tài chính thì cần thay đổi cả thói quen tiết kiệm và tiêu dùng của người dân. Luận án cũng đưa ra

đánh giá DTTC đến thu nhập của người dân dựa trên quan điểm về vốn con người. Đây là một trong những đóng góp về mặt lý luận nhằm kết hợp nhiều ngành nghiên cứu để đưa ra bằng chứng về tác động của DTTC lên thu nhập, cũng như đánh giá tác động của

sinh kế bền vững lên cuộc sống của người dân khu vực nông thôn.

Đối với các nhân tố ảnh hưởng lên DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam, chỉ có trình độ học vấn, tuổi tác và thu nhập thực sự có ý nghĩa thống kê, còn các nhân tố không tác động bao gồm tôn giáo, dân tộc (thông qua phỏng vấn sâu); việc

làm và giới tính (thông qua kết quả của mô hình). Đồng thời, kết quả luận án cũng cho thấy: DTTC có tác động tích cực đến thu nhập của người nghèo. Tuy nhiên, R2 của mô hình không cao nên muốn nâng cao thu nhập của người nghèo thì cần phải có những

biện pháp khác (như thể chế, về cải thiện cơ sở hạ tầng…). Từ các nhân tố tác động đến DTTC và các nhân tố phản ánh, luận án đưa ra một số hàm ý chính sách để nâng cao đồng thời kiến thức tài chính thông qua tiết kiệm (như hướng dẫn sử dụng các khoản tiết kiệm nhỏ), chi tiêu (hướng dẫn sử dụng nguyên lý cơ bản của tài chính thông qua trò

chơi tài chính), thái độ tài chính và hành vi tài chính.

128

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Bùi Kiên Trung, Phạm Bích Liên, Khúc Thế Anh (2019), “Các nhân tố tác động đến tiếp cận dịch vụ tài chính qua ngân hàng số: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 261, trang 20 – 29.

2. Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên, Bùi Kiên Trung (2020), “Nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 272, trang 42 – 51.

3. Khúc Thế Anh (2017), “Phát triển một số khía cạnh dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt Nam thông qua ngân hàng chính sách xã hội”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia Ngân hàng chính sách xã hội 15 năm một chặng đường, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.

4. Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên (2019), "Tài chính xanh và tín dụng đen dưới góc

độ dân trí tài chính", Tạp chí Ngân hàng, số đặc biệt 2019.

5. Khúc Thế Anh, Đặng Anh Tuấn (2017), "Khảo sát ban đầu các nhân tố tác động đến dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt Nam", Tạp chí Ngân hàng, ISSN 0866-7462.

6. Khúc Thế Anh, Đặng Anh Tuấn (2018), "Dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt

Nam", Tạp chí Ngân hàng, số 2 tháng 1/2018.

7. Đặng Anh Tuấn, Khúc Thế Anh (2018), "Khảo sát về dân trí tài chính tại các quỹ tín dụng nhân dân khu vực nông thôn Việt Nam", Hội thảo Phát triển nguồn nhân lực tại tổ chức tín dụng hợp tác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Nhà xuất

8.

bản Lao động. Phung Thanh Quang, Khuc The Anh (2018), “Demographic Factors Affecting the Level of Financial Literacy in Ruaral Areas: the Case of Vietnam”, Studies of the Cultural and Bioethical Aspects of Life in Contemporary Asia, ISBN 978-83-8019-

858-6.

9. Khuc The Anh, Pham Bich Lien, Bui Kien Trung (2019), “Income and financial literacy of the poor in vietnam’s rural areas”, 2nd Internatioanl Conference on Contemporary Issues In Economics, management and business, National economics university publishing house.

129

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

4. ADB, A. D. B. (1999), Fighting Poverty in Asia and the Pacific: The Poverty

Reduction Strategy of the Asian Development Bank, Asian Development Bank,

5. Agarwal, S., D. John, G. Xavier và L. David (2009), 'The Age of Reason:

Financial Decisions over the Life-Cycle and Implications for Regulation',

Brookings Papers on Economic Activity Spring, Số 2009,Trang: 51-117.

6. Ajzen, H. và M. Fishbein (1980), Understanding attitudes and predicting social

behavior, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall,

7. Ajzen, I. (1991), 'The theory of planned behavior', Organizational behavior

human decision processes, Số 50(2),Trang: 179-211.

8. Albeerdy, M. I. và B. Gharleghi (2015), 'Determinants of the financial literacy

among college students in Malaysia', International Journal of Business

Administration, Số 6(3),Trang: 15-24.

9. Alessie, R., L. Annamaria và V. R. Maarten (2008), Financial Literacy,

Retirement Planning, and Household Wealth, NBER Working Paper,

10. Almenberg, J. và J. Säve-Söderbergh (2011), 'Financial literacy and retirement

planning in Sweden', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang:

585-598.

11. Ansong, A. và M. A. Gyensare (2012), 'Determinants of university working-

students' financial literacy at the University of Cape Coast, Ghana', International

Journal of Business Management, Số 7(9),Trang: 126-133.

12. Armitage, D. R., R. Plummer, F. Berkes, R. I. Arthur, A. T. Charles, I. J.

Davidson-Hunt, A. P. Diduck, N. C. Doubleday, D. S. Johnson và M. Marschke

(2009), 'Adaptive co‐management for social–ecological complexity', Frontiers in

Ecology the Environment, Số 7(2),Trang: 95-102.

13. Arrow, K. J. (1969), 'The organization of economic activity: issues pertinent to

the choice of market versus nonmarket allocation', Economica, Số 1,Trang: 59-

73.

14. Ashley, C. và D. Carney (1999), Sustainable livelihoods: Lessons from early

experience, Department for International Development London,

130

15. Atkinson, A., S. McKay, S. Collard và E. Kempson (2007), 'Levels of financial

capability in the UK', Public Money Management, Số 27(1),Trang: 29-36. 16. Atkinson, A. và F.-A. Messy (2011), 'Assessing financial literacy in 12 countries:

an OECD/INFE international pilot exercise', Journal of Pension Economics

Finance, Số 10(4),Trang: 657-665.

17. Atkinson, A. và F.-A. Messy (2012), Measuring Financial Literacy: Results of

the OECD/ International Network on Financial Education (INFE) Pilot Study,

OECD Publishing,

18. Audretsch, D. B. và M. P. Feldman (1996), 'R&D spillovers and the geography of

innovation and production', The American economic review, Số 86(3),Trang:

630-640.

19. Bagić, D. (2011), Financial literacy in Bosnia and Herzegovina: Analytical

report, World Bank,

20. Baker, H. K. và V. Ricciardi (2014), Investor behavior: The psychology of

financial planning and investing, John Wiley & Sons,

21. Banks, J. và Z. Oldfield (2007), 'Understanding pensions: Cognitive function,

numerical ability and retirement saving', Fiscal studies, Số 28(2),Trang: 143-170. 22. Basu, S. (2005), Financial literacy and the life cycle, Financial Planning

Association, Washington, DC,

23. Beal, D. J. và S. B. Delpachitra (2003), 'Financial literacy among Australian

university students', Economic Papers: A journal of applied economics policy,

Số 22(1),Trang: 65-78.

24. Beck, T., A. Demirgüç-Kunt và R. Levine (2007), 'Finance, inequality and the

poor', Journal of economic growth, Số 12(1),Trang: 27-49.

25. Benjamin, D. và L. Brandt (2004), Agriculture and income distribution in rural

Vietnam under economic reforms: a tale of two regions, World Bank,

26. Bhushan, P. và Y. Medury (2013), 'Gender differences in investment behaviour

among employees', Asian Journal of Research in Business Economics

Management, Số 3(12),Trang: 147-157.

27. Bosworth, C. E. (1994), The History of the Saffarids of Sistan and the Maliks of

Nimruz, Mazda Publisher,

131

28. Brennan, P. (1998), 'Personal finance education: What employees need and want

to know', Personal Finance Worker Productivity, Số 2(1),Trang: 68-74. 29. Brown, M. và R. Graf (2013), 'Financial literacy and retirement planning in

Switzerland', Numeracy, Số 6(2),Trang: 2-23.

30. Bucher-Koenen, T. và A. Lusardi (2011), 'Financial literacy and retirement

planning in Germany', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang:

565-584.

31. Bumcrot, C. B., J. Lin và A. Lusardi (2011), The geography of financial literacy,

RAND Working Paper Series No. WR-893-SSA,

32. Calamato, M. P. (2010), 'Learning financial literacy in the family', MsC, Đại học

San José State University.

33. Calvert, R. (2005), Insights and methods for 4D reservoir monitoring and

characterization, Society of Exploration Geophysicists and European

Association of Geoscientists & Engineers,

34. Campbell, J. Y. (2006), 'Household finance', The journal of finance, Số

61(4),Trang: 1553-1604.

35. Chambers, R. và G. Conway (1992), Sustainable rural livelihoods: practical

concepts for the 21st century, Institute of Development Studies (UK),

36. Chase, S. E. (2005), Narrative inquiry: Multiple lenses, approaches, voices,

Thousand Oaks, CA, : Sage Publications Ltd,

37. Chen, H. và R. P. Volpe (1998), 'An analysis of personal financial literacy among

college students', Financial services review, Số 7(2),Trang: 107-128.

38. Chen, H. và R. P. Volpe (2002), 'Gender differences in personal financial literacy

among college students', Financial services review, Số 11(3),Trang: 289-307.

39. Cherian, J. và J. Jacob (2013), 'Impact of self efficacy on motivation and

performance of employees', International Journal of Business and Management,

Số 8,Trang: 80-88.

40. Chính phủ (2015), Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát

triển nông nghiệp nông thôn.

41. Christelis, D., T. Jappelli và M. Padula (2010), 'Cognitive abilities and portfolio

choice', European Economic Review, Số 54(1),Trang: 18-38.

132

42. Collins, J. M. và C. M. O’rourke (2010), 'Financial education and counseling—

Still holding promise', Journal of Consumer Affairs, Số 44(3),Trang: 483-498.

43. Collins, J. M. (2012), 'Financial advice: A substitute for financial literacy?',

Financial services review, Số 21(4),Trang: 307 - 322.

44. Courchane, M. và P. Zorn (2005), Consumer literacy and credit worthiness,

Proceedings, Federal Reserve Bank of Chicago,

45. Cronbach, L. J. (1951), 'Coefficient alpha and the internal structure of tests',

Psychometrika, Số 16(3),Trang: 297-334.

46. Crossan, D., D. Feslier và R. Hurnard (2011), 'Financial literacy and retirement

planning in New Zealand', Journal of Pension Economics Finance, Số

10(4),Trang: 619-635.

47. Cục thống kê tỉnh Thái Bình (2018), Niên giám Thống kê tỉnh Thái Bình năm

2018, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.

48. Cutler, N. E. và S. J. Devlin (1996), 'Financial literacy 2000', Journal of Financial

Service Professionals, Số 50(4),Trang: 32-42.

49. De Clercq, B., K. Van Leeuwen, W. Van Den Noortgate, M. De Bolle và F. De

Fruyt (2009), 'Childhood personality pathology: Dimensional stability and

change', Development psychopathology, Số 21(3),Trang: 853-869.

50. Demirguc-Kunt, A., L. Klapper, D. Singer và P. Van Oudheusden (2015), The

global findex database 2014: Measuring financial inclusion around the world,

The World Bank,

51. Dew, J. (2008), 'Debt change and marital satisfaction change in recently married

couples', Family Relations, Số 57(1),Trang: 60-71.

52. Dey, M. và M. Prein (2004), Increasing and sustaining the productivity of fish

and rice in the flood-prone ecosystems in South and Southeast Asia.

53. DfID (1999), Sustainable livelihoods guidance sheets, DFID, London. 54. Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018), Quản lý tài chính cá nhân và

khởi nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.

55. Dinh, V. và H. Nguyen (2017), 'Financial literacy level of students in Vietnam',

Kỷ yếu hội thảo: International Conference Proceedings: Promoting financial

inclusion in Vietnam, Hanoi.

133

56. Do, H. (2017), 'Financial Literacy and Retirement Planning in Vietnam', VNU

Journal of Science: Policy Management Studies, Số 33(2),Trang: 1-12.

57. Durbin, J. và G. S. Watson (1951), 'Testing for serial correlation in least squares

regression. II', Biometrika, Số 38(1/2),Trang: 159-177.

58. Faboyede, O. S., E. Ben-Caleb, B. Oyewo và A. Faboyede (2015), 'Financial

literacy education: key to poverty alleviation and national development in

Nigeria', European Journal Accounting Auditing Finance Research, Số

3(1),Trang: 20-29.

59. Fama, E. F. (1998), 'Market efficiency, long-term returns, and behavioral finance',

Journal of financial economics, Số 49(3),Trang: 283-306.

60. Filmer, D. và L. Pritchett (1999), 'The effect of household wealth on educational

attainment: evidence from 35 countries', Population development review, Số

25(1),Trang: 85-120.

61. Finke, M. S., J. S. Howe và S. J. Huston (2017), 'Old age and the decline in

financial literacy', Management Science, Số 63(1),Trang: 213-230.

62. Fishbein, M. và I. Ajzen (1975), Attributes, Attitude, Intention, and Behavior: An

Introduction to Theory and Research, MA, Addison-Wesley, Reading, 63. Fisher, T. và D. Hostland (2002), 'The Long View: Labour Productivity, Labour

Income and Living Standards in Canada', The Review of Economic Performance

Social Progress, Số 2,Trang: 57-68.

64. Fox, J., S. Bartholomae và J. Lee (2005), 'Building the case for financial

education', Journal of Consumer Affairs, Số 39(1),Trang: 195-214.

65. Friedman, M. (1957), 'The permanent income hypothesis', Trong A theory of the

consumption function, Princeton University Press, trang 20-37.

66. Furnham, A. (1984), 'Many sides of the coin: The psychology of money usage',

Personality Individual Differences, Số 5(5),Trang: 501-509.

67. Garber, G. và S. M. Koyama (2016), Policy-effective financial knowledge and

attitude factors, Banco Central do Brasil (working paper),

68. Glaser, M. và M. J. B. f. I. Weber, corporations, (2010), Overconfidence, John

Wiley & Sons, Inc., USA.

134

69. Godwin, D. D. và D. D. Carroll (1986), 'Financial management attitudes and

behaviour of husbands and wives', Journal of Consumer Studies Home

Economics, Số 10(1),Trang: 77-96.

70. Godwin, D. D. và J. C. Koonce (1992), 'Cash flow management of low-income

newlyweds', Financial Counseling Planning, Số 3(1),Trang: 17-42.

71. Godwin, D. D. (1994), 'Antecedents and consequences of newlyweds' cash flow

management', Financial Counseling Planning, Số 5,Trang: 161-190.

72. Grohmann, A., T. Klühs và L. Menkhoff (2018), 'Does financial literacy improve

financial inclusion? Cross country evidence', World Development, Số 111,Trang:

84-96.

73. Gujarati, D. N. và D. C. Porter (2003), Basic econometrics (ed.), McGraw-HiII,

New York.

74. Hair, J. J. F., G. T. M. Hult, C. Ringle và M. Sarstedt (2016), A primer on partial

least squares structural equation modeling (PLS-SEM), Sage publications, 75. Hanushek, E. A. và L. Woessmann (2009), Schooling, cognitive skills, and the

Latin American growth puzzle, National Bureau of Economic Research 76. Hastings, J. và O. S. Mitchell (2020), 'How financial literacy and impatience shape

retirement wealth and investment behaviors', Journal of Pension Economics

Finance, Số 19(1),Trang: 1-20.

77. Hathaway, I. và S. Khatiwada (2008), Do financial education programs work?,

FRB of Cleveland Working Paper No. 08-03,

78. Hayhoe, C. R., L. Leach và P. R. Turner (1999), 'Discriminating the number of

credit cards held by college students using credit and money attitudes', Journal

of economic psychology, Số 20(6),Trang: 643-656.

79. Herdjiono, I. và L. A. Damanik (2016), 'Pengaruh financial attitude, financial

knowledge, parental income terhadap financial management behavior', Journal

of Theory Applied Management, Số 9(3).

80. Hilgert, M. A., J. M. Hogarth và S. G. Beverly (2003), 'Household financial

management: The connection between knowledge and behavior', Federal

Reserve Bulletin, Số 89,Trang: 309-322.

135

81. Holzmann, R. (2010), Bringing financial literacy and education to low and middle

income countries: The need to review, adjust, and extend current wisdom, World

Bank,

82. Huston, S. (2010), 'Measuring financial literacy', Journal of Consumer Affairs,

Số 44(2),Trang: 296-316.

83. Jones, C. I. và J. C. Williams (2000), 'Too much of a good thing? The economics

of investment in R&D', Journal of economic growth, Số 5(1),Trang: 65-85.

84. Jonubi, A. và S. Abad (2013), 'The impact of financial literacy on individual

saving: an exploratory study in the Malaysian context', Transformations in

Business Economics, Số 12(1),Trang: 41-55.

85. Kahneman, D. và A. Tversky (1981), On the study of statistical intuitions,

STANFORD UNIV CA DEPT OF PSYCHOLOGY,

86. Khúc Thế Anh và Đặng Anh Tuấn (2017), 'Khảo sát ban đầu các nhân tố tác động

đến Dân trí tài chính khu vực nông thôn Việt Nam', Tạp chí Ngân hàng, Số Số

chuyên đề 2017,Trang: 109-113.

87. Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên và Bùi Kiên Trung (2020), 'Nhân tố tác động đến

dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam', Kinh tế & Phát

triển, Số 272,Trang: 42-51.

88. Kim, J. (2007), 'Workplace financial education program: Does it have an impact

on employees' personal finances?', Journal of Family Consumer Sciences, Số

99(1),Trang: 43-47.

89. Kimball, M. và T. Shumway (2006), Investor sophistication, and the

participation, home bias, diversification, and employer stock puzzles,

Unpublished Manuscript, University of Michigan,

90. Klapper, L., A. Lusardi và P. Van Oudheusden (2015), Financial literacy around

the world, World Bank, nWashington DC.

91. Klump, R. và T. Bonschab (2004), Operationalising pro-poor growth: a country

case study on Vietnam, estudio preparado para el programa OPPG,

92. Kuhnen, C. M. và B. Knutson (2011), 'The influence of affect on beliefs,

preferences, and financial decisions', Journal of Financial Quantitative Analysis,

Số 46(3),Trang: 605-626.

136

93. Lau, L. J., D. T. Jamison, S.-C. Liu và S. Rivkin (1993), 'Education and economic

growth Some cross-sectional evidence from Brazil', Journal of development

economics, Số 41(1),Trang: 45-70.

94. Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu (2015), 'Tác động của di cư trong nước

đến giảm nghèo ở Việt Nam', Kinh tế và Phát triển, Số 212,Trang: 47-53. 95. Lê Quốc Hội và Nguyễn Thị Hoài Thu (2018), 'Tác động của di cư trong nước

đến giảm nghèo thông qua chuyển dịch cơ cấu lao động và thay đổi vốn nhân lực

ở Việt Nam', Kinh tế và Phát triển, Số 258,Trang: 2-11.

96. Lê Thanh Tâm (2013), Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt

Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, Hà

Nội.

97. Lê Thanh Tâm (2015), 'Các trường phái cung cấp tài chính vi mô – Lý thuyết gốc

và thực nghiệm tại Việt Nam', Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Số 218,Trang: 2-10. 98. Ledgerwood, J. (1998), Microfinance handbook: An institutional and financial

perspective, The World Bank,

99. Ledgerwood, J., J. Earne và C. Nelson (2013), The new microfinance handbook:

A financial market system perspective, The World Bank,

100. Lee, J.-W. và H. Lee (2018), 'Human capital and income inequality', Journal of

the Asia Pacific Economy, Số 23(4),Trang: 554-583.

101. Levy, H. (2010), Cumulative prospect theory: Tests using the stochastic

dominance approach, John Wiley & Sons, USA.

102. Li, H., Z. Liu và I. Rebelo (1998), 'Testing the neoclassical theory of economic

growth: evidence from Chinese provinces', Journal of Economics of Planning,

Số 31(2-3),Trang: 117-132.

103. Louw, J., J. Fouché và M. Oberholzer (2013), 'Financial literacy needs of South

African third-year university students', International Business Economics

Research Journal, Số 12(4),Trang: 439-450.

104. Lucas, R. E. J. (1988), 'On the mechanics of economic development', Journal of

monetary Economics, Số 22(1),Trang: 3-42.

137

105. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2007), 'Baby boomer retirement security: The roles

of planning, financial literacy, and housing wealth', Journal of monetary

Economics, Số 54(1),Trang: 205-224.

106. Lusardi, A. và O. S. Mitchelli (2007), 'Financial literacy and retirement

preparedness: Evidence and implications for financial education', Journal of

Business economics, Số 42(1),Trang: 35-44.

107. Lusardi, A. (2008), Financial literacy: an essential tool for informed consumer

choice?, National Bureau of Economic Research Working Paper No. 14084, 108. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2008), 'Planning and financial literacy: How do

women fare?', American Economic Review, Số 98(2),Trang: 413-417.

109. Lusardi, A., O. S. Mitchell và C. Vilsa (2010), 'Financial literacy among the

young', Journal of Consumer Affairs, Số 44(2),Trang: 358-380.

110. Lusardi, A., P.-C. Michaud và O. S. Mitchell (2011a), Optimal financial literacy

and saving for retirement, Wharton School Pension Research Council Working

Paper WP2011-20,

111. Lusardi, A. và O. Mitchell (2011a), 'Financial literacy and retirement planning in

the United States', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang: 509-

525.

112. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2011b), Financial literacy and planning:

Implications for retirement wellbeing, National Bureau of Economic Research, 113. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2011c), The outlook for financial literacy, National

Bureau of Economic Research,

114. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2011d), 'Financial literacy around the world: an

overview', Journal of Pension Economics Finance, Số 10(4),Trang: 497-508.

115. Lusardi, A., D. J. Schneider và P. Tufano (2011b), Financially fragile households:

Evidence and implications, National Bureau of Economic Research.

116. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2014), 'The economic importance of financial

literacy: Theory and evidence', Journal of economic literature, Số 52(1),Trang:

5-44.

138

117. Lusardi, A. và P. Tufano (2015), 'Debt literacy, financial experiences, and

overindebtedness', Journal of Pension Economics Finance, Số 14(4),Trang: 332-

368.

118. Lusardi, A., P.-C. Michaud và O. S. Mitchell (2017), 'Optimal financial

knowledge and wealth inequality', Journal of Political Economy, Số

125(2),Trang: 431-477.

119. Lusardi, A. và O. S. Mitchell (2017), 'How ordinary consumers make complex

economic decisions: Financial literacy and retirement readiness', Quarterly

Journal of Finance, Số 7(03),Trang: 1750008.

120. Mai, N. T. T., K. Smith và J. R. Cao (2009), 'Measurement of modern and

traditional self-concepts in Asian transitional economies', Journal of Asia-Pacific

Business, Số 10(3),Trang: 201-220.

121. Mai, N. T. T. và S. K. Tambyah (2011), 'Antecedents and Consequences of Status

Consumption among Urban Vietnamese Consumers', Organizations Markets in

Emerging Economies, Số 2(1),Trang: 75-98.

122. Mandell, L. và L. S. Klein (2007), 'Motivation and financial literacy', Financial

services review, Số 16(2),Trang: 105-116.

123. Mandell, L. và L. S. Klein (2009), 'The impact of financial literacy education on

subsequent financial behavior', Journal of Financial Counseling Planning, Số

20(1),Trang: 15-24.

124. Mankiw, N. G., D. Romer và D. N. Weil (1992), 'A contribution to the empirics

of economic growth', The quarterly journal of economics, Số 107(2),Trang: 407-

437.

125. Markow, D. và K. Bagnaschi (2005), What American teens & adults know about

economics, National Council on Economic Education.

126. Mason, C. L. và R. Wilson (2000), Conceptualising financial literacy, ©

Loughborough University,

127. MCCEECDYA, M. C. f. E. E. C. D. Y. A. (2011), Aboriginal and Torres Strait

Islander Education Action Plan 2010-2014, MCCEECDYA,

139

128. Meier, S. và C. D. Sprenger (2013), 'Discounting financial literacy: Time

preferences and participation in financial education programs', Journal of

Economic Behavior Organization, Số 95,Trang: 159-174.

129. Mien, N. T. N. và T. P. Thao (2015), 'Factors affecting personal financial

management behaviors: evidence from vietnam', Kỷ yếu hội thảo: Proceedings of

the Second Asia-Pacific Conference on Global Business, Economics, Finance and

Social Sciences (AP15Vietnam Conference), 10-12/07/2015.

130. Miller, M., N. Godfrey, B. Levesque và E. Stark (2009), The case for financial

literacy in developing countries: Promoting access to finance by empowering

consumers, World Bank, DFID, OECD CGAP Joint Note, Washington, DC. 131. Mincer, J. (1958), 'Investment in human capital and personal income distribution',

Journal of Political Economy, Số 66(4),Trang: 281-302.

132. Mincer, J. (1974), Schooling, Experience, and Earnings. Human Behavior &

Social Institutions No. 2, National Bureau of Economic Research, New York.

133. Modigliani, F. và R. Brumberg (1954), 'Utility analysis and the consumption

function: An interpretation of cross-section data', Post-keynesian economics, Số

1(1),Trang: 388-436.

134. Monticone, C. (2010), 'How much does wealth matter in the acquisition of

financial literacy?', Journal of Consumer Affairs, Số 44(2),Trang: 403-422. 135. Moock, P. R., H. A. Patrinos và M. Venkataraman (2003), 'Education and

earnings in a transition economy: the case of Vietnam', Economics of education

review, Số 22(5),Trang: 503-510.

136. Moore, D. L. (2003), Survey of financial literacy in Washington State:

Knowledge, behavior, attitudes, and experiences, Washington State Department

of Financial Institutions,

137. Morduch, J. (1999), 'The microfinance promise', Journal of economic literature,

Số 37(4),Trang: 1569-1614.

138. Morgan, P. J. và L. Q. Trinh (2017), Determinants and impacts of financial

literacy in Cambodia and Viet Nam, ADBI Working Paper,

139. Mottola, G. R. (2013), 'In our best interest: Women, financial literacy, and credit

card behavior', Numeracy, Số 6(2),Trang: 1-15.

140

140. Nanziri, E. L. và M. Leibbrandt (2018), 'Measuring and profiling financial literacy

in South Africa', Journal of Economic Management Sciences, Số 21(1),Trang: 1-

17.

141. Nghiem, S., T. Coelli và P. Rao (2012), 'Assessing the welfare effects of

microfinance in Vietnam: Empirical results from a quasi-experimental survey',

Journal of Development studies, Số 48(5),Trang: 619-632.

142. Nguyễn Đình Thọ (2013), Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học trong

kinh doanh, NXB Tài chính, Hà Nội.

143. Nguyễn Kim Anh, Lê Thanh Tâm và Ngô Văn Thứ (2014), Tài chính vi mô tại

Việt nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách, Nhà xuất bản Giao thông Vận

tải, Hà Nội.

144. Nguyễn Kim Anh, Lê Thanh Tâm, Ngô Văn Thứ và Nguyễn Thị Tuyết Mai

(2017), Microfinance versus Poverty Reduction in Vietnam-Diagnostic Test and

Comparison, Transportation Publisher, Hanoi.

145. Nguyen, N. N. (2004), Trends in the education sector, World Bank, 146. Nguyễn Thị Hoa (2009), 'Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu

của Việt Nam đến năm 2015', Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân. 147. Nguyễn Thu Thủy (2016), 'Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tiềm năng khởi

sự kinh doanh của sinh viên đại học', Luận án Tiến kĩ kinh tế, Đại học Đại học

Kinh tế Quốc dân.

148. Nguyễn Thừa Hỷ (2000), Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 149. Nguyễn Văn Thắng (2014), Giáo trình Thực hành nghiên cứu trong Kinh tế và

Quản trị Kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

150. Nguyen, Y. T. H. (2017), Evaluate Financial Literacy of Vietnamese Students in

Higher Education and Its Determinants–The need of Financial Education,

Vietnam Economist Annual Meeting, Hanoi.

151. Nicolini, G., B. J. Cude và S. Chatterjee (2013), 'Financial literacy: A comparative

study across four countries', International Journal of Consumer Studies, Số

37(6),Trang: 689-705.

152. Noctor, M., S. Stoney và R. Stradling (1992), Financial Literacy, National

Foundation for Educational Research, Slough, NFER,

141

153. North, D. C. (1994), 'Economic performance through time', The American

economic review, Số 84(3),Trang: 359-368.

154. Norvilitis, J. M. và M. G. MacLean (2010), 'The role of parents in college

students’ financial behaviors and attitudes', Journal of economic psychology, Số

31(1),Trang: 55-63.

155. Nunnally, J. C. (1994), Psychometric theory 3E, Tata McGraw-Hill Education, 156. OECD (2009), Financial Literacy and Consumer Protection: Overlooked Aspects

of the Crisis, OECD,

157. OECD (2013), Improving financial education effectiveness through behavioural

economics: OECD key findings and way forward, OECD Publishing,

158. OECD (2015), OECD/INFE Toolkit for Measuring Financial Literacy and

Financial Inclusion, OECD Publishing,

159. Patrinos, H. A., P. V. Thang và N. D. Thanh (2018), The economic case for

education in Vietnam, The World Bank,

160. Perry, V. G. và M. D. Morris (2005), 'Who is in control? The role of self‐

perception, knowledge, and income in explaining consumer financial behavior',

Journal of Consumer Affairs, Số 39(2),Trang: 299-313.

161. Phạm Bích Liên (2016), 'Phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín

dụng Việt Nam', Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.

162. Phùng Thanh Quang và Khúc Thế Anh (2018), Demographic Factors affecting

the level of Financial Literacy in Rural Areas: The case of Vietnam,

Wydawnictwo Adam Marszlek, Warszawska.

163. Potrich, A. C. G., K. M. Vieira và G. Kirch (2015), 'Determinants of financial

literacy: Analysis of the influence of socioeconomic and demographic variables',

Revista Contabilidade Finanças, Số 26(69),Trang: 362-377.

164. Rebelo, S. J. J. o. p. E. (1991), 'Long-run policy analysis and long-run growth',

Journal of Political Economy, Số 99(3),Trang: 500-521.

165. Reise, S. P., N. G. Waller và A. L. Comrey (2000), 'Factor analysis and scale

revision', Psychological assessment, Số 12(3),Trang: 287-297.

166. Research, R. M. (2008), Survey of adult financial literacy in Australia, ANZ

Banking Group,

142

167. Robb, C. A., P. Babiarz và A. Woodyard (2012), 'The demand for financial

professionals' advice: The role of financial knowledge, satisfaction, and

confidence', Financial services review, Số 21(4),Trang: 291-305.

168. Romer, P. M. (1990), 'Endogenous technological change', Journal of Political

Economy, Số 98(5, Part 2),Trang: S71-S102.

169. Schagen, S. và A. Lines (1996), Financial literacy in adult life: a report to the

Natwest Group Charitable Trust, NFER,

170. Scheresberg, C. B. (2013), 'Financial literacy and financial behavior among young

adults: Evidence and implications', Numeracy, Số 6(2),Trang: 1-21.

171. Schuhen, M. và S. Schürkmann (2016), 'Construct validity with structural

equation modelling', Trong International Handbook of Financial Literacy,

Springer, trang 383-396.

172. Schultz, T. W. (1961), 'Investment in human capital', The American economic

review, Số 51(1),Trang: 1-17.

173. Scoones, I. (1998), Sustainable rural livelihoods: a framework for analysis, IDS

Working Paper 72, Brighton: IDS.,

174. Scott, S. và T. T. K. Chuyen (2004), Behind the numbers: social mobility, regional

disparities, and new trajectories of development in rural Vietnam, Insitution of

Southeast Asia Studies, Singapore.

175. Sekar, M. và M. Gowri (2015), 'A study on financial literacy and its determinants

among generation Y employees in Coimbatore city', Great Lakes Herald, Số

9(1),Trang: 35-45.

176. Sen, A. (1976), 'Poverty: An ordinal approach to measurement', Econometrica:

Journal of the Econometric Society, Số 44,Trang: 219-231.

177. Servon, L. J. và R. Kaestner (2008), 'Consumer financial literacy and the impact

of online banking on the financial behavior of lower‐income bank customers',

Journal of Consumer Affairs, Số 42(2),Trang: 271-305.

178. Shakya, Y. B. và K. N. Rankin (2008), 'The politics of subversion in development

practice: an exploration of microfinance in Nepal and Vietnam', The Journal of

Development Studies, Số 44(8),Trang: 1214-1235.

143

179. Sheldon, K. M. và T. J. J. o. p. Kasser (1995), 'Coherence and congruence: Two

aspects of personality integration', Journal of personality social psychology, Số

68(3),Trang: 531-543.

180. Shim, S., B. L. Barber, N. A. Card, J. J. Xiao và J. Serido (2010), 'Financial

socialization of first-year college students: The roles of parents, work, and

education', Journal of youth adolescence, Số 39(12),Trang: 1457-1470. 181. Sinha, S. (2018), 'Gender digital divide in India: Impacting women’s participation

in the labour market', Trong Reflecting on India’s development, Springer, trang

293-310.

182. Smit, B. và J. Wandel (2006), 'Adaptation, adaptive capacity and vulnerability',

Global environmental change, Số 16(3),Trang: 282-292.

183. Solesbury, W. (2003), Sustainable livelihoods: A case study of the evolution of

DFID policy, Overseas Development Institute London,

184. Stango, V. và J. Zinman (2009), 'What do consumers really pay on their checking

and credit card accounts? Explicit, implicit, and avoidable costs', American

Economic Review, Số 99(2),Trang: 424-429.

185. Taft, M. K., Z. Z. Hosein, S. M. T. Mehrizi và A. Roshan (2013), 'The relation

between financial literacy, financial wellbeing and financial concerns',

International Journal of Business Management, Số 8(11),Trang: 63-75.

186. Tallman, E. W. và P. Wang (1994), 'Human capital and endogenous growth

evidence from Taiwan', Journal of monetary Economics, Số 34(1),Trang: 101-

124.

187. Tang, C. F. và B. W. Tan (2015), 'The impact of energy consumption, income and

foreign direct investment on carbon dioxide emissions in Vietnam', Energy, Số

79,Trang: 447-454.

188. Thái Phúc Thành (2014), 'Vai trò của vốn con người trong giảm nghèo bền vững

ở Việt Nam', Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân.

189. Thanh Du (2016), Vỡ hụi trăm tỷ đồng ở Thanh Hóa: Vay ngân hàng góp hụi vì

lãi suất cao, soạn), http://giadinh.net.vn/phap-luat/vo-hui-tram-ty-dong-o-thanh-

hoa-vay-ngan-hang-gop-hui-vi-lai-suat-cao-20160427070850449.htm.

144

190. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành

chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.

191. Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Tác động của vốn con người đối với

tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành phố Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế

Quốc dân, Hà Nội.

192. Tran, T. Q., T. Q. Nguyen, H. Van Vu và T. T. Doan (2017), 'Religiosity and

subjective well-being among old people: evidence from a transitional country',

Applied Research in Quality of Life, Số 12(4),Trang: 947-962.

193. Trần Xuân Cầu (2013), Giáo trình Kinh tế Nguồn Nhân lự, Nhà xuất bản Đại học

Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

194. Tversky, A. và D. Kahneman (1974), 'Judgment under uncertainty: Heuristics and

biases', Science, Số 185(4157),Trang: 1124-1131.

195. Tversky, A. và D. Kahneman (1979), 'Prospect theory: An analysis of decision

under risk', Econometrica: Journal of the Econometric Society, Số 47(2),Trang:

263-291.

196. Upadhyay, M. P. (1994), 'Accumulation of human capital in LDCs in the presence

of unemployment', Economica, Số 61(243),Trang: 355-378.

197. Uppal, S. (2016), Financial literacy and retirement planning, Statistics Canada, 198. Vitt, L. và C. Anderson (2000), Personal finance and the rush to competence:

Financial literacy in the US Middleburg, Institute for Socio-Financial Studies.

http://www.isfs.org/repfinliteracy.pdf,

199. Vitt, L. A. (2004), 'Consumers’ financial decisions and the psychology of values',

Journal of Financial Services Professionals, Số 9,Trang: 68-77.

200. Vũ Thị Hoài Thu (2013), 'Sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu:

Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nam Định', Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh

tế Quốc dân.

201. Watts, H. W. (1968), An Economic Definition of Poverty in Moynhihan, Basic

Books New York,

202. Willis, L. E. (2008), 'Against financial-literacy education', Iowa L. Rev., Số

94,Trang: 197-285.

145

203. World Bank (2014), Responsible Finance in Vietnam, International Finance

Corporation.

204. World Bank (2015), Diagnostic review of consumer protection and financial

literacy: volume 1, World Bank,

205. World Bank (2019), Drivers of Socio-Economic Development Among Ethnic

Minority Groups in Vietnam, The International Bank for Reconstruction and

Development / The World Bank Group, USA.

206. Worthington, A. C. (2004), The distribution of financial literacy in Australia,

School of Economics and Finance, Queensland University of Technology,

Discussion Paper No 185, November 2004

207. Xiao, J. J. (2008), 'Applying behavior theories to financial behavior', Trong

Handbook of consumer finance research, Springer, trang 69-81.

208. Yin, R. K. (2015), Qualitative research from start to finish, Guilford publications,

New York.

209. Yoshino, N., P. Morgan và G. Wignaraja (2015), Financial education in Asia:

Assessment and recommendations, ADBI Working Paper 534,

210. Zhan, M. (2006), 'Assets, parental expectations and involvement, and children's

educational performance', Children Youth Services Review, Số 28(8),Trang: 961-

975.

211. Zhang, Z. (1996), 'Summary of a symposium on nongovernmental basic

education', Chinese Education Society, Số 29(5),Trang: 73-80.

146

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC SỐ 1: BẢNG HỎI VÀ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN SÂU

CHUYÊN GIA VỀ LỰA CHỌN TỪ NGỮ KHI CHUYỂN VỀ TIẾNG VIỆT

GS. TS. Nguyễn Văn Nam, Nguyên hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Địa điểm phỏng vấn: Văn phòng làm việc

Thời gian phỏng vấn: 30 phút (bao gồm vấn đề này và các vấn đề khác)

Câu hỏi: Thưa chuyên gia, trong quá trình dịch thuật và chuyển thuật ngữ “financial

literacy” về tiếng Việt, thì nên dùng thuật ngữ nào? Khái niệm này, chúng tôi chỉ nghiên

cứu trong phạm vi người dân khu vực nông thôn, và bao hàm 3 yếu tố là thái độ tài

chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính.

Trả lời: Nếu đã bao hàm 3 khái niệm về thái độ, kiến thức và hành vi, thì tôi cho

rằng nên dịch từ này là dân trí tài chính, bởi tác giả còn chỉ hướng tới đối tượng nghiên

cứu là người dân khu vực nông thôn. Khái niệm Dân trí cũng đã được đề cập nhiều trong

các văn bản khác nhau của nhà nước, cũng như của báo chí và truyền thông, do đó, tôi

cho rằng văn bản này nên dùng chữ Dân trí.

PGS. TS. Nguyễn Thị Bất, Nguyên trưởng bộ môn Lý thuyết tài chính tiền tệ và

Tài chính công, trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Địa điểm phỏng vấn: Nhà riêng

Thời gian phỏng vấn: 52 phút (bao gồm vấn đề này và các vấn đề khác)

Câu hỏi: Thưa chuyên gia, trong quá trình dịch thuật và chuyển thuật ngữ “financial

literacy” về tiếng Việt, thì nên dùng thuật ngữ nào? Khái niệm này, chúng tôi chỉ nghiên

cứu trong phạm vi người dân khu vực nông thôn, và bao hàm 3 yếu tố là thái độ tài

chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính.

Trả lời: Liên quan đến hiểu biết của cá nhân thì có rất nhiều cách dịch khác nhau,

ví dụ như dân trí, hiểu biết, kỹ năng, am hiểu… Tuy nhiên, nếu tác giả chỉ nghiên cứu

về cá nhân, và cho rằng thuật ngữ “financial literacy” bao hàm 3 khái niệm trên thì thì

tôi cho rằng nên dùng thuật ngữ “dân trí”, bởi bao hàm khái niệm người dân và khái

niệm trí tuệ cũng như khả năng sử dụng trí tuệ.

147

TS. Đinh Thị Thanh Vân, Phó trưởng khoa Tài chính Ngân hàng, Trường đại học

Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

Địa điểm phỏng vấn: Văn phòng làm việc

Thời gian phỏng vấn: 38 phút (bao gồm vấn đề này và các vấn đề khác)

Câu hỏi: Thưa chuyên gia, trong quá trình dịch thuật và chuyển thuật ngữ “financial

literacy” về tiếng Việt, thì nên dùng thuật ngữ nào? Khái niệm này, chúng tôi chỉ nghiên

cứu trong phạm vi người dân khu vực nông thôn, và bao hàm 3 yếu tố là thái độ tài

chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính.

Trả lời: Quan điểm của tôi thì hiểu biết tài chính là khái niệm phù hợp trong trường

hợp này, bởi có hiểu biết thì sẽ có thái độ phù hợp và những hành vi hành động hợp lý.

Và khái niệm hiểu biết có thể dùng được cho cả doanh nghiệp nữa. Tuy nhiên, nếu dịch

là dân trí thì cũng là phù hợp, nếu tác giả chỉ sử dụng khái niệm này trong trường hợp

nghiên cứu về người dân của khu vực nông thôn Việt Nam.

TS. Phạm Bích Liên – NHTM cổ phần Bưu điện Liên Việt

Địa điểm phỏng vấn: Quán café.

Thời gian phỏng vấn: 42 phút (bao gồm vấn đề này và các vấn đề khác)

Câu hỏi: Thưa chuyên gia, trong quá trình dịch thuật và chuyển thuật ngữ “financial

literacy” về tiếng Việt, thì nên dùng thuật ngữ nào? Khái niệm này, chúng tôi chỉ nghiên

cứu trong phạm vi người dân khu vực nông thôn, và bao hàm 3 yếu tố là thái độ tài

chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính.

Trả lời: Tôi cho rằng nên sử dụng thuật ngữ “am hiểu tài chính”, bởi một số khái

niệm này có được bộ Tài chính sử dụng. Tuy nhiên, khi tôi tìm hiểu thì khái niệm trên

chỉ bao hàm vấn đề liên quan đến kiến thức của người dân thuộc các khu vực mà thôi.

Do đó, nếu tác giả cho rằng nội hàm của “financial literacy” bao gồm 3 vấn đề trên thì

có thể sử dụng một thuật ngữ khác phù hợp hơn.

PGS. TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Giám đốc Viện nghiên cứu Khoa học Ngân hàng,

Học viện Ngân hàng

Địa điểm phỏng vấn: Văn phòng làm việc

148

Thời gian phỏng vấn: 30 phút (bao gồm vấn đề này và các vấn đề khác)

Câu hỏi: Thưa chuyên gia, trong quá trình dịch thuật và chuyển thuật ngữ “financial

literacy” về tiếng Việt, thì nên dùng thuật ngữ nào? Khái niệm này, chúng tôi chỉ nghiên

cứu trong phạm vi người dân khu vực nông thôn, và bao hàm 3 yếu tố là thái độ tài

chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính.

Trả lời: Literacy được hiểu là khả năng biết đọc, biết viết và sử dụng các vấn đề có

liên quan, nên có thể sử dụng cách hiểu là Dân trí. Ngoài ra, vì dân trí còn hướng đến

việc sử dụng các kỹ năng học được từ trên thị trường. Vì vậy, tác giả hoàn toàn có thể

sử dụng khái niệm dân trí tài chính để hiểu trong vấn đề này.

149

PHỤ LỤC SỐ 2: DÀN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU CHUYÊN GIA

Thông tin cá nhân người được phỏng vấn:

- Họ và tên: - Giới tính: - Tuổi: - Trình độ học vấn: - Công việc hiện tại:

Phần 1: Nhận định về dân trí tài chính (DTTC)

Theo anh/chị, tại sao DTTC tại Việt Nam nói chung và DTTC của người nghèo 1.

tại vùng nông thôn vẫn còn là một trong những đề tài và chủ đề mới và còn ít nghiên

cứu mặc dù là một trong những chỉ số được quan tâm trên thế giới?

Theo anh/chị, những nghiên cứu về DTTC trước đây trên thế giới và Việt Nam 2.

còn những hạn chế nào?

Trong các nghiên cứu trên thế giới thường chấm điểm DTTC theo ba điểm số: 3.

Kiến thức tài chính, hành vi tài chính, thái độ tài chính. Bộ ba nhân tố này có thể áp

dụng với thực trạng nền kinh tế Việt Nam hay không?

Có những nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến DTTC của một cá nhân nói chung 4.

và người nghèo tại vùng nông thôn Việt Nam nói riêng?

Các sản phẩm tài chính của Việt Nam hiện tại đang được phát triển từ phía cung 5.

(tức là cung cấp và giới thiệu các sản phẩm tài chính). Trong khi một số quốc gia phát

triển và xuất hiện nhiều trong các nghiên cứu về DTTC lại đi theo hướng ngược lại (Nhu

cầu sử dụng sản phẩm tài chính rồi mới phát triển sản phẩm tài chính?. Điều này có ảnh

hưởng như thế nào đến DTTC?

DTTC của người nghèo khu vực nông thôn và thu nhập có thật sự có quan hệ hai 6.

chiều (thu nhập ảnh hưởng lên DTTC và DTTC ảnh hưởng đến thu nhập) hay không?

Đo lường thu nhập của người nghèo tại nông thôn Việt Nam theo cách nào là hợp 7.

lí, chuẩn xác? Giải pháp cho trường hợp người dân giấu thu nhập (thường là giảm bớt

đi)?

150

Phần 2: Nhận định về bảng hỏi của nhóm nghiên cứu

1. Trong bài nghiên cứu về DTTC của người nghèo tại nông thôn, nên chọn khu

vực địa phương có những đặc điểm gì để có thể mang tính tổng quát? Có sự khác biệt

giữa DTTC giữa các miền không? (Miền Bắc, miền Trung, miền Nam)

2. Khi đo lường DTTC của người nghèo tại một khu vực, nên chọn đối tượng theo

nơi cư trú hay theo hộ khẩu? Ở nông thôn có một đặc điểm là số lượng lớn người đến

độ tuổi trưởng thành di cư đi nơi khác làm việc, vì thế nếu không bao gồm nhóm đối

tượng này thì mẫu sẽ không còn chuẩn (do số lượng người trưởng thành giảm đi đáng

kể). Nên giải quyết vấn đề này như thế nào?

3. Bộ các nhân tố (6 nhân tố) ảnh hưởng lên DTTC của người nghèo khu vực nông

thôn mà nhóm nghiên cứu đưa ra đã thật sự phù hợp với Viêt Nam chưa? Anh/chị có

góp ý gì thêm vào các nhân tố này để hoàn thiện hơn mô hình của nhóm nghiên cứu hay

không?

4. (Lưu ý: Trình độ giáo dục, Việc làm, Thu nhập, Tuổi tác, Giới tính, Chủng tộc.

Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ không phân tích và nghiên

cứu về ảnh hưởng của chủng tộc lên DTTC, vì tại Việt Nam khác biệt về chủng tộc rất

ít)

5. Trình độ giáo dục: Trình độ giáo dục ở nông thôn có sự phân hóa mạnh mẽ. Có

ảnh hưởng tới kết quả và mô hình không?

6. Tín dụng đen: Họ, hụi, phường và các hình thức tương tự ở nông thôn là tiêu cực

hay tích cực? Có tác động lên DTTC không?

7. Các cách chia khoảng thu nhập, học vấn và độ tuổi trong bảng hỏi khảo sát đã

hợp lí với việc nghiên cứu ở nông thôn Việt Nam hay chưa?

8. Nhóm nghiên cứu dự định sẽ chấm điểm DTTC dựa trên 3 yếu tố trên. Theo anh/

chị, 3 nhân tố này đã đầy đủ hay chưa? Trọng số của mỗi nhân tố đã chính xác chưa?

9. Những nội dung câu hỏi đưa ra trong nghiên cứu đã phù hợp với nền kinh tế Việt

Nam hay chưa?

151

PHỤ LỤC SỐ 3: BẢNG HỎI KHẢO SÁT CÁC VẤN ĐỀ VỀ DÂN TRÍ TÀI

CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO TẠI VÙNG NÔNG THÔN VIỆT NAM

Kính chào anh/chị.

Chúng tôi là nhóm nghiên cứu đến từ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, hiện đang

nghiên cứu đề tài “Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt

Nam”, nhằm kiểm định những bằng chứng thực nghiệm của người dân tại vùng nông

thôn nói riêng, từ đó mở rộng ra Việt Nam nói chung. Để thực hiện được thành công

nghiên cứu này, chúng tôi rất mong muốn có được sự giúp đỡ của các anh/chị thông qua

việc trả lời bảng hỏi.

Chúng tôi cam kết rằng, thông tin của các anh chị sẽ được giữ kín, và chỉ phục vụ

cho nghiên cứu này.

Các ý kiến trong bảng hỏi này không có đúng hay sai, mà chỉ mang tính chất đánh

giá của riêng các anh chị.

PHẦN 1: THÔNG TIN CHUNG

Họ và tên: ..................................................................................................

Giới tính:

□ Nam □ Nữ □ Khác

Tuổi: .....................................................................................................

Tình trạng hôn nhân:

□ Đã kết hôn □ Chưa kết hôn

Trình độ học vấn:

□ Dưới Tiểu học (Biết đọc biết viết)

□ Tiểu học/Trung học Cơ sở

□ Trung học Phổ thông

□ Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề

□ Cao đẳng và Đại học

□ Sau Đại học

Nghề nghiệp:

□ Lĩnh vực công nghiệp

□ Lĩnh vực đào tạo

152

□ Lĩnh vực kỹ thuật

□ Lĩnh vực nông nghiệp

□ Lĩnh vực quản lý hành chính

□ Lĩnh vực tài chính – ngân hàng

□ Lĩnh vực y tế

□ Sinh viên

□ Lĩnh vực khác

Số năm kinh nghiệm trong nghề:

□ 0 – 3 năm

□ 3 – 5 năm

□ 5 – 10 năm

□ Trên 10 năm

Thu nhập trung bình tháng của anh/chị là bao nhiêu?

(Lưu ý: Thu nhập hàng tháng ở đây được tính là bao gồm tất cả các khoản từ

tiền lương các công việc chính, tiền lương các công việc ngoài giờ, tiền thưởng, tiền

công; nguồn thu thời vụ; tiền trợ cấp người thân, trợ cấp từ Chính phủ ...)

□ 0 – 500.000 đồng

□ 500.000 – 1.000.000 đồng

□ 1.000.000 – 3.000.000 đồng

□ 3.000.000 – 5.000.000 đồng

□ 5.000.000 – 10.000.000 đồng

□ Trên 10.000.000 đồng

Chi tiêu bình quân hàng tháng của anh/chị là bao nhiêu?

(Lưu ý: Chi tiêu bình quân bao gồm các khoản chi thiết yếu (điện, nước, ăn

uống...); các khoản chi cho mục tiêu dài hạn (xây nhà, mua đồ đạc trong nhà...); các

khoản chi đầu tư phát triển (đi học cho con cái...); các khoản chi tiêu phát sinh khác)

...........................................................................................................................................

...........................................................................................................................................

...........................................................................................................................................

Số thành viên trong gia đình anh/chị? .................................................................

Trong đó, số thành viên có thu nhập hàng tháng?..............................................

153

(Lưu ý: Thu nhập hàng tháng ở đây được tính là bao gồm tất cả các khoản từ

tiền lương các công việc chính, tiền lương các công việc ngoài giờ, tiền thưởng, tiền

công; nguồn thu thời vụ; tiền trợ cấp người thân, trợ cấp từ Chính phủ, việc đổi công

quy ra tiền công nếu đi làm ngoài...)

Gia đình anh/chị có bao nhiêu thế hệ sống với nhau?

□ Nhiều hơn 3 thế hệ

□ 3 thế hệ (Bố mẹ chủ hộ, Chủ hộ, Con cái chủ hộ)

□ 2 thế hệ (Bố mẹ chủ hộ, Chủ hộ/Chủ hộ, con cái chủ hộ)

□ 1 thế hệ (Chủ hộ)

Anh/chị có sử dụng Internet không?

□ Có □ Không

Nếu có, anh/chị thường sử dụng Internet bao lâu một ngày?

□ Ít hơn 1 giờ

□ 1 – 2 giờ

□ 2 -3 giờ

□ 3 – 5 giờ

□ Nhiều hơn 5 giờ

Mục đích anh chị thường sử dụng Internet làm gì? (Ví dụ: Làm việc, mua

hàng, giải trí...)

...........................................................................................................................

Anh/chị có sử dụng điện thoại thông minh không?

□ Có □ Không

Nếu không, anh/chị có ý định sử dụng điện thoại thông minh trong thời gian

tới không?

□ Có □ Không

Anh chị có sử dụng ATM (máy rút tiền tự động) không?

□ Chưa bao giờ

□ Hiếm khi

□ Thỉnh thoảng

□ Thường xuyên

□ Luôn luôn (1 lần/ ngày trở lên)

154

Anh/chị có sử dụng dịch vụ, ứng dụng thanh toán điện tử không?

□ Chưa bao giờ

□ Hiếm khi

□ Thỉnh thoảng

□ Thường xuyên

□ Luôn luôn (1 lần/ ngày trở lên)

Anh chị có ý định tiếp tục/bắt đầu sử dụng dịch vụ, ứng dụng thanh toán điện

tử trong thời gian tới không?

□ Có □ Không

PHẦN 2: DÂN TRÍ TÀI CHÍNH

1. Thái độ tài chính

Xin anh/ chị hãy khoanh tròn vào ô lựa chọn phù hợp nhất với các ý kiến dưới đây:

STT Chỉ tiêu Không đồng ý Bình thường Đồng ý Hoàn toàn đồng ý Hoàn toàn không đồng ý

1 1 2 3 4 5

Tiết kiệm một phần thu nhập để dành cho các kế hoạch tương lai là việc trong khả năng của tôi

2 1 2 3 4 5

Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình.

3 1 2 3 4 5

4 1 2 3 4 5

Tôi thấy việc chi tiêu theo kế hoạch rất dễ dàng. Tôi sẵn sàng vay tiền (kể cả là lãi suất cao) cho những khoản chi tiêu hàng ngày của tôi.

5 1 2 3 4 5

Kể cả khi không tiết kiệm được thì tôi cũng thấy rằng việc chi tiêu hiện tại là phù

155

hợp.

6 1 2 3 4 5

Tôi cảm thấy khó khăn trong việc tiết kiệm để chi tiêu trong tương lai.

2. Hành vi tài chính

Xin anh/ chị hãy khoanh tròn vào ô lựa chọn phù hợp nhất với các ý kiến dưới đây:

Hoàn Hoàn Đồng Không Bình toàn STT toàn Chỉ tiêu ý không đồng ý thường đồng ý đồng ý

Tôi thường so sánh giá cả 1 3 4 5 2 1 khi mua hàng.

Tôi thường xuyên để lại

một phần tiền kiếm được 2 3 4 5 2 1 hàng tháng cho nhu cầu

cấp bách trong tương lai.

Tôi có những kế hoạch

3 cất giữ tiền mặt lâu dài 1 3 4 5 2

trong nhà.

Tôi luôn xác định đúng

4 tổng số tiền mà tôi phải trả 1 3 4 5 2

khi đi vay.

Tôi thường quyết định

tiêu tiền dựa trên các dự

5 định từ trước như các 1 2 3 4 5

khoản đóng góp hoặc mua

bán hàng hóa thiết yếu.

Hiếm khi tôi phải đi vay 6 1 2 3 4 5 tiền để mua hàng hóa hay

156

đóng góp.

Tôi thường để dành tiền

cho những khoản chi tiêu,

7 phải trả trong thời gian 1 2 3 4 5

trên 1 năm như tiền ăn học

của con cái, tiền trả nợ…

Khi kiếm được nhiều tiền

8 hơn thì tôi cũng để dành 1 2 3 4 5

nhiều tiền hơn.

Trước khi mua sắm hay

đóng góp một khoản gì đó,

9 tôi thường kiểm tra xem 1 2 3 4 5

mình có khả năng trả hay

không.

3. Kiến thức tài chính

Xin Anh/chị chọn phương án đúng nhất cho các câu hỏi dưới đây

Câu 1. Khi đồng tiền càng mất giá (lạm phát tăng) thì tiền mà các anh/chị phải

tiêu hàng ngày cho ăn uống, ngủ nghỉ... sẽ thay đổi như thế nào?

1. Chắc chắn tăng lên.

2. Tăng lên.

3. Giảm đi.

4. Chắc chắn giảm đi.

5. Tôi không chắc chắn.

Câu 2. Giả sử anh/chị vay ngân hàng 100 triệu, sau 1 năm phải trả tất cả 106

triệu. Vậy lãi suất mà ngân hàng tính cho các anh/chị là

1. 0.3%/năm.

2. 6%/năm.

3. 0.6%/năm.

4. 3%/năm.

5. Tôi không chắc chắn.

157

Câu 3. Giả sử anh/chị có 100 triệu đồng, đem đi gửi để hưởng lãi suất 5%/năm.

Sau 2 năm, anh chị đến ngân hàng rút tiền. Anh/chị sẽ nhận được số tiền là

1. Lớn hơn 110 triệu đồng.

2. Nhỏ hơn 110 triệu đồng.

3. Chính xác bằng 110 triệu đồng.

4. Số tiền nhận được phụ thuộc vào điều kiện thị trường (Lãi suất, Lạm phát...).

5. Tôi không chắc chắn.

Câu 4. Một chiếc ti vi với giá 10 triệu. Cửa hàng A: ưu đãi giảm 1,5 triệu. Cửa

hàng B: giảm 10%. Anh/chị chọn mua ở cửa hàng nào?

1. Có thể mua ở cửa hàng A.

2. Chắc chắn mua ở cửa hàng A.

3. Chắc chắn mua ở cửa hàng B.

4. Có thể mua ở cửa hàng B.

5. Tôi không chắc chắn.

Câu 5. Giả sử rằng lãi suất tiền gửi ngân hàng là 6%/1 năm và đồng tiền mất giá

(lạm phát) là 10%/ năm. Sau một năm, khoản tiền này có giá trị như thế nào so với hiện

tại?

1. Chắc chắn nhiều hơn hôm nay.

2. Có thể nhiều hơn hôm nay.

3. Chắc chắn ít hơn hôm nay.

4. Có thể ít hơn hôm nay.

5. Tôi không chắc chắn.

Câu 6. Khi các anh/chị dùng tiền của mình cho nhiều người vay hoặc đầu tư

thành nhiều khoản (với yêu cầu phải có lãi), thì khả năng mất tiền của các anh/chị sẽ:

1. Chắc chắn tăng lên.

2. Có thể thay đổi (tăng lên/giảm xuống) tùy vào điều kiện thị trường.

3. Vẫn giữ không đổi.

4. Chắc chắn giảm xuống.

5. Tôi không chắc chắn.

Câu 7. Giả sử anh/chị được có số tiền 100 triệu vào hôm nay và bạn của anh/chị

có 100 triệu vào 3 năm sau. Nếu xét về giá trị thực tế, thì ai nhận được nhiều hơn (Trường

158

hợp không xảy ra lạm phát)

1. Chắc chắn là bản thân anh/chị.

2. Có thể là bản thân anh/chị (tùy thuộc vào lãi suất thị trường).

3. Chắc chắn là bạn của anh/chị.

4. Chúng tôi nhận được số tiền có giá trị như nhau.

5. Tôi không chắc chắn.

-------------------------------------

CHÚC ANH/CHỊ MỘT NGÀY LÀM VIỆC TỐT ĐẸP.

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN!!!

159

PHỤ LỤC 4: HIỆU CHỈNH BẢNG HỎI ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC

Bảng hỏi này được hiệu chỉnh do kết quả phỏng vấn sâu các chuyên gia sau đây:

- PGS. TS. Nguyễn Thị Bất, chuyên gia Tài chính Công, Đại học Kinh tế Quốc dân; - PGS. TS. Ngô Văn Thứ, chuyên gia định lượng, Đại học Kinh tế Quốc dân; - PGS. TS Phạm Thị Hoàng Anh, chuyên gia tài chính ngân hàng, Học viện Ngân hàng; - TS. Đinh Thị Thanh Vân, chuyên gia tài chính cá nhân, Đại học Kinh tế, Đại học

Quốc gia Hà Nội;

- TS. Nguyễn Đức Hải, chuyên gia tài chính vi mô, Học viện Ngân hàng; - TS. Bùi Kiên Trung, chuyên gia giáo dục, Đại học Kinh tế Quốc dân; - TS. Phạm Bích Liên, chuyên gia Tài chính, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu

Điện Liên Việt;

- ThS. Phan Cử nhân, Chuyên gia Tài chính vi mô, Ngân hàng Chính sách Xã hội; - TS. Nguyễn Tuấn Anh, Viện Nghiên cứu Thanh niên; - TS. Hoàng Văn Cương, Chuyên gia Tài chính Phát triển, Bộ Tài chính.

Bảng 4.1. Hiệu chỉnh các nhân tố nhân khẩu học

Tên biến Trước khi hiệu chỉnh Sau khi hiệu chỉnh

Education

Trình độ giáo dục: - Dưới Tiểu học (Biết đọc

thông biết viết) Trình độ giáo dục: - Biết đọc biết viết - Học vấn phổ

(THCS, THPT)

- Tiểu học/Trung học Cơ sở - Trung học Phổ thông - Trung cấp chuyên nghiệp

và Dạy nghề

- Cao đẳng và Đại học - Sau Đại học - Dạy nghề - Trung cấp chuyên nghiệp - Cao đẳng - Đại học - Trên đại học

Income Thu nhập trung bình tháng Thu nhập trung bình tháng

của anh chị là bao nhiêu? của anh/chị là bao nhiêu?

(Lưu ý: Tổng tất cả các (Lưu ý: Thu nhập hàng tháng

nguồn thu, bao gồm nguồn ở đây được tính là bao gồm tất

160

thu chính, nguồn thu thời vụ, cả các khoản từ tiền lương các

nguồn thu từ những công công việc chính, tiền lương

việc ngoài giờ, nguồn thu từ các công việc ngoài giờ, tiền

trợ cấp người thân ....) thưởng, tiền công; nguồn thu

thời vụ; tiền trợ cấp người

thân, trợ cấp từ Chính phủ, và

kể cả các khoản đổi công...)

Bảng 4.2. Bảng hiệu chỉnh các nhân tố phản ánh

Tên biến Trước khi hiệu chỉnh Sau khi hiệu chỉnh

Tiết kiệm là việc trong khả năng của tôi. A1 Tiết kiệm một phần thu nhập để dành cho các kế hoạch tương lai là việc trong khả

năng của tôi.

A2 Tôi phải dùng đa phần số tiền mà tôi có vào việc mua hàng hóa, đồ ăn cho gia đình.

Tôi thích dùng phần lớn thu nhập vào việc mua hàng, vì (việc này) khiến tôi thấy thích thú.

A3 Tôi thấy việc chi tiêu theo kế hoạch rất dễ dàng Tôi rất dễ dàng lên kế hoạch chi tiêu cho bản thân

A4

Tôi sẵn sàng chi tiền cho những hàng hóa hay công việc quan trọng với tôi. Tôi sẵn sàng vay tiền (kể cả là lãi suất cao) cho những khoản chi tiêu hàng ngày của tôi.

Kể cả khi không tiết kiệm Tôi thích tiêu tiền hơn là phải

tiết kiệm cho tương lai. A5

được thì tôi cũng thấy rằng việc chi tiêu hiện tại là phù hợp

Tôi sẽ để lại 1 phần tiền kiếm Tôi thường xuyên để lại một

B2 được hàng tháng cho nhu cầu cấp bách trong tương lai

phần tiền kiếm được hàng tháng cho nhu cầu cấp bách trong tương lai.

B3 Tôi có những kế hoạch chi tiêu và lên kế hoạch cất giữ Tôi có những kế hoạch cất giữ tiền mặt lâu dài trong nhà.

tiền trong nhà.

161

B4 Tôi có khả năng xác định tổng tiền mà tôi phải trả nếu Tôi luôn xác định đúng tổng số tiền mà tôi phải trả khi đi vay.

mua chịu hàng hóa

B5 Tôi thường quyết định tiêu tiền dựa trên các dự định từ trước, như ma chay, cưới hỏi, Tôi thường quyết định tiêu tiền dựa trên các dự định từ trước như các khoản đóng góp

các khoản đóng góp hoặc mua bán hàng hóa. hoặc mua bán hàng hóa thiết yếu.

Tôi thường để dành tiền cho những khoản chi tiêu hoặc phải đóng góp, phải trả trong Tôi thường để dành tiền cho những khoản chi tiêu, phải trả trong thời gian trên 1 năm như B7

tiền ăn học của con cái, tiền trả nợ…

thời gian trên 1 năm như tiền ăn học của con cái, tiền trả nợ…

Khi đồng tiền càng mất giá Khi đồng tiền càng mất giá

K1

(lạm phát tăng) thì tiền mà các anh/chị phải tiêu hàng ngày cho ăn uống, ngủ (lạm phát tăng) thì tiền mà các anh/chị phải tiêu hàng ngày cho ăn uống, ngủ nghỉ ... sẽ

nghỉ… tăng lên thay đổi như thế nào?

K3 Giả sử anh/chị có 100 triệu đồng, đem đi gửi để hưởng lãi suất 5%/năm. Vậy khi đến hạn, các anh chị sẽ nhận Giả sử anh/chị có 100 triệu đồng, đem đi gửi để hưởng lãi suất 5%/năm. Sau 2 năm, anh chị đến ngân hàng rút tiền.

được 1 số tiền là bao nhiêu?

Anh/chị sẽ nhận được số tiền là bao nhiêu?

Giả sử anh/chị được có số tiền 100 triệu vào hôm nay và Giả sử rằng lãi suất tiền gửi ngân hàng là 6%/1 năm và

K5

bạn của anh/chị có 100 triệu vào 3 năm sau. Nếu xét về giá trị thực tế, thì ai nhận được nhiều hơn đồng tiền mất giá (lạm phát) là 10%/ năm. Sau một năm, khoản tiền này có giá trị như thế nào so với hiện tại?

Khi các anh/chị dùng tiền của Khi các anh/chị dùng tiền của

K6

mình cho nhiều người vay hoặc đầu tư thành nhiều khoản (với yêu cầu phải có lãi), thì mình cho vay với nhiều người hoặc đầu tư thành nhiều khoản (với yêu cầu

162

phải có lãi), thì khả năng mất tiền của các anh/chị sẽ: khả năng mất tiền của các anh/chị sẽ như thế nào?

Giả sử rằng lãi suất tiền gửi Giả sử anh/chị được có số tiền

ngân hàng là 6%/1 năm và đồng tiền mất giá (lạm phát) là 10%/ năm. Sau một năm, K7 100 triệu vào hôm nay và bạn của anh/chị có 100 triệu vào 3 năm sau. Nếu xét về giá trị

khoản tiền này có giá trị như thế nào so với hiện tại?

thực tế, thì ai nhận được nhiều hơn (Trường hợp không xảy ra lạm phát)

Bảng 4.3. Bảng thang đo

Bảng hỏi này được hiệu chỉnh dựa trên phỏng vấn các chuyên gia sau

- PGS. TS. Ngô Văn Thứ, chuyên gia định lượng, Đại học Kinh tế Quốc dân; - TS. Bùi Kiên Trung, chuyên gia giáo dục, Đại học Kinh tế Quốc dân; - TS. Nguyễn Đăng Tuệ, Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Thưa các chuyên gia, đối với nhóm câu hỏi về đánh giá hiểu biết tài chính, Câu hỏi: 1.

thường có 3 mức là đúng, sai hoặc tôi không biết. Theo các chuyên gia, để phù hợp với

việc chạy các mô hình kinh tế lượng thì nên hiệu chỉnh ra sao?

Trả lời

Đối với các câu hỏi này, người nghiên cứu có thể chỉnh sửa thành thang đo likert 5

cấp độ để phù hợp với mô hình SEM. Cụ thể, đối với câu hỏi “mua hàng hóa ở đâu” thì

có thể hiệu chỉnh thành “chắc chắn mua ở cửa hàng A”, “sẽ mua ở cửa hàng A”, “mua

ở cửa hàng B”, “chắc chắn mua ở cửa hàng B” và “tôi không biết”. Như thế sẽ có bảng

thang đo likert phù hợp để chạy các mô hình kinh tế lượng.

2. Thưa các chuyên gia, đối với mô hình SEM thì có cần chạy tự tương quan

và đa cộng tuyến trong mô hình không?

Trả lời

Không cần thiết, bởi mô hình SEM sẽ tự điều chỉnh nếu có hiện tượng này.

163

PHỤ LỤC SỐ 5. KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ

5.1 Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha các thang đo biến của nghiên cứu sơ bộ

a. Kiến thức tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.705 7

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

.487 .651 K1 22.24 13.766

.317 .696 K2 22.21 15.187

.593 .616 K3 22.48 12.244

.081 .757 K4 22.43 16.953

.623 .626 K5 21.63 14.058

.517 .645 K6 22.04 14.008

.383 .681 K7 21.73 15.903

b. Thái độ tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.725 5

164

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

A1 13.34 9.874 .461 .687

A2 14.07 9.204 .637 .624

A3 13.46 10.020 .460 .688

A4 12.84 9.685 .371 .729

A5 13.60 8.986 .529 .660

c, Hành vi tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.760 9

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

B1 28.76 24.844 .532 .724

B2 28.55 24.315 .581 .715

B3 29.42 35.377 -.387 .854

B4 28.69 24.576 .545 .721

B5 28.84 23.887 .647 .705

B6 28.84 24.950 .487 .730

B7 28.89 24.314 .554 .719

B8 28.65 23.929 .609 .710

B9 28.41 24.279 .624 .710

165

5.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA của Nghiên cứu sơ bộ

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .728

Approx. Chi-Square 5830.366

Bartlett's Test of Sphericity 190 Df

.000 Sig.

Total Variance Explained

Component

Initial Eigenvalues

Extraction Sums of Squared Loadings

Rotation Sums of Squared Loadings

Total

Total

Total % of

% of Variance

Cumulative %

% of Variance

Cumulative %

Cumulative %

Variance

4.239

21.195

21.195

4.239

21.195

21.195

4.167

20.836

20.836

1

3.844

19.220

40.416

3.844

19.220

40.416

2.454

12.272

33.108

2

8.840

49.255

2.318

11.588

44.696

49.255

1.768

3

1.768

8.840

7.672

56.928

2.014

10.068

54.763

56.928

1.534

4

1.534

7.672

5.811

62.739

1.595

7.975

62.739

62.739

1.162

5

1.162

5.811

6

.967

4.833

67.572

7

.848

4.242

71.814

8

.773

3.866

75.680

9

.700

3.502

79.182

10

.617

3.083

82.264

11

.549

2.745

85.010

12

.540

2.700

87.710

13

.460

2.300

90.010

14

.440

2.202

92.212

15

.398

1.990

94.201

16

.339

1.694

95.895

17

.280

1.401

97.296

18

.270

1.349

98.646

19

.199

.997

99.642

20

.072

.358

100.000

Extraction Method: Principal Component Analysis.

166

Rotated Component Matrixa

Component

1 2 3 4 5

B2 .753

B5 .737

B8 .721

B7 .710

B9 .704

B4 .692

B1 .683

B6 .596

B3 -.478

.869 K1

.831 K3

.774 K5

.849 K6

.730 K2

.664 A3

.637 K7

.965 A5

.943 A2

.857 A4

.627 A1

Extraction Method: Principal Component Analysis.

Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.

a. Rotation converged in 6 iterations.

167

5.3. Kết quả Phân tích nhân tố khẳng định CFA của nghiên cứu sơ bộ.

168

PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC

6.1. Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha các thang đo biến của nghiên cứu sơ bộ

a. Kiến thức tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.712 7

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

23.53 13.948 .389 .689 K1

23.07 14.233 .517 .659 K2

23.29 13.475 .518 .654 K3

23.38 15.437 .223 .729 K4

23.20 13.708 .444 .673 K5

23.37 14.331 .451 .672 K6

23.22 14.194 .451 .672 K7

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.729 6

169

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

K1 19.73 11.079 .420 .707

K2 19.28 11.887 .459 .694

K3 19.49 10.994 .499 .681

K5 19.40 10.711 .503 .679

K6 19.57 11.639 .454 .695

K7 19.43 11.497 .456 .694

b. Thái độ tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.834 5

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

A1 14.11 11.367 .507 .832

A2 14.67 10.046 .693 .784

A3 14.33 11.104 .611 .809

A4 14.11 8.670 .726 .774

A5 14.41 9.467 .660 .793

170

c. Hành vi tài chính

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha N of Items

.871 9

Item-Total Statistics

Scale Mean if Scale Variance if Corrected Item-Total Cronbach's Alpha if

Item Deleted Item Deleted Correlation Item Deleted

29.64 30.687 .570 .860 B1

29.57 29.212 .680 .850 B2

29.85 30.924 .568 .860 B3

29.69 29.871 .591 .858 B4

29.85 29.284 .654 .853 B5

29.86 30.807 .495 .867 B6

29.95 29.308 .631 .855 B7

29.67 29.768 .601 .858 B8

29.43 29.804 .676 .851 B9

171

6.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA của Nghiên cứu sơ bộ

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .806

Approx. Chi-Square 3901.069

Bartlett's Test of Sphericity 190 Df

.000 Sig.

Total Variance Explained

Component

Initial Eigenvalues

Extraction Sums of Squared

Rotation Sums of Squared Loadings

Loadings

Total

% of

Cumulative %

Total

% of

Cumulative % Total

% of

Cumulative %

Variance

Variance

Variance

4.528

22.642

22.642

4.528

22.642

22.642

4.502

22.510

22.510

1

3.581

17.907

40.550

3.581

17.907

40.550

3.047

15.233

37.743

2

2.046

10.229

50.778

2.046

10.229

50.778

2.172

10.861

48.604

3

1.334

6.669

57.447

1.334

6.669

57.447

1.769

8.843

57.447

4

.966

4.830

62.277

5

.883

4.415

66.692

6

.841

4.203

70.895

7

.769

3.846

74.741

8

.671

3.357

78.098

9

.571

2.856

80.954

10

.557

2.785

83.739

11

.551

2.754

86.494

12

.419

2.095

88.588

13

.397

1.987

90.575

14

.373

1.867

92.443

15

.358

1.791

94.233

16

.321

1.607

95.840

17

.312

1.559

97.399

18

.277

1.387

98.785

19

.243

1.215

100.000

20

Extraction Method: Principal Component Analysis.

172

Rotated Component Matrixa

Component

1 2 3 4

.766 B2

.757 B9

.748 B5

.725 B7

.698 B8

.691 B4

.670 B1

.662 B3

.592 B6

.838 A4

.812 A2

.800 A5

.730 A3

.658 A1

.844 K5

.706 K1

.644 K3

.625 K2

.883 K6

.855 K7

Extraction Method: Principal Component Analysis.

Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.

a. Rotation converged in 5 iterations.

173

6.3 Kết quả Phân tích nhân tố khẳng định CFA của nghiên cứu chính thức

174

175

6.4. Kết quả hồi quy tuyến tính OLS tác động của các nhân tố tác động lên DTTC

Descriptive Statistics

Mean

Std. Deviation N

DTTC

3.76

.479

512

Gender

.38

.487

512

AGE

44.42

11.970

512

INCOME

3.89

1.506

512

EDUCATIO

4.06

1.337

512

N

Correlations

DTTC Gender

AGE

INCOME EDUCATION

DTTC

1.000

-.014

.545

.214

.191

Gender

-.014

1.000

-.049

-.073

.000

AGE

.545

-.049

1.000

.150

.131

Pearson Correlation

INCOME

.214

-.073

.150

1.000

.203

EDUCATIO

.191

.000

.131

.203

1.000

N

DTTC

.

.376

.000

.000

.000

Gender

.376

.

.135

.050

.498

AGE

.000

.135

.

.000

.002

Sig. (1-tailed)

INCOME

.000

.050

.000

.

.000

EDUCATIO

.000

.498

.002

.000

.

N

DTTC

512

512

512

512

512

Gender

512

512

512

512

512

AGE

512

512

512

512

512

N

INCOME

512

512

512

512

512

EDUCATIO

512

512

512

512

512

N

176

Model Summaryb

Model R R Square Adjusted Std. Error Change Statistics Durbi

R Square of the n- R F df df2 Sig. F

Estimate Watso Square Chang 1 Chang

n Change e e

1 .570a .325 .320 .395 .325 60.980 4 507 .000 1.705

a. Predictors: (Constant), EDUCATION, Gender, AGE, INCOME

b. Dependent Variable: DTTC

ANOVAa

Model Sum of df Mean Square F Sig.

Squares

Regression 38.151 60.980 .000b 4 9.538

507 .156 1 Residual 79.300

511 Total 117.451

a. Dependent Variable: DTTC

b. Predictors: (Constant), EDUCATION, Gender, AGE, INCOME

177

Coefficientsa

Model Unstandardized Standardize t Sig. Collinearity

d Coefficients Statistics

Coefficient

s

B Std. Error Beta Toleran VIF

ce

(Constant) 2.545 .088 29.037 .000

Gender .019 .036 .020 .537 .591 .993 1.007

13.87 AGE .021 .001 .515 .000 .965 1.036 4 1 INCOM .038 .012 .118 3.138 .002 .939 1.065 E

EDUCA .036 .013 .099 2.647 .008 .948 1.055 TION

a. Dependent Variable: DTTC

Collinearity Diagnosticsa

Mod Dime Eigenvalu Condition Variance Proportions

rel nsion e Index (Constan Gender AGE INCO EDUCATIO

t) ME N

1 4.230 1.000 .00 .02 .00 .01 .00

2 .572 2.720 .00 .94 .00 .01 .00

1 3 .095 6.664 .01 .01 .06 .92 .15

4 .074 7.571 .02 .00 .36 .01 .69

5 .029 12.183 .97 .03 .57 .05 .15

a. Dependent Variable: DTTC

178

Residuals Statisticsa

Minimum Maximum Mean Std. Deviation N

Predicted Value 3.08 4.41 3.76 .273 512

Residual -1.372 1.361 .000 .394 512

Std. Predicted -2.476 2.388 .000 1.000 512 Value

Std. Residual -3.470 3.442 .000 .996 512

a. Dependent Variable: DTTC

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hoá

179

Biểu đồ phần dư chuẩn hóa trong Normal P – P Plot

Biểu đồ phân tán Scatter Plot

180

Mô hình SEM

181

6.5. Kết quả hồi quy tuyến tính OLS tác độn g của DTTC lên thu nhập

Model Summaryb

Std. Error of the

R R Square Adjusted R Square Estimate

1 .305a .093 .091 1.435

a. Predictors: (Constant), DTTC

b. Dependent Variable: INCOME

ANOVAa

Sum of

Squares Model df Mean Square F Sig.

1 Regression 107.793 1 107.793 52.331 .000b

Residual 1050.511 510 2.060

Total 1158.305 511

a. Dependent Variable: INCOME

b. Predictors: (Constant), DTTC

182

Coefficientsa

Unstandardized Collinearity

Standardized Coefficients

Coefficients Statistics

Toleran

Model B Std. Error Beta t Sig. ce VIF

(Consta .011 .541 .021 .983

nt)

DTTC 1.038 .143 .305 7.234 .000 1.000 1.000

a. Dependent Variable: INCOME

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hoá

Biểu đồ phần dư chuẩn hoá trong normal P - P Plot

183

Biểu đồ phân tán Scatterplot

184

6.6. Kết quả hồi quy tuyến tính OLS tác động của nhóm nhân tố phản ánh DTTC lên thu nhập

Model Summaryb

.329a Durbin-Watson 1.425 R Square .109 Adjusted R Square .102 Std. Error of the Estimate 1.427

Model R 1 a. Predictors: (Constant), REGR factor score 4 for analysis 1, REGR factor score 3 for analysis 1, REGR factor score 2 for analysis 1, REGR factor score 1 for analysis 1

b. Dependent Variable: INCOME

ANOVAa

df 4 Sum of Squares Regression 125.745 Model 1 Mean Square F 31.436 15.436 Sig. .000b

507 511 Residual Total 1032.560 1158.305 2.037

a. Dependent Variable: INCOME b. Predictors: (Constant), REGR factor score 4 for analysis 1, REGR factor score 3 for analysis 1, REGR factor score 2 for analysis 1, REGR factor score 1 for analysis 1

Coefficientsa

Standardi zed Coefficie nts Unstandardized Coefficients t Sig.

Model

B 3.895 .444 .141 .031 .169 Std. Error Beta .063 .063 .063 .063 .063 .295 .093 .020 .112 61.750 .000 .000 7.026 .026 2.226 .627 .486 .008 2.680 Collinearity Statistics Toleran ce 1.000 1.000 1.000 1.000 VIF 1.000 1.000 1.000 1.000

HV TĐ KT1 KT2 a. Dependent Variable: INCOME

185

Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hoá

Biểu đồ phần dư chuẩn hoá trong normal P - P Plot