BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN HẬU CẦN
TRẦN VĂN QUẾ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - BẢO HIỂM
HÀ NỘI - 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN HẬU CẦN
TRẦN VĂN QUẾ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 9. 34. 02. 01
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. PHAN HỮU NGHỊ
2. PGS.TS. NGUYỄN VĂN XA
HÀ NỘI - 2022
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận án với Đề tài: “Quản lý tài chính tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam” là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn đầy đủ
theo quy định. Nội dung luận án chưa được sử dụng để bảo vệ lấy bất kì học vị
hoặc đề tài nào.
Nghiên cứu sinh:
Trần Văn Quế
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
MỤC LỤC ........................................................................................................ ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH .................................................... viii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................... 7
1.1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến luận án ............................ 7
1.2. Nhận xét và khoảng trống nghiên cứu ................................................. 13
1.3. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................ 15
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 16
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC .................................................................................. 17
2.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước ................................................. 17
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước .................... 17
2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước ............................................. 20
2.1.3. Hình thức hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ........................ 21
2.1.4. Tổ chức quản lý tại doanh nghiệp nhà nước ................................. 22
2.2. Tổng quan về quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước.............. 25
2.2.1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước . 25
2.2.2. Quy trình quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước ..................... 32
2.2.3. Nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước ................ 34
2.2.4. Chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước theo nội
dung quản lý ............................................................................................ 44
iii
2.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các doanh nghiệp
nhà nước .................................................................................................. 48
2.3. Kinh nghiệm quản lý tài chính của một số doanh nghiệp nhà nước . 53
2.3.1. Kinh nghiệm trong nước về quản lý tài chính tại doanh nghiệp
nhà nước ................................................................................................. 53
2.3.2. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
của một số doanh nghiệp nước ngoài ...................................................... 60
2.3.3. Bài học kinh nghiệm đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam .. 62
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 65
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NHÀ XUẤT
BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM ...................................................................... 66
3.1. Giới thiệu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ...................................... 66
3.1.1. Quá trình phát triển Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ................ 66
3.1.2. Tổ chức hoạt động cơ cấu tổ chức tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ................................................................................................ 68
3.1.3. Kết quả hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ............ 69
3.1.4. Bộ máy quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam .. 72
3.2. Thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam . 75
3.2.1. Thực trạng quy trình quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ................................................................................................. 75
3.2.2. Thực trạng quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam .......... 86
3.3. Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ...................................................................................................... 113
3.3.1. Kết quả đạt được ......................................................................... 113
3.3.2. Hạn chế........................................................................................ 114
3.3.3. Nguyên nhân của hạn chế ........................................................... 116
iv
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI NHÀ
XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM ....................................................... 122
4.1. Định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam đến năm 2030 ............................................................. 122
4.1.1. Bối cảnh chung của Việt Nam hiện nay về Giáo dục và đào tạo 122
4.1.2. Mục tiêu và định hướng phát triển của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam đến 2030 ....................................................................................... 124
4.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ...................................................................................................... 128
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản nội bộ quy định về quản lý tài
chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ........................................ 128
4.2.2. Thực hiện đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch tài chính, thực hiện
thanh, quyết toán kiểm tra giám sát chặt chẽ ........................................ 129
4.2.3. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn Hội đồng thành viên và Ban
giám đốc ................................................................................................ 133
4.2.4. Tăng quyền huy động vốn thực hiện dự án................................. 134
4.2.5. Khai thác, phát huy tiềm năng đội ngũ nhân lực, vốn, trang thiết
bị, tập trung nguồn lực tài chính cao nhất cho Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam. .............................................................................................. 135
4.2.6. Đổi mới chính sách giá bán sách giáo khoa ................................ 136
4.2.7. Hoàn thiện đàm phán hướng tới chính sách ưu tiên cho hoạt động vì
mục tiêu cộng đồng ............................................................................... 137
4.2.8. Hoàn thiện quản lý tài chính thích nghi với tình hình thị trường 138
4.2.9. Hoàn thiện quản lý bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, quản lý
huy động vốn, quản lý tài sản, quản lý đầu tư vốn ............................... 141
4.2.10. Hoàn thiện quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận ................. 150
4.2.11. Giải pháp khác .......................................................................... 152
v
4.4. Kiến nghị ............................................................................................... 158
4.4.1. Kiến nghị với Chính phủ ............................................................. 158
4.4.2. Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính .................. 159
4.4.3. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước ............................................ 160
Kết luận chương 4 ....................................................................................... 161
KẾT LUẬN .................................................................................................. 162
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Danh mục từ viết tắt Tiếng Việt
BGD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CBCNV Cán bộ công nhân viên
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
HĐQT Hội đồng quản trị
HĐTV Hội đồng thành viên
HLGD Học liệu giáo dục
KHTC Kế hoạch tài chính
LNST Lợi nhuận sau thuế
LNTT Lợi nhuận trước thuế
MTV Một thành viên
NXB Nhà xuất bản
SCIC Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
SGK Sách giáo khoa
STK Sách tham khảo
TBGD Thiết bị giáo dục
TCCB Tổ chức cán bộ
TCDN Tài chính doanh nghiệp
TĐKT Tập đoàn kinh tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ Tài sản cố định
TSKH Tiến sĩ khoa học
VHTT Văn học tuổi trẻ
Danh mục từ viết tắt tiếng nước ngoài
WTO World Trade Organization Tổ chức Kinh tế Thế giới
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả hoạt động của NXB Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021 ....... 71
Bảng 3.2. Kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn
2016 - 2021 ............................................................................................. 77
Bảng 3.3. Tình hình thực hiện kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
giai đoạn 2016 - 2021 .............................................................................. 80
Bảng 3.4. Vốn chủ sở hữu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam .................................. 87
Bảng 3.5. Vốn huy động tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thời điểm 31/12 giai
đoạn 2016 - 2021 ..................................................................................... 92
Bảng 3.6. Tình hình sử dụng vốn huy động ngắn hạn trong kì tại NXB Giáo dục Việt
Nam giai đoạn 2016 - 2021 ..................................................................... 94
Bảng 3.7. Tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021 ....... 97
Bảng 3.8: Cấu trúc tài sản Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam .................................. 99
Bảng 3.9. Tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ................................................................................................ 102
Bảng 3.10. Doanh thu và lợi nhuận trước thuế theo mảng kinh doanh tại Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam ................................................................................ 109
viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1. Hệ số bảo toàn vốn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn
2016 - 2021 .......................................................................................... 89
Biểu đồ 3.2. Tình hình tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn
2016 - 2021 .......................................................................................... 97
Biểu đồ 3.3. Tình hình đầu tư ra ngoài doanh nghiệp của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam ............................................................................................ 104
Biểu đồ 3.4. Doanh thu và Lợi nhuận sau thuế tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
giai đoạn 2016 - 2021 ........................................................................ 107
Sơ đồ 2.1. Mô hình quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước ............................ 31
Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ................................... 68
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ Tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam .. 72
Hình 3.1. Phân tích Dupont 5 yếu tố đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai
đoạn 2016 - 2021 ................................................................................... 111
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (mà
trong đó doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo. Nhà nước
thực hiện giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoàn
thành nhiệm vụ nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước đã có những đóng góp
quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nền kinh tế ngày càng
nhiều thành phần thì cạnh tranh càng gay gắt, mỗi doanh nghiệp đều tìm các
giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng lực
cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế để bảo toàn và phát triển vốn trong mọi
hoàn cảnh của nền kinh tế thị trường. Quản lý tài chính đối với các doanh
nghiệp Nhà nước là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp Nhà nước phát triển bền
vững. Do đó, nghiên cứu quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước nói
chung, của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam nói riêng có tính cấp thiết.
Nhà xuất bản Giáo dục (nay là Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) được
thành lập ngày 1/6/1957. Là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Giáo
dục & Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức biên
soạn, biên tập, in và phát hành các loại sách giáo khoa và các sản phẩm giáo
dục phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập của các ngành học, bậc học trong
toàn quốc; đồng thời giúp Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ đạo công tác sản xuất -
kinh doanh thiết bị giáo dục và thư viện trường học trên toàn quốc. Tháng 5
năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chuyển Nhà xuất bản Giáo dục
sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXB Giáo dục Việt Nam) thực hiện
hoạt động kinh doanh theo hai mục tiêu song song là mục tiêu cộng đồng và
mục tiêu lợi nhuận. Đặt ra nhiều khó khăn trong quản lý tài chính trong tất cả
lĩnh vực bao gồm quản lý vốn do nhà nước giao, quản lý bảo toàn và phát triển
2
vốn nhà nước, quản lý huy động vốn, quản lý đầu tư vốn ra ngoài NXB Giáo
dục Việt Nam. Thứ nhất, hoạt động vì mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi
nhuận song song đã dẫn đến NXB Giáo dục Việt Nam năm 2021 mới đạt được
yêu cầu vì mục tiêu lợi nhuận. Thứ hai, quá trình quản lý tài chính còn nhiều
yếu kém khi thực hiện quy định pháp luật của Nhà nước còn chậm được triển
khai, dẫn đến bị động trong quản lý nói chung và nhất là việc thực hiện quản lý
tài chính chưa theo kịp các quy định của pháp luật. Thứ ba, trình độ, học vấn
về quản lý tài chính chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân như chuyển đổi số, công nghệ thông tin. Thứ tư, công tác đào
tạo đội ngũ quản lý tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam chưa được chú trọng,
dẫn đến trình độ của cán bộ công chức, viên chức chưa theo kịp sự phát triển
cả xã hội và nền kinh tế nước nhà.
Vì thế, cần thiết phải đổi mới công tác quản lý tài chính nhằm thực hiện
chủ trương phong phú, đa dạng hoá sản phẩm; không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; góp phần phục vụ tốt
nhất sự nghiệp giáo dục nước nhà, do đó quản lý tài chính có hiệu quả, đáp ứng
yêu cầu vì mục tiêu cộng đồng và mục tiêu vì lợi nhuận là nhiệm vụ cấp thiết
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện mục tiêu cộng đồng song song với mục tiêu
lợi nhuận đối với NXB Giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, với đặc trưng doanh
nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực độc quyền, quản lý tài chính tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam phải giải quyết nhiều vấn đề như hoạt động kinh
doanh chính chưa mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, hạn chế trong phân bổ
nguồn tài chính đến các nhà xuất bản trực thuộc và đầu tư vào công ty liên kết.
Từ đó đặt ra nhu cầu cấp thiết cho việc hoàn thiện quản lý tài chính đối với Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, tác giả chọn đề tài: “Quản lý tài chính tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam” làm luận án tiến sĩ kinh tế.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, luận án làm rõ thực trạng quản
lý tài chính, kết quả đạt được và những hạn chế cần khắc phục, từ đó đề xuất giải
pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra đối với
luận án như sau:
- Nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề lý luận chủ yếu về doanh nghiệp
Nhà nước và quản lý tài chính trong các doanh nghiệp Nhà nước, những kinh
nghiệm về quản lý tài chính trong các doanh nghiệp Nhà nước.
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý tài chính, những ưu điểm và kết quả
đạt được, những mặt hạn chế tồn tại trong quản lý tài chính hiện hành tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, nguyên nhân của những hạn chế tồn tại đó.
- Đề xuất định hướng và những giải pháp cần thực hiện để hoàn thiện
quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, góp phần nâng cao hơn
nữa chất lượng hoạt động quản lý tài chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh và hiệu quả kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được tập trung nghiên cứu của luận án là quản lý tài chính tại
doanh nghiệp nhà nước.
Về nội dung nghiên cứu: những vấn đề chung, cơ bản của hoạt động
quản lý tài chính đối với một doanh nghiệp nhà nước ngành xuất bản về các
nội dung: quản lý bảo toàn vốn Nhà nước, vốn huy động, vốn đầu tư ra ngoài
doanh nghiệp, quản lý doanh thu - chi phí - lợi nhuận, cơ chế kiểm tra và
giám sát tài chính.
4
Phạm vi nghiên cứu, luận án giới hạn nghiên cứu về quản lý tài chính tại
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Về thời gian nghiên cứu: Các tài liệu, số liệu phục vụ nghiên cứu được
thu thập khoảng thời gian từ 2016 đến 2021. Giải pháp hoàn thiện quản lý tài
chính tại NXB Giáo dục Việt Nam định hướng đến năm 2030.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu. Ngoài ra, các
phương pháp nghiên cứu khoa học khác cũng được vận dụng trong luận án là:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sử dụng các phương pháp phân
tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh những tư liệu đã có về
doanh nghiệp nhà nước, nội dung và quy trình quản lý tài chính tại doanh
nghiệp nhà nước để xây dựng khung lý thuyết và các khái niệm công cụ của
vấn đề nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp phân tích thống
kê, đối chiếu, so sánh, diễn giải và tổng hợp, phương pháp chuyên gia, kết hợp
phương pháp phân tích định tính trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để xem xét, phân tích đánh giá các vấn đề đặt ra tại đề
tài nghiên cứu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê
để xử lý các số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu khác
Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận án bao gồm: Số liệu thứ cấp
được tác giả sử dụng qua một số kênh như: Báo cáo tài chính Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam. Ngoài ra luận án cũng sử dụng một số số liệu báo cáo của
Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Văn phòng Chính phủ…
6. Những đóng góp mới của luận án
Về lý luận: trên cơ sở kế thừa những cơ sở lý luận đã có, luận án làm rõ
thêm những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp Nhà nước và quản lý tài
5
chính tại các doanh nghiệp Nhà nước, gồm: quản lý bảo toàn và phát triển vốn
nhà nước tại Nhà xuất bản, quản lý sử dụng tài sản, quản lý huy động vốn; quản
lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận; quản lý đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp; cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính trong doanh nghiệp Nhà nước. Đồng
thời, luận án phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại doanh
nghiệp nhà nước, bao gồm 5 nhân tố bên trong và 4 nhân tố bên ngoài doanh
nghiệp nhà nước.
Về thực tiễn: Luận án giới thiệu khái quát NXBGDVN và phản ánh, đánh
giá đúng thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hiện
nay trong giai đoạn 2016 - 2021. Thực trạng quản lý tài chính tại NXBGDVN
được phân tích dựa trên những lý luận tại chương 2 và số liệu thứ cấp thu thập
được chọn lọc qua 05 nội dung quản lý bao gồm Thực trạng quản lý vốn Nhà
nước; Thực trạng quản lý huy động vốn; Thực trạng quản lý và sử dụng tài sản
Nhà nước; Thực trạng quản lý đầu tư ra ngoài doanh nghiệp; Thực trạng quản
lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính giai đoạn thực
hiện đề án tái cơ cấu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn sắp tới.
Luận án kiến nghị một số vấn đề góp phần đảm bảo mục tiêu của nhà nước về
giáo dục vừa đảm bảo tài chính cho hoạt động chính của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam.
Nghiên cứu quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam, luận án đi sâu
tìm hiểu cách vận hành và quản lý DNNN hoạt động trên lĩnh vực độc quyền.
Từ đó luận án đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính đối với NXB Giáo
dục Việt Nam, hướng tới đảm bảo đồng thời mục tiêu xã hội mục tiêu lợi nhuận
của doanh nghiệp.
6
7. Kết cấu của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án
bao gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan
đến đề tài luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
7
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến luận án
Trên thế giới cũng như Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có
một số công trình nghiên cứu về doanh nghiệp Nhà nước và cơ chế quản lý tài
chính của các doanh nghiệp Nhà nước được công bố. Có thể nêu ra một số công
trình nghiên cứu ở Việt Nam đã được công bố có liên quan đến đề tài nghiên
cứu cụ thể sau đây:
Luận án tiến sĩ “Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh vốn nhà
nước - nghiên cứu tại Tổng công ty SCIC” năm 2019 của tác giả Phạm Thị
Hương đã góp phần khẳng định và làm rõ hơn hiệu quả kinh doanh vốn nhà
nước của SCIC thông qua kết quả nghiên cứu định lượng, thực nghiệm của các
doanh nghiệp SCIC quản lý đứng trên vai trò đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước
tại doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra những nhân tố ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh doanh vốn nhà nước. Trong đó tỷ lệ sở hữu vốn nhà
nước, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp, tuổi của doanh nghiệp. Qua nghiên
cứu, luận án cũng đưa ra các nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện tiêu chí đánh giá
hiệu quả kinh doanh vốn Nhà nước của SCIC (2) Nâng cao quản trị doanh
nghiệp của SCIC (3) Nâng cao trình độ của cán bộ trong công tác quản trị doanh
nghiệp (4) Đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý vốn và quy chế người đại diện
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp của SCIC (5) Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp
phát triển tại các doanh nghiệp cổ phần hóa (6) Nâng cao năng lực giám sát tài
chính (7) Đảm bảo và phát huy tối đa vai trò của cổ đông Nhà nước tại doanh
nghiệp. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng đưa ra các tín hiệu giúp cho các
nhà làm chính sách cũng như các Bộ, Ban, ngành nhìn nhận và đánh giá đúng
8
hơn thực tiễn về hiệu quả kinh doanh vốn nhà nước dưới một góc nhìn khác -
cách tiếp cận “Kinh doanh vốn Nhà nước tại doanh nghiệp với góc độ Nhà nước
là đại diện chủ sở hữu phần vốn góp tại doanh nghiệp”.
Luận án tiến sĩ “Tác động của cấu trúc vốn đến sự phát triển của các
doanh nghiệp mới thành lập: Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội” năm 2019 của tác giả Bùi Thị Thu Loan đã đề xuất
một số khuyến nghị nhằm tăng trưởng và tăng cơ hội đầu tư đối với doanh
nghiệp, bao gồm doanh nghiệp nhà nước như sau: (1) Các ngân hàng nên chủ
động hơn trong các liên kết tài chính đối với các doanh bởi những lợi ích lớn
hơn trong dài hạn và mở rộng phân khúc khách hàng tiềm năng dựa trên các
nhu cầu có thực về vốn đầu tư kinh doanh. (2) Chính phủ cần tạo cơ chế đối
với Ngân hàng trong cho vay doanh nghiệp, cải thiện môi trường kinh doanh
và đầu tư đối với doanh nghiệp. (3) Các doanh nghiệp nên thiết lập mối quan
hệ sớm với ngân hàng, cân nhắc gia tăng mức nợ sử dụng không vượt quá 71,9
% khi có các cơ hội đầu tư trong điều kiện nền kinh tế không chịu các cú sốc
từ khủng hoảng tài chính.
Luận án tiến sĩ ‟Cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp
ở Việt Nam”, năm 2012 của tác giả Phạm Thị Thanh Hòa. Đề tài đề cập đến cơ
chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trên góc độ chủ sở hữu
Nhà nước được nghiên cứu qua các nội dung như cơ chế đầu tư vốn, cơ chế
quản lý và sử dụng vốn, cơ chế phân chia lợi nhuận, cơ chế kiểm tra, giám sát
quá trình đầu tư, quản lý và sử dụng vốn; hình thức thực hiện quyền sở hữu
Nhà nước về vốn đầu tư tại doanh nghiệp. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra được
những hạn chế về cơ chế quản lý phần vốn đầu tư cho mô hình Công ty mẹ -
Công ty con. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể về cơ chế
quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung.
9
Luận án tiến sĩ ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp
viễn thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển
và hội nhập”, năm 2009 của tác giả Trần Duy Hải. Luận án đã góp phần làm rõ
cơ sở lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với TĐKT; đồng thời trên cơ sở
khảo sát thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp viễn thông ở
Việt Nam hiện nay, luận án chỉ ra những khó khăn bất cập trong cơ chế quản
lý tài chính của Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam; đề xuất những giải
pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp viễn
thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều kiện phát triển và
hội nhập.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 của Bộ Tài chính do
PGS.TS. Nguyễn Đăng Nam làm chủ nhiệm là ‟Chính sách cơ chế quản lý vốn
Nhà nước tại các doanh nghiệp đến giai đoạn 2020”. Nội dung đề tài đề cập
đến chính sách quản lý vốn và tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp trên
góc độ quản lý Nhà nước, chưa nghiên cứu cơ chế quản lý vốn Nhà nước trên
góc độ chủ sở hữu.
Luận án tiến sĩ ‟Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công
ty Nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”, năm 2008 của tác giả
Phùng Thế Tính. Nội dung của luận án đã làm sáng tỏ thực tiễn và rút ra những
hạn chế trong cơ chế quản lý tài chính hiện nay trong các doanh nghiệp Nhà
nước theo Quyết định 91/TTg định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn
kinh tế. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của
các Tổng công ty Nhà nước định hướng hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh
tế ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Tổng
công ty Hàng không Việt Nam”, năm 2008 của tác giả Trần Thị Minh Phương.
10
Luận án tổng hợp và hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu
phân tích tài chính trong ngành dịch vụ nói chung và ngành Hàng không nói
riêng. Trên cơ sở đó, luận án góp phần phát triển lý thuyết phân tích tài chính
trong nền kinh tế thị trường. Luận án phân tích đặc điểm kinh doanh của Tổng
công ty Hàng không Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến hệ thống chỉ tiêu phân
tích tài chính, xem xét và đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu tài chính tại
Tổng công ty Hàng không Việt Nam, qua đó nhận biết các ưu điểm và các
nhược điểm của hệ thống, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phù
hợp cũng như các điều kiện cơ bản để áp dụng hệ thống này tại Tổng công ty
Hàng không Việt Nam, tạo cơ sở để phân tích tài chính thực sự trở thành một
công cụ quan trọng của nhà quản lý cũng như các đối tượng quan tâm đến hoạt
động của Tổng công ty. Qua đó, luận án hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích
tài chính tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Để hệ thống chỉ tiêu phân
tích tài chính có thể áp dụng tốt luận án trình bày việc hoàn thiện phương pháp
phân tích, cơ sở dữ liệu phục vụ cho phân tích và hoàn thiện tổ chức công tác
phân tích. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra các điều kiện nhằm hoàn thiện hệ
thống chỉ tiêu phân tích tài chính.
Luận án tiến sĩ ‟Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với các Tổng
công ty 91 phát triển theo mô hình Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam”, năm
2006 của tác giả Nguyễn Xuân Nam. Nội dung chủ yếu của luận án là làm rõ
quá trình hình thành, mô hình, đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý vốn và
tài sản hiện nay của các Tổng công ty 91, đưa ra được những ưu điểm và tồn
tại của cơ chế quản lý vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 ở Việt Nam hiện
nay. Đề xuất đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các Tổng công ty 91 ở
Việt Nam hiện nay phù hợp với định hướng phát triển các Tổng công ty 91
thành các Tập đoàn kinh doanh.
11
Luận án tiến sĩ ‟Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu khí Việt
Nam theo định hướng Tập đoàn kinh tế”, năm 2006 của tác giả Chu Xuân Lai.
Luận án đã phân tích quá trình hình thành và thực trạng cơ chế quản lý tài chính
của các Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam, chỉ ra được những vấn đề còn bất
cập của cơ chế quản lý tài chính hiện tại của các Tổng công ty, cũng như các
nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng này và đi đến khẳng định
các Tổng công ty Nhà nước ở Việt Nam nói chung, Tổng công ty Dầu khí (chưa
phải là Tập đoàn kinh tế). Luận án đã đề xuất mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động,
đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trên nguyên
tắc quyền sở hữu về nguồn lực tài chính và tự chủ về mặt tài chính làm nền tảng.
Tác phẩm “Kinh nghiệm quốc tế về cải cách doanh nghiệp nhà nước”,
Viện Adam Smith, Dự án của Chính phủ Vuơng quốc Anh tài trợ cho Chính
phủ Việt Nam, Hà Nội, 2002. Nội dung công trình tập trung trình bày những
vấn đề lý thuyết chung liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp trong cơ
chế thị truờng như cạnh tranh, xóa bỏ độc quyền, vấn đề điều tiết các ngành
kinh tế... Đồng thời, nêu lên những kinh nghiệm cải cách, chuyển đổi các doanh
nghiệp nhà nước, chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và sự tác
động của xã hội đối với cải cách doanh nghiệp ở một số nước chuyển đổi nền
kinh tế. Đây là tài liệu dùng cho việc đào tạo, học tập cho các đối tuợng là
những nhà hoạch định chính sách, cán bộ chủ chốt của các bộ, ngành và các
tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước đang tiến hành cổ phần hóa.
Luận án tiến sĩ ‟Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong Tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, năm 2000 của tác giả Phạm Quang
Trung. Luận án là đã hệ thống và khái quát hóa một số vấn đề lý luận về Tập
đoàn kinh doanh và cơ chế quản lý tài chính trong các Tập đoàn kinh doanh;
đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong các Tổng công ty được thành
lập theo Quyết định 90/1994/QĐ-TTg và Quyết định 91/1994/QĐ-TTg và đề
12
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các Tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam.
Về cải cách quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước, tác phẩm “Con
đường phát triển doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc từ 1949 đến 2004 -
Những vấn đề nhận thức”, tác giải Phạm Sĩ Thành, Nhà xuất bản Thế Giới,
2005. Công trình được nghiên cứu khá hệ thống từ lịch sử hình thành và phát
triển doanh nghiệp Nhà nước Trung Quốc trước năm 1978, sự cần thiết điều
chỉnh cơ cấu tài chính và vận hành tài chính cũng như hình thức sở hữu vốn tại
doanh nghiệp Nhà nước đến những biện pháp cải cách vi mô và vĩ mô. Điều
đáng lưu ý hơn là tác giả đi sâu nghiên cứu phân tích và làm rõ những nhân tố
tạo nên thành công của cải cách doanh nghiệp Nhà nước ở Trung Quốc, từ đó
đưa ra bài học kinh nghiệm đối với quá trình cải các doanh nghiệp Nhà nước ở
Việt Nam hiện nay.
Một tác phẩm đáng chú ý thêm là “Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở
Trung Quốc - so sánh với Việt Nam”, Viện Kinh tế thế giới, Chủ biên TSKH.
Võ Đại Lược và GS.TS. Cốc Nguyên Dương, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1997. Trong tác phẩm này, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc và khảo
cứu toàn diện về quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc. Trên
cơ sở đó, nêu lên sự tương đồng và khác biệt của công cuộc cải cách doanh
nghiệp nhà nước giữa Trung Quốc và Việt Nam từ đó nêu lên những bài học
kinh nghiệm rút ra. Cuốn sách được xuất bản năm 1997, do vậy trong hơn một
thập kỷ trở lại đây, những vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước chưa được
nghiên cứu sâu thêm, đặc biệt là trong điều kiện mới, Trung Quốc gia nhập Tổ
chức Kinh tế Thế giới - WTO.
Hội thảo khoa học quốc tế: “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam”, do Đại học quốc gia Hà Nội và Viện Konrad Adenauer đồng tổ chức tại
Hà Nội, năm 2006. Tài liệu được tập hợp 16 bài viết tham luận khoa học của
các tác giả trong và ngoài nuớc là các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu về cải
13
cách doanh nghiệp nhà nước. Nhiều bài viết có giá trị tham khảo tốt, cung cấp
những thông tin và các tư liệu, số liệu mới. Có những gợi ý rất thiết thực cho
Việt Nam tiếp tục đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về DNNN và cơ chế quản lý tài chính của
các DNNN đăng trên các kỷ yếu hội thảo, báo và tạp chí kinh tế trong nước.
1.2. Nhận xét và khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu đã công bố có phạm vi thời gian và không gian đa dạng
với nhiều vấn đề cụ thể liên quan đến luận án. Tuy nhiên các nghiên cứu đã tạo
ra một số khoảng trống để luận án kế thừa và phát triển thêm, cụ thể:
Một là, về nội dung nghiên cứu, một số luận án và nghiên cứu chưa đề
cập đến quản lý tài chính tại các doanh nghiệp nhà nước tổ chức vận hành theo
hướng mở rộng các công ty trực thuộc. Vì vậy những nội dung liên quan đến
các điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp nhà
nước là những nội dung chưa được đề cập tới.
Hai là, về thời gian nghiên cứu, những nghiên cứu đã có của các tác giả
được nghiên cứu tại một thời điểm hoặc các giai đoạn trước. Đến nay, trong bối
cảnh mới, trực trạng và yêu cầu quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước đã có
nhiều thay đổi, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước theo hướng mở rộng công
ty. Điều này đòi hỏi cần có sự cập nhật kịp thời đến năm 2021 nhằm tạo cơ sở
lý luận và thực tiễn cho hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước một
cách hiệu quả nhất.
Ba là, về không gian nghiên cứu, chưa có công trình nghiên cứu về tài
chính cũng như quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Từ
những trình bày trên cho thấy, các công trình nghiên cứu có nhiều cách tiếp cận
khác nhau khi nghiên cứu về cơ chế tài quản lý chính của doanh nghiệp Nhà
nước. Có công trình nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính nói chung của các
doanh nghiệp Nhà nước cũng có những công trình lại chỉ nghiên cứu một hay
14
một số nội dung của cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước như cơ chế huy
động vốn, sử dụng vốn hoặc kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính. Có công
trình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của một doanh nghiệp Nhà nước cụ
thể, có công trình nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính trên góc độ chung của
các doanh nghiệp. Tuy nhiên chưa có luận án nghiên cứu về quản lý tài chính
tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được công bố.
Từ các nghiên cứu đã công bố, có thể thấy rằng doanh nghiệp nhà nước
được giao nhiệm vụ kinh doanh ở những lĩnh vực then chốt, nắm vững những
ngành nghề trọng yếu của nền kinh tế, với vai trò đầu tàu trong nền kinh tế.
Ngoài ra, luận án còn kế thừa về những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản
lý vốn nhà nước và cơ chế đầu tư vốn, cơ chế quản lý và sử dụng vốn, cơ chế
phân chia lợi nhuận. Qua tìm hiểu các nghiên cứu doanh nghiệp nhà nước và
quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước, tác giả định hướng thực hiện đề tài
trên cơ sở kế thừa các khoảng trống nghiên cứu và làm rõ thêm một số nội
dung sau:
- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp Nhà nước
và quản lý tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước: khái niệm, đặc điểm, nội
dung và mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp Nhà nước; các nhân tố
ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước.
- Phản ánh và đánh giá đúng thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam hiện nay trên các nội dung cơ bản bao gồm quản lý vốn
Nhà nước giao, quản lý sử dụng tài sản, quản lý huy động tạo lập vốn; quản lý
đầu tư và sử dụng vốn; quản lý phân phối lợi nhuận; cơ chế kiểm tra, giám sát
tài chính trong doanh nghiệp Nhà nước.
- Chỉ ra được những ưu điểm và những hạn chế, tồn tại trong quản lý tài
chính hiện tại của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; làm rõ nguyên nhân của
những hạn chế, tồn tại đó để có biện pháp khắc phục.
15
- Kế thừa những đề xuất trước đó, làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản để
định hướng cho việc hoàn thiện cơ chế, quy định và các nội dung quản lý tài
chính đối với NXB Giáo dục Việt Nam.
- Đề xuất được hệ thống những giải pháp phù hợp, khả thi để hoàn thiện
quản lý tài chính phù hợp với đặc thù của NXB Giáo dục Việt Nam, hoạt động
trong phạm vi cả nước vì mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi nhuận, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tối đa hóa giá trị vốn
chủ sở hữu tại NXB Giáo dục Việt Nam.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, luận án phải trả lời được
các câu hỏi sau đây:
Thứ nhất, Đặc điểm quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước
là gì? Nội dung quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước?
Thứ hai, Tiêu chí định tính, định lượng đánh giá và nhân tố ảnh hưởng tới
hiệu quả quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước nói chung và Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam nói riêng?
Thứ ba, Kinh nghiệm quản lý tài chính cho Việt Nam nói chung và Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam nói riêng?
Thứ tư, Thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam?
Ưu điểm, tồn tại, hạn chế trong quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam?
Thứ năm, Cơ chế đầu tư vốn, cơ chế quản lý, sử dụng vốn, cơ chế phân
chia lợi nhuận, cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư, quản lý và sử dụng
vốn tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Thứ sáu, Những giải pháp chiến lược, giải pháp ngắn hạn phù hợp đặc tính
hoạt động quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam nói riêng, các
doanh nghiệp nhà nước nói chung?
16
Kết luận chương 1
Với mục tiêu nghiên cứu tổng quan về quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp nhà nước làm cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu của đề tài,
chương 1 đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu đã có của các
tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp nhà nước.
Thứ hai, tổng kết, đánh giá những điểm đạt được và khoảng trống của
các công trình nghiên cứu đã có về thời gian, không gian nghiên cứu và nội
dung nghiên cứu.
Thứ ba, xác định những vấn đề tập trung nghiên cứu trong luận án trên
cơ sở tổng kết, đánh giá những điểm đạt được và những khoảng trống của các
công trình nghiên cứu đã có với những lý luận về quản lý tài chính doanh nghiệp
nhà nước, cập nhật thời gian nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính và không
gian nghiên cứu tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
17
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
2.1. Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước
2.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
2.1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay không có định nghĩa thống nhất chung về Doanh nghiệp nhà
nước. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước được phát triển dựa trên nhiều tiêu
chí, mục tiêu khác nhau trên thế giới.
Theo Witker (1979), doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là “cơ quan
có sự kết hợp của ba yếu tố thiết yếu: (1) sự hiện diện của chính quyền, (2) tính
đặc trưng, (3) có sự tham gia vào một hoạt động kinh tế.” Định nghĩa này đã
đáp ứng được mục tiêu của doanh nghiệp nhà nước về kinh tế hơn là khía cạnh
pháp lý và quyền lực quản lý doanh nghiệp, là yếu tố quan trọng trong quá trình
tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (2020), “Doanh nghiệp nhà nước là
bất kì thực thể thương mại nào mà chính phủ có quyền kiểm soát đáng kể thông
qua quyền sở hữu trực tiếp và gián tiếp”. Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò
của nhà nước trong kiểm soát và quản lý doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp
nhà nước bao gồm (1) doanh nghiệp được thành lập và hoạt động từ 100% vốn
nhà nước, (2) doanh nghiệp mà chính phủ có cổ phần sở hữu, (3) những tổ chức
mà chính phủ sở hữu cổ phần thiểu số, nhưng chính phủ vẫn bỏ phiếu kiểm soát
trong các quyết định quản lý tài chính quan trọng.
Trong thời kỳ phát triển ban đầu với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
doanh nghiệp nhà nước chỉ bao gồm duy nhất các tổ chức kinh doanh hoàn toàn
do Nhà nước hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước cấp vốn, quyết định
18
bộ máy hoạt động và tổ chức hành chính, nghĩa là các quyết định về vốn, nhân
sự và quyền quản lý quá trình sản xuất kinh doanh và phân phối kết quả hoàn
toàn thuộc về Nhà nước. Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, doanh
nghiệp nhà nước dần được mở rộng hơn, không chỉ các doanh nghiệp mà Nhà
nước toàn quyền nắm giữ vốn chủ sở hữu mà còn bao gồm doanh nghiệp do
Nhà nước chiếm phần vốn chi phối.
Theo trình bày trên đây về doanh nghiệp nhà nước, luận án xin được khái
niệm về doanh nghiệp nhà nước như sau: “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm
các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần
có quyền biểu quyết”. Theo đó, khái niệm trên đây bao gồm các nội dung chủ
yếu như sau: doanh nghiệp nhà nước chịu sự chi phối và kiểm soát của Nhà
nước trong tổ chức hoạt động kinh doanh, tổ chức bộ máy nhân lực cũng như
nguồn vốn, tài sản của doanh nghiệp. Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là
doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Thứ hai, vốn điều lệ
là vốn được xác định khi thành lập doanh nghiệp nhà nước, vốn điều lệ có thể
tăng hoặc giảm trong quá trình kinh doanh do nhà nước quyết định. Thứ ba,
việc nắm giữ vốn điều lệ trên 50%, nhà nước có thực quyền quyết định kế hoạch
sản xuất - kinh doanh, quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước được thành lập nhằm hai mục tiêu quan trọng là
phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - đảm bảo an sinh xã hội - an ninh quốc
phòng của quốc gia và mục tiêu lợi nhuận. Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước
được thành lập và hoạt động với danh mục sản phẩm và ngành nghề kinh doanh
do Nhà nước quy định. Những sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh này đóng vai
trò trọng yếu trong phát triển đất nước hoặc do nhà nước độc quyền nắm giữ và
quản lý như năng lượng, sản phẩm giáo dục,… góp phần thực hiện mục tiêu
phát triển toàn diện của quốc gia. Thứ hai, tương tự như hình thức doanh nghiệp
khác, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước được quản lý và ra
19
quyết định dựa trên quyết định vận hành dòng tiền nhằm tối đa hóa lợi nhuận,
đảm bảo hoạt động lâu dài của doanh nghiệp.
2.1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp
chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ).
Doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tại. Nếu doanh nghiệp
nhà nước do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh
nghiệp như: công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm
hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu
doanh nghiệp do nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới
các loại hình doanh nghiệp sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.
Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh
nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước hình thành từ ba lý do chủ yếu. Thứ nhất, độc
quyền tự nhiên. Do hiệu quả hoạt động của một số ngành dựa vào nguồn lực hữu
hạn của quốc gia và có tác động đến toàn thể cộng đồng như phân phối điện,
nước, sản phẩm giáo dục - đào tạo phổ cập bắt buộc, doanh nghiệp nhà nước
kinh doanh các ngành nghề độc quyền của nhà nước góp phần đảm bảo không
xảy ra chiếm dụng tài nguyên quốc gia và bóc lột người tiêu dùng. Thứ hai, thất
bại của thị trường vốn. Một số lĩnh vực kinh doanh thiết yếu cho sự phát triển
của xã hội nhưng yêu cầu về vốn cao trong khi mức độ rủi ro cao, gây khó khăn
trong tổ chức và huy động vốn từ các doanh nghiệp tư nhân. Điều này đặt ra sự
cần thiết thành lập doanh nghiệp với nguồn vốn cấp từ nhà nước. Thứ ba, công
bằng xã hội. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ của nhà nước tại các
khu vực vùng sâu vùng xa, khu vực mang lại lợi nhuận thấp, đảm bảo dịch vụ
công như điện, nước, cơ sở hạ tầng, giáo dục được mọi công dân tiếp cận.
20
2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp Nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với bộ máy quản lý
nhà nước, cộng đồng và nền kinh tế, cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước là cơ sở của nhà nước trong thực hiện
can thiệp vào thị trường nhằm mang lại lợi ích cho nền kinh tế bằng cách tối đa
hóa sự dịch chuyển nguồn lực vào các ngành có yêu cầu vốn rất lớn. Những
ngành công nghiệp và ngành liên quan đến phục vụ mục tiêu cộng đồng rất cần
thiết cho sự phát triển bền vững của một quốc gia, nhưng đầu tư đòi hỏi thời
gian dài, đầu tư thiết bị tổng thể lớn mà không có doanh nghiệp nhà nước thì
không biết đi về đâu? Thông qua doanh nghiệp nhà nước, các ngành đặc thù
này được cấp vốn đầu tư cơ sở hạ tầng, đi đầu trong ứng dụng về khoa học -
công nghệ, cơ sở hạ tầng.
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng để duy trì sự ổn
định của xã hội. Doanh nghiệp nhà nước cung cấp những sản phẩm, dịch vụ
phục vụ cộng đồng, những sản phẩm cần thiết cho sự phát triển chung của đất
nước, từ đó đảm bảo các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong phát triển
kinh tế. Không chỉ thế, khi mức độ ổn định xã hội thấp, các doanh nghiệp nhà
nước vẫn góp phần hữu ích khi tạo việc làm cho người lao động
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
Trên phương diện kinh tế, cũng như các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp
nhà nước hoạt động phải thực hiện mục tiêu lợi nhuận.
Thứ tư, NXB Giáo dục Việt Nam có ngành sản xuất - kinh doanh mang
đặc thù riêng. Một là, sản xuất và kinh doanh sách giáo khoa, sách tham khảo
có tính chất thời vụ, việc bán sản phẩm sách giáo khoa dồn vào quý 3 hàng
năm. Thời gian này, NXB Giáo dục Việt Nam dồn hết nguồn lực để bao phủ
thị trường cả nước để kiểm tra, đôn đốc và nắm thông tin về khả năng tiêu thụ,
thực tế tiêu thụ, kịp thời có biện pháp khắc phục những phát sinh từ thực tế,
21
đảm bảo đủ sách giáo khoa phục vụ kịp thời cho năm học mới. Hai là, nắm bắt
khả năng và nhu cầu sách giáo khoa cho năm học kế tiếp để có kế hoạch sản
xuất đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường cả nước.
2.1.3. Hình thức hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động dưới hình thức là công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, và
công ty cổ phần.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là những công ty do Nhà
nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà
nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty
mẹ - công ty con và Công ty độc lập.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tất cả thành viên
đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và các thành
viên khác là tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, hay công ty do Nhà
nước nắm hơn 50% vốn điều lệ. Với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên, do có nhiều thành phần tham gia góp vốn và chi phối, bên
cạnh mục tiêu cộng đồng, doanh nghiệp nhà nước coi trọng hơn về mục tiêu lợi
nhuận nhằm thỏa mãn lợi ích của tất cả các bên góp vốn.
Doanh nghiệp cổ phần có cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước trên 50%
vốn điều lệ hoặc có số cổ phần có quyền biểu quyết. So với doanh nghiệp trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, doanh nghiệp cổ phần hoạt động vì mục
tiêu lợi nhuận hơn do thành phần tham gia góp vốn đã có yếu tố ngoài nhà nước.
Dù hoạt động dưới hình thức nào, các doanh nghiệp nhà nước đều do
Nhà nước đầu tư vốn, thuộc sở hữu của Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp là
một bộ phận của tài sản Nhà nước. Do đó, Nhà nước có thẩm quyền quyết định
mô hình tổ chức, cơ cấu quản lý công ty cũng như quy mô doanh nghiệp, chi
phối hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của doanh nghiệp phục vụ các
22
mục tiêu vĩ mô về kinh tế, chính trị và xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận.
Ngoài ra, Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp chịu trách nhiệm
về bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao.
2.1.4. Tổ chức quản lý tại doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước được cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ
chức quản lý theo một trong hai mô hình sau:
- Mô hình 1: Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm
soát viên;
- Mô hình 2: Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và
Kiểm soát viên.
Trong hai mô hình trên, có thể thấy tổ chức quản lý tại doanh nghiệp nhà
nước được thực hiện theo Người đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà
nước, người điều hành hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, bộ máy hoạt
động trong doanh nghiệp, và ban kiểm soát - kiểm soát viên.
Người đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước
Chủ tịch công ty hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên đóng vai trò là người
đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tại doanh nghiệp nhà nước. Tùy thuộc vào
mô hình tổ chức doanh nghiệp nhà nước do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết
định, doanh nghiệp nhà nước có một người đại diện chủ sở hữu trực tiếp (Chủ
tịch công ty) hoặc nhiều người đại diện chủ sở hữu trực tiếp và được tổ chức
thành Hội đồng thành viên của công ty (bao gồm: Chủ tịch hội đồng thành viên
và các thành viên trong hội đồng).
Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước có quyền hạn và trách nhiệm như
sau: Đề nghị cấp có thẩm quyền điều chỉnh vốn điều lệ, tái cơ cấu, giải thể, phá
sản doanh nghiệp; Quyết định chiến lược, kế hoạch sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp, chiến lược và kế hoạch huy động vốn, góp vốn; Tiếp nhận công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty
23
con, công ty liên kết của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính; kết quả kinh doanh
và phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ hằng năm của doanh nghiệp; Quyết
định các vấn đề tài chính, nhân sự, bộ phận sản xuất và điều hành doanh nghiệp.
Người điều hành hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có nhiệm vụ điều hành các hoạt động của
doanh nghiệp và có các quyền và nghĩa vụ: Chủ động lập kế hoạch sản xuất
kinh doanh hàng năm hoặc nhiều năm; Tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả
thực hiện kế hoạch sản xuất - kinh doanh - đầu tư của doanh nghiệp; Ban hành
quy chế quản lý nội bộ của công ty đã được Chủ tịch công ty chấp thuận; Bổ
nhiệm, thuê, miễn nhiệm, cách chức, chấm dứt hợp đồng đối với các chức danh
quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công
ty; Tuyển dụng lao động; Kiến nghị phương án tổ chức lại công ty, khi xét thấy
cần thiết; Kiến nghị phân bổ và sử dụng lợi nhuận sau thuế và các nghĩa vụ tài
chính khác của công ty; Quyết định phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây
dựng, mua, bán tài sản cố định thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty khi được
chủ tịch công ty Quyết định phân cấp hoặc hoặc ủy quyền.
Bộ máy hoạt động trong doanh nghiệp
Bộ máy hoạt động trong doanh nghiệp nhà nước gồm: Phó giám đốc, kế
toán trưởng và các phòng ban chuyên môn.
Phó giám đốc giúp giám đốc điều hành doanh nghiệp theo sự phân công
và uỷ quyền của Tổng giám đốc (giám đốc), chịu trách nhiệm trước tổng giám
đốc (giám đốc) về nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền.
Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc (giám đốc) chỉ đạo, tổ chức thực
hiện công tác kế toán, thống kê của doanh nghiệp.
Văn phòng và các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ có chức năng tham mưu,
giúp việc HĐQT, tổng giám đốc (giám đốc) trong quản lý điều hành công việc
24
Ban kiểm soát - kiểm soát viên
Căn cứ quy mô của công ty, cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định bổ
nhiệm 01 Kiểm soát viên hoặc thành lập Ban kiểm soát gồm 03 đến 05 Kiểm
soát viên. Ban kiểm soát - kiểm soát viên thực hiện giám sát doanh nghiệp nhà
nước như sau:
+ Tham gia các cuộc họp của Hội đồng thành viên, các cuộc tham vấn
và trao đổi chính thức và không chính thức của cơ quan đại diện chủ sở hữu với
Hội đồng thành viên; có quyền chất vấn Hội đồng thành viên, thành viên Hội
đồng thành viên và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty về các kế hoạch, dự
án hay chương trình đầu tư phát triển và các quyết định khác trong quản lý điều
hành công ty.
+ Xem xét sổ sách kế toán, báo cáo, hợp đồng, giao dịch và tài liệu khác
của công ty; kiểm tra công việc quản lý điều hành của Hội đồng thành viên,
thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi xét thấy
cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu
+ Xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính
công ty, thực trạng vận hành và hiệu lực các quy chế quản trị nội bộ công ty
+ Xem xét sổ sách kế toán, báo cáo, hợp đồng, giao dịch và tài liệu khác
của công ty; kiểm tra công việc quản lý điều hành của Hội đồng thành viên,
thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi xét thấy
cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu.
+ Xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính
công ty, thực trạng vận hành và hiệu lực các quy chế quản trị nội bộ công ty.
+ Yêu cầu Hội đồng thành viên, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và những người quản lý khác
báo cáo, cung cấp thông tin về bất cứ việc gì trong phạm vi quản lý và hoạt
động đầu tư, kinh doanh.
25
+ Yêu cầu những người quản lý công ty báo cáo về thực trạng tài chính,
thực trạng và kết quả kinh doanh của công ty con khi xét thấy cần thiết để thực
hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và Ðiều lệ công ty.
+ Trường hợp phát hiện có thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc và những người quản lý khác làm trái các quy định về
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của họ hoặc có nguy cơ làm trái các quy định
đó; hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, làm trái các quy định về quản lý
kinh tế, trái quy định Điều lệ công ty hoặc các quy chế quản trị nội bộ công ty
phải báo cáo ngay cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty, các thành viên khác
của Ban kiểm soát và cá nhân có liên quan.
+ Đề nghị cơ quan đại diện chủ sở hữu thành lập đơn vị thực hiện nhiệm
vụ kiểm toán tham mưu và trực tiếp hỗ trợ Ban kiểm soát thực hiện các quyền
và nghĩa vụ được giao.
2.2. Tổng quan về quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
2.2.1. Khái niệm, nguyên tắc quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
2.2.2.1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
Một số nghiên cứu cho rằng quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước là
việc quản lý các hoạt động có liên quan đến thu, chi, đầu tư vốn, huy động vốn,
thoái vốn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng quản
lý tài chính doanh nghiệp nhà nước chỉ là quản lý thu, quản lý chi trong quản
lý thu chi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nghiên cứu thực tiễn quản lý tài
chính, tác giả xin có khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước như
sau: Quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước là việc lựa chọn và đưa ra các
quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp: tối đa hóa lợi nhuận.
Có thể thấy quản lý tài chính là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng
đầu của bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào. Với hệ thống quản lý tài chính được
26
định hướng cho giải pháp đồng bộ các nhiệm vụ kế toán, kiểm soát và lập kế
hoạch thu chi, hệ thống cho phép doanh nghiệp sử dụng hiệu quả tiền vốn của
doanh nghiệp và thu hút đầu tư, nâng cao việc quản lý kinh doanh, lợi nhuận
và khả năng cạnh tranh.
2.2.1.2. Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc chung như sau:
- Tuân thủ pháp luật và thông lệ kinh doanh
Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng các định hướng
chính trị nhằm quy định những điều mà các thành viên trong xã hội không được
làm và là cơ sở để chế tài những hành động vi phạm các mối quan hệ trong sản
xuất kinh doanh và quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
Giữa các lĩnh vực chính trị - pháp luật - hoạt động quản lý, kinh doanh
có mối liên hệ hữu cơ, trong đó thể chế chính trị giữ vai trò định hướng chi phối
toàn bộ hoạt động trong xã hội, bao gồm cả hoạt động kinh doanh. Sự ổn định
chính trị pháp luật sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh,
hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước, cho phép tận dụng những lợi thế
so sánh của nền kinh tế, thu hút vốn, công nghệ, kĩ năng quản lý.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
Là nguyên tắc phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng
quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu quản lý. Nội dung của nguyên tắc phải
đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và khuôn khổ tập trung, đây là nguyên tắc quan
trọng song thực hiện không đơn giản, phụ thuộc vào bản lĩnh phẩm chất đạo
đức và phong cách của nhà quản lý. Bảo đảm quyền tự chủ của các đơn vị các
cấp là một nguyên tắc tất yếu khách quan khi lực lượng sản xuất cần được xã
hội hóa, tiềm năng các thành phần kinh tế phải được khai thác triệt để.
27
- Nguyên tắc hiệu quả và tiết kiệm
Là nguyên tắc quy định mục tiêu của quản lý, bao gồm hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hòi người quản lý phải
có quan điểm hiệu quả đúng đắn, biết phân tích hiệu quả trong từng tình huống
khác nhau.
Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề mang tính quy luật của các doanh nghiệp
nhà nước.
Tiết kiệm không đồng nghĩa với hạn chế tiêu dùng, mà là tiêu dùng hợp
lý trên khả năng và điều kiện cho phép, là chi tiêu và sử dụng đồng tiền sao cho
có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, giá thành hạ,
thoả mãn nhu cầu của thị trường.
Hiệu quả được xác định bằng hai cách, cách thứ nhất là đầu tư nhằm tạo
việc làm và tăng khối lượng hàng hoá dịch vụ cho xã hội; cách thứ hai là so kết
quả với chi phí.
Hiệu quả và tiết kiệm có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hiệu quả chính là
tiết kiệm theo nghĩa rộng và đầy đủ nhất. Muốn tăng hiệu quả phải bằng cách
tăng kết quả và giảm chi phí, tăng kết quả bằng cách tăng năng suất lao động.
Muốn giảm chi phí bằng cách tiết kiệm các yếu tố đầu vào và tiết kiệm thời
gian. Cũng có thể tăng hiệu quả bằng cách tăng chi phí sản xuất để tăng kết quả
với tốc độ nhanh hơn và quy mô lớn hơn.
- Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích
Lợi ích của người lao động, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội là ba yếu tố cơ
bản nhất của hệ thống lợi ích, trong đó lợi ích của người lao động là động lực
trực tiếp. Lợi ích của người lao động là quyền lợi mà mỗi thành viên trong xã
hội được hưởng thụ căn cứ vào khả năng cống hiến của họ. Lợi ích tập thể là
những khoản lợi nhuận và toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật được tạo ra bởi sự
đóng góp của cả tập thể. Lợi ích xã hội là các nguồn thu của ngân sách nhà
nước và toàn bộ tài sản của nền kinh tế quốc dân.
28
Các hoạt động quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh phải quán triệt đầy
đủ nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế, điều đó được thể hiện ở những
yêu cầu cơ bản sau đây: Các quyết định quản lý kinh doanh phải quan tâm trước
hết đến lợi ích người lao động; Phải tạo ra những lợi ích chung nhằm kết hợp
các lợi ích kinh tế; Coi trọng lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần của các tập thể
và người lao động.
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ cập.
Quản lý tài chính trước hết phải đề cao tính chính xác và nghiêm túc
trong quá trình kiểm tra. Có như vậy thì kiểm tra mới là hoạt động có ý nghĩa.
Tính khách quan đảm bảo quá trình kiểm tra phải phản ánh đúng sự thật, vô tư,
không thiên lệch. Điều này yêu cầu đối với nhà quản lý là không chỉ có thái độ
đúng đắn khi hành xử, công tư phân minh rõ ràng mà còn đòi hỏi cán bộ làm
công tác điều tra phải có trình độ nhất định, có năng lực chuyên môn và nghiệp
vụ chuyên môn giỏi để có thể nhận thức tình hình.
Công khai tài chính bao gồm: công khai quyết định kiểm tra, nội dung
kiểm tra đối tượng kiểm tra, công khai kết quả kiểm tra…
2.2.1.3. Yêu cầu trong quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
- Quản lý tài chính có hiệu quả trong phạm vi nhiệm vụ của doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước không chỉ đóng vai trò tạo lợi nhuận, nguồn thu
cho ngân sách nhà nước, mà còn hoạt động vì mục tiêu cộng đồng. Các doanh
nghiệp nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn, có trách nhiệm đảm
bảo hiệu quả hoạt động của công ty, tập trung vào quản lý các nghiệp vụ tài
chính phát sinh trong quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.
- Sử dụng vốn và tài sản để thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp góp phần huy
động tối đa các số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng các nguồn
vốn bị ứ đọng trong quá trình đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp.
29
Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thu hồi bán hàng và các khoản thu khác,
quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền để đảm
bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán. Mặt khác, cũng cần xác định
rõ các khoản chi phí trong kinh doanh của doanh nghiệp, các khoản thuế mà
doanh nghiệp phải nộp, xác định các khoản chi phí nào là chi phí cho hoạt động
kinh doanh và những chi phí thuộc về các hoạt động khác. Những chi phí vượt
quá định mức quy định hay những chi phí thuộc về các ngành kinh phí khác tài
trợ, không được tính là chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Quản lý tài chính minh bạch và hiệu quả
Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ một lượng lớn vốn, tài sản của Nhà
nước; đóng vai trò quan trọng trong thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô,
hoạt động trong những lĩnh vực mà khối tư nhân không tham gia hoặc do độc
quyền tự nhiên; cung cấp những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, quan trọng đối
với nền kinh tế. Do đó, công khai, minh bạch trong quản lý tài chính tại doanh
nghiệp nhà nước là một trong những yêu cầu thiết yếu để các cơ quan có thẩm
quyền thực hiện giám sát việc thực thi các nhiệm vụ được Nhà nước giao và
nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước tại các doanh
nghiệp này. Theo đó, để nâng cao hiệu quả quản lý, các nội dung tài chính được
người đứng đầu doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ quản lý tài chính công khai,
minh bạch theo quy định của pháp luật, nếu không thực hiện công khai đầy đủ,
đúng hạn thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
- Quản lý tài chính theo đúng quy định của pháp luật
Mỗi tổ chức kinh tế, mỗi doanh nghiệp từ khi bắt đầu thành lập cho đến
suốt quá trình kinh doanh đều phải tuân thủ những quy định của pháp luậtvà
phải giao dịch với bộ máy quản lý hành chính và đội ngũ cán bộ, công chức.
Điều đó cũng có nghĩa là mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu
30
sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của bộ máy hành chính; do đó, sự trong
sáng, lành mạnh và tuân thủ quy định quyết định đến hiệu quả quản lý của hiệu
quả bộ máy quản lý của doanh nghiệp.
- Đảm bảo dự án đầu tư đúng mục tiêu được giao, không đầu tư vào các
lĩnh vực khác
Việc xây dựng và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong
doanh nghiệp cùng hợp tác thực hiện. Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu cần
phải xem xét là hiệu quả chủ yếu của tài chính tức là xem xét, cân nhắc giữa
chi phí bỏ ra, những rủi ro có thể gặp phải và khả năng có thể thu lợi nhuận,
khả năng thực hiện dự án. Trong việc phân tích lựa chọn, đánh giá các dự án
tối ưu, các dự án có mức sinh lời cao, người quản trị tài chính là người xem xét
việc sử dụng vốn đầu tư như thế nào; trên cơ sở tham gia đánh giá, lựa chọn dự
án đầu tư, cần tìm ra định hướng phát triển doanh nghiệp, khi xem xét việc bỏ
vốn thực hiện dự án đầu tư, cần chú ý tới việc tăng cường tính khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp để đảm bảo đạt được hiệu quả kinh tế trước mắt cũng
như lâu dài.
- Đảm bảo kiểm tra kiểm soát, thường xuyên đối với tình hình hoạt động
của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính.
Thông qua tình hình thu chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các
chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tình hình hoạt
động của doanh nghiệp. Mặt khác, định kỳ cần phải tiến hành phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp. Phân tích tài chính nhằm đánh giá điểm mạnh và
những điểm yếu về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, qua đó có thể giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp trong việc đánh giá tổng
quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp, những mặt mạnh và những điểm
còn hạn chế trong hoạt động kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình
luân chuyển vật tư, tiền vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh, từ đó có thể đưa
31
ra những quyết định đúng đắn về sản xuất và tài chính, xây dựng được một kế
hoạch tài chính khoa học, đảm bảo mọi tài sản tiền vốn và mọi nguồn tài chính
của doanh nghiệp được sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhà nước cần được dự kiến
trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính. Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài
chính là công cụ cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các
giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường. Quá trình thực hiện kế
hoạch tài chính cũng là quá trình ra quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới
các mục tiêu của doanh nghiệp.
2.2.1.4. Mô hình quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo hình thức Công ty độc lập,
mô hình quản lý tài chính được tổ chức giản đơn với ba cấp Hội đồng thành
viên hay Chủ tịch công ty => Ban Giám đốc => Phòng (ban) Tài chính và Phòng
(ban) Kế toán.
Hội đồng thành viên / Chủ tịch Công ty
Ban Giám đốc
Phòng ban Kế toán Phòng (ban) Tài chính
Phòng (ban) khác Khối sản xuất – kinh doanh
Sơ đồ 2.1. Mô hình quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
Nguồn: Tác giả tổng hợp.
32
Hội đồng thành viên và Chủ tịch công ty có trách nhiệm quyết định và
phê duyệt định hướng quản lý tài chính, kế hoạch tài chính, kết quả thực hiện
công tác tài chính, chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước chủ quản trực tiếp
về tình hình bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp, sử dụng tài sản và
kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Ban Giám đốc thực hiện giám sát thực hiện kế hoạch tài chính được Hội
đồng thành viên hay Chủ tịch công ty phê duyệt, giám sát công tác quản lý sử dụng
tài sản, thực hiện các quyết định và kiến nghị Hội đồng thành viên về các phương
án huy động vốn, dự án, phương án đầu tư vào doanh nghiệp khác cũng như giám
sát quá trình quản lý tài chính từ phòng (ban) Tài chính và phòng ban Kế toán.
Phòng (ban) Tài chính của DNNN thực hiện hoạch định phương thức
bảo toàn và phát triển vốn, đầu tư vốn, phân tích và hoạch định tài chính, phân
tích và điều chỉnh kế hoạch sử dụng tài sản, quản lý kết quả kinh doanh, phương
án trích quỹ và phân chia cổ tức. Phòng (ban) Kế toán thực hiện kế toán và quản
trị chi phí, xử lý dữ liệu và sổ sách kế toán, báo cáo cơ quan Nhà nước về thuế,
bảo hiểm; lập và trình ban Giám đốc báo cáo quyết toán tài chính, kế hoạch tài
chính và dự báo tài chính.
2.2.2. Quy trình quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
Tương tự như các doanh nghiệp khác, quy trình quản lý tài chính tại
doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo quy định, bao gồm ba giai đoạn
chính là lập kế hoạch tài chính, quyết định và thực hiện quản lý tài chính, kiểm
soát và kiểm toán tài chính.
- Lập kế hoạch tài chính: căn cứ vào chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn
và nguồn lực tài chính sẵn có của doanh nghiệp cơ sở tận dụng tối đa các đòn
bẩy tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hay nói cách khác là nâng
cao lợi nhuận so với vốn đầu tư, doanh nghiệp thực hiện xây dựng kế hoạch tài
chính dài hạn và hàng năm phù hợp kế hoạch kinh doanh của công ty. Hội đồng
33
quản trị quyết định kế hoạch tài chính của doanh nghiệp và báo cáo làm căn cứ
giám sát và đánh giá kết quả quản lý tài chính và quản lý hoạt động kinh doanh
của Hội đồng quản trị và Giám đốc doanh nghiệp.
Kế hoạch tài chính là công cụ không thể thiếu đối với một doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả, giúp đội ngũ quản lý đưa ra các quyết định kinh doanh, tài
chính và vận hành hiệu quả trong ngắn hạn (1-3 năm), trung hạn (3-5 năm), dài
hạn (5-10 năm).
Kế hoạch tài chính là căn cứ để phân bổ nguồn lực tài chính hiệu quả,
góp phần giúp doanh nghiệp nhà nước xác định được mục đích và cách thực
hiện các mục tiêu tài chính, giúp nhà nước đánh giá tính khả thi và hoạt động
giai đoạn tới của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, kế hoạch tài chính được lập kĩ
càng sẽ góp phần đem lại sự ổn định về nguồn tài chính, là một trong những
yếu tố quan trọng đánh giá năng lực điều hành của đội ngũ quản lý tài chính.
- Thực hiện kế hoạch tài chính: là quyết định phương pháp thực hiện hiệu
quả, đồng thời xác định các khoản đầu tư và tài trợ cho hoạt động đầu tư vào
tài sản, công nghệ, con người… như thế nào cho hợp lý. Để từ đó lợi nhuận
được tăng trưởng phù hợp so với mức đầu tư vào tài sản cố định, máy móc hoặc
từ việc nâng cấp công nghệ sản xuất hiện tại… để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Thực hiện quản lý tài chính bao gồm quản lý sử dụng vốn, quản lý sử dụng tài
sản, quản lý vốn của doanh nghiệp đầu tư vào doanh nghiệp khác, quản lý doanh
thu chi phí và phân phối lợi nhuận.
Thực hiện kế hoạch tài chính là khâu quan trọng trong điều hành và quản
lý tài chính. Mỗi doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tài chính trong khoảng thời
gian một niên độ tài chính từ 01 tháng 01 đến 31 tháng 12 hàng năm. Mỗi doanh
nghiệp kết hợp thực hiện theo kế hoạch đã được xây dựng kết hợp với huy động
các nguồn tài chính trong hoạt động kinh doanh, thu chi từng quý, từng năm
kèm với thuyết minh chi tiết các khoản mục doanh thu, chi phí, tài sản, nợ và
vốn chủ sở hữu.
34
- Quyết toán tài chính: Quyết toán là quá trình kiểm tra, tập hợp, thống
kê tất cả có số liệu về giá trị, khối lượng một cách đúng đắn, hợp lệ về công
việc tại một cơ quan, đơn vị. Các cán bộ nhân viên bộ phận kế toán có nhiệm
vụ tổng hợp, thống kê các khoản thu chi để báo cáo lại cho cấp trên, quyết toán
thể hiện rõ giá trị đúng đắn, chính xác khối lương và hợp lệ trong công việc.
- Kiểm tra và giám sát tài chính: cuối kì kế toán, doanh nghiệp lập và gửi
báo cáo tài chính, báo cáo thống kê cho các cơ quan nhà nước và thực hiện công
khai tài chính theo quy định của pháp luật. Kiểm tra tài chính phải được tiến
hành một cách thường xuyên, sau một khoảng thời gian nhất định. Kiểm tra
phải được tiến hành một cảch rộng rãi, trên phạm vi rộng, nhiều đối tượng có
liên quan đến hoạt động tài chính.
2.2.3. Nội dung quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
2.2.3.1. Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn được
cấp từ ngân sách, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà
nước tự tích luỹ. Từ khái niệm này có thể thấy vốn nhà nước được cấu thành
bởi ba bộ phận. Một là, vốn được cấp từ ngân sách, là vốn doanh nghiệp nhà
nước được cấp phát lần đầu khi bắt đầu thành lập và hoạt động (xác định từ thời
điểm giao nhận vốn), vốn được cấp bổ sung trong quá trình hoạt động; vốn
được tiếp quản từ chế độ cũ để lại nếu có. Hai là, vốn có nguồn gốc ngân sách,
là các khoản vốn tăng thêm do được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp
hoặc được cấp lại các khoản phải nộp ngân sách theo quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền; chênh lệch giá tài sản cố định, vật tư, hàng hoá tồn
kho qua các lần kiểm kê, điều chỉnh giá; các nguồn vốn viện trợ: viện trợ nhân
dân, viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, quà tặng theo qui định phải
ghi tăng vốn ngân sách cấp. Ba là, vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ,
chính là phần thu nhập sau thuế doanh nghiệp nhà nước giữ lại để tái đầu tư.
35
Hình thức thực hiện đầu tư của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà
nước cụ thể như sau:
Thứ nhất, thông qua giá trị quyền sử dụng đất: Chính phủ giao đất cho
doanh nghiệp nhà nước hay cho doanh nghiệp thuê đất, thực hiện những chính
sách về đất đai đối với doanh nghiệp nhà nước.
Thứ hai, thông qua cấp vốn điều lệ và bổ sung vốn: Vốn điều lệ để san
lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị đưa vào sản
xuất; Vốn bổ sung được thực hiện trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước
được giao thêm nhiệm vụ.
Thứ ba, không thu khấu hao, miễn giảm thuế hay cấp tín dụng nhà nước
ưu đãi... Những khoản đó được doanh nghiệp nhà nước sử dụng để tái đầu tư,
thay thế đổi mới tài sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác
theo quy định của Chính phủ.
Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước đặt ra hai yêu cầu quan
trọng đối với quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước là bảo toàn vốn và
sinh lời từ vốn.
Thứ nhất, để bảo toàn nguồn vốn của doanh nghiệp, cần có sự tách biệt
giữa người sở hữu vốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục
tiêu không phù hợp nhau. Các doanh nghiệp nhà nước không phải đương đầu
với nguy cơ bị đối thủ cạnh tranh mua lại như các doanh nghiệp trong khu vực
tư nhân. Do đó người sử dụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân,
những động cơ có thể làm cho những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước
hành động không nhất quán với các mục tiêu của doanh nghiệp. Khi những
người này không nắm quyền sở hữu vốn của doanh nghiệp và cũng không thể
tăng thêm sự giàu có cho bản thân bằng cách tăng hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Vì thế đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo vốn và tài sản
của nhà nước không bị xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh
nghiệp hoạt động theo đúng mục tiêu nhà nước đề ra.
36
Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đánh giá mức độ bảo toàn vốn của doanh
nghiệp theo định kì. Sau khi trích lập dự phòng theo quy định của pháp luật,
kết quả kinh doanh hướng tới mục tiêu không phát sinh lỗ để doanh nghiệp đạt
được mức bảo toàn vốn. Mọi biến động về tăng, giảm vốn nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp cần phải báo cáo cơ quan quản lý nhà nước để theo dõi, giám sát.
2.2.3.2. Quản lý huy động vốn tại doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp được quyền vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài
chính; vay của tổ chức, cá nhân ngoài doanh nghiệp, của người lao động; phát
hành trái phiếu doanh nghiệp và các hình thức huy động vốn khác theo quy
định của pháp luật. Quản lý huy động vốn là quản lý nguồn tài chính huy động
từ tổ chức, cá nhân trên.
Nguyên tắc huy động vốn: Căn cứ chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển
05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; Phương
án huy động vốn phải bảo đảm khả năng thanh toán nợ; Người phê duyệt
phương án huy động vốn phải chịu trách nhiệm giám sát, kiểm tra bảo đảm vốn
huy động được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả; Việc huy động vốn của tổ
chức, cá nhân trong nước phải thực hiện thông qua hợp đồng vay vốn với tổ
chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; trường hợp vay vốn từ nguồn vốn
tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thì thực hiện theo quy định của pháp
luật về tín dụng đầu tư phát triển và quy định khác của pháp luật có liên quan;
Việc huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài, vay hoặc phát hành trái
phiếu được Chính phủ bảo lãnh thực hiện theo quy định của pháp luật về quản
lý nợ công và quy định khác của pháp luật có liên quan; Việc huy động vốn
dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Thẩm quyền và quy mô huy động vốn: Hội đồng thành viên hoặc Chủ
tịch công ty quyết định phương án huy động vốn đối với từng dự án có mức
37
huy động không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý
hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời
điểm huy động vốn nhưng không quá mức vốn của dự án nhóm B theo quy định
của Luật đầu tư công; Việc huy động vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh phải
bảo đảm tổng số nợ phải trả bao gồm các khoản bảo lãnh đối với công ty con
không quá ba lần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được ghi trên báo cáo tài
chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất
với thời điểm huy động vốn; Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phân
cấp cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định phương án huy động vốn
theo quy định tại điều lệ hoặc quy chế tài chính của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp được quyền bảo lãnh cho công ty con vay vốn tại tổ chức
tín dụng theo nguyên tắc sau đây: Tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối
với một công ty con do doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn điều lệ không quá giá
trị vốn chủ sở hữu của công ty con theo báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài
chính năm gần nhất tại thời điểm bảo lãnh; Tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay
vốn đối với công ty con do doanh nghiệp nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không
được vượt quá giá trị vốn góp thực tế của doanh nghiệp tại thời điểm bảo lãnh.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng vốn huy động không đúng mục đích,
huy động vốn vượt mức quy định nhưng không được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định hoặc báo
cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý trách nhiệm của Hội đồng thành
viên hoặc Chủ tịch công ty theo quy định của pháp luật.
Hình thức huy động vốn: Đối với tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính,
DNNN huy động vốn theo hình thức vay ưu đãi, thấu chi và vay ngắn hạn, vay
dài hạn. Đối với nhà cung cấp, vốn huy động là nợ phải trả. Đối với các cá
nhân, DNNN có thể thực hiện huy động vốn huy động vốn theo hình thức phát
hành trái phiếu.
38
- Quản lý nợ phải trả
Không chỉ huy động vốn tín dụng, vốn huy động từ nhà cung cấp và các
bên liên quan cũng là một bộ phận quan trọng trong hoạt động doanh nghiệp.
Vốn huy động này là nợ phải trả.
Doanh nghiệp thực hiện quản lý nợ phải trả như sau: Xây dựng, ban hành,
thực hiện quy chế quản lý nợ phải trả. Quy chế quản lý nợ phải trả phải quy
định trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, đối chiếu, xác nhận,
thanh toán nợ; Theo dõi nợ phải trả theo từng đối tượng nợ; thường xuyên phân
loại nợ; xây dựng kế hoạch thanh toán nợ, cân đối dòng tiền bảo đảm thanh
toán nợ; thanh toán các khoản nợ theo đúng thời hạn đã cam kết.
Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc
có trách nhiệm thường xuyên xem xét, đánh giá, phân tích khả năng thanh toán nợ
của doanh nghiệp, phát hiện sớm tình hình khó khăn trong thanh toán nợ để có
giải pháp khắc phục kịp thời, không để phát sinh các khoản nợ quá hạn.
Trường hợp quản lý để phát sinh nợ phải trả quá hạn, nợ không có khả
năng thanh toán thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch công ty, người có liên quan phải bồi thường thiệt hại và bị xử lý
theo quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp.
2.2.3.3. Quản lý và sử dụng tài sản tại doanh nghiệp nhà nước
Tài sản của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: Tài sản cố định, bất động
sản đầu tư, các khoản phải thu dài hạn, tài sản dài hạn khác và tài sản ngắn hạn;
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn bao gồm vốn đầu tư của Doanh nghiệp tại
các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh và các
doanh nghiệp khác; vốn góp trong các hợp đồng hợp tác kinh doanh, các khoản
đầu tư trái phiếu, tín phiếu dài hạn và các khoản đầu tư dài hạn khác.
Về quản lý và sử dụng tài sản doanh nghiệp Nhà nước, cần chú ý đến 3
nội dung là đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định; quản lý sử dụng tài sản
39
cố định; quản lý nợ phải thu, quản lý nợ phải trả, quản lý tổn thất tài sản và
hàng tồn kho.
- Đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định
Doanh nghiệp Nhà nước có thẩm quyền quyết định dự án đầu tư, xây
dựng, mua, bán tài sản cố định của chính doanh nghiệp. Căn cứ chiến lược, kế
hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của
doanh nghiệp, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự
án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định với giá trị không quá 50% vốn
chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của
doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án nhưng
không quá mức vốn của dự án nhóm B theo quy định của Luật đầu tư công. Hội
đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phân cấp cho Tổng giám đốc (Giám
đốc) quyết định các dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định theo quy
định tại điều lệ hoặc quy chế tài chính của doanh nghiệp;
Trường hợp dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định có giá trị
lớn hơn mức quy định trên đây vượt qua 50% vốn sở hữu, Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch công ty báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.
Trình tự, thủ tục đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Người quyết định dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định phải
chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật nếu quyết định không đúng thẩm
quyền hoặc tài sản cố định được đầu tư, xây dựng, mua, bán không sử dụng
được, sử dụng không hiệu quả. Vì thế trước khi quyết định đầu tư, xây dựng,
mua, bán tài sản cố định, người có thẩm quyền phải thực hiện kiểm tra, nghiên
cứu xem xét hiệu quả đầu tư xây dựng mua bán từng tài sản cố định, sau đó báo
cáo hội đồng thành viên, giám đốc và có sự tham gia của những cán bộ có năng
lực chuyên sâu để thảo luận. Trên cơ sở đó, người có thẩm quyền quyết định,
40
hay chưa quyết định phải tổ chức nghiên cứu tiếp với thời gian thích hợp để
báo cáo Hội đồng thành viên và người có thẩm quyền xem xét quyết định.
- Quản lý sử dụng tài sản cố định
Tài sản cố định là nền tảng cơ sở vật chất có chi phí cao và được sử dụng
lâu dài trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, doanh
nghiệp phải ban hành và thực hiện quy chế quản lý sử dụng tài sản cố định, bao
gồm cả những thời gian doanh nghiệp không sử dụng một hoặc một số tài sản
cố định (tài sản cố định nhàn rỗi) thì doanh nghiệp tìm kiếm nhu cầu sử dụng
một số tài sản cố định, phù hợp với tài sản cố định nhàn rỗi của mình, để thực
hiện quyền cho thuê thế chấp cầm cố tài sản cố định theo nguyên tắc có hiệu
quả, bảo toàn và phát triển vốn; nhượng bán, thanh lý tài sản cố định đã hư
hỏng, lạc hậu kỹ thuật, không có nhu cầu sử dụng, không sử dụng được hoặc
sử dụng không hiệu quả để thu hồi vốn.
- Quản lý nợ phải thu
Doanh nghiệp thực hiện quản lý nợ phải thu như sau: Xây dựng, ban
hành, thực hiện quy chế quản lý nợ phải thu. Quy chế quản lý nợ phải thu phải
quy định trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi nợ; Theo
dõi nợ phải thu theo từng đối tượng nợ; Thường xuyên phân loại nợ, đôn đốc
thu hồi nợ.
Doanh nghiệp được quyền bán nợ phải thu quá hạn, nợ phải thu khó đòi,
nợ phải thu không có khả năng thu hồi. Doanh nghiệp chỉ được bán nợ cho tổ
chức kinh tế có chức năng kinh doanh mua bán nợ, không được bán trực tiếp
cho đối tượng nợ. Giá bán do các bên thỏa thuận và chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
Trường hợp quản lý nợ dẫn đến thất thoát vốn chủ sở hữu hoặc bán nợ
dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ, mất vốn, mất khả năng thanh toán, giải thể,
phá sản, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, người có liên quan phải
41
bồi thường thiệt hại và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy
định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp.
- Xử lý tổn thất tài sản, hàng tồn kho
Tổn thất tài sản là tài sản bị mất mát, thiếu hụt, hư hỏng, kém chất lượng,
mất phẩm chất, lạc hậu, tồn kho, ứ đọng trong công tác kiểm kê định kì và kiểm
kê đột xuất do các bộ phận liên quan thực hiện. Doanh nghiệp nhà nước cần
kiểm kê và xử lý trường hợp tổn thất này như sau: Nếu nguyên nhân tổn thất
xuất phát chủ quan thì người gây ra tổn thất phải chịu trách nhiệm bồi thường
theo quy định của pháp luật; Tài sản đã mua bảo hiểm nếu tổn thất thì xử lý
theo các điều khoản hợp đồng bảo hiểm; Giá trị tài sản tổn thất sau khi bù đắp
bằng tiền bổi thường của cá nhân, tập thể, của tổ chức bảo hiểm, phần còn lại
được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kì.
2.2.3.4. Quản lý đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
Việc sử dụng vốn, tài sản, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp để đầu
tư ra ngoài doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về đầu tư,
pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; phù hợp với
chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh
hằng năm của doanh nghiệp.
Hình thức đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: Góp vốn để thành lập công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn thông qua hợp đồng hợp tác
kinh doanh không hình thành pháp nhân mới; Mua cổ phần tại công ty cổ phần,
mua phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; Mua
toàn bộ doanh nghiệp khác; Mua công trái, trái phiếu.
Các trường hợp không được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: Góp vốn, mua
cổ phần, mua toàn bộ doanh nghiệp khác mà người quản lý, người đại diện tại
doanh nghiệp đó là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ,
con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Chủ
42
tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng
Giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng của
doanh nghiệp; Góp vốn cùng công ty con để thành lập công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: Hội đồng
thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp với giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài
chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất
với thời điểm quyết định dự án nhưng không quá mức vốn của dự án nhóm B
theo quy định của Luật đầu tư công. Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công
ty phân cấp cho Tổng giám đốc (Giám đốc) quyết định các dự án đầu tư ra
ngoài doanh nghiệp theo quy định tại điều lệ hoặc quy chế tài chính của doanh
nghiệp; Trường hợp dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp có giá trị lớn hơn mức
quy định, dự án góp vốn liên doanh của doanh nghiệp với nhà đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam, dự án đầu tư vào doanh nghiệp khác để cung ứng sản phẩm,
dịch vụ công ích, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty báo cáo cơ quan
đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.
2.2.3.5. Quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận
Doanh thu của doanh nghiệp Nhà nước bao gồm doanh thu từ hoạt động
sản xuất, kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác. Quản
lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận được xem là nhiệm vụ phức tạp,
liên quan đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, trước hết khoản lớn nhất là
doanh thu. Doanh thu được thực hiện theo từng tháng, quý và cả năm với những
diễn biến phức tạp. Do đó, doanh nghiệp phải theo dõi kịp thời chặt chẽ và hạch
toán ngay khi phát sinh doanh thu.
Chi phí của doanh nghiệp Nhà nước bao gồm chi phí hoạt động sản xuất
kinh doanh, chi phí khác. Tuy nhiên, theo dõi và hạch toán kịp thời hạch toán
43
đúng các chi phí là không hề đơn giản. Do đó, doanh nghiệp phải thường xuyên
kiểm tra kiểm soát để hạch toán đúng và đầy đủ các chi phí phát sinh.
Quản lý doanh thu, thu nhập khác và chi phí bao gồm những nội dung sau:
Hội đồng thành viên, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Nhà nước chịu trách nhiệm trong tổ chức quản lý chặt chẽ, đảm bảo tính đúng
đắn, trung thực và hợp pháp của các khoản doanh thu, thu nhập khác và chi phí
hoạt động kinh doanh.
Người đại diện của doanh nghiệp xây dựng các định mức kinh tế - kĩ
thuật, ngành, nghề kinh doanh, mô hình tổ chức quản lý, trình độ trang bị để
làm căn cứ điều hành sản xuất và quản lý chi phí.
Doanh nghiệp xây dựng định mức lao động, trên cơ sở định mức đã xây
dựng và chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, Người đại diện xây dựng kế
hoạch trình Hội đồng thành viên phê duyệt.
Toàn bộ doanh thu, thu nhập khác và chi phí phát sinh trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy
định của pháp luật và phản ánh đầy đủ trong sổ kế toán của doanh nghiệp theo
chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành.
Doanh nghiệp phải tính đúng, tính đủ chi phí hoạt động sản xuất kinh
doanh, tự trang trải mọi khoản chi phí bằng các khoản thu của Doanh nghiệp
và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
Việc xác định doanh thu, thu nhập và chi phí để xác định nghĩa vụ thuế
và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Doanh nghiệp thực hiện theo quy định
của pháp luật về thuế và pháp luật khác có liên quan.
Lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi bù đắp lỗ của năm trước theo quy
định theo quy định của pháp luật, được trích Quỹ phát triển khoa học và công
nghệ, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, phần lợi nhuận còn lại được phân phối
theo thứ tự như sau: Chia lãi cho các bên góp vốn liên doanh, liên kết theo quy
44
định tại hợp đồng kinh tế đã kí kết; bù đắp khoản lỗ năm trước đã hết thời hạn
được trừ vào lợi nhuận trước thuế; trích các quỹ và nộp về ngân sách Nhà nước
theo quy định của pháp luật.
2.2.4. Chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước theo
nội dung quản lý
Để biết được quản lý tài chính của doanh nghiệp ở những mức độ nhất
định, cần áp dụng một số chỉ tiêu nhất định.
2.2.4.1. Chỉ tiêu định lượng
Một là, Tốc độ tăng quy mô vốn, tài sản, doanh thu, lợi nhuận
Chỉ tiêu được xây dựng dựa trên giá trị vốn, tài sản, doanh thu, lợi nhuận
trong kì so với kì trước, thể hiện tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp theo nội
dung tài chính và nội dung quản lý tài chính.
Hai là, Hệ số bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp
𝐻i = TAi − Di Ei
Trong đó:
Hi: Hệ số bảo toàn vốn (mức độ bảo toàn vốn) doanh nghiệp Nhà nước i.
TAi: Giá trị tổng tài sản doanh nghiệp i tại thời điểm đánh giá.
Di: Nợ phải trả của doanh nghiệp i tại thời điểm đánh giá.
Ei: Vốn đầu tư của chủ sở hữu doanh nghiệp i tại thời điểm đầu kỳ.
Nếu Hi < 1: doanh nghiệp không bảo toàn được vốn.
Nếu Hi = 1: doanh nghiệp bảo toàn được vốn.
Nếu Hi > 1: vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển
Hệ số bảo toàn vốn cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn lực được cấp từ
ngân sách nhà nước tại doanh nghiệp, góp phần đánh giá mức hoàn thành mục
tiêu được giao từ Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Hệ số bảo toàn vốn
là thước đo của cơ quan quản lý vốn nhà nước. Trong trường hợp Hi <1, doanh
45
nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ cần báo cáo giải trình về nguyên nhân thua
lỗ không bảo toàn được vốn và chịu sự giám sát đặc biệt từ cơ quan quản lý
vốn nhà nước.
Ba là, Chỉ tiêu huy động vốn
Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu = Tổng nợ Vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
nhà nước và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Thông
thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của DN được tài trợ chủ
yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của DN được tài trợ chủ yếu bởi
nguồn vốn chủ sở hữu. Hệ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong
việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn.
Bốn là, Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản
Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản (bao gồm cả tài
sản ngắn hạn và tài sản dài hạn) của doanh nghiệp nhà nước. Chỉ tiêu này càng
cao càng có lợi cho doanh nghiệp, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng
hiệu quả.
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quân
Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào.
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hàng tồn kho vận động không ngừng, là nhân
tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Có nghĩa là
doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục
hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng
không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu
nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng doanh nghiệp bị mất khách
46
hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Thêm vào đó, dự trữ nguyên liệu
vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền
sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để
đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng
Số vòng quay khoản phải thu = Doanh thu thuần Khoản phải thu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các khoản phải thu quay được bao
nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp
thời, ít bị chiếm dụng vốn.
Năm là, Hiệu quả sinh lợi - phân tích Dupont
ROE = Gánh nặng thuế x Gánh nặng lãi suất x Suất lợi nhuận cận biên x
Hệ số vòng quay tài sản x Hệ số đòn bẩy tài chín
𝑅𝑂𝐸 = LNST Vốn CSH bình quân
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ số thể hiện mục tiêu quan
trọng nhất của một doanh nghiệp - tối đa giá trị vốn chủ sở hữu. Trong kì vọng
của một doanh nghiệp, ROE càng cao, doanh nghiệp càng có hoạt động kinh
doanh hiệu quả. Theo mô hình Dupont, ROE phụ thuộc vào 5 yếu tố:
Gánh nặng thuế:
𝐺á𝑛ℎ 𝑛ặ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢ế = LNST LNTT
Ảnh hưởng của thuế là điều doanh nghiệp luôn cần suy nghĩ đến trong quá
trình hoạt động. Thuế suất quá cao sẽ làm giảm động lực hoạt động của doanh
nghiệp, đặt ra yêu cầu ưu đãi thuế với một số ngành nghề kinh doanh đặc biệt.
47
Gánh nặng lãi suất:
𝐺á𝑛ℎ 𝑛ặ𝑛𝑔 𝑙ã𝑖 𝑠𝑢ấ𝑡 = LNTT Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Để giảm ảnh hưởng của chi phí lãi vay lên doanh nghiệp, nhà quản lý đánh
giá và sử dụng các phương án huy động vốn tín dụng lãi suất thấp cũng như
giảm tỷ trọng vốn vay tín dụng trong hoạt động kinh doanh.
Suất lợi nhuận cận biên:
𝐺á𝑛ℎ 𝑛ặ𝑛𝑔 𝑙ã𝑖 𝑠𝑢ấ𝑡 = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Doanh thu
Ảnh hưởng của lợi nhuận lên ROE là điều dễ thấy. Để gia tăng lợi nhuận
ròng biên, điều này yêu câu doanh nghiệp phải có một lợi thế cạnh tranh nhất
định trong ngành cũng như tiết kiệm chi chí, tăng giá bán.
Hệ số vòng quay tài sản:
𝐻ệ 𝑠ố 𝑣ò𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑦 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 = Doanh thu Tổng tài sản bình quân
Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt
hơn hoặc tăng hiệu suất sử dụng các tài sản sẵn có của mình, nhằm nâng cao
vòng quay tài sản.
Hệ số đòn bẩy tài chính:
𝐻ệ 𝑠ố đò𝑛 𝑏ẩ𝑦 𝑡à𝑖 𝑐ℎí𝑛ℎ = Tổng tài sản bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân
Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao
đòn bẩy tài chính hay là vay nợ thêm vốn để đầu tư.
2.2.4.2. Chỉ tiêu định tính
Tính mục đích: Hoạt động doanh nghiệp nhà nước luôn có mục đích cụ
thể nên quản lý tài chính của doanh nghiệp nhà nước luôn gắn với mục đích đó.
Mục đích cơ bản của doanh nghiệp nhà nước là tạo lợi nhuận và thực hiện các
nhiệm vụ cộng đồng. Do vậy, tính mục đích trong quản lý tài chính doanh
48
nghiệp nhà nước tập trung vào các mục đích của doanh nghiệp trên góc độ tài
chính, tức là tăng doanh thu, giảm chi phí, tăng giá trị tài sản, đảm bảo mục
đích cộng đồng đã xác định; thể hiện qua việc điều hành, phân phối các dòng
tiền tệ trong bản thân doanh nghiệp nhà nước.
Tính hệ thống: Quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước dựa trên tổng thể
các chính sách, phương pháp và công cụ được thiết lập một cách chặt chẽ, khoa
học, hợp lý toàn hệ thống nhằm tối đa hóa hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Nếu thiếu tính hệ thống, doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản lý tài chính
một cách độc lập sẽ làm giảm tính hiệu quả, hiệu lực của tài chính doanh nghiệp,
gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Tính linh hoạt: Quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước chịu tác động và
chi phối bởi quy luật khắt khe của thị trường. Quản lý tài chính luôn được thay
đổi và điều chỉnh phù hợp với điều kiện sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp,
đảm bảo thích ứng với phương pháp và công cụ tài chính, từng bước phát huy
hiệu quả quản lý tài chính đối với mục đích lợi nhuận và mục đích cộng đồng
của doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
Tính hợp lý: Hệ thống tổ chức quản lý tài chính là một trong nhữn yếu tố
quan trọng tác động đến hiệu quả quản lý tài chính, hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp nhà nước, bao gồm cơ cấu tổ chức đầy đủ, chức năng nhiệm vụ
của hệ thống cụ thể, biên chế nhân lực và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ quản
lý phù hợp, cơ chế hoạt động rõ ràng.
2.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các doanh
nghiệp nhà nước
2.2.5.1. Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp Nhà nước
- Quy định về quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước
Hệ thống quy định về quản lý tài chính là cơ sở để đảm bảo hoạt động
của doanh nghiệp đảm bảo tuân thủ pháp luật về thuế, chuẩn mực kế toán, chế
độ kế toán, quy định pháp lý riêng của ngành cũng như các quy định pháp lý
49
khác có liên quan. Trong đó, quy chế tài chính là quy định bắt buộc, được xem
là quy định nội bộ quan trọng nhất đối với doanh nghiệp nhà nước được xây
dựng tuân thủ theo hệ thống pháp luật hiện hành. Quy chế tài chính là khung
pháp lý rất quan trọng nhằm đảm bảo toàn hoạt động tài chính của doanh nghiệp
diễn ra theo đúng mong muốn quản trị của chủ Doanh nghiệp, nhằm đạt được
mục tiêu tài chính đã đề ra.
Các quy định về quản lý tài chính được xây dựng và thực hiện nhằm đảm
bảo hoạt động của doanh nghiệp đạt mục tiêu hoạt động đề ra, do đó cần cập
nhật theo các thay đổi của hệ thống pháp lý, phù hợp với điều kiện các nguồn
lực của tổ chức, phù hợp với trình độ quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
- Quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước thường có quy mô lớn, cơ cấu tổ chức theo
nhiều mô hình khác nhau như mô hình độc lập hay mô hình công ty mẹ - công
ty con. Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, phạm vi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trải dài, cả trong nước và quốc tế thì cơ chế quản lý tài chính của
doanh nghiệp nhà nước đa dạng và phức tạp hơn. Do đó, công tác quản lý tài
chính tại doanh nghiệp nhà nước cần được xây dựng phù hợp với các đặc điểm
về quy mô, định hướng mở rộng phạm vi kinh doanh, các mối quan hệ hợp tác
và liên kết kinh tế giữa các đơn vị thành viên, giữa công ty mẹ và các công ty
con, công ty liên kết trong doanh nghiệp nhà nước.
- Sự gia tăng nguồn vốn của doanh nghiệp
Trình độ phát triển của doanh nghiệp nhà nước thể hiện thông qua sự
phát triển nguồn lực của doanh nghiệp thông qua hiệu quả hoạt động sản xuất,
kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp. Nguồn lực của doanh nghiệp, hình
thành từ tài sản được đầu tư từ vốn, là gốc rễ của đòn bẩy tài chính, góp phần
phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
50
- Năng lực của đội ngũ quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước
Nguồn nhân lực là trung tâm của bộ máy quản lý. Trình độ cán bộ quản
lý ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định tài chính của doanh nghiệp, từ đó tác
động đến hoạt động kinh doanh và phát triển vốn doanh nghiệp. Đội ngũ quản
lý tài chính có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm càng cao càng có quyết
định tài chính chính xác, phù hợp với doanh nghiệp, tối ưu vốn và lợi ích của
doanh nghiệp.
- Sự nâng cao cơ sở hạ tầng và trình độ công nghệ
Hiện nay, trình độ kỹ thuật và công nghệ cao ngày càng giữ vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra rất nhiều cơ hội cho các doanh
nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh. Công nghệ cao giúp doanh nghiệp nhà
nước đẩy mạnh cải tiến trang thiết bị, dây chuyền sản xuất, góp phần nâng cao
chất lượng sản phẩm đi cùng với tăng năng suất lao động với chi phí biến đổi
thấp hơn, tạo lợi thế cho sản phẩm của các DNNN trên thị trường.
2.2.5.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Nhà nước
Các nhân tố bên ngoài là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp. Nghiên cứu, phân tích các nhân tố bên ngoài sẽ giúp cho doanh
nghiệp nhà nước xác định rõ các cơ hội và thách thức, thuận lợi hay khó khăn
trong hoạt động của mình, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp. Các nhân tố
bên ngoài thường gặp bao gồm:
- Đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của
doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp nhà nước hoạt động luôn có một ngành kinh doanh
chính cốt lõi, thể hiện thế mạnh của doanh nghiệp và đáp ứng mục tiêu cộng
đồng. Đặc điểm của ngành, lĩnh vực kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp sẽ
chi phối mạnh mẽ hoạt động kinh doanh và hoạt động tài chính của các công ty
và đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp nhà nước về quy mô sản xuất, chu kỳ
51
kinh doanh, tốc độ luân chuyển vốn, đặc điểm và tốc độ luân chuyển của tồn
kho dự trữ, sản phẩm dở dang hay bán thành phẩm, thị trường tiêu thụ... Vì vậy,
mỗi doanh nghiệp nhà nước cần thiết lập một cơ chế quản lý tài chính cho chính
doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành kinh doanh để
hoạt động của doanh nghiệp thuận lợi, đạt được mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu
cộng đồng một cách hiệu quả nhất.
- Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội - tự nhiên
Nhân tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhà nước. Các nhân tố tăng trưởng kinh tế, lạm phát, cán cân thanh toán,
tỷ lệ thất nghiệp đều ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng sản phẩm của cộng đồng
và định hướng ngành nghề phát triển của quốc gia. Sự thay đổi về các chỉ số
kinh tế vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến thị phần, nguồn lực đầu vào
và đầu ra của doanh nghiệp.
Một quốc gia có hệ thống chính trị ổn định sẽ tạo môi trường thuận lợi
cho doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt hoạt động
sản xuất kinh doanh, hạn chế các tổn thất về vật chất do bất ổn chính trị, bạo
động hay chiến tranh. Mặt khác, các chính sách an sinh xã hội, chính sách thuế
và các chính sách đối với người lao động ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao
động và chi phí trực tiếp trong quá trình vận hành chuỗi sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ trong doanh nghiệp nhà nước.
Văn hóa - xã hội là nhân tố quan trọng đối với nền kinh tế vĩ mô nói
chung và của doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Một trong những mục tiêu
của doanh nghiệp nhà nước là phục vụ cộng đồng. Những giá trị văn hóa -
xã hội không những ảnh hưởng đến nhu cầu, xu hướng hành vi khách hàng
của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu nhà nước đề ra đối với
doanh nghiệp và hiệu quả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
trong từng giai đoạn.
52
Do tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn, nhân tố tài nguyên không tái tạo
được nhà nước đặc biệt quan tâm và kiểm soát khai thác thông qua các doanh
nghiệp nhà nước. Như vậy, tài nguyên thiên nhiên, đất đai là nhân tố đầu vào
quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào
đó, dân số, khí hậu, nước và chỉ số ô nhiễm môi trường là những yếu tố tự nhiên
quyết định đến quyết định và định mức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của
một doanh nghiệp nhằm đảm bảo số lượng và chất lượng phù hợp nhu cầu, đảm
bảo mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu cộng đồng của doanh nghiệp.
- Hệ thống chính sách quản lý và hỗ trợ của Nhà nước đối với ngành
nghề kinh doanh tại doanh nghiệp nhà nước.
Với yêu cầu thực hiện song song hai mục tiêu xã hội và mục tiêu lợi
nhuận đối với doanh nghiệp nhà nước, chính sách quản lý và hỗ trợ của Nhà
nước là nhân tố quan trọng góp phần tạo điều kiện phục hồi và phát triển sản
xuất, kinh doanh đối với các lĩnh vực đặc trưng, không để đứt gãy chuỗi cung
ứng, sản xuất, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô,
đảm bảo an sinh xã hội và các cân đối lớn về tài chính – ngân sách và dòng vốn
của doanh nghiệp nhà nước.
- Nhân tố cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước
Tuy sản phẩm của một số doanh nghiệp nhà nước có yếu tố độc quyền,
tuy nhiên trong kinh doanh, doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá, sản
phẩm đối với đối thủ, mà còn phải cạnh tranh trong đầu vào và sản phẩm thay
thế cũng đóng vai trò quan trọng, góp phần giảm chi phí đầu vào và sản xuất
nhưng vẫn đảm bảo giá trị và chất lượng của sản phẩm đầu ra. Mặt khác, với
các sản phẩm, dịch vụ không độc quyền, các doanh nghiệp nhà nước có áp lực
cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp ngoài nhà nước do vừa phải đảm bảo
mục tiêu cộng đồng là đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước, vừa phải đảm bảo
mục tiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp khác. Do đó, doanh nghiệp nhà nước
53
cần xây dựng đội ngũ phân tích đối thủ cạnh tranh nhằm nắm rõ những hành
động của các đối thủ cạnh tranh để xây dựng định hướng kinh doanh chính xác
cho mình.
2.3. Kinh nghiệm quản lý tài chính của một số doanh nghiệp nhà nước
2.3.1. Kinh nghiệm trong nước về quản lý tài chính tại doanh nghiệp
nhà nước
2.3.1.1. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Tập đoàn dầu khí quốc gia
Việt Nam
Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam tuy mới thành lập năm 2006 nhưng
đã có lịch sử lâu dài được tạo ra bởi các tổ chức là tiền thân của nó. Khi Tập
đoàn mới được thành lập, nền kinh tế toàn cầu có rất nhiều biến động phức tạp
(tình trạng lạm phát, suy giảm/ suy thoái kinh tế toàn cầu; giá dầu liên tục biến
động, đặc biệt trong giai đoạn giá dầu thấp (cuối 2008-2009), hầu hết các nhà
thầu đều chủ động giãn đầu tư trong hoạt động phát triển mỏ, nhất là các mỏ
nhỏ, các mỏ ở các vùng nước sâu, xa bờ, ở các vùng nhạy cảm). Trong khi đó,
tài nguyên dầu khí ngày một cạn kiệt, điều kiện tập đoàn kinh tế khó khăn hơn,
cạnh tranh quốc tế gay gắt hơn… đã tác động mạnh tới hoạt động sản xuất -
kinh doanh của Tập đoàn. Trong bối cảnh đó, Tập đoàn đã có nhiều nỗ lực để
tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động của mình. Công tác tập đoàn kinh tế dầu
khí được triển khai tích cực ở cả trong nước và ngoài nước, theo đó, đã có thêm
trên 30 phát hiện dầu khí mới, sản lượng khai thác vẫn duy trì ở mức 23-25
triệu tấn dầu quy đổi/năm. Mặt khác, các hoạt động lọc hóa dầu, chế biến khí
cũng từng bước phát triển. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất chính thức cho dòng
sản phẩm xăng dầu đầu tiên từ tháng 2/2009, đáp ứng đến 40% nhu cầu xăng
dầu trong cả nước; hoàn thành và đưa vào vận hành thương mại Nhà máy Đạm
Cà Mau năm 2012 đưa tổng sản lượng đạm của Tập đoàn năm 2012 lên đến 1,3
triệu tấn, đáp ứng khoảng 60% nhu cầu phân urê trong cả nước. Ngoài ra, hàng
54
loạt các dự án nhà máy điện được hình thành, trong đó có năm nhà máy điện là
Cà Mau 1, Cà Mau 2, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2 và Phong điện Phú Quý…
được đưa vào vận hành từ các năm 2008-2012, góp phần đáng kể vào việc giảm
bớt căng thẳng về nguồn cung cấp điện phục vụ cho công nghiệp, quốc phòng,
dân sinh và các lĩnh vực khác của đất nước…
Cùng với sự phát triển của hoạt động tập đoàn kinh tế dầu khí, các hoạt
động dịch vụ cho lĩnh vực này cũng ra đời và phát triển, trong đó quan trọng
nhất là dịch vụ kỹ thuật dầu khí (dịch vụ khoan, dung dịch khoan, cung cấp cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, các đội tàu…).
Hàng năm, các dịch vụ dầu khí đã đóng góp khoảng 20-25% tổng doanh
thu của toàn Tập đoàn. Bên cạnh đó, sự gia tăng sản lượng dầu/ khí khai thác
hàng năm và lãi từ các hợp đồng dầu khí đã là tiền đề cả về vật chất và tài chính
cho sự ra đời và phát triển ngành công nghiệp khí - điện, hình thành công nghiệp
lọc hóa dầu và chế biến khí...góp phần trong việc đảm bảo an ninh năng lượng
và lương thực cho Việt Nam, giúp Tập đoàn xây dựng và củng cố, phát triển
thương hiệu trên thị trường dầu khí thế giới.
Với việc mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư từ các nhà thầu dầu khí
nước ngoài, Tập đoàn đã tạo ra được sự phát triển tốt trong các hoạt động tập
đoàn kinh tế dầu khí. Trữ lượng dầu khí luôn được gia tăng hàng năm và tỷ lệ
trữ lượng gia tăng trên trữ lượng khai thác hàng năm luôn lớn hơn 1 (trữ lượng
dầu khí gia tăng luôn lớn hơn trữ lượng dầu khí đã khai thác). Việt Nam đã lần
lượt đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 100 triệu vào ngày 12/2/2001, khai thác tấn
dầu thứ 200 triệu vào ngày 25/8/2006 và đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 290
triệu vào ngày 31/5/2012. Nhờ vậy, Việt Nam luôn duy trì được vị trí là nước
đứng thứ ba trong khu vực về khai thác dầu khí.
Cùng với việc tự lực thực hiện tập đoàn kinh tế trong nước, Tập đoàn đã
từng bước mở rộng hoạt động tập đoàn kinh tế dầu khí ra nước ngoài, đã hợp
55
tác với nhiều công ty/nhà thầu dầu khí để tập đoàn kinh tế dầu khí tại các khu
vực Nga, Trung Đông, Nam Mỹ, Châu Á - Thái Bình Dương... Việc phát triển
các quan hệ hợp tác với Nga (thông qua Liên doanh Việt Nga Vietsovpetro giữa
hai Chính phủ Nga - Việt Nam từ năm 1981, Liên doanh Rusvietpetro giữa Tập
đoàn với Zarubezhneft từ năm 2008, Liên doanh Gazpromviet giữa Tập đoàn và
Gazprom) là một trong những yếu tố dẫn tới các kết quả tích cực của Tập đoàn.
Tháng 6/2010, thực hiện chủ trương tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà
nước, đặc biệt là đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước và các Tổng công ty lớn
thuộc sở hữu Nhà nước, Chính phủ đã quyết định chuyển công ty mẹ của Tập
đoàn thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Sự chuyển đổi này cho
phép xác định một cách rõ ràng hơn trách nhiệm của Nhà nước cũng như các chủ
thể liên quan đối với việc quản lý và bảo toàn vốn của Nhà nước cũng như những
trách nhiệm gắn với quyền sở hữu vốn của Nhà nước tại Tập đoàn.
2.3.1.2. Kinh nghiệm quản lý tài chính của Tập đoàn Dệt may Việt Nam
Tập đoàn Dệt may Việt nam được thành lập ngày 02/12/2005 theo Quyết
định 314/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại hoạt
động của Tổng công ty Dệt May Việt nam. Trong những năm qua Tập đoàn
Dệt - May Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế
đất nước về tạo việc làm, nguồn thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu. Tuy
nhiên trong những năm gần đây trong bối cảnh nền kinh tế trong nước chịu ảnh
hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế thế giới, mặt khác trong điều kiện phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, Tập đoàn Dệt - May Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách
thức to lớn, đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ cả về kỹ thuật - công nghệ sản
xuất, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách để có thể tiếp tục cạnh tranh bình đẳng
và phát triển một cách bền vững.
56
Về công tác quản lý tài chính, tập đoàn Dệt máy Việt Nam đã đạt được
một số thành tựu đáng học hỏi:
- Về cơ chế quản lý, sử dụng vốn tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam được
thực hiện theo quy định, bao gồm cả quyền cho thuê và thế chấp tài sản. Tập
đoàn Dệt may Việt Nam có thể nhượng bán, thanh lý tài sản của mình nhằm
thu hồi vốn từ những tài sản đó. Tập đoàn và các công ty thành viên được quyền
chủ động lựa chọn phương pháp thực hiện việc tính và trích khấu khao TSCĐ
và sử dụng tiền trích khấu hao trong quá trình kinh doanh; Trong quá trình kinh
doanh, Tập đoàn và các công ty thành viên phải thực hiện rà soát lại các tài sản
cố định đã tham gia vào hoạt động kinh doanh để tiến hành đánh giá lại và xử
lý tổn thất của những TSCĐ đó.
- Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Tập đoàn Dệt - May Việt
Nam và các công ty thành viên cũng dành một phần vốn của mình để đầu tư ra
bên ngoài Tập đoàn. Việc đầu tư một phần vốn của mình ra bên ngoài đã mang lại
cho Tập đoàn và các công ty thành viên không chỉ lợi nhuận mà cả những kinh
nghiệm quý báu trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tại Tập đoàn.
- Quản lý và phân phối lợi nhuận tại Tập đoàn Dệt May Việt Nam là một
vấn đề tài chính quan trọng nhằm giải quyết một cách hài hòa các mối quan hệ
về lợi ích giữa Tập đoàn và người lao động, giữa Công ty mẹ và các Công ty
thành viên vì mục tiêu phát triển Tập đoàn Dệt May Việt Nam một cách bền
vững: Trừ các khoản chi phí thực tế mà Tập đoàn và các công ty thành viên đã
chi nhưng không được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế;
Tập đoàn thực hiện việc trích bổ sung vào vốn Nhà nước tại Tập đoàn số tiền
bằng tỷ lệ 1,8% số vốn Nhà nước; Tập đoàn thực hiện việc chia lãi cho các đối
tác góp vốn theo hợp đồng, hợp tác kinh doanh.
- Để hoạt động tài chính của các Công ty thành viên và toàn Tập đoàn
phục vụ tốt việc thực hiện chiến lược phát triển của Tập đoàn nói chung, chiến
57
lược tài chính của Tập đoàn nói riêng, Tập đoàn Dệt May Việt Nam cũng đã
xây dựng cơ chế kiểm tra giám sát tài chính tại Tập đoàn. Mục tiêu của cơ chế
là nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều chỉnh, xử lý những hoạt động thực tế nảy
sinh trong quá trình kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả đề ra. Bên cạnh đó,
Tập đoàn đã củng cố, sắp xếp, quy định chức năng nhiệm vụ của các Ban chức
năng tham mưu giúp việc trong Tập đoàn một cách rõ ràng, tránh chồng chéo.
2.3.1.3. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần In Sách giáo
khoa Hà Nội
Công ty CP in Sách giáo khoa tại thành phố Hà Nội tiền thân là Nhà máy
in sách giáo khoa trước đây. Nhà máy In sách giáo khoa được thành lập vào
ngày 09/09/1975 theo Quyết định số 644-GD của Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
Ngày 20/05/2004, thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp của
Nhà nước, Nhà máy In Sách giáo khoa Đông Anh đã tiền hành cổ phần hoá
chuyển DNNN thành Công ty cổ phần In Sách giáo khoa Hà Nội với vốn điều
lệ là 12 tỷ đồng. Công ty cổ phần In Sách giáo khoa Hà Nội là đơn vị có truyền
thống in sách giáo khoa phục vụ sự nghiệp giáo dục. Nhiều năm liên tục được
công nhận là đơn vị dẫn đầu trong việc đảm bảo số lượng, chất lượng in sách
giáo khoa.
Công tác quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần In Sách giáo khoa Hà
Nội thực hiện theo hướng đảm bảo sự tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Theo
đó lợi nhuận trước thuế cũng có xu hướng tăng trưởng tương đương với mức
111% đến gần 140%. Bên cạnh thực hiện vượt chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh
doanh, Công ty đã đạt hiệu quả trong công tác tổ chức sản xuất, tiết kiệm chi
phí sử dụng vật tư, nguyên vật liệu tồn kho, chế độ báo cáo tài chính, mang lại
kết quả doanh thu, lợi nhuận khả quan.
Quản lý tài sản ngắn hạn được thực hiện hiệu quả với chính sách hợp lý
trong việc thu hồi nợ, giảm tỷ lệ khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu, mang về
58
hiệu quả khả quan trong quản lý sử dụng các khoản phải thu ngắn hạn của khách
hàng, trả trước người bán cũng như các khoản phải thu ngắn hạn khác. Cùng
với chính sách quản lý hiệu quả các khoản phải thu khách hàng và công nợ của
Công ty, kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp có mức giảm mạnh từ 190,47
lần xuống còn 37,5 lần năm 2019.
Bắt nguồn từ một doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ
phần, Công ty CP in Sách giáo khoa tại thành phố Hà Nội đã có những thay đổi
tích cực trong quản lý tài chính, bao gồm hoàn thiện quy trình ra quyết định
mua sắm TSCĐ, tăng cường đổi mới công nghệ trong quản lý vốn và tài sản,
góp phần phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.1.4. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và
Phát triển Giáo dục Hà Nội
Công ty là một công ty cổ phần có cổ phiếu được niêm yết trên Sở Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội, đồng thời cũng là một đơn vị thành viên thuộc Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam. Công ty hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục là lĩnh
vực đặc thù, kinh doanh sản phẩm sách và thiết bị giáo dục phục vụ trong nhà
trường phổ thông không phải là kinh doanh thương mại đơn thuần mà còn mang
tính chất phục vụ, đòi hỏi phải có bề dày kinh nghiệm, uy tín với đối tượng
phục vụ.
Căn cứ vào đặc điểm tình hình, để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của
Công ty ổn định và phát triển bền vững, Hội đồng Quản trị đã thực hiện tập
trung nguồn lực về tài chính, cùng với tăng cường nhân sự có trình độ chuyên
môn cao, huy động đội ngũ tác giả, chuyên gia, cộng tác viên có kinh nghiệm
để hoàn thành tốt việc tổ chức biên soạn các môn của bộ sách giáo khoa mới,
sách tham khảo thiết yếu được Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phân công làm
đầu mối tổ chức bản thảo và phát triển các dòng sản phẩm mới của Công ty đáp
ứng theo nhu cầu của thị trường; Hội đồng quản trị đã hoàn thành chỉ tiêu sản
59
lượng phát hành, chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, cổ tức theo kế hoạch được Hội
đồng cổ đông thông qua.
Trong quá trình quản lý tài chính, Hội đồng quản trị luôn thực hiện theo
đúng quy định của Pháp luật, Điều lệ của Công ty và Quy chế Quản trị Công ty
và chỉ đạo Phòng Tài chính thực hiện tuân thủ quy chế và cơ chế quản lý tài
chính. Hội đồng quản trị cũng như Phòng Tài chính đã phát huy kinh nghiệm,
trình độ và các mối quan hệ của mình, đã tích cực duy trì và phát huy việc quản
lý, giám sát đối với hoạt động hoạt động tài chính nhằm đảm bảo thực hiện
đúng nội dung các mục tiêu chiến lược và kế hoạch đã đặt ra. Hội đồng Quản
trị kịp thời chỉ đạo và hỗ trợ Tổng Giám đốc, Ban Điều hành, Phòng Tài chính
trong công tác triển khai thực hiện các chỉ tiêu dòng tiền, tài sản, huy động vốn
phục vụ sản xuất – kinh doanh của Công ty; Đảm bảo lợi ích của người lao
động, chi trả cổ tức cho cổ đông và có nguồn tích lũy để tái cơ cấu mở rộng cho
những năm tiếp theo.
2.3.1.5. Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư và
Phát triển Giáo dục Phương Nam
Được thành lập từ năm 2007, Công ty CP Đầu tư và Phát triển Giáo dục
Phương Nam (SEDIDCO) được biết đến là một trong những đơn vị thành viên
lớn mạnh nhất của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXBGDVN) với nhiều
năm kinh nghiệm trong việc tổ chức biên soạn, biên tập, in và phát hành các
sản phẩm giáo dục như: sách giáo khoa, sách bổ trợ, sách tham khảo, sách Tiếng
Anh,… có giá trị thực tiễn phục vụ cho các cấp học từ Mầm non đến Trung học
phổ thông.
Kết quả hoạt động tài chính của Công ty đã đạt được những thành tựu
nhất định với doanh thu năm 2021 đạt 686,7 tỉ đồng, vượt kế hoạch 13% và
tăng 13% so với năm 2020. Lợi nhuận trước thuế đạt 50,3 tỉ đồng, vượt kế
hoạch 7% và tăng 2% so với năm 2020. Để đạt được kết quả khả quan này, Hội
60
đồng quản trị cũng như bộ phận Tài chính luôn quản lý chặt chẽ, tuân thủ đầy
đủ quy định của pháp luật về quản lý tài chính doanh nghiệp. Hội đồng quản trị
thường xuyên giám sát và hỗ trợ bộ phận Tài chính, đảm bảo dòng tiền, đầu tư
tài chính và hoạt động tài chính của doanh nghiệp, phục vụ hoạt động điều hành
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Công tác giám sát và kiểm toán tài chính định kì hàng năm được thực
hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật. Công tác quản lý tài chính được thực
hiện đúng, đủ theo định hướng của Ban lãnh đạo Công ty, tạo kết quả sản xuất
kinh doanh và tình hình tài chính của Công ty có sự tăng trưởng, nguồn vốn
được bảo toàn và phát triển, đảm bảo lợi ích cho các cổ đông thông qua chính
sách chi trả cổ tức.
Quản lý tài chính được thực hiện chặt chẽ, bám sát theo mục tiêu tăng
trưởng ổn định, phát triển thị trường, gia tăng thị phần, doanh thu, lợi nhuận
với tỷ lệ tăng doanh thu bình quân 5%/năm, tỉ lệ lợi nhuận bình quân 2%/năm.
Quản lý tài chính góp phần phát triển các sản phẩm mới, tập trung mảng sách
tiếng Anh, sách tham khảo thiết yếu và tài liệu giáo dục địa phương theo chương
trình giáo dục phổ thông được phổ cập. Đồng thời, dòng tiền và công tác quản
lý vốn, tài sản đã phục vụ hiệu quả cho quá trình nghiên cứu, phát triển tài liệu
điện tử phục vụ công tác dạy và học trực tuyến.
2.3.2. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính doanh nghiệp nhà
nước của một số doanh nghiệp nước ngoài
Kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước tại
Trung Quốc - trường hợp Tập đoàn Dược phẩm Sunve Thượng Hải
Sunve được thành lập vào năm 1958 bởi Cục Quản lý Y tế Đô thị Thượng
Hải. Cơ sở hoạt động của doanh nghiệp có diện tích hơn 200.000 m2 với 3000
nhân viên, trong đó 600 nhân viên chuyên nghiệp và quản lý. Sản phẩm chính
của Tập đoàn là Vitamin C. Tương tự như hầu hết các DNNN ở Trung Quốc,
61
Sunve khởi đầu là một nhà máy sản xuất một sản phẩm, Nhà máy Dược phẩm
Thứ hai Thượng Hải, là nhà máy sản xuất vitamin. Là một phần của cải cách
kinh tế toàn quốc, Nhà máy được đăng ký vào ngày 26 tháng 5 năm 1993 tại
Cục Quản lý Công nghiệp và Thương mại Thượng Hải với tư cách là một công
ty và chuyển tên thành Tập đoàn Dược phẩm Sunve Thượng Hải. Kể từ đó,
Sunve đã thực hiện các bước để hiện đại hóa và đa dạng hóa hoạt động của
mình. Sunve có tổng tài sản là 400 triệu nhân dân tệ và giá trị ròng là
130.000.000 nhân dân tệ (RMB) vào cuối năm 1994. Tỷ lệ tổng nợ so với tổng
tài sản là 79,9%, khoảng bằng mức trung bình cả nước vào cuối năm 1994.
Tổng doanh thu năm 1994 là 443,6 triệu RMB, lợi nhuận hàng năm là 30,2 triệu
RMB, và lợi nhuận sau thuế là 26,6 triệu RMB.
Sunve chiếm 80% thị phần tại Thượng Hải và 9,7% thị phần toàn quốc,
tuy nhiên thị trường vitamin dần dần rất cạnh tranh do tỷ lệ giá nội địa so với
giá quốc tế là 1.14, trong khi 80% nguyên liệu thô của tập đoàn đến từ các
doanh nghiệp nhà nước khác có mức giá đầu vào ở mức tương đối cao. Sau khi
hoàn tất quá trình cải cách, Sunve có thể tổ chức cuộc họp của các cổ đông, có
thể có hội đồng quản trị và có thể có một hệ thống giám sát và kiểm soát phi
tập trung. Tuy nhiên, Chính quyền đô thị Thượng Hải vẫn có sự kiểm soát chặt
chẽ về mặt văn phòng đối với Sunve như một đơn vị của cơ quan chính phủ.
Trụ sở chính của Sunve vẫn có sự kiểm soát chặt chẽ đối với các chi nhánh và
công ty con khác nhau của Sunve như thể chúng là dây chuyền sản xuất. Trong
khi đó, phần lớn các khoản nợ tài chính của Sunve, tăng từ 66% năm 1992 lên
84,1% năm 1995, là nợ các ngân hàng nhà nước. Tuy khoản phải trả của Sunve
đang giảm, tổng số nợ của Tập đoàn đã tăng lên nhanh chóng. Điều này cho
thấy sự gia tăng nhanh chóng của các khoản nợ dài hạn. Tỷ suất sinh lời 7,46%
trên tổng tài sản không đủ để trả lãi suất 10,96% cho khoản vay nhà nước có
62
điều khoản cao, chưa kể lãi suất thị trường 18%. Do đó, khi chi phí vốn được
hạch toán đầy đủ, Sunve, một trong những doanh nghiệp nhà nước hoạt động
tốt nhất ở Trung Quốc, đã thua lỗ vào năm 1994, với tỷ lệ vốn đầu tư / doanh
thu chỉ là 10,69% và tỷ lệ chi phí bán hàng/doanh thu là không đáng kể trong
khi tỷ suất lợi nhuận gộp thấp do sản phẩm đơn giản.
Trước tình hình trên, Tập đoàn đã thực hiện 3 bước cải thiện tình hình
doanh nghiệp (1) tái cấu trúc tổ chức, (2) chuyển đổi kế toán, và (3) tái cấu trúc
tài chính. Tập đoàn chuyển đổi công nghệ sản xuất, thu gọn bộ máy nhân công
sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tránh lãng phí, chi phí lao động cao.
Cùng với chiến lược đa dạng hóa sản phẩm doanh nghiệp, Sunve đã hợp
tác, giao lưu với các doanh nghiệp nước ngoài nổi tiếng trong lĩnh vực khoa
học & công nghệ, quản lý kinh doanh và chuyên môn. Sunve đã hợp tác với
Schering Plough Hoa Kỳ để sản xuất thuốc tẩy giun sán cho động vật. Tập đoàn
đã thành lập hai liên doanh với Roche và Givaudan về các chế phẩm dược phẩm
và hương liệu & nước hoa, đó là Shanghai Roche Pharmaceutical Co., Ltd.,
Shanghai Givaudan Ltd. Trong khi tiếp tục đa dạng hóa sản phẩm, chú ý cải thiện
chất lượng lên thành công ty hàng đầu về dược phẩm, sau đó phát huy lợi thế của
mình về chất lượng sản phẩm, công nghệ và quản trị với chống nhiễm trùng, tim
mạch, mạch máu não, hệ thống miễn dịch, ung thư, Sunve tạo ra sự phát triển
vượt bậc của ngành công nghiệp dược phẩm Trung Quốc phù hợp với nhu cầu
sức khỏe của người dân trên hết chú trọng vào chất lượng. Kết quả tài chính được
cải thiện với tỷ số nợ / tài sản giảm dần, doanh thu tăng cao hàng năm.
2.3.3. Bài học kinh nghiệm đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Từ thực tế QLTC của các doanh nghiệp nhà nước tại Trung Quốc và
doanh nghiệp trong nước, có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho NXB Giáo dục
Việt Nam như sau:
63
Một là, quản lý tài chính tại doanh nghiệp nhà nước và nhất là quản lý
tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giữ vai trò chủ đạo đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của NXB Giáo dục Việt Nam, đảm bảo thực
hiện song song hai mục tiêu: mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi nhuận. NXB
Giáo dục Việt Nam có kế hoạch cụ thể hợp lý, phù hợp với xu hướng dần dần
đa sở hữu, từng bước giảm tỷ lệ góp vốn nhà nước trong doanh nghiệp, với mục
tiêu tối đa hóa hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước; đảm bảo NXB Giáo dục
Việt Nam nắm quyền chủ động chi phối hoạt động của doanh nghiệp.
Hai là, cơ chế huy động vốn phải linh hoạt, hợp lý, phù hợp với đặc thù
hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi nhuận,
tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng nguồn tài chính phục vụ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tại
thời điểm vốn chủ sở hữu không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất. Kế hoạch huy
động vốn vay, vốn từ các nhà đầu tư cần cụ thể thời điểm và giai đoạn huy động
vốn, phương thức đảm bảo, thế chấp khi huy động vốn, nâng cao hiệu quả vòng
quay vốn huy động, phương thức hoàn trả vốn vay, quan trọng nhất là đảm bảo
tài sản nhà nước trong trường hợp sử dụng làm tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Phải tính toán chi tiết, khoa học để tránh bị động tránh kéo dài thời hạn vay vốn
theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Từ đó tránh bị phạt đã được ghi trong hợp
đồng tín dụng, nhất là trong trường hợp huy động tín dụng từ các nhà đầu tư để
tránh mọi tranh chấp khi hợp tác đầu tư kéo dài và lợi nhuận đạt thấp hoặc bị
thua lỗ.
Ba là, hoàn thiện cơ chế quản lý trong sử dụng vốn và sử dụng tài sản
của các doanh nghiệp. Để Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đủ sức lập chiến
lược và kế hoạch đầu tư dài hạn, cần phát triển từng bước một cách khoa học,
hợp lý và lâu dài, tránh chỉ quan tâm phát triển ngắn hạn mang tính chất cơ hội,
mà đi chệch định hướng, kinh doanh.
64
Bốn là, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần xây dựng cơ chế phân chia
lợi nhuận hợp lý, đảm bảo trích quỹ đầu tư phát triển, các quỹ khen thưởng và
nộp lợi nhuận về ngân sách nhà nước đủ và đúng theo quy định của pháp luật.
Việc xác định được điểm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh có vai trò quan
trọng; doanh thu tăng nhanh sẽ làm giảm các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời giúp doanh nghiệp có thể tái đầu tư
nguồn vốn nhanh hơn.
Năm là, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xây dựng cơ chế kiểm tra,
giám sát nội bộ các hoạt động tài chính thường xuyên và chặt chẽ. Căn cứ vào
mục tiêu cũng như định hướng, chiến lược phát triển dài hạn, thông qua hệ
thống các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính tiến hành việc kiểm
tra, giám sát tài chính toàn diện ở tất cả các giai đoạn cụ thể của chu kỳ sản
xuất, kinh doanh một cách minh bạch, chính xác và đảm bảo kịp thời trong quá
trình quản lý điều hành hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
65
Kết luận chương 2
Với mục tiêu làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp Nhà nước
và quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước, chương 2 đã đề cập một số nội
dung cơ bản như sau:
Khái quát về khái niệm, đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước, từ đó nêu
cụ thể các vai trò, những mục tiêu chính của doanh nghiệp nhà nước trong nền
kinh tế thị trường.
Khái quát thế nào là quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước, từ đó
nghiên cứu về nội dung quản lý tài chính bao gồm quản lý và sử dụng tài sản,
quản lý vốn Nhà nước, quản lý huy động vốn, quản lý đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp, quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận.
Khái quát các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả quản lý tài chính doanh
nghiệp nhà nước cũng như các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến
quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước.
Từ tìm hiểu kinh nghiệm quản lý tài chính của các doanh nghiệp nhà
nước trong và ngoài nước, chuyên đề rút ra bài học kinh nghiệm cho Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam.
66
Chương 3
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
3.1. Giới thiệu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3.1.1. Quá trình phát triển Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Công ty TNHH MTV Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam (NXB Giáo dục
Việt Nam) là doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
(GD&ĐT), được thành lập ngày 01/6/1957 theo Nghị định số 398/NĐ của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chuyển sang hoạt
động theo mô hình tổ chức công ty mẹ - công ty con theo Quyết định số
102/2003/QĐ-TTg ngày 21/5/2003. Trải qua hơn 65 năm xây dựng, trưởng
thành và phát triển, đến nay Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được đánh giá là
nhà xuất bản lớn nhất Việt Nam, với chức năng, nhiệm vụ:
(1) Tổ chức biên soạn, biên tập, in ấn, xuất bản và tổng phát hành các
loại sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo (STK), sách bài tập (SBT), tạp chí,
tranh ảnh, bản đồ giáo khoa, băng hình, băng tiếng, đĩa CD-ROM, sách điện tử
và các ấn phẩm giáo dục khác... phục vụ việc giảng dạy và học tập cho các
ngành học, bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
(2) Phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo
trong quản lí công tác thư viện trường học, thực hiện việc quản lí xuất bản trong
ngành giáo dục.
(3) Hợp tác, liên doanh với các đơn vị, cá nhân trong và ngoài nước, với
các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm giáo
dục, trao đổi thông tin, trao đổi chuyên gia, đào tạo cán bộ và thực hiện việc
xuất nhập khẩu những mặt hàng có liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh
doanh (SX-KD) của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam theo quy định của Nhà
nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
67
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là đơn vị hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực xuất bản sách và sản xuất, cung ứng các sản phẩm giáo dục, đối tượng
phục vụ chính là học sinh, sinh viên, các thầy, cô giáo, với hệ thống sản phẩm
đa dạng, đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về dạy và học của học sinh, giáo viên các
ngành học, bậc học. NXB Giáo dục Việt Nam luôn xác định mục tiêu: lấy phục
vụ làm nhiệm vụ hàng đầu bằng việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, đồng bộ sản
phẩm sách giáo dục có thương hiệu và chất lượng cao, với giá bán ổn định ở
mức thấp, phù hợp với tuyệt đại đa số học sinh và giáo viên trong cả nước; với
phương thức phát hành năng động, đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng đầy đủ
mọi nhu cầu, góp phần ổn định thị trường sách giáo dục và ổn định xã hội.
Trong suốt quá trình hoạt động Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam luôn
hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, đảm bảo cung ứng đầy đủ, đồng bộ,
kịp thời SGK và các ấn phẩm giáo dục phục vụ năm học, không để xảy ra hiện
tượng thiếu sách, sốt sách; tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật trong
lĩnh vực xuất bản, in và phát hành.
Hơn 65 năm qua, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã phát triển, trở
thành nhà xuất bản lớn nhất trong cả nước, từng bước hình thành nên hệ thống
công ty mẹ - công ty con với nhiều đơn vị thành viên hoạt động chủ yếu là phục
vụ sự nghiệp giáo dục.
Ngày 21/5/2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
102/2003/QĐ-TTg về việc thí điểm chuyển NXBGD sang hoạt động theo mô
hình Công ty mẹ - Công ty con. Ngày 28/7/2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban
hành Quyết định số 3961/QĐ-BGDĐT-TCCB về việc tổ chức lại Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam thành Công ty mẹ theo mô hình công ty mẹ - công ty con;
Quyết định số 4349/QĐ-BGDĐT-TCCB ngày 27/01/2005 về việc Phê duyệt
Điều lệ tổ chức và hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, thí điểm
theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Từ năm 2010, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam là Công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước, được chuyển
68
đổi từ doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định số 2749/QĐ-BGD&ĐT-TCCB
của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc chuyển đổi Công ty mẹ Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam thành Công ty TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu.
3.1.2. Tổ chức hoạt động cơ cấu tổ chức tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
Hội đồng thành viên
Ban Giám đốc Ban kiểm soát
Ban Tổng Biên tập; Ban Thư kí Biên tập
Ban Biên tập sách và Kiểm định chất lượng
Ban Quản lý xuất bản
Ban Tổ chức Nhân sự
Ban Kế hoạchTài chính
Ban Kế hoạch Marketing; Ban Truyền thông
Ban QL CSVC và XDCB; Ban Thiết bị GD
Ban CNTT
Phòng Tổng hợp - Đối ngoại; Phòng Hành chính - Quản trị
Sơ đồ 3.1. Cơ cấu tổ chức Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Nguồn: Phòng Hành chính - Quản trị NXB Giáo dục Việt Nam
Cơ cấu tổ chức bộ máy tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam bao gồm :
- Hội đồng thành viên
- Tổng Giám đốc, các phó Tổng giám đốc
- Kiểm soát viên
- Cơ quan Văn phòng Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Cơ quan Văn
phòng được thành lập trực thuộc Công ty Mẹ NXB Giáo dục Việt Nam, có chức
69
năng tham mưu, giúp việc cho Lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam thực hiện
các công tác: thư ký, tổng hợp, đối ngoại, hành chính quản trị, văn thư, lưu trữ
và các công tác khác có liên quan.
- Khối các công ty cổ phần có vốn góp gồm 41 đơn vị, phần lớn các công
ty cổ phần thành viên đều có tiền thân là từ một bộ phận của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam tách ra hoặc là doanh nghiệp nhà nước thành viên của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam thực hiện cổ phần hóa. Các đơn vị này vẫn đang tiếp
tục thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, tham gia một số khâu của quy trình xuất
bản (đề tài, bản thảo, biên tập, in ấn, phát hành).
Về quy mô nguồn nhân lực, tổng số lao động của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam bao gồm 3.071 người, trong đó 258 nhân viên tại Văn phòng Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam và 2.813 nhân viên tại các đơn vị thành viên. Trình
độ nhân viên tăng dần qua từng giai đoạn phát triển của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam, trong số nhân viên hiện tại có 2 Giáo sư, 3 Phó Giáo sư, 49 Tiến sĩ,
165 Thạc sĩ, 1.265 cử nhân đại học. Tất cả nhân viên đều có trình độ Tin học
và Ngoại ngữ chuẩn hóa.
3.1.3. Kết quả hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3.1.3.1. Đặc điểm sản xuất kinh doanh Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất bản sách
và sản xuất, cung ứng các sản phẩm giáo dục. Tuy nhiên đặc điểm đậm nét nhất
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là hoạt động có tính chất thời vụ, phát
hành sách giáo khoa trong thời gian đầu vào năm học mới. Đặc điểm này đòi
hỏi hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tương tự như mùa vụ tiêu
thụ vải thiều. Do đó cần có sự chỉ đạo quyết liệt chặt chẽ ngay từ trước năm
học mới được khai giảng. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam luôn kiên trì với
hai mục tiêu chính: tạo ra lợi nhuận và mục tiêu phi lợi nhuận từ Nhà nước là
đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ SGK, các ấn phẩm giáo dục phục
70
vụ việc dạy và học của học sinh, giáo viên trước ngày khai giảng, không để một
học sinh nào phải bỏ học vì thiếu SGK.
Hoạt động kinh doanh chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam bao
gồm: in ấn và phát hành sách giáo khoa, in ấn và phát hành sách tham khảo,
sách bài tập, hoạt động quản lý xuất bản, bán vật tư, cho thuê văn phòng, in ấn
và phát hành tạp chí và các hoạt động liên quan đến sản phẩm giáo dục khác.
Với sản phẩm sách giáo khoa, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tổ chức
biên soạn các bộ sách giáo khoa mới với đầy đủ môn học, cập nhật chương
trình các cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Sách tham khảo
được thực hiện với nội dung phong phú, mức hợp lý góp phần nâng cao tri thức
của người đọc. Với mạng lưới phân phối phủ khắp các tỉnh, thành phố được
duy trì ổn định nhiều năm, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam luôn giữ 80% thị
phần phát hành sách trong cả nước.
Hoạt động quản lý xuất bản mang lại doanh thu cho Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam từ phí đăng kí, cấp phép xuất bản, đăng kí bản quyền, lưu giữ dữ
liệu và hợp đồng biên soạn sách giáo dục.
Hoạt động bán vật tư, cho thuê văn phòng, in ấn và phát hành tạp chí và
các hoạt động liên quan đến sản phẩm giáo dục khác được Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam thực hiện nghiêm túc, mang lại lợi ích tài chính, phụ trợ thêm
cho hoạt động phát hành sách giáo khoa, sách tham khảo và hoạt động quản lý
xuất bản.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NXBGDVN đã đặt ra yêu cầu quản
lý tài chính chú trọng vốn và tài sản, dòng tiền đảm bảo cho hoạt động sản xuất
sản phẩm với vòng đời ngắn hạn của NXBGDVN.
3.1.3.2. Kết quả kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Trong 6 năm 2016 đến 2021, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã huy
động các nguồn lực triển khai xuất bản - in - phát hành sách giáo khoa để đạt
71
mục tiêu đáp ứng đầy đủ, đồng bộ, kịp thời phục vụ học sinh, giáo viên trên cả
nước, không để xảy ra tình trạng thiếu sách, sốt sách, hoàn thành tốt nhiệm vụ
chính trị được giao, góp phần cùng ngành Giáo dục hoàn thành nhiệm vụ từng
năm học. Cùng với sách giáo khoa, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tổ chức
biên soạn, xuất bản các sản phẩm đi kèm: sách bổ trợ, sách tham khảo, sách bài
tập, sách điện tử, thiết bị giáo dục, tạo nên chuỗi sản phẩm liên hoàn, kết nối,
tạo sức mạnh cạnh tranh cho sách giáo khoa mới.
Bảng 3.1. Kết quả hoạt động của NXB Giáo dục Việt Nam giai đoạn
2016 - 2021
Chỉ tiêu Đvt 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Sản lượng Nghìn 101.067 107.807 113.6 125.172 122.386 133.301 SGK bản
Tỷ Doanh thu 1.147 1.203 1.234 1.483 1.370 1.828 đồng
Tỷ LNTT 72,107 150,813 128,149 131,992 122,623 314,411 đồng
Nộp ngân Tỷ - 11,023 10,617 10,698 15,495 26,997 sách đồng
Nguồn: Ban Kế hoạch - Tài chính NXB Giáo dục Việt Nam
Số liệu cụ thể qua bảng 3.1 cho thấy kết quả kinh doanh của Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam trong 6 năm đạt và vượt kế hoạch được giao, tài chính minh
bạch, lành mạnh. Tổng doanh thu năm 2021 đạt 1.828 tỉ đồng, lợi nhuận trước
thuế đạt 122,6 tỉ đồng. Nộp ngân sách được Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
thực hiện đúng và đủ. Đạt được kết quả này là do NXB Giáo dục Việt Nam
thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Trong 6 năm từ 2016 đến 2021 còn có khoản thu từ hoạt động thoái vốn,
hoàn nhập dự phòng đầu tư tài chính.
72
Là doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tổ chức tốt hoạt
động sản xuất - kinh doanh, có các biện pháp đổi mới sáng tạo, phù hợp với cơ
chế thị trường, tạo nguồn công việc ổn định cho cán bộ, nhân viên; phương
thức phát hành năng động, đa dạng, linh hoạt; hàng năm Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được
giao, sản xuất - kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn,
thực hiện đầy đủ các chế độ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
3.1.4. Bộ máy quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Hội đồng thành viên
Ban Giám đốc
Ban kiểm toán, kiểm soát nội bộ
Ban Kế hoạch Tài chính
Quản lý vốn nhà nước tại NXB Giáo dục Việt Nam
Quản lý Đầu tư vốn ra ngoài NXB Giáo dục Việt Nam
Quản lý Huy động vốn
Quản lý Doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Quản lý và sử dụng tài sản
Sơ đồ 3.2. Sơ đồ Tổ chức bộ máy quản lý tài chính tại NXB Giáo dục
Việt Nam
Nguồn: Ban Kế hoạch Tài chính NXB Giáo dục Việt Nam
Bộ máy quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được Hội
đồng thành viên và Ban giám đốc quyết định nhân sự, tổ chức và hoạt động.
Ban Kế hoạch Tài chính có chức năng tham mưu, đề xuất với Ban Giám
đốc và Hội đồng thành viên, trình kế hoạch tài chính, thực hiện theo dõi và
73
giám sát thu chi, vốn và tài sản theo mục tiêu đề ra và quy định của Nhà nước
đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, bao gồm cả các đơn vị trực thuộc và
vốn đầu tư vào công ty con, công ty liên kết và công ty NXB Giáo dục Việt
Nam chi phối vốn.
Công tác kế hoạch bao gồm chủ trì công tác xây dựng kế hoạch tài chính,
kế hoạch đầu tư và kế hoạch huy động vốn, lập các báo cáo định kì và đột xuất
liên quan đến tài chính các hoạt động sản xuất - kinh doanh - đầu tư, trình ban
lãnh đạo các đơn vị trực thuộc và Hội đồng thành viên, Ban Giám đốc NXB
Giáo dục Việt Nam phê duyệt. Ban Kế hoạch Tài chính sẽ thẩm định kế hoạch
tài chính của các đơn vị trực thuộc trước khi trình lên cấp trên phê duyệt.
Công tác tài chính bao gồm: Soạn thảo, trình Ban Lãnh đạo theo phân
cấp tổ chức quản lý và các cơ quan nhà nước liên quan các văn bản liên quan
đến công tác tài chính và kế toán của Công ty; Cân đối các luồng thu chi tài
chính đảm bảo hoạt động sản xuất - kinh doanh của toàn Nhà xuất bản diễn ra
theo mục tiêu đề ra; Tham gia xây dựng định mức chi tiêu, quy chế quản lý tài
chính, quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp; Lập báo cáo tài chính định kì và báo
cáo đối với các hoạt động đột xuất của Nhà xuất bản; Tổng hợp, thống kê, phân
tích các số liệu kế toán tài chính; Hướng dẫn chế độ và thông tin kế toán - tài
chính đến các phòng, ban khác. Ban Kế hoạch Tài chính thực hiện kiểm tra
thực hiện tài chính đối với các đơn vị trực thuộc và các phòng ban khác.
Công tác quản lý tài sản bao gồm kiểm tra, theo dõi định kì và đánh giá
giá trị tài sản của doanh nghiệp, thực hiện theo dõi sửa chữa, thanh lý tài sản
cố định và lập kế hoạch mua sắm tài sản theo quy định.
Quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam tuân thủ theo các quy định
chung về tài chính, xây dựng báo cáo tài chính, quản lý tài chính các doanh
nghiệp nhà nước, bao gồm Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020,
Luật Doanh nghiệp nhà nước 2013, Luật Kế toán 2015 và các Nghị định, Thông
tư hướng dẫn liên quan.
74
Về công tác quản lý vốn, tài sản, Ban Kế hoạch Tài chính Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam tuân thủ theo Luật Đầu tư công 2014, Luật Quản lý, sử
dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014,
Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh
nghiệp 2018 và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 và các Nghị định,
Thông tư liên quan. Pháp luật về quản lý vốn, tài sản đối với doanh nghiệp
tương đối đầy đủ với hệ thống quy định về phân cấp, phân công quản lý vốn và
tài sản trong doanh nghiệp nhà nước, cơ chế giám sát và kiểm tra tài sản của
doanh nghiệp nhà nước. Đối với nguồn vốn huy động tín dụng, doanh nghiệp
nhà nước, trong đó có NXB Giáo dục Việt Nam được quy định cụ thể về lập và
phê duyệt phương án vay vốn tín dụng theo kế hoạch hơn 3 năm, tỷ lệ vay vốn.
Về đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
thực hiện tuân thủ theo Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản
xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 với các quy định rõ ràng về hình thức
đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, các trường hợp cụ thể không được đầu tư ra
ngoài doanh nghiệp, thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp.
Quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận đối với Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam được quy định tại Nghị định số 91/2015/NĐ-CP và Thông
tư 59/2018/TT-BTC, theo đó, công tác phân phối lợi nhuận đối với doanh
nghiệp nhà nước được phân phối bù đắp lỗ, trích quỹ đặc thù theo quy định, lợi
nhuận còn lại sau khi trích quỹ được nộp về ngân sách Nhà nước.
Về công tác kế hoạch và thực hiện, quyết toán tài chính, Ban Kế hoạch
Tài chính thực hiện theo một số văn bản riêng do Bộ Giáo dục - Đào tạo phê
duyệt, cụ thể:
Quy định về quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam được xây
dựng đầy đủ, phổ biến và triển khai bài bản tuân thủ theo các quy định liên quan
của cơ quan quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, Quy chế quản lý tài chính tại NXB
75
Giáo dục Việt Nam số 1068/QĐ-BGDĐT được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê
duyệt ngày 22/3/2018, đến nay đã có nhiều luật và quy định mới được ban hành
như Luật Doanh nghiệp 2020, Nghị định số 140/2020/NĐ-CP, Thông tư số
36/2021/TT-BTC, đặt ra yêu cầu đối với NXB Giáo dục Việt Nam trong rà
soát, cập nhật, điều chỉnh, đổi mới quản lý tài chính hàng năm để phù hợp với
quy định và tình hình thực tế.
3.2. Thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
3.2.1. Thực trạng quy trình quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
3.2.1.1. Thực trạng lập kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
Công tác lập kế hoạch tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam được xây
dựng theo quy định của Nhà nước về báo cáo kế hoạch tài chính và căn cứ định
hướng chiến lược, quy hoạch phát triển sản xuất kinh doanh dài hạn của NXB
Giáo dục Việt Nam đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt. Các kế hoạch
tài chính hàng năm hay dài hạn trong 3 năm, 5 năm được Ban Kế hoạch Tài
chính xây dựng dựa trên cơ sở Công văn số 18470/BTC-TCDN và Công văn
số 825/CV-NXB Giáo dục Việt Nam quy định về Quy chế tài chính của NXB
Giáo dục Việt Nam, cụ thể:
+ Căn cứ Hướng dẫn từ Bộ Tài chính về lập kế hoạch tài chính tại các
doanh nghiệp nhà nước, bao gồm Thông tư 219/2015/TT-BTC hướng dẫn một
số nội dung Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 của
Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn,
tài sản tại doanh nghiệp.
+ Các ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tiếp tục
triển khai việc xây dựng và chuẩn bị các điều kiện để áp dụng chương trình,
sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới.
76
+ Căn cứ dự báo, đánh giá các yếu tố biến động khách quan và chủ quan
ảnh hưởng, tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021 như: dự báo số liệu học sinh, trường, lớp,
giáo viên phục vụ năm học từ Bộ Giáo dục và Đào tạo; phân tích dự báo giá
nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào; đánh giá sự thay đổi chính sách lương
thưởng, bảo hiểm xã hội của Nhà nước, tăng lương tối thiểu vùng, tăng lương
cơ sở, quy định mới về bảo hiểm xã hội ảnh hưởng đến chi phí nhân công và
quản lý doanh nghiệp tại NXB Giáo dục Việt Nam; dự đoán tình hình kinh
doanh của cá đơn vị thành viên NXB Giáo dục Việt Nam có vốn góp.
+ Căn cứ kết quả sản xuất kinh doanh các năm trước làm cơ sở xây dựng
kế hoạch sản xuất kinh doanh các năm tiếp theo
+ Căn cứ định hướng chiến lược, quy hoạch phát triển sản xuất của Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt; Căn
cứ kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, năng lực của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam và nhu cầu thị trường.
Trong giai đoạn 2016 - 2021, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xây dựng
kế hoạch hàng năm với đầy đủ nội dung, tiến độ thời gian và biểu mẫu theo quy
định của pháp luật.
77
Bảng 3.2. Kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai
đoạn 2016 - 2021
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu Tổng doanh thu Tốc độ tăng
2016 1.050,000 -
Doanh thu thuần 1.020,000
2017 1.100,000 104,76% 1.065,000 104,41%
2018 1.173,000 106,64% 1.123,000 105,45%
2019 1.406,000 119,86% 1.347,000 119,95%
2020 1.294,604 92,08% 1.239,858 92,05%
2021 1.386,751 107,12% 1.339,589 108,04%
-
25,500
30,000
45,000
56,000
52,524
45,061
117,65% 5,000 111,11%
150,00% 5,000 100,00%
124,44% 3,000 60,00%
93,79% 2,222 74,07%
85,79% 2,101 94,55%
- 4,500 -
36,000
73,000
85,000
129,328
99,931
115,147
202,78% 1.260,319 92,91% 678,451 115,32%
116,44% 1.248,659 99,07% 660,412 97,34%
152,15% 1.342,142 107,49% 730,482 110,61%
77,27% 1.340,412 99,87% 730,581 100,01%
115,23% 1.435,819 107,12% 730,681 100,01%
- 1.356,459 - 588,312 -
700,000
477,000
477,000
477,000
487,000
487,000
68,14%
100,00%
102,10%
100,00%
Tốc độ tăng Doanh thu HĐTC Tốc độ tăng Doanh thu khác Tốc độ tăng Lợi nhuận sau thuế Tốc độ tăng Tổng tài sản Tốc độ tăng Vốn chủ sở hữu Tốc độ tăng Tổng vốn huy động Tốc độ tăng
-
100,00% Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Từ bảng 3.2, doanh thu được lên kế hoạch từ từng hoạt động chính, với kế
hoạch cho từng sản phẩm sách được phát hành và xét theo kết quả kinh doanh
của năm trước. Theo kế hoạch, doanh thu chủ yếu đến từ doanh thu sách giáo
khoa với tỷ trọng hàng năm ở mức 103,5% đến 110,57% so với doanh thu thực
tế đạt được của năm trước do quy định giá sách tăng lên theo mức tăng trưởng
kinh tế quốc gia và kế hoạch mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh sách tham
khảo của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Doanh thu từ hoạt động tài chính
luôn ở mức kế hoạch thấp hơn mức ước thực hiện năm trước, với mức 45,61%
đến 90,74%.
78
Tuy doanh thu đến chủ yếu từ phát hành sách giáo khoa, kế hoạch lợi
nhuận chủ yếu từ phí quản lý xuất bản và lợi nhuận hoạt động tài chính. Kế hoạch
lợi nhuận trước thuế của Nhà xuất bản luôn ở mức 49,92% tăng dần lên 93,28%
trong giai đoạn 2016 - 2021 do kế hoạch thực hiện Đề án tái cơ cấu giai đoạn
2014 - 2021. Với các doanh nghiệp trong doanh mục thoái vốn của Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam chưa tạo được sự quan tâm của các nhà đầu tư, doanh thu tài
chính này không tính vào kế hoạch tài chính hai năm 2017 và 2018.
Kế hoạch sử dụng tài sản, vốn chủ sở hữu phù hợp với định hướng sử dụng
tài sản, bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp với mức dự toán tăng dần
vốn chủ sở hữu từ 588,312 tỷ đồng năm 2016 lên 730,681 tỷ đồng năm 2021.
Tuy nhiên, kế hoạch huy động vốn chưa hợp lý với mức dự toán huy động
không đổi 477 tỷ đồng qua 3 năm từ 2017 đến 2019, trong khi khoản huy động
của Nhà xuất bản chủ yếu là vay ngắn hạn phục vụ sản xuất sách khi vào mùa
vụ, là khoản mục dự báo theo kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp nhưng chưa
có kế hoạch trả nợ vay hợp lý. Thêm vào đó, kế hoạch tài chính của Nhà xuất
bản còn gặp một số vấn đề chưa hợp lý khi chưa tính và trích lập đến các khoản
mục phát sinh, đặt ra khó khăn trong kỳ hoạt động của các đơn vị trực thuộc và
quá trình phân bổ vốn và kế hoạch sản xuất của toàn Nhà xuất bản.
Tóm lại, kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được
triển khai xây dựng hợp lý; căn cứ chế độ, chính sách của Nhà nước, quy định
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Tình hình phát triển kinh tế xã hội, dự
báo khả năng biến động của thị trường có tác động ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất, kinh doanh của đơn vị; Phương hướng nhiệm vụ công tác năm tiếp
theo của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Kết quả sản xuất kinh doanh của
năm trước liền kề với năm xây dựng kế hoạch; Chức năng, nhiệm vụ được phân
công của các cá nhân, đơn vị. Tuy nhiên, so với thời kì trước đây, mảng kinh
doanh độc quyền in và phát hành sách giáo khoa, hoạt động xuất bản và cho
thuê văn phòng đều là các lĩnh vực ổn định lâu dài, từ năm 2019 khi áp dụng
79
chương trình nhiều sách giáo khoa, công tác xây dựng kế hoạch doanh thu trở
nên phức tạp với nhiều yếu tố cần dự báo.
Ngoài ra, kế hoạch của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được tạo nên từ
tổng thể kế hoạch các đơn vị, các bộ phận chuyên môn. Hiện nay còn tồn tại
tình trạng kế hoạch kinh doanh của các đơn vị xây dựng vẫn mang tính chất thủ
tục, an toàn, nghĩa là xây dựng ít hơn so với dự báo thực tế về doanh thu, và
xây dựng nhiều hơn so với dự báo thực tế về chi phí. Điều này sẽ ảnh hưởng
đến kế hoạch doanh thu bán hàng, doanh thu tài chính nói riêng và kết quả kinh
doanh nói chung của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Vì vậy, Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam cần có đánh giá về năng lực xây dựng kế hoạch kinh doanh
của Nhà xuất bản, từ đó đưa ra yêu cầu và giải pháp để có thể tổng hợp được
bản Kế hoạch kinh doanh bám sát thực tế nhất.
3.2.1.2. Thực trạng thực hiện kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
Thực hiện kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam bao
gồm hai công tác chính là giao kế hoạch tài chính và phân bổ nguồn lực tài
chính cho các đơn vị trực thuộc và theo dõi thực hiện kế hoạch tài chính.
Phân bổ tài chính.
Với kế hoạch tài chính được phê duyệt, Ban Kế hoạch Tài chính thực hiện
phân bổ nguồn tài chính giao cho các đơn vị theo đúng tổng mức phân bổ được
thống nhất với các đơn vị trực thuộc và nội dung nguồn tài chính được giao. Nguồn
tài chính được phân bổ theo định kì được quy định trong nội dung kế hoạch tài
chính, đảm bảo dòng tiền góp phần tối ưu lợi nhuận trong khi hoạt động sản xuất
- kinh doanh của tất cả các đơn vị thành viên diễn ra không gián đoạn.
Theo dõi thực hiện kế hoạch tài chính.
Thông qua theo dõi và xử lý, đánh giá nghiệp vụ tài chính cùng với dòng
tiền vận hành trong toàn Nhà xuất bản, Ban Kế hoạch Tài chính theo dõi tình
hình thực hiện kế hoạch tài chính và năng lực tài chính của tất cả bộ phận và
đơn vị trực thuộc thường xuyên cũng như đánh giá tổng kết tình hình tài chính
80
định kì 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng, đảm bảo mục tiêu sản xuất - kinh doanh
của Nhà xuất bản trong năm tài chính.
Bảng 3.3. Tình hình thực hiện kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021 2016
2019
2017
2018
2020
2021
1.147,448
1.203,119
1.233,699
1.482,585
1.370,363
1.828,265
1.050,000
1.100,000
1.173,000
1.406,000
1.294,604
1.386,751
109,28% 1.079,261
109,37% 1.111,146
105,17% 1.175,713
105,45% 1.420,784
105,85% 1.288,808
131,84% 1.780,499
1.020,000
1.065,000
1.123,000
1.347,000
1.239,858
1.339,589
105,81%
104,33%
104,69%
105,48%
103,95%
132,91%
65,776
79,138
55,076
57,885
74,789
44,942
25,500
30,000
45,000
56,000
52,524
45,061
257,95% 2,410
263,79% 12,835
122,39% 2,909
103,37% 3,916
142,39% 6,766
99,73% 2,824
4,500
5,000
5,000
3,000
2,222
2,101
53,56%
256,70%
58,19%
130,53%
304,46%
134,40%
72,107
139,790
117,532
121,294
107,128
287,414
36,000
73,000
85,000
129,328
99,931
115,147
200,30%
191,49%
138,27%
93,79%
107,20%
249,61%
1.200,304
1.122,516
1.348,382
1.487,594
1.466,518
1.609,241
1.356,459
1.260,319
1.248,659
1.342,142
1.340,412
1.435,819
88,49% 649,731
89,07% 748,085
107,99% 730,266
110,84% 778,024
109,41% 799,241
112,08% 917,670
588,312
678,451
660,412
730,482
730,581
730,681
110,44%
110,26%
110,58%
106,51%
109,40%
125,59%
550,573
374,431
618,116
709,570
667,277
691,571
700,000
477,000
477,000
477,000
487,000
487,000
78,65%
78,50%
129,58%
148,76%
137,02%
142,01%
Chỉ tiêu Tổng doanh thu (tỷ đồng) Kế hoạch doanh thu (Tỷ đồng) So với KH DT thuần (tỷ đồng) Kế hoạch DT thuần (tỷ đồng) So với KH DT hoạt động tài chính (tỷ đồng) Kế hoạch doanh thu HĐTC (tỷ đồng) So với KH DT khác (tỷ đồng) Kế hoạch DT khác (tỷ đồng) So với KH Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng) Kế hoạch Lợi nhuận sau thuế (tỷ đồng) So với KH Tổng tài sản (tỷ đồng) Kế hoạch Tổng tài sản (tỷ đồng) So với KH Vốn CSH (tỷ đồng) Kế hoạch Vốn chủ sở hữu (tỷ đồng) So với KH Tổng vốn huy động (tỷ đồng) Tổng vốn huy động (tỷ đồng) So với KH
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
81
Trong giai đoạn 2016 - 2021, theo bảng trên, hoạt động sản xuất, kinh
doanh dịch vụ tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam luôn vượt kế hoạch đặt ra
ở mức trung bình 111,16% mỗi năm, góp phần cho lợi nhuận trước thuế của
toàn Nhà xuất bản đạt mức cao so với dự kiến. Mức tăng vốn chủ sở hữu đạt
110,44% đến 109,40% trong 5 năm 2016 – 2020, 125,59% năm 2021 cho thấy
mục tiêu phát triển vốn đạt được tích cực do quá trình theo dõi và thực hiện tài
chính luôn bám theo kế hoạch tài chính, kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam quán triệt đến từng cán bộ công nhân viên,
Lãnh đạo phụ trách chuyên môn, phụ trách phòng ban thực hiện nghiêm túc,
phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra. Định kỳ hàng tháng, hàng quý, các
cán bộ phụ trách phòng ban phải có báo cáo đánh giá các công việc đã triển
khai, kết quả đã đạt được, so sánh với cùng kỳ năm trước và phân tích với tỷ lệ
đạt được so với kế hoạch để Lãnh đạo nắm được bức tranh tổng thể tại thời
điểm đó, đưa ra các giải pháp chủ trương xử lý kịp thời.
Thực hiện kế hoạch tài chính tuy vượt kế hoạch dự kiến, tuy nhiên còn
gặp nhiều vấn đề. Thứ nhất, doanh thu và lợi nhuận được thực hiện đúng quy
trình từ lên kế hoạch và thực hiện sản xuất, phát hành cũng như các hoạt động
tài chính và hoạt động khác mang lại nguồn thu. Tuy nhiên tính năng động
trong thay đổi kế hoạch khi phát sinh chi phí chưa được đánh giá cao khi cơ
chế thực hiện hoạt động kinh doanh chính còn khoán cho từng bộ phận, dẫn
đến chưa có sự tiết giảm và chủ động quyết định trong sản xuất, kinh doanh tại
từng bộ phận. Thứ hai, thực hiện kế hoạch tài sản chưa triệt để do đối với các
khoản phải thu chưa phân tích công nợ và trích lập dự phòng, hàng tồn kho
chưa tính đến yếu tố ngắn hạn của nguyên vật liệu gây lãng phí, đối với tài sản
cố định chưa thực hiện thẩm định giá thường xuyên theo kế hoạch. Thứ ba,
thực hiện kế hoạch nguồn vốn chưa hiệu quả khi trong kì phát sinh các khoản
vay ảnh hưởng đến mức hoàn thành tổng mức huy động vốn của NXB Giáo
dục Việt Nam.
82
3.2.1.3. Thực trạng quyết toán tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam
Kết thúc năm tài chính, Phòng Kế hoạch Tài chính thực hiện lập báo cáo
quyết toán hàng năm trên cơ sở trung thực, chính xác, phản ánh đầy đủ hoạt
động kinh tế, tài chính của đơn vị trước khi gửi Ban Kế hoạch Tài chính rà soát
và thẩm định.
Cùng với công tác tổng kết, đánh giá kết quả đầu tư vào các công ty con,
công ty chi phối vốn, Ban Kế hoạch Tài chính lập báo cáo quyết toán đối với
hoạt động Văn phòng Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Sau đó, Ban Kế hoạch
Tài chính tiến hành tổng hợp báo cáo quyết toán tài chính trên cơ sở kết quả rà
soát và thẩm định báo cáo quyết toán của tất cả các đơn vị trực thuộc, công ty
con. Báo cáo quyết toán được trình Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát và Hội đồng
thành viên phê duyệt.
Trong giai đoạn 2016 - 2021, công tác quyết toán tài chính được thực
hiện theo đúng quy trình quy định với đầy đủ nội dung, số liệu đầy đủ. Ban Kế
hoạch Tài chính đã thực hiện đúng trách nhiệm, phối hợp thực hiện chặt chẽ,
đảm bảo thời gian thực hiện quyết toán tài chính trước 31 tháng 3 năm sau, góp
phần giúp công tác kiểm toán nội bộ nhanh chóng hoàn thành trước 31 tháng 7
hàng năm, đúng tiến độ trình báo cáo quyết toán lên Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tuy nhiên, công tác quyết toán tại Ban Kế hoạch Tài chính còn chậm,
các điều chỉnh giao dịch nội bộ trong kì chưa thực hiện đầy đủ, dẫn đến tình
trạng gây khó khăn trong quá trình quyết toán cuối kì. Năm 2020, tổng tài sản
toàn Nhà xuất bản điều chỉnh giảm 517,597 tỷ đồng, từ 1.984,117 tỷ đồng
xuống còn 1.466,520 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế điều chỉnh giảm
3,543 tỷ đồng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu thường xuyên kiểm tra quá trình
thực hiện giao dịch nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc, kịp thời ghi nhận tình
hình tài chính của Nhà xuất bản, tránh tình trạng rà soát, điều chỉnh khi quyết
toán vào cuối kì gây lãng phí nguồn lực và dễ sai sót.
83
Quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những vấn đề Nhà
xuất bản cần chú ý. Do đặc thù vừa đảm bảo hoạt động vì mục tiêu xã hội vừa
đạt mục tiêu kinh tế, lợi nhuận tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được phân
theo sản phẩm có ưu đãi về mức thuế, gia hạn thời gian nộp thuế và sản phẩm
nộp đầy đủ mức thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Năm
2021, Nhà xuất bản chậm nộp thuế 94,194 triệu đồng với số tiền tăng thêm do
chậm nộp 2,815 triệu đồng, đặt ra thách thức cho Ban Kế toán Tài chính trong
quyết toán và nộp đúng, đủ mức thuế.
3.2.1.4. Thực trạng kiểm tra và giám sát tài chính tại NXB Giáo dục
Việt Nam
Để hoạt động tài chính của các Đơn vị thành viên và Nhà xuất bản phục
vụ tốt việc thực hiện chiến lược phát triển và chiến lược tài chính, Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam cũng đã xây dựng cơ chế kiểm tra giám sát tài chính. Mục
tiêu của cơ chế là nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều chỉnh, xử lý những hoạt
động thực tế nảy sinh trong quá trình kinh doanh để đạt được hiệu quả đề ra.
Nội dung cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam được thể hiện thông qua kiểm tra, giám sát từ các cơ quan nhà nước
và thông qua hoạt động tự kiểm tra, giám sát tài chính.
Với chức năng là cơ quan quản lý Nhà nước, căn cứ vào số liệu trên các
báo cáo tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước tiến hành kiểm tra, giám sát tình
hình chấp hành các chế độ chính sách của Nhà nước đối với Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam. Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát cơ quan Nhà nước có thể
kiểm soát được hoạt động kinh doanh của Nhà xuất bản, điều chỉnh các chính
sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các Doanh
nghiệp Nhà nước nói chung, trong đó có Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam nói
riêng thực hiện tốt mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh Bộ Tài
chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tiếp nhận quá
trình kiểm tra từ Kiểm toán Nhà nước và Đoàn thanh tra Cục thuế Hà Nội.
84
Từ kiến nghị rút ra sau quá trình kiểm tra của cơ quan Kiểm toán Nhà
nước, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tiếp thu một số kiến nghị về quy
chế quản lý tài sản, cơ sở vật chất chưa thẩm định giá, rà soát lại chi phí sửa
chữa và mua sắm trang thiết bị làm việc, chấn chỉnh hoạt động đấu thầu in
sách. NXB Giáo dục Việt Nam đã thực hiện một số kiến nghị cụ thể nhằm
khắc phục các hạn chế về quản lý tài chính, kế toán, NXB Giáo dục Việt
Nam đã thực hiện:
+ Ban hành Quyết định số 476/QĐ-HĐTV ngày 9/8/2018 về việc ban
hành quy chế quản lý tài sản cố định của NXB Giáo dục Việt Nam.
+ Đến tháng 12/2017 NXB Giáo dục Việt Nam ký hợp đồng thẩm định
giá với Công ty TNHH Thẩm định giá và Đại lý thuế Việt Nam (6 cơ sở) và
công ty Cổ phần thẩm định giá - Dịch vụ Nghĩa Hưng (8 cơ sở) theo kiến nghị
của Kiểm toán Nhà nước.
+ NXB Giáo dục Việt Nam đã có công văn số 188/CV-NXB Giáo dục
Việt Nam ngày 8/2/2018 và công văn 198/CV-NXB Giáo dục Việt Nam về
việc đôn đốc văn phòng NXB Giáo dục Việt Nam và Nhà xuất bản tại Hà
Nội rà soát lại các chi phí sửa chữa, mua sắm trang thiết bị làm việc tại tầng
4 và 12 tòa nhà Diamond Towel. Các đơn vị đã thực hiện hạch toán tăng
TSCĐ thêm 20,283 tỷ đồng và hạch toán hoàn nhập dự phòng phải thu khó
đòi 17,618 triệu đồng.
+ NXB Giáo dục Việt Nam điều chỉnh thời gian cho thuê đối với cơ sở
tại thành phố Vũng Tàu từ 30 năm xuống 5 năm theo kiến nghị của Kiểm toán
Nhà nước.
+ NXB Giáo dục Việt Nam đã có văn bản chỉ đạo 196/CV-NXB Giáo
dục Việt Nam ngày 8/2/2018 về thực hiện chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong tổ
chức, đấu thầu in sách còn chưa đúng quy định của Luật Đấu thầu và nâng cao
chất lượng xây dựng kế hoạch in phát hành sách giáo khoa, sách bài tập để tăng
tỷ lệ số lượng in sách giáo khoa, sách bài tập bằng hình thức đấu thầu.
85
Qua hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính của Nhà nước, NVB Giáo dục
Việt Nam và các đơn vị thành viên đã tiếp thu và khắc phục được một số hạn
chế đang gặp phải. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra, giám sát còn tồn tại một số
vấn đề sau:
+ Cơ chế giám sát tài chính của nhà nước còn mang tính hình thức, chủ
yếu là thông qua các báo cáo tài chính.
+ Việc kiểm tra giám sát thường chỉ được tiến hành khi có đơn thư, khiếu
kiện, khi có dấu hiệu tham nhũng, chưa thực hiện được thường xuyên.
+ Quá trình kiểm tra, giám sát còn chồng chéo, chưa có sự thông thoáng,
kết quả kiểm tra, giám sát của nhà nước chưa là niềm tin để các cơ quan khác
có cơ sở làm việc, gây phiền toái Nhà xuất bản trong hoạt động kinh doanh.
Để đáp ứng hoạt động kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam thường xuyên lập báo cáo tài chính hàng quý, năm theo
chế độ tài chính kế toán hiện hành của Bộ Tài chính. Trong báo cáo tài chính,
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phân định rõ ràng, rành mạch giữa các công
ty hạch toán độc lập và phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp thuộc Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, chỉ đạo các đơn vị thành viên trong Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam có bộ máy kế toán tài chính phù hợp, thực hiện công tác hạch toán
theo chế độ hiện hành.
- Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thực hiện việc kiểm tra giám sát tài
chính trong các hoạt động của Nhà xuất bản và chỉ đạo kiểm tra, giám sát tài
chính đối với các đơn vị thành viên.
Trong quá trình kinh doanh Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xây dựng
cơ chế quản lý tài chính làm cơ sở kiểm tra, giám sát tài chính của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và các đơn vị thành
viên cũng thực hiện việc tự kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động tài chính diễn
ra giữa Công ty mẹ với các đơn vị thành viên, công ty con, công ty liên kết
trong doanh nghiệp. Nội dung kiểm tra giám sát bao gồm việc kiểm tra, giám
sát quá trình huy động, tạo lập vốn, quá trình đầu tư và sử dụng vốn, quá trình
86
luân chuyển vốn giữa Công ty mẹ và các đơn vị thành viên, công ty con; quá
trình phân phối lợi nhuận và trích lập, sử dụng các quỹ của Công ty Mẹ và các
đơn vị thành viên, kiểm tra giám sát tình hình tài chính và kết quả kinh doanh
của các đơn vị thành viên và toàn bộ doanh nghiệp.
Công tác kiểm tra giám sát tài chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam cũng được thực hiện thông qua các báo cáo tài chính, các chỉ tiêu tài chính.
Mặt khác, Nhà xuất bản cũng xây dựng quy chế công khai tình hình tài chính
để các đơn vị thành viên tự kiểm tra, giám sát tình hình tài chính của mình.
Định kỳ, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã thực hiện việc kiểm tra, giám sát
tài chính tại các đơn vị thành viên nhằm phát hiện, ngăn ngừa, điều chỉnh và xử
lý những bất cập trong hoạt động tài chính sao cho phù hợp với chế độ hiện
hành và mục tiêu mà Tập đoàn đã xác định; bảo vệ lợi ích của Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, quá trình thanh tra, kiểm tra đang mang tính hình thức. Các
đơn vị trực thuộc chưa có bộ phận kiểm soát nội bộ riêng biệt, đặt ra những hạn
chế khi bộ phận kế toán, bộ phận tài chính kiêm nhiệm lập và kiểm tra, kiểm
soát tài chính, gây nên sự chồng chéo và giảm sự minh bạch trong hoạt động
tài chính của đơn vị.
3.2.2. Thực trạng quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt Nam
3.2.2.1. Thực trạng quản lý vốn nhà nước tại NXB Giáo dục Việt Nam
Để Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam sử dụng vốn đạt hiệu quả cao đòi
hỏi cần có sự đánh giá một cách khách quan về thực trạng nguồn vốn của Nhà
xuất bản, bao gồm quản lý vốn chủ sở hữu và vốn huy động, vốn của NXB
Giáo dục Việt Nam đầu tư ra ngoài doanh nghiệp. Trong giai đoạn 2016 - 2021,
NXB Giáo dục Việt Nam luôn đảm bảo các chỉ tiêu về bảo toàn và phát triển
vốn nhà nước. Về cơ bản, công tác bảo toàn và phát triển vốn tại NXB Giáo
dục Việt Nam được thực hiện tốt. Trong các năm vừa qua, NXB Giáo dục Việt
Nam đều được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính đánh giá tốt, xếp loại
A và người quản lý NXB Giáo dục Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ.
87
Căn cứ quy chế quản lý tài chính của Nhà xuất bản và quản lý vốn nhà
nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ban hành kèm theo Nghị định số
91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2015 và sửa đổi theo Nghị định số
32/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 03 năm 2018 do Chính phủ ban hành về vốn
đầu tư Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản doanh
nghiệp. Theo đó, Nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu trong quá trình hình thành
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Nguồn vốn góp từ ngân sách Nhà nước cấp
có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự hình thành và tiềm lực tài chính của
NXB Giáo dục Việt Nam với tỷ trọng so với vốn chủ sở hữu của Nhà xuất bản
từ 64,95% đến 88,94% trong giai đoạn 2016 - 2021. Về quản lý và thực hiện
chức năng của chủ sở hữu đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Bộ Giáo
dục và Đào tạo là cấp trên trực tiếp của Hội đồng thành viên, thực hiện các
quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu, bao gồm thực hiện giao nhận,
bảo toàn và phát triển vốn.
Bảng 3.4. Vốn chủ sở hữu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Đơn vị: Tỷ đồng
2018 730,266 97,62% 596,000
2016 649,731 - 577,902 -
2021 2020 2019 2017 778,024 917,670 799,241 748,086 106,54% 102,73% 114,82% 115,14% 577,902 596,000 596,000 596,000 100,00% 103,13% 100,00% 100,00% 100,00%
88,94%
77,25%
81,61%
76,60%
74,57%
64,95%
- -
- -
45,471 -
80,731 148,955 116,817 177,54% 144,70% 127,51%
0%
0%
6,23%
10,38%
14,62%
16,23%
71,829
170,184
88,795
101,294
86,424
172,414
236,93% 52.,18% 114,08% 85.,32% 199,50%
11,06%
22,75%
12,16%
13,02%
10,81%
18,79%
Năm Vốn chủ sở hữu Tốc độ tăng Vốn Nhà nước Tốc độ tăng Tỷ trọng so với VCSH Quỹ ĐTPT Tốc độ tăng Tỷ trọng so với VCSH LNST chưa phân phối Tốc độ tăng Tỷ trọng so với VCSH
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
88
Đối với cơ chế giao nhận vốn Nhà nước, Nhà xuất bản thực hiện phụ thuộc
vào những vấn đề về mục tiêu kinh doanh và vai trò của Nhà xuất bản phù hợp
với định hướng phát triển giáo dục của Nhà nước; chức năng và phạm vi hoạt
động mà Nhà xuất bản được Nhà nước cấp quyền kinh doanh; tình hình ngân
sách Nhà nước trong từng thời điểm cụ thể. Trong giai đoạn 2016 - 2021, nguồn
vốn Nhà nước giao cho Nhà xuất bản tăng lên, từ 577,902 tỷ đồng vào năm
2016 lên 596 tỷ đồng vào năm 2021 cho thấy tầm quan trọng của hoạt động
kinh doanh và mức độ củng cố năng lực tài chính của Nhà xuất bản đối với mục
tiêu của Nhà nước. Nguồn vốn và tài sản Nhà nước luôn được đánh giá đúng,
góp phần giúp Nhà xuất bản thực hiện tốt chiến lược kinh doanh của mình gắn
liền với mục tiêu phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà nước; góp
phần giải quyết nhu cầu của nền kinh tế. Tuy nhiên, quá trình giao vốn của Nhà
nước được thực hiện trên cơ sở năng lực cụ thể của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam. Trong khi đó, tỷ trọng nguồn vốn góp từ ngân sách Nhà nước tuy đang
có tỷ trọng giảm dần, nhưng nguyên nhân do từ năm 2018, quỹ đầu tư phát triển
giữ lại từ năm trước đó chưa được phân bổ hết, giữ tỷ trọng 6,23% năm 2018
và 16,23% năm 2021, đặt ra thách thức cho NXB Giáo dục Việt Nam cần xây
dựng quy trình giao vốn phù hợp năng lực và điều kiện thực tế của mình, để
thực hiện tốt mục tiêu kinh doanh của NXB Giáo dục Việt Nam.
Đối với bảo toàn và phát triển vốn, trong quá trình điều hành sản xuất
kinh doanh, Hội đồng thành viên của Nhà xuất bản chịu trách nhiệm về lĩnh
vực mình đảm nhiệm, góp phần thúc đẩy tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn, từng bước mở rộng quy mô hoạt động
sản xuất và kinh doanh sách.
1.2
1.15
1.15
1.15
1.09
1.1
1.07
1.05
1.03
0.98
1
0.95
0.9
0.85
2016
2017
2018
2019
2020
2021
89
Biểu đồ 3.1. Hệ số bảo toàn vốn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
giai đoạn 2016 - 2021
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ BCTC của NXB Giáo dục Việt Nam
Từ biểu đồ 3.1, trong giai đoạn 2016 - 2021, vốn nhà nước tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam được bảo toàn với hệ số bảo toàn các năm ở mức ổn
định 1,06 năm 2016, 1,15 năm 2017, 1,07 năm 2019, 1,03 năm 2020 và 1,15
năm 2021, ngoại trừ năm 2018 khi bắt đầu trích quỹ đầu tư phát triển, Nhà xuất
bản không bảo toàn được vốn nhà nước với hệ số bảo toàn vốn chỉ ở mức 0,98.
Nhà xuất bản cần chủ động thực hiện, đổi mới để phù hợp với yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội hiện tại như Nhà xuất bản được Nhà nước ưu đãi về nguồn
vốn và hoạt động nên việc xác định mục tiêu và điều tiết quá trình sản xuất kinh
doanh tại Nhà xuất bản đã giảm đi phần nào tính năng động, tự chủ của lãnh
đạo Nhà xuất bản. Vì vậy, cần tăng cường tính tự chủ của Nhà xuất bản để nâng
cao năng lực sản xuất kinh doanh tăng lợi nhuận, mở rộng quy mô sản xuất.
Về quản lý vốn chủ sở hữu, ngoài nguồn vốn góp từ ngân sách Nhà nước,
Nhà xuất bản thường xuyên bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế của các đơn vị
trực thuộc, lợi nhuận được chia từ các đơn vị liên doanh liên kết và từ các nguồn
khác của Nhà xuất bản. Trong 6 năm từ 2016 đến 2021, nguồn lợi nhuận giữ
lại của Nhà xuất bản luôn đạt giá trị tích cực, tuy nhiên còn biến động mạnh.
90
Với nguồn lợi nhuận thu được, Nhà xuất bản thực hiện phân phối quỹ
khen thưởng, quỹ phúc lợi trong kì với tỷ lệ phân chia hợp lý giữa quỹ phúc lợi
và quỹ khen thưởng, đảm bảo tạo động lực hoàn thành nhiệm vụ và phát triển
sự nghiệp cá nhân cho từng cán bộ, nhân viên. Tuy nhiên, quỹ đầu tư phát triển
tại Nhà xuất bản mới chỉ được thực hiện trích lập từ năm 2018, và Ban Kế
hoạch Tài chính chưa có định hướng, kế hoạch cũng như phương thức sử dụng,
phân bổ một cách hợp lý. Từ năm 2018 đến 2021, nguồn quỹ đầu tư phát triển
ứ đọng tại Nhà xuất bản với mức quỹ tăng mạnh 2,57 lần từ 45,471 tỷ đồng lên
116,817 tỷ đồng, chưa đáp ứng được mục tiêu trích lập quỹ nhằm mở rộng cơ
sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất sách, đầu tư sâu vào chất lượng in ấn của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Như vậy, NXB Giáo dục Việt Nam thực hiện
phân phối quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng
người quản lý doanh nghiệp theo đúng tỷ lệ quy định. Về nguyên tắc phân phối
quỹ phúc lợi, NXB Giáo dục Việt Nam ưu tiên phân phối cho NXB Giáo dục
Việt Nam cơ quan văn phòng, là các đơn vị trực tiếp chỉ đạo, điều hành, thực
hiện nhiệm vụ trọng yếu của NXB Giáo dục Việt Nam, chiếm tỷ trọng lợi nhuận
chủ yếu. Tuy nhiên, việc phân phối này còn mang tính chất cào bằng, căn cứ
theo số lượng nhân sự, quy mô của các đơn vị. NXB Giáo dục Việt Nam cần
đánh giá xác thực hơn về mức độ đóng góp của các đơn vị trong bức tranh lợi
nhuận tổng thể, từ đó đưa ra các mức phân phối xứng đáng đối với các đơn vị
thực hiện kinh doanh tốt, xây dựng kế hoạch sát thực tế, không lãng phí chi phí.
Ngoài ra, nhu cầu vốn của NXB Giáo dục Việt Nam hiện ngày một lớn
vì phải phục vụ cho làm SGK chương trình phổ thông mới nhưng NXB Giáo
dục Việt Nam vẫn chưa thể thực hiện tăng vốn điều lệ, đặt ra kiến nghị với
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính phê duyệt tăng vốn điều lệ cho Nhà
xuất bản.
91
3.2.2.2. Thực trạng quản lý huy động vốn tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
Nhà nước cấp vốn cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chỉ đáp ứng nhu
cầu tối thiểu nhất và trong thời gian ổn định. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh sách giáo khoa, thiết bị trường học, sách tham khảo đều tăng
trưởng do dân số phát triển, nhất là nhu cầu sách giáo khoa ở vùng đồng bào dân
tộc ít người, ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo… đang được gia tăng mạnh mẽ để đáp
ứng nhu cầu của toàn dân. Do vậy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải đi vay
ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thực
hiện huy động vốn theo đúng quy định tại điều 23 Luật Quản lý, sử dụng vốn
Nhà nước đầu tư tại sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014.
Căn cứ Kế hoạch hoạt động kinh doanh và Kế hoạch tài chính hàng năm,
Ban Kế hoạch tài chính xây dựng kế hoạch huy động vốn cụ thể về nhu cầu huy
động, phương án và mức huy động vốn cũng như phương thức hoàn trả trước
khi đề xuất lên Ban Giám đốc và Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, phương án
huy động vốn được dự tính đầu năm cho toàn Văn phòng và các đơn vị trực
thuộc chưa đảm bảo cung ứng đủ, chưa phù hợp với định mức sản xuất, in, phát
hành của từng đơn vị trong kì kinh doanh. Điều này dẫn đến Nhà xuất bản luôn
phải lập phương án và thực hiện huy động vốn phát sinh trong kì, gây trở ngại
đến các quyết định tài chính và quyết định sản xuất trong kì.
Do kế hoạch huy động vốn được lập và đề xuất trong kì, Ban Kế hoạch
Tài chính thực hiện đệ trình và Hội đồng Thành viên cùng Ban Giám đốc phê
duyệt và thực hiện huy động vốn theo hướng bị động, chưa đảm bảo cung ứng
kịp thời với định mức sản xuất, in, phát hành của từng đơn vị trong kì kinh
doanh. Có thể thấy điều này qua giai đoạn 2016 -2021, trong khi nợ vay dài hạn
của Nhà xuất bản đang giảm dần thì vay ngắn hạn tăng nhanh từ 206,635 tỷ
đồng năm 2016 lên đến 411,480 tỷ đồng năm 2021.
92
Bảng 3.5. Vốn huy động tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thời điểm
31/12 giai đoạn 2016 - 2021
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Vay tín dụng NH
206,635 168,091 418,989 494,082 452,055 375,828
249,26
117,92
Tốc độ tăng
-
81,35%
91,49% 83,14%
%
%
Vay tín dụng dài
94,206
35,855
25,531
19,284
27,805
36,012
hạn
144,19
129,52
Tốc độ tăng
-
38,06% 71,21% 75,53%
%
%
Tổng vốn huy
300,841 203,945 444,520 513,366 479,860 411,840
động
217,96
115,49
Tốc độ tăng
-
67,79%
93,47% 85,83%
%
%
Hệ số nợ vay trên
46,30% 27,26% 60,87% 65,98% 60,04% 44,88%
vốn CSH
Nguồn: Ban Kế hoạch Tài chính NXB Giáo dục Việt Nam
Theo bảng 3.5, đối với huy động vốn, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
mới chỉ thực hiện vay từ tổ chức tín dụng, chủ yếu từ Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công
thương Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
Việt Nam. Chỉ những khoản vay ngắn hạn, mới có các khoản huy động vốn từ
các công ty con và các công ty đối tác. Có thể thấy rằng, nguồn vốn huy động
từ ngân hàng thương mại là nguồn huy động quan trọng đối với Nhà xuất bản.
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được chuyên môn hóa các hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại có khả năng đáp
ứng phần lớn các nhu cầu về vốn của các Doanh nghiệp Nhà nước và các tổ
93
chức cá nhân của nền kinh tế, trong đó có Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Hoạt động vay vốn của Nhà xuất bản tại các ngân hàng thương mại được diễn
ra thuận lợi với chi phí vay vốn tương đối thấp so với việc vay vốn của các tổ
chức cá nhân khác. Với nguồn tín dụng hạn mức 395 tỷ đồng từ Ngân hàng
Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam được Nhà xuất bản sử dụng bổ
sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, nguồn tín dụng
249,99 tỷ đồng từ ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được sử dụng bổ
sung vốn lưu động, mở L/C và thấu chi bù đắp thiếu hụt thanh toán (vốn ngắn
hạn) tạm thời của bên vay. Trong khi đó, khoản vay từ ngân hàng Thế giới với
lãi suất 8,55% được Nhà xuất bản Giáo dục áp dụng thực hiện đầu tư cho dự án
giáo dục tiểu học. Các ngân hàng thương mại là những tổ chức kinh doanh tiền
tệ có độ an toàn cao, đa dạng và linh hoạt trong việc giao dịch vốn vay của Nhà
xuất bản tại các ngân hàng thương mại tạo điều kiện thuận lợi trong việc chủ
động nguồn vốn của Nhà xuất bản trong hoạt động kinh doanh của mình.
Hệ số nợ vay so với vốn chủ sở hữu tại Nhà xuất bản tăng mạnh từ 46,3%
đến 60,04% từ năm 2016 đến năm 2020, 44,88% năm 2021 cho thấy mức huy
động vốn của Nhà xuất bản có thể kiểm soát, hiệu quả sử dụng đòn bẩy tài
chính tăng dần, góp phần tối ưu lợi nhuận, giảm gánh nặng cho vốn nhà nước
tại Nhà xuất bản trong kì hoạt động. Nguồn vốn tín dụng huy động được Ban
Kế hoạch Tài chính thường xuyên kiểm tra, theo sát với phương án huy động
vốn được phê duyệt từ Hội đồng thành viên, đảm bảo mức sinh lời từ nguồn
vốn vay luôn đạt mục tiêu, trong khi hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu vẫn trong
mức quy định. Tuy nhiên, với hệ số nợ hơn 60%, cần có những công cụ quản
lý tài chính cụ thể, chi tiết hơn như công cụ đánh giá rủi ro ngắn hạn và phương
án dự phòng lỗ kinh doanh phát sinh.
94
Bảng 3.6. Tình hình sử dụng vốn huy động ngắn hạn trong kì tại NXB
Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Vay thấu chi
-
145,136
75,587
150,165
36,925
48,605
Chi tiêu thường
-
1,36%
3,22%
40,68% 36,49% 35,56%
xuyên vào SXKD
Nộp LN còn lại
-
22,65% 10,44% 19,31% 28,38% 31,31%
sau phân phối quỹ
1.043,0
Vay ngắn hạn
564,095 429,388 753,207 809,490 938,170
54
Thanh toán tiền
giấy phục vụ
44.,01% 55.09% 59,55% 65,46% 57,38% 49,55%
SXKD
Thanh toán tiền
46,08% 41,62% 36,10% 30,90% 34,99% 46,08%
vật tư vào SXKD
Thanh toán
lương, BH cho
4,21%
3,14%
4,35%
3,64%
3,25%
4,21%
CBCNV
Nguồn: Ban Kế hoạch Tài chính NXB Giáo dục Việt Nam
Hoạt động kinh doanh của NXB Giáo dục Việt Nam, nguồn vốn huy
động từ ngân hàng thương mại mang những lợi thế nhất định khi thủ tục vay
đơn giản, chi phí thấp, thuận lợi trong đàm phán, ký kết hợp đồng tín dụng cũng
như các điều kiện ràng buộc không khắt khe. Tuy nhiên, thực tế huy động vốn
từ các ngân hàng thương mại của NXB Giáo dục Việt Nam đã xuất hiện những
khó khăn vướng mắc về giới hạn tín dụng mà Nhà xuất bản được phép vay từ
một ngân hàng thương mại, với các khoản vay ngắn hạn, Nhà xuất bản cần đảm
bảo giá trị cao từ tài sản nhà nước, như tài sản gắn với đất tại trụ sở chính 81
Trần Hưng Đạo, Hà Nội, quyền sử dụng đất các thửa đất mà Nhà nước đã giao
cho NXB Giáo dục Việt Nam.
95
Các khoản vay ngắn hạn đã huy động được Ban Kế hoạch Tài chính phân
bổ đúng, đủ với nhu cầu và chu trình sản xuất, phát hành sách và kinh doanh
của từng đơn vị trực thuộc. Do đặc thù sản xuất và kinh doanh sách giáo khoa
và sách tham khảo phục vụ năm học mới cần bắt đầu từ đầu năm, độ trễ dài
giữa thời điểm sản xuất và thời điểm tháng 8, tháng 9 khi bắt đầu năm học mới,
nhu cầu khách hàng tăng cao, doanh thu mới được ghi nhận, nguồn vốn tín
dụng huy động ngắn hạn được sử dụng phục vụ hoạt động in ấn, phát hành của
các đơn vị với mức gần 50% khoản vay ngắn hạn huy động trong kì được sử
dụng thanh toán tiền giấy đầu vào, hơn 46,08% được sử dụng thanh toán vật tư
sản xuất và hơn 4% thanh toán lương, bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên.
Tuy nhiên, do nguồn vốn tín dụng, từ tiếp nhận nguồn tín dụng, phân bổ khoản
vay đã nhận, thu hồi khoản vay đã phân bổ, hoàn trả khoản vay đều được quy
về NXB Giáo dục Việt Nam, do Ban Kế hoạch Tài chính trực tiếp quản lý. Do
đó hình thành nên độ trễ khi phân bổ và tổng hợp nguồn tiền từ các đơn vị trực
tiếp nhận và phân phối sách cho đối tượng sử dụng, từ đó kéo dài thời gian hoàn
trả các khoản tín dụng đến ngân hàng thương mại, dẫn đến giảm điểm tín dụng
của Nhà xuất bản.
Các khoản vay thấu chi ngắn hạn còn ở hạn mức thấp, chỉ tương đương
mức 9,12% đến hơn 25% trong 6 năm. Cùng với đó, các khoản thấu chi chưa
được sử dụng hợp lý khi chủ yếu dùng để nộp lợi nhuận, còn lại sau khi phân
phối các quỹ năm trước, cho thấy Hội đồng thành viên quyết định kế hoạch nộp
lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước cũng như Ban Kế hoạch Tài chính thực hiện
chưa hiệu quả, tạo gánh nặng lãi vay lên chủ sở hữu - Nhà nước.
Nhìn chung, hoạt động tín dụng giữa Nhà xuất bản với các ngân hàng
thương mại chưa phát huy hết tiềm năng của mình. Bởi vì, Nhà xuất bản chưa
xây dựng cho mình một cơ sở pháp lý chặt chẽ về các quan hệ tín dụng giữa
96
Nhà xuất bản và các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, nguồn huy động tín
dụng của Nhà xuất bản chưa đa dạng hình thức và phương thức trong khi thị
trường tài chính ngày càng đa dạng phát triển đa dạng. Tình hình sử dụng vốn
vay trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh còn một số tồn tại:
Thứ nhất, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chưa chủ động lập kế hoạch
vay vốn và trực tiếp cung cấp cho ngân hàng thương mại sẽ cung cấp các khoản
tín dụng theo kế hoạch.
Thứ hai, chưa kiểm tra, kiểm soát sát sao việc lập kế hoạch vay vốn của
Ban Kế hoạch Tài chính, dẫn đến việc chậm lập kế hoạch vay vốn.
Thứ ba, do không cung cấp sớm kế hoạch vay vốn cho ngân hàng thương
mại nên NHTM sẽ cung cấp khoản vay vốn chưa đúng quy trình. Theo đó khi
nhận hồ sơ vay vốn thì có nhiều việc mà ngân hàng đã hứa phải thực hiện, thực
hiện xong NHTM mới nghiên cứu hồ sơ vay vốn của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam.
3.2.4.3. Thực trạng quản lý và sử dụng tài sản nhà nước tại Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam.
Tổng giá trị tài sản của Nhà xuất bản biến động tương ứng từng giai
đoạn phát triển của Nhà xuất bản là hợp lý hay không sẽ có ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả hoạt động tài chính và định hướng hoạt động phát triển của
doanh nghiệp. Do đó thực hiện tốt phân tích tình hình quản lý tài sản của
doanh nghiệp là cần thiết nhằm đánh giá hợp lý trong quá trình sử dụng vốn,
cung cấp thông tin cho cấp quản lý nhằm điều hành doanh nghiệp hiệu quả.
Tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021 được
minh chứng theo bảng sau:
97
Bảng 3.7. Tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021
Đơn vị: Tỷ đồng
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Năm Tổng tài sản TSNH %Tổng TS TSDH %Tổng TS
1.200,304 1.122,516 1.348,382 1.487,594 1.466,520 1.609,241 778,603 454,042 48,38% 37,83% 830,638 746,263 51,62% 62,17%
613,701 45,51% 734,681 54,49%
674,903 45,37% 812,691 54,63%
390,593 34,80% 731,923 65,20%
713,896 48,68% 752,624 51,32%
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Nhìn chung, tài sản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có sự biến động
qua các năm, cụ thể tổng tài sản có xu hướng giảm dần giai đoạn 2016 - 2017,
với tốc độ giảm 93,5% so với năm trước do mức giảm đồng thời tiền và tương
đương tiền, hàng tồn kho và các khoản phải thu từ khách hàng, cho thấy hoạt
động kinh doanh của Nhà xuất bản có dấu hiệu chững lại. Tuy nhiên, đến năm
2018 và 2021, tình hình tài sản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có sự cải
thiện rõ rệt với mức tăng tài sản lên đến 120,12% so với năm 2017 với các hoạt
động xuất bản sách giáo khoa, hoạt động cho thuê hạ tầng và đầu tư tài chính.
Về tài sản dài hạn, Doanh nghiệp vẫn đảm bảo ở mức lớn hơn 51,32% tổng tài
1,800,000 1,600,000 1,400,000 1,200,000 1,000,000 800,000 600,000 400,000 200,000 0
1.1 1.05 1 0.95 0.9 0.85 0.8 0.75
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Tổng tài sản (triệu đồng) 1,200,304 1,122,516 1,348,382 1,487,594 1,466,520 1,609,241
Vòng quay tổng tài sản
0.88
1.04
1
1.05
0.93
1.05
Tổng tài sản (triệu đồng)
Vòng quay tổng tài sản
sản - mức tỷ trọng hợp lý đối với Nhà xuất bản.
Biểu đồ 3.2. Tình hình tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
98
Tài sản tại các đơn vị trực thuộc được Hội đồng thành viên Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam phê duyệt theo tình hình đánh giá hoạt động kinh doanh,
kế hoạch sản xuất và tài chính của các đơn vị thông qua Ban Kế hoạch Tài
chính và Phòng Kế hoạch Tài chính tại các đơn vị trực thuộc. Với hơn 81,08%
tài sản bao gồm tiền, phải thu khách hàng và hàng tồn kho, các đơn vị trực
thuộc chịu trách nhiệm sử dụng vào hoạt động kinh doanh theo kế hoạch được
Hội đồng thành viên phê duyệt. Phòng Kế hoạch Tài chính của các đơn vị trực
thuộc chịu trách nhiệm theo dõi, đánh giá thường xuyên hiệu quả hoạt động của
tài sản, đối chiếu các khoản phải thu, phải trả theo nhật ký ghi sổ và báo cáo tài
chính định kì. Đối với tài sản dài hạn, chủ yếu tài sản được phân bổ cho các
đơn vị trực thuộc là tài sản cố định, Phòng Kế hoạch Tài chính thực hiện kiểm
kê tài sản định kì, xác định rõ nguyên nhân tổn thất tài sản nếu có, đánh giá lại
giá trị tài sản trước khi báo cáo lên Ban Kế hoạch Tài chính. Sau khi tổng hợp,
đánh giá, kiểm tra và lên kế hoạch mua sắm, thanh lý tài sản, Ban Kế hoạch Tài
chính đề xuất lên Hội đồng thành viên đánh giá và ra quyết định đối với từng
mục tài sản tại Văn phòng và các đơn vị trực thuộc.
Tuy nhiên, cơ cấu phân bổ tài sản đối với các đơn vị trực thuộc chưa hiệu
quả khi tổng tài sản các đơn vị chỉ chiếm tỷ trọng giảm dần từ 61,01% năm
2016 xuống còn 40,74% năm 2021, trong khi doanh thu và lợi nhuận của Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam chủ yếu đến từ các đơn vị trực thuộc. Điều này
dẫn đến vòng quay tổng tài sản của NXB Giáo dục Việt Nam luôn thấp hõn so
với các Nhà xuất bản trực thuộc, đặt ra yêu cầu cơ cấu và phân bổ tài sản hướng
tới các Nhà xuất bản trực thuộc.
99
Bảng 3.8: Cấu trúc tài sản Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Chỉ tiêu
2016
2017
2018
2019
2020
2021
TSNH
37,83% 34,80% 45,51% 45,37% 48,68% 48,38%
Tiền và TĐT
1,54%
1,62%
1,33%
1,15%
2,86%
6,21%
ĐTTC ngắn hạn
3,33%
4,45%
9,64%
7,40%
6,82%
2,49%
Khoản phải thu NH 22,14% 16,12% 15,56%
9,67%
9,02%
11,97%
Hàng tồn kho
10,00% 11,65% 17,48% 24,95% 27,12% 25,04%
TSNH khác
0,82%
0,95%
0,00%
2,19%
2,86%
2,68%
TSNH
62,17% 65,20% 54,49% 54,63% 51,32% 51,62%
Bất động sản đầu tư 12,63%
2,17%
3,01%
7,90%
9,33%
8,17%
Tài sản cố định
0,25%
18,24% 14,76%
8,42%
8,91%
7.87%
TSDD dài hạn
0,25%
3,77%
0,24%
0,22%
0,03%
1,92%
ĐTTC dài hạn
37,37% 39,79% 35,22% 35,93% 31,10% 29,93%
TSDH khác
6,23%
1,24%
1,26%
2,17%
1,92%
3,72%
TỔNG TÀI SẢN
100%
100%
100%
100%
100%
100%
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Từ bảng trên, tỷ trọng tiền và tương đương tiền ở mức giảm dần, từ
1,54% năm 2016 xuống 1,15% năm 2019, trong khi đó, tỷ trọng các khoản đầu
tư tài chính liên tục tăng mạnh từ 3,33% năm 2016 lên đến 9,64% năm 2018 và
7,40% năm 2019, 6,82% năm 2020 và 11,97% năm 2021 cho thấy Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam đang sử dụng nguồn tiền gửi có kì hạn tại ngân hàng,
mang lại nguồn thu nhất định, và hạn chế thu hồi vốn từ các Nhà xuất bản trực
thuộc. Tuy nhiên, NXB Giáo dục Việt Nam chưa có kế hoạch cụ thể về dòng
tiền mà chỉ chấp hành theo quy định của cơ quan nhà nước về quản lý tiền, do
đó chưa xác định được mô hình quản lý tiền tối ưu và mức tồn quỹ tối thiểu
theo từng giai đoạn sản xuất. Hạn chế này là một phần nguyên nhân dẫn đến sự
bị động trong huy động vốn phát sinh trong kì của NXB Giáo dục Việt Nam.
100
Hàng tồn kho tăng mạnh từ 120,004 tỷ đồng năm 2016 lên 402,941 tỷ
đồng năm 2021, mang lại mức tăng tỷ trọng đáng kể từ 10% đến 25,04%, đảm
bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo nhu cầu xuất bản và hoạt động
kinh doanh. Mức tỷ trọng này chủ yếu do nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, và
hàng hóa chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng giá trị hàng tồn kho của NXB Giáo
dục Việt Nam tại các thành phố lớn trên toàn quốc Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ, đảm bảo cho quá trình tiêu thụ sách giáo khoa,
sách tham khảo trên cả nước. Đây là mặt hàng chủ chốt trong hoạt động sản
xuất của Nhà xuất bản, quyết định lớn đến tốc độ tăng trưởng và doanh thu bán
hàng của Nhà xuất bản.
Với đặc trưng giới hạn loại sách và loại nguyên vật liệu đầu vào sản xuất,
và đặc tính vòng đời ngắn hạn của sản phẩm, Ban Kế hoạch Tài chính thống
nhất xuất kho thành phẩm phương pháp giá thực tế đích danh, tạo thuận lợi
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo vòng quay hàng tồn kho ở mức
phù hợp với đặc điểm kinh doanh, xuất bản và phát hành sách. Tuy nhiên, vòng
quay hàng tồn kho của các Nhà xuất bản trực thuộc giảm mạnh 5,2 - 5,9 lần
năm 2016 xuống còn khoảng 2,3 - 2,8 lần năm 2020 chủ yếu do dư thành phẩm
sản xuất, in và phát hành sách. Điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực dự
báo và xây dựng kế hoạch sản xuất sát với thực tế nhu cầu thị trường đối với
Ban Quản lý Xuất bản, Ban Kế hoạch thiết bị Giáo dục. Bên cạnh đó, quá trình
đánh giá, rà soát trước khi trình lên Hội đồng thành viên cũng cần được Ban
Kế hoạch Tài chính thực hiện chi tiết.
Tương tự hàng tồn kho, tỷ trọng khoản phải thu ngắn hạn của Nhà xuất
bản chiếm tỷ trọng hợp lý, giảm dần từ mức 22,14% năm 2016 xuống 11,97%
năm 2021 là mức hợp lý đối với hoạt động xuất bản, cho thuê văn phòng và
bán vật tư. Đối với khoản phải thu khách hàng, số dư nợ của một số Nhà xuất
bản tương đối lớn trong giai đoạn 2016 - 2018 như Công ty Cổ phần Dịch vụ
101
xuất bản Giáo dục Hà Nội với mức 20,210 tỷ đồng, Công ty Cổ phần Đầu tư
và Phát triển Giáo dục Hà Nội với mức 16,794 tỷ đồng và Công ty Cổ phần
Đầu tư và Phát triển Giáo dục Phương Nam với mức 8,122 tỷ đồng vào năm
2018. Như vậy có thể thấy trong giai đoạn 2016 - 2018, lượng vốn mà Nhà xuất
bản bị khách hàng, đối tác tạm thời chiếm dụng tương đối nhiều, nếu khoản
phải thu khách hàng này được thu hồi sớm sẽ bổ sung lượng vốn lớn cho quá
trình sản xuất kinh doanh và NXB Giáo dục Việt Nam sẽ giảm được các khoản
nợ vay ngân hàng. Đây là dấu hiệu chưa tốt trong việc thu hồi các khoản nợ
này để bổ sung vào quá trình sản xuất kinh doanh. Nhà xuất bản cần có những
biện pháp thích hợp để hạn chế mức dư nợ của khách hàng nhằm thu hồi vốn
cho sản xuất.
Đến năm 2019, Quyết định số 462/QĐ-HĐTV về Ban hành Quy chế
quản lý nợ của NXB Giáo dục Việt Nam được ban hành, chính sách bán hàng
đã được thay đổi cho thấy dấu hiệu tích cực khi vòng quay khoản phải thu tăng
mạnh. Theo chính sách bán hàng mới, mức hưởng khoản thưởng thanh toán
nhanh được xác định theo số tiền thanh toán trước và số ngày thanh toán trước
với lãi suất tăng lên mức 7,5%/năm, áp dụng chế tài hạ bậc hoặc dừng hợp tác
với đối tác vi phạm cam kết. Chính sách mới đã tác động đúng thời điểm đổi
mới phương pháp giáo dục phổ thông, mang lại mức doanh thu tăng mạnh trong
hoạt động sản xuất tại các nhà xuất bản trực thuộc, trong khi giảm mức chiếm
dụng vốn từ các bên liên quan, từ đó hiệu quả sản xuất, kinh doanh và phát
hành sách, vật tư giáo dục đã tăng lên khả quan.
Bên cạnh sự giảm mạnh của tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn giữ ở mức
ổn định trong giai đoạn phân tích, với 746,263 tỷ đồng năm 2016 và 830,637
tỷ đồng năm 2021, tương ứng với tỷ trọng 54% đến hơn 65% giai đoạn 2016 -
2021. Mức ổn định này đạt được có thể thấy hiệu quả quản lý tài sản của Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, đáng chú ý là quản lý tài sản cố định hữu hình và
quản lý đầu tư tài chính dài hạn.
102
Các tài sản cố định của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được hình thành từ vốn Nhà nước đầu tư, vốn vay và vốn hợp pháp khác. Quản lý tài sản cố định hữu hình bao gồm quản lý đất đai được cấp quyền sử dụng, nhà cửa, trang thiết bị quản lý doanh nghiệp. Chủ yếu tài sản cố định hữu hình của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được quản lý và sử dụng tại văn phòng với mức 83,824 tỷ đồng năm 2018, tương ứng tỷ trọng 67,82% so với tổng tài sản cố định hữu hình của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Bảng 3.9. Tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Đơn vị: Tỷ đồng
Tổng
Nhà cửa, vật kiến trúc Máy móc, thiết bị Thiết bị, dụng cụ quản lý TSCĐ HH khác
5,454 5,117 4,575 5,640 9,534 9,534 5,567 5,419 7,136 8,418 5,859 5,944 143,303 199,185 199,185 99,599 104,124 104,124 - 0,364 0,741 0,741 0,797 0,741 176,734 232,495 234,978 140,367 147,410 94,422 2016 2017 2018 2019 2020 2021
4,543 4,403 3,815 4,225 5,669 6,616 4,855 5,322 5,962 6,307 5,547 5,720 66,603 73,846 80,681 59,968 63,187 66,596 - 0,008 0,182 0,366 0,380 0,555 94,661 103,297 111,388 90,340 94,422 94,422 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Phương tiện vận tải Nguyên giá 22,410 22,410 23,341 25,969 27,096 27,248 Khấu hao lũy kế 18,661 19,718 20,748 19,474 19,639 18,405 Giá trị còn lại 3,749 2,692 2,593 6,495 7,457 8,843 0,911 0,714 0,760 1,415 3,865 2,918 0,712 0,096 1,174 2,111 0,312 0,224 76,700 125,340 118,504 39,631 40,937 37,528 - 0,356 0,559 0,375 0,417 0,186 82,072 129,198 123,590 50,027 52,988 49,699 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
103
Căn cứ kế hoạch đầu tư phát triển và kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng
năm, Hội đồng Thành viên quyết định từng dự án đầu tư, xây dựng, mua bán
tài sản cố định với giá trị không quá 30% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo
tài chính quý hoặc năm của NXB Giáo dục Việt Nam. Trong giai đoạn 2016 -
2021 tài sản cố định được thực hiện mua sắm và tính khấu hao kịp thời theo
từng thời điểm, đúng quy định theo luật Đầu tư công thuộc lĩnh vực giáo dục.
Năm 2017 và 2018, tài sản nhà cửa, vật kiến trúc tại Văn phòng Nhà xuất bản
được ghi nhận tăng mạnh do tăng thêm nguyên giá của sàn văn phòng Diamond
Flower phân loại từ chi phí trả trước dài hạn. Tuy nhiên, về tài sản tại các Tòa
soạn tạp chí chuyên ngành, tài sản được phân bổ sử dụng, là phương tiện vận
tải và truyền dẫn, các tài sản này đã lỗi thời, hết khấu hao từ năm 2015. Điều
này đặt ra yêu cầu đối với công tác kiểm kê, đề xuất mua sắm, sửa chữa tài sản
từ bộ phận tài chính của các tạp chí và công tác đánh giá tài sản từ Ban Kế
hoạch Tài chính. Ngoài ra, hoạt động kiểm kê, thanh lý tài sản cố định chưa
được thực hiện hiệu quả khi các tài sản là thiết bị, phương tiện hết khấu hao
hơn 5 năm vẫn chưa được đánh giá và để xuất sửa chữa, thay mới hàng năm
với giá trị tài sản trước khấu hao có tổng giá trị 17,64 tỷ đồng. Về cơ bản, việc
quản lý tài sản của NXB Giáo dục Việt Nam được triển khai tốt, minh bạch
hiệu quả. Đối với các dự án mua sắm, NXB Giáo dục Việt Nam thực hiện đấu
thầu theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu. Đối với các dự án đặc thù,
mang tính chất riêng biệt, NXB Giáo dục Việt Nam đã ban hành quy định riêng
dựa trên các quy định của Luật đấu thầu trên tinh thần đảm bảo công khai, minh
bạch và hiệu quả.
Nhìn chung, qua phân tích tình hình quản lý tài sản tại NXB Giáo dục
Việt Nam, có thể thấy rằng tình hình biến động tài sản có tỷ trọng tài sản cố
định tương đối hợp lý, cân đối tình hình mua sắm cải tạo các trang thiết bị quản
lý, phương tiện vận tải, tận dụng được nguồn tài sản đất đai, nhà cửa, vật kiến
104
trúc được giao quyền sử dụng. Tuy nhiên, về tài sản ngắn hạn, và các khoản
phải thu đạt được sự biến động tương ứng với tình hình hoạt động áp dụng các
chính sách tín dụng hợp lý để giảm số dư khoản phải thu và tăng cường thúc
đẩy tiêu thụ hàng hoá, nhưng Nhà xuất bản cần khắc phục tình trạng ứ đọng
thành phẩm có vòng đời ngắn hạn trong hàng tồn kho.
3.2.2.4. Thực trạng quản lý đầu tư ra ngoài doanh nghiệp tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam Giáo dục Việt Nam
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà xuất bản dành một
phần vốn của mình để đầu tư ra bên ngoài Nhà xuất bản. Việc đầu tư một phần
vốn của mình ra bên ngoài đã mang lại cho Nhà xuất bản không chỉ lợi nhuận
mà cả những kinh nghiệm trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tại Nhà
xuất bản. Các khoản đầu tư góp vốn vào công ty liên doanh, liên kết và các đơn
vị khác do Hội đồng thành viên quyết định và phê duyệt, do Ban Kế hoạch Tài
chính theo dõi, giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả sinh lợi.
Đầu tư vào công ty con
Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
114,915
100,975
96,548
97,396
101,132
96,316
290,109
290,109
290,109
282,755
289,858
282,755
140,174
121,933
116,831
111,731
101,740
101,740
2 0 1 6
2 0 1 7
2 0 1 8
2 0 1 9
2 0 2 0
2 0 2 1
Đơn vị: Tỷ đồng
Biểu đồ 3.3. Tình hình đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
105
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã mạnh dạn sử dụng một phần vốn của
mình tham gia các hoạt động đầu tư ra bên ngoài Doanh nghiệp với nhiều hình
thức khác nhau nhằm tạo ra một hướng đi mới cho Doanh nghiệp. Để hình thức
đầu tư này đạt hiệu quả như mong muốn, Nhà xuất bản đã đề ra chiến lược và kế
hoạch đầu tư thường xuyên, kịp thời điều chỉnh hoạt động đầu tư, tránh tình trạng
dàn trải, không đạt hiệu quả cao gây tác động xấu đến tình hình tài chính của
Doanh nghiệp. Từ bảng trên có thể thấy nguồn thu từ việc đầu tư bên ngoài chủ
yếu là đầu tư dài hạn vào công ty liên doanh liên kết với mức đầu tư với mức vốn
ổn định. Năm 2019, tổng cổ tức nhận được 42,08 tỉ đồng, tổng giá trị vốn đầu tư
492,809 tỉ đồng, tỉ suất lợi nhuận bình quân thu được trên tổng số vốn đầu tư đạt
8,5%, cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng bình quân kì hạn 1 năm là 7,7%.
Xét về cơ cấu đầu tư dài hạn, nguồn đầu tư cho các công ty liên doanh,
liên kết chiểm tỷ trọng lớn, từ 53,08% đến 65,41% so với tổng đầu tư tài chính
dài hạn. Năm 2021, tổng cổ tức dự kiến nhận được từ công ty liên doanh, liên
kết là 30,38 tỉ đồng, tổng giá trị vốn đầu tư 282,76 tỉ đồng, tỉ suất lợi nhuận
bình quân thu được trên tổng số vốn đầu tư đạt 10,74%. Ban Kế hoạch Tài
chính tổ chức đánh giá theo định kì 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm theo
các chỉ tiêu hoạt động, sinh lời của các công ty và báo cáo lên Ban Giám đốc
và Hội đồng thành viên xem xét và quyết định về thay đổi tỷ lệ góp vốn, thoái
vốn. Danh mục đầu tư công ty liên doanh, liên kết với tỷ lệ vốn góp từ Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam đa dạng, đòi hỏi Ban Kế hoạch Tài chính tăng cường
theo dõi và đánh giá hiệu quả và mức sinh lời cũng như rủi ro thường xuyên,
đảm bảo kiểm soát vốn và phát triển nguồn lực đầu tư của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam. Trong các công ty liên doanh liên kết, đối với các đơn vị Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam có tỷ lệ góp vốn, có quyền quyết định, thì đều nằm
trong hệ thống kinh doanh sách giáo dục. Tuy nhiên có một số đơn vị thì tỷ lệ
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam góp vốn khá thấp, không đủ quyền phủ quyết,
không tham gia vào Hội đồng quản trị thì có rất ít tiếng nói đối với quyền lợi
106
cổ đông của mình. Hiện nay, có một số đơn vị bị các cá nhân thâu tóm và thay
đổi ngành nghề kinh doanh, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần phân loại và
thoái vốn tại các đơn vị này để bảo toàn vốn, đặc biệt với các đơn vị không trả
cổ tức hoặc có dấu hiệu cổ tức giảm dần từ khi thay đổi cơ cấu cổ đông.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đóng vai trò định hướng và chi phối
chính sách tài chính và kế hoạch kinh doanh, quyết định bộ máy quản lý và
điều hành. Tham gia vào giám sát và quản lý công ty con, Ban Kế hoạch Tài
chính báo cáo lên Ban Giám đốc sau khi thực hiện đánh giá và theo dõi, tổng
hợp từng hoạt động kinh doanh của công ty con từ hiệu quả tài chính, hiệu quả
hoạt động đến các phương án đầu tư phát triển và khi có vấn đề rủi ro phát sinh
tại công ty con. Sau khi xem xét và đánh giá báo cáo từ Ban Kế hoạch Tài
chính, Ban Giám đốc kết hợp với đánh giá thị phần, tiềm năng sản xuất kinh
doanh của các công ty con cũng như kế hoạch hoạt động dài hạn của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam và đề xuất phương án thay đổi đầu tư và giám sát công
ty con lên Hội đồng thành viên phê duyệt.
Tóm lại, quản lý đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp đang được Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam thực hiện bài bản và tương đối tốt. Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam thực hiện giám sát, quản lý vốn thông qua các người đại diện
vốn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tại đơn vị, bao gồm các cá nhân thuộc
Ban điều hành công ty cổ phần và các cá nhân có trình độ chuyên môn tầm nhìn
trong hệ thống Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Định kỳ người đại diện vốn
đều có các báo cáo để đánh giá về tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để
nêu các lợi thế thuận lợi cũng như thực trạng khó khăn tại đơn vị này. Trong
đó, dễ dàng nhận thấy một số đơn vị không kinh doanh hiệu quả đối với ngành
nghề kinh doanh chính, nhưng lại có lợi thế về đất đai, nhưng Ban điều hành
lại để ngỏ, không tận dụng để khai thác. Vì vậy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam cần nghiên cứu một cách hệ thống đối với các đơn vị này để đưa ra các
giải pháp hiệu quả trong việc khai thác sử dụng đất đai, để đây là một kênh
107
mang lại hiệu quả lợi nhuận, bù đắp những yếu kém của mảng kinh doanh
chính, đồng thời mang lại giá trị lợi ích trực tiếp cho đơn vị và các cổ đông.
3.2.2.5. Thực trạng quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam
Quá trình quản lý doanh thu chi phí và phân phối lợi nhuận của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam được thực hiện có hệ thống, theo quy định nội bộ, đảm
bảo đúng theo pháp luật hiện hành. Trong giai đoạn 2016 - 2021, hoạt động sản
xuất kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam luôn vượt kế hoạch với
mức doanh thu tăng từ 1.147,448 tỷ đồng năm 2016 lên 1.609,241 tỷ đồng vào
năm 2021, với mức tăng bình quân 9,19% mỗi năm.
1,800,000
1,600,000
1,400,000
1,200,000
1,000,000
800,000
600,000
400,000
200,000
0
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Đơn vị: Triệu đồng
Biểu đồ 3.4. Doanh thu và Lợi nhuận sau thuế
tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021
Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
108
Từ bảng trên, doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doansh của Nhà xuất
bản chủ yếu đến từ doanh thu bán sách giáo khoa với tỷ trọng 63,27% đến
68,11% tổng doanh thu. Trong 6 năm từ 2016 đến 2021, Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam luôn đồng hành và thực hiện đầy đủ nhiệm vụ phổ cập giáo dục
phổ thông của Chính phủ, tổ chức biên soạn, biên tập, xuất bản, in và phát hành
sách giáo khoa. Bên cạnh đó, nguồn doanh thu của Nhà xuất bản cũng đến từ
thu phí quản lý xuất bản sách bổ trợ, doanh thu bán vật tư, thiết kế, mua bán,
sản xuất thiết bị, đồ dùng dạy học và doanh thu sách tham khảo. Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam đã tổ chức tốt hoạt động sản xuất - kinh doanh, đáp ứng
đầy đủ nhiệm vụ, chức năng được Nhà nước giao và luôn giữ vững vị trí Nhà
xuất bản lớn nhất, chiếm đến 80% thị phần phát hành sách trong cả nước, đảm
bảo hiệu quả sản xuất - kinh doanh của Công ty.
Doanh thu của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, chứng minh rõ hiệu
quả quá trình hoạt động kinh doanh từ năm 2016 đến năm 2021. Hoạt động
kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh có mức
tăng doanh thu rõ rệt từ 362,239 tỷ đồng năm 2016 lên 530,219 tỷ đồng vào
năm 2019, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội có mức tăng từ 355,484 tỷ đồng năm
2016 lên 517,880 tỷ đồng năm 2021. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam còn chỉ
đạo và hướng dẫn Nhà xuất bản Giáo dục các địa phương thực hiện bán sách
giáo khoa, sách tham khảo, đồ dùng học tập.
Tuy nhiên lợi nhuận từ hoạt động xuất bản sách giáo khoa mới chỉ đáp
ứng được nhiệm vụ Nhà nước giao cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, chưa
đáp ứng được hiệu quả tài chính mong muốn đối với Nhà xuất bản.
Lợi nhuận của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chủ yếu đến từ hoạt động
kinh doanh của các nhà xuất bản trực thuộc, góp phần đảm bảo lợi nhuận của
toàn Nhà xuất bản và bù đắp chi phí vận hành Văn phòng Nhà xuất bản. Với mục
tiêu lợi nhuận, NXB Giáo dục Việt Nam đã đạt được mức kì vọng với lợi nhuận
109
sau thuế tăng từ 71,829 tỷ đồng năm 2016 lên 121,294 tỷ đồng năm 2019. Tuy
nhiên, dù đạt mục tiêu cộng đồng do Bộ Giáo dục và Đào tạo giao độc quyền
phát hành sách giáo khoa, đảm bảo lượng sách giáo khoa đáp ứng đủ nhu cầu
phổ cập giáo dục phổ thông đến tất cả thiếu niên dưới 18 tuổi, NXB Giáo dục
Việt Nam đang liên tục lỗ đáng kể trong mảng in ấn và phát hành SGK
Bảng 3.10. Doanh thu và lợi nhuận trước thuế theo mảng kinh doanh
tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Đơn vị: tỷ đồng
2016
2017
2018
2019
2020
2021
Nội dung
Doanh thu
802,502 735,050 56,400 11,052 144,463 33,508 85,568 13,219 65,776 2,410
756,705 703,910 43,377 9,419 199,399 38,028 113,025 3,989 79,138 12,835
801,239 734,152 58,641 8,446 196,209 41,550 133,441 3,275 55,076 2,909
1.026,910 1.160,481 1.629,770 966,854 1.078,553 1.583,056 51,271 8,786 222,021 43,665 127,034 1,155 57,885 3,916
39,745 6,968 5,854 44,597 99,822 457 44,942 2,824
73,827 8,101 6,573 44,544 75,577 1,633 74,789 6,766
1.147,447 1.203,119 1.233,699 1.482,585 1.370,363 1.828,265 LNTT
Sách, tạp chí Sách SGK STK Tạp chí Vật tư Thuê VP Phí QLXB SXKD khác Tài chính Khác Tổng Nội dung Sách, tạp chí Sách SGK STK Tạp chí Vật tư Thuê VP Phí QLXB SXKD khác Tài chính Khác Tổng
(9,964) (2,930) (10,371) 3,337 (25,376) 16,872 71,990 2,748 14,214 1,623 72,107
(32,837) (32,688) (3,802) 3,653 (30,479) 22,314 100,609 2,723 82,691 5,792 150,813
(12,181) (11,839) (2,736) 2,393 (31,564) 25,515 105,429 256 44,138 400 131,992
76,649 68,419 6,266 1,964 (6,389) 9,403 38,026 661 5,362 (1,090) 122,623
237,312 238,138 (1,956) 1,130 (4,499) 10,533 39,981 (742) 31,862 (36) 314,411
(49,479) (44,137) (7,753) 2,411 (32,478) 25,186 116,022 440 70,966 (2,509) 128,149 Nguồn: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
110
Với mảng in và phát hành sách giáo khoa, là mảng hoạt động chính, cũng
là mảng phục vụ mục tiêu cộng đồng được giao, Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam đã đạt được mục tiêu xã hội khi thị phần phát hành sách giáo khoa đáp
ứng đủ nhiệm vụ Nhà nước đặt ra, hỗ trợ mục tiêu phổ cập giáo dục với nguồn
sách giáo khoa có mức giá bán vừa phải. Về mục tiêu kinh tế, tuy doanh thu
mang lại từ in và phát hành sách giáo khoa ở mức cao, lên tới 58,51% đến
65,21% tổng doanh thu của toàn Nhà xuất bản, hoạt động sản xuất và kinh
doanh sách giáo khoa gần như là mảng duy nhất lỗ do mức giá đầu ra sách giáo
khoa được quản lý bởi Bộ Tài chính, là giá bán không thay đổi từ năm 2011
đến năm 2018. Trong khi đó, chi phí giá vốn sản xuất sách giáo khoa đầu vào
tăng cao trung bình 4,84% mỗi năm, chi phí nhân công tăng trung bình 4,73%
mỗi năm, dẫn đến lỗ in và phát hành sách giáo khoa trong dài hạn, lỗ 2,930 tỷ
đồng năm 2016, 32,688 tỷ đồng năm 2017 và 44,137 tỷ đồng năm 2018. Từ
năm 2019, tuy giá sách giáo khoa được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt giá
sách giáo khoa tăng 16,9%, mang lại mức thu bù đủ chi phí cho việc xuất bản
sách giáo khoa, mức giá vốn nguyên vật liệu tăng 4,25% và chi phí quản lý,
bán hàng, nhân công tăng phát sinh tăng mạnh 5,76%, trong khi đó sản lượng
bán ra có sự giảm nhẹ, dẫn đến mức lỗ 11,839 tỷ đồng. Nhìn chung, với hạn
chế trong việc không thể quản lý giá vốn đầu vào sản xuất mảng hoạt động
chính là sách giáo khoa theo mức doanh thu và sản lượng tối thiểu được quy
định, Ban Kế hoạch Tài chính chấp nhận mức lỗ từ mảng sách giáo khoa và tập
trung đầu tư quản lý, kiểm soát chặt chẽ doanh thu và chi phí từ phí quản lý
xuất bản, cổ tức từ đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, lãi tiền gửi và cho thuê văn
phòng, góp phần đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của Nhà xuất bản, trong đó chú
trọng vào nguồn thu từ phí quản lý hoạt động xuất bản - hoạt động mang lại lợi
nhuận chủ yếu cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Về hiệu quả sinh lời trong kì kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam, qua mô hình Dupont, có thể thấy mức tăng tổng lợi nhuận sau thuế đã
111
góp phần tối ưu giá trị cho chủ sở hữu - Nhà nước với chỉ số ROE có xu hướng
tăng mạnh từ 11,55% năm 2016 lên đến 20% năm 2017 và giảm dần về 15,91%
năm 2018 và 16,08% năm 2019.
Hình 3.1. Phân tích Dupont 5 yếu tố đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam giai đoạn 2016 - 2021
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Từ mô hình Dupont có thể thấy hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có sự ảnh hưởng tích cực từ chi phí lãi vay,
tỷ số biên lợi nhuận trước thuế và lãi vay, vòng quay tổng tài sản, là những yếu
tố xuất phát từ hiệu quả quản lý và kiểm soát sản xuất, kinh doanh cũng như
tình hình tài chính của Nhà xuất bản.
Từ năm 2016 đến năm 2019, chỉ số gánh nặng lãi vay tăng dần từ 0,7 lần
lên đến 0,82 lần do thực hiện phương án thay đổi tỷ trọng và hạn mức cũng như
đàm phán điều chỉnh lãi huy động vốn tín dụng được đề xuất từ Ban Kế hoạch
Tài chính, góp phần giảm chi phí lãi vay từ 30,737 tỷ đồng năm 2016 xuống
19,946 tỷ đồng năm 2017, 29,683 tỷ đồng năm 2019. Sự thay đổi tích cực trong
quản lý huy động vốn góp phần tăng hiệu quả sinh lời trên nguồn vốn tín dụng,
mang lại nguồn lợi nhuận cho chủ sở hữu. Để chỉ số gánh nặng lãi vay tác động
tích cực hơn đến tăng mức sinh lời cho vốn chủ sở hữu, cần tiếp tục giảm chi
phí lãi vay thông qua đa dạng các nguồn huy động tín dụng lãi suất thấp.
112
Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh có tốc độ tăng trưởng tương
ứng tốc độ tăng trưởng của ROE, từ 9,5% năm 2016 tăng mạnh lên 15,37%
năm 2017 sau đó giảm dần về 12,62% năm 2018, 11,38% năm 2019, 12,52%
năm 2020 và 19,50% năm 2021 cho thấy tác động tích cực từ quản lý chi phí
sản xuất và chi phí bán hàng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Để chỉ số này
ảnh hưởng tích cực hơn, Ban Kế hoạch Tài chính cần tiếp tục kết hợp với Ban
Kế hoạch Marketing trong xây dựng kế hoạch tổng thể in - sản xuất sách giáo
khoa, sách bài tập, các sản phẩm giáo dục khác và theo dõi sát việc thực hiện
kế hoạch hoạt động sản xuất của các đơn vị song song với tình hình thực hiện
kế hoạch tài chính, đảm bảo tối thiểu chi phí, mang lại biên lợi nhuận cao so
với doanh thu.
Vòng quay tổng tài sản tăng mạnh từ 0,88 lần năm 2016 lên 1,00 lần
năm 2019, 1,16 lần năm 2021 đã góp phần đáng kể nâng cao mức sinh lời của
vốn chủ hữu do hiệu quả quản lý nâng cao uy tín và thương hiệu của Nhà xuất
bản từ Ban Thông tin Tuyên truyền và công tác triển khai đẩy mạnh doanh số
của Ban Kế hoạch Marketing và bộ phận phân phối sách, thiết bị giáo dục tại
các đơn vị trực thuộc.
Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu chịu tác động nghịch
chiều từ gánh nặng thuế và đòn bẩy tài chính. Chỉ số gánh nặng thuế giảm mạnh
do thuế suất trung bình tăng lên từ 0% năm 2016 lên 18% năm 2020. Để chỉ số
này có dấu hiệu tích cực hơn, cần có sự tác động từ chính sách ưu đãi đối với
hoạt động kinh doanh vì mục tiêu cộng đồng của cơ quan quản lý nhà nước đối
với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Hệ số đòn bẩy tài chính tuy đạt mức cao, đảm bảo khả năng trả nợ của
Nhà xuất bản, tuy nhiên chỉ số có xu hướng ngược với tỷ suất sinh lợi trên vốn
chủ sở hữu với mức giảm mạnh từ 1,96 lần năm 2016 về 1,66 lần năm 2017 sau
đó tăng dần lên 1,88 và 1,87 lần năm 2019 và 2020, 1,79% năm 2021 cho thấy
113
Ban Kế hoạch Tài chính quản lý chưa tối ưu được nguồn vốn nhà nước trong
tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai của Nhà xuất bản. Cụ thể hơn, Ban Kế
hoạch Tài chính cần thay đổi chính sách hoàn trả các khoản phải trả từ nhà cung
cấp và các khoản nợ dài hạn.
3.3. Đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
3.3.1. Kết quả đạt được
Từ những nội dung trình bày về thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam, có thể thấy Nhà xuất bản đã đạt được một số kết quả
như sau:
Một là, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã xây dựng một cơ chế quản
lý tài chính phù hợp góp phần nâng cao quyền tự chủ nhất định trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. NXB Giáo dục Việt Nam đã ban hành đầy đủ chính sách
bán hàng từng năm học, quy chế quản lý nợ, các quy định về quy trình hoạt
động sản xuất kinh doanh, quy trình tạm ứng, thanh quyết toán, định mức thanh
toán, định mức tiêu hao vật tư...; Quy định về công tác báo cáo thống kê; Cơ
chế quản lý, sử dụng tài sản phù hợp với yêu cầu phát triển của Nhà xuất bản;
việc đánh giá, trích khấu hao, thực hiện kiểm kê tài sản được quy định cụ thể.
Hai là, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thực hiện quản lý vốn nhà nước
với hệ số bảo toàn vốn ổn định qua các năm trong thời gian nghiên cứu, tạo nền
tảng sử dụng và phát triển vốn nhà nước tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trong quá trình phát triển, Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam đã thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng điều
hòa vốn giữa các đơn vị thành viên trong toàn thể hệ thống, khắc phục được
tình trạng thiếu thừa vốn cục bộ trong doanh nghiệp, từng bước nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn và tài sản Nhà nước.
Ba là, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã huy động được một lượng
vốn nhất định theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh
114
doanh. Mặt khác, nguồn vốn tín dụng huy động đảm bảo mức sinh lời từ nguồn
vốn vay luôn đạt mục tiêu, trong khi hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu vẫn trong
mức quy định.
Bốn là, quản lý sử dụng tài sản được thực hiện đúng quy trình, mang lại
tốc độ tăng trưởng tài sản đáng kể cho Nhà xuất bản, sự thay đổi chính sách
bán hàng góp phần cho hiệu quả sử dụng tài sản đạt kết quả tích cực. Công tác
kiểm kê, thanh lý tài sản cố định được thực hiện đúng theo quy trình, quy định.
Năm là, hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả,
mang lại nguồn thu lâu dài, đảm bảo hiệu quả hoạt động đầu tư cho Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam. Hoạt động đầu tư này đảm bảo tối đa hóa lợi ích của
Nhà xuất bản thực hiện theo quy định của Nhà nước về nguồn vốn đầu tư của
doanh nghiệp nhà nước đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty nhà nước khác.
Sáu là, NXB Giáo dục Việt Nam thực hiện quản lý doanh thu chi phí và
phân phối lợi nhuận bài bản và theo đúng quy định của pháp luật. Hoạt động kinh
doanh của Nhà xuất bản đạt mức ổn định, với doanh thu và lợi nhuận luôn vượt
mức kế hoạch đặt ra, đảm bảo chiến lược hoạt động dài hạn của doanh nghiệp.
3.3.2. Hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, hiện nay quản lý tài chính
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã nảy sinh những vấn đề không đáp ứng
được yêu cầu quản lý và điều hành hoạt động tài chính ngày càng phát triển của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và được thể hiện trên một số nội dung sau:
Thứ nhất, về quy trình quản lý tài chính, kế hoạch của NXB Giáo dục
Việt Nam được tạo nên từ tổng thể kế hoạch các đơn vị, các bộ phận chuyên
môn. Hiện nay còn tồn tại tình trạng kế hoạch kinh doanh của các đơn vị xây
dựng vẫn mang tính chất thủ tục, an toàn, chưa phản ánh đầy đủ các yếu tố tích
cực và các yếu tố khó khăn ảnh hưởng trong quá trình thực hiện kế hoạch. Điều
115
này sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch doanh thu bán hàng, doanh thu tài chính nói
riêng và kết quả kinh doanh nói chung của NXB Giáo dục Việt Nam, nhất là từ
năm 2019 khi áp dụng chương trình nhiều SGK, thì việc xây dựng kế hoạch
doanh thu cho mảng sách giáo dục là 1 bài toán không đơn giản, cần có sự tính
toán sâu dựa trên thị hiếu của người tiêu dùng, chất lượng của các bộ sách mới
và năng lực cạnh tranh, tuyên truyền của NXB Giáo dục Việt Nam cùng các
đơn vị phát hành đầu mối cấp một.
Thứ hai, về quản lý bảo toàn và phát triển vốn, giữ vị trí quan trọng để
góp phần thúc đẩy phát triển, đảm bảo bằng hoặc vượt các chỉ tiêu kế hoạch. Hệ
số bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại Nhà xuất bản đang ở mức ổn định,
chưa tối ưu, đặt ra kì vọng phát triển vốn nhà nước trong dài hạn. Trong khi đó,
quỹ đầu tư phát triển đã được thực hiện trích lập hàng năm, tuy nhiên chưa được
lên kế hoạch với lộ trình cụ thể để thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng quy
mô sản xuất, dẫn đến tình trạng ứ đọng và lãng phí nguồn quỹ trích lập, dẫn đến
doanh thu và lợi nhuận không đạt được theo mục tiêu đã xác định.
Thứ ba, về quản lý huy động vốn, nguồn vốn tín dụng huy động của Nhà
xuất bản chủ yếu vay qua tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất thuộc tài sản
công, các khoản thấu chi chưa được sử dụng hợp lý, Hội đồng thành viên quyết
định kế hoạch nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước cũng như Ban Kế hoạch
Tài chính thực hiện chưa hiệu quả, tạo gánh nặng lãi vay lên chủ sở hữu - Nhà
nước. Chính sách và kế hoạch huy động chưa hiệu quả khi các khoản vay tín
dụng ngắn hạn phần lớn phát sinh trong kì, gây nên tình trạng bị động đối với
Hội đồng thành viên trong phê duyệt và thực hiện huy động vay ngắn hạn và
thấu chi cũng như phân bổ và quyết định hoàn trả gốc và lãi vay. Hạn chế tiếp
theo là hạn mức huy động tín dụng vừa hạn chế vừa chỉ được vay trong thời
gian ngắn (vay theo thời vụ) khi có nhu cầu vay vốn dẫn đến bị động và lép vế
với ngân hàng cho vay vốn.
116
Thứ tư, về quản lý tài sản, công tác đánh giá lại và xử lý tổn thất tài sản
cố định chưa hiệu quả, gây tổn thất về máy móc, nhà cửa, phương tiện đi lại.
Thiết bị và phương tiện vận tải tại các đơn vị trực thuộc hết khấu hao, lỗi thời
chưa được xử lý đánh giá và mua sắm, sửa chữa hiệu quả. Hoạt động kinh
doanh của Nhà xuất bản chưa tận dụng tối đa nguồn lực tài sản ngắn hạn, mức
tồn thành phẩm trong quá trình sản xuất trong kì còn cao, hàng tồn kho chưa
đạt mức mong muốn; dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, gây lãng phí và làm tăng
chi phí sản xuất cũng như quá trình thanh lý hàng tồn kho chậm dẫn đến hiệu
quả kinh tế thấp thu hồi vốn hàng tồn kho vừa chậm vừa kém hiệu quả.
Thứ năm, về quản lý đầu tư ra ngoài Nhà xuất bản, cổ tức thu về từ hoạt
động đầu tư đều đạt hiệu quả không cao, một số đơn vị NXB Giáo dục Việt
Nam đầu tư vốn không hoạt động hiệu quả trong nhiều năm. Trong khi đó, một
số đơn vị thì tỷ lệ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam góp vốn khá thấp, không
đủ quyền phủ quyết, đặt ra yêu cầu phân loại và thoái vốn tại các đơn vị này để
bảo toàn vốn, đặc biệt với các đơn vị không trả cổ tức hoặc có dấu hiệu cổ tức
giảm dần.
Thứ sáu, quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận chưa đạt
được hiệu quả tài chính mong muốn mà mới chỉ dừng lại ở mức hoàn thành
nhiệm vụ được Nhà nước giao. Lợi nhuận từ hoạt động chính của Nhà xuất bản
- phát hành sách giáo khoa - lỗ qua nhiều năm.
3.3.3. Nguyên nhân của hạn chế
3.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Một là, hệ thống các văn bản nội bộ quy định về quản lý tài chính của
NXB Giáo dục Việt Nam chưa cập nhật các quy định mới của Nhà nước, cụ thể
các nội dung mới tại Quy chế tài chính như Thanh lý, nhượng bán tài sản cố
định và các quy định liên quan đến việc thoái vốn của NXB Giáo dục Việt Nam
117
tại các công ty cổ phần. Quy chế quản lý tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam
được phê duyệt từ năm 2018, nhưng chưa bổ sung cập nhật quy định mới liên
quan đến phương thức chuyển nhượng vốn tại các đơn vị mà NXB Giáo dục
Việt Nam có vốn góp tuân thủ theo Nghị định 140/NĐ-CP ngày 30/11/2020,
chậm trễ này vẫn duy trì cách làm củ dẫn đến hiệu quả thấp tư duy cán bộ viên
chức chậm nhiều so với các quy định của pháp luật.
Hai là, cơ chế xây dựng kế hoạch tài chính, thực hiện, quyết toán, kiểm
tra, giám sát tài chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam theo các quy định,
về hình thức thì rất chặt chẽ, tuy nhiên trên thực tế thì lỏng lẻo, Hội đồng thành
viên và Ban Giám đốc chịu trách nhiệm về kết quả quản lý, điều hành. Các văn
bản của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam quy định cơ chế giám sát, hầu như
sử dụng cho tất cả các cấp từ công ty Mẹ - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
đến các đơn vị thành viên đều thực hiện vai trò giám sát gần như tất cả các hoạt
động kinh doanh của Nhà xuất bản.
Ba là, hiện nay quản lý tài chính của Nhà xuất bản chưa khai thác, phát
huy hết tiềm năng của mình điều đó thể hiện khả năng tích tụ và tập trung vốn
của Nhà xuất bản chưa cao, nguồn lực tài chính của Nhà xuất bản còn bị phân
tán ở các đơn vị trực thuộc, trong khi quản lý tài chính tại NXB Giáo dục Việt
Nam trải qua 3 cấp Hội đồng thành viên và Ban giám đốc - Ban Kế hoạch Tài
chính - Phòng Kế hoạch Tài chính tại các đơn vị trực thuộc. Vì vậy, việc điều
chuyển, tập trung nguồn vốn giữa các đơn vị thành viên phục vụ cho các mục
tiêu chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản còn gặp nhiều
khó khăn, phức tạp vì ảnh hưởng làm giảm lợi ích của các đơn vị trực thuộc
nhưng có đơn vị trực thuộc lại được ưu đãi cũng dẫn đến những cuộc đua thiếu
lành mạnh; Thêm vào đó, NXB Giáo dục Việt Nam được Nhà nước ưu đãi về
nguồn vốn và hoạt động nên việc xác định mục tiêu đang dừng lại tại các hoạt
động được Nhà nước giao; do đó đặt ra yêu cầu đa dạng sản phẩm kinh doanh
118
chính của NXB Giáo dục Việt Nam để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh,
mở rộng quy mô, tăng lợi nhuận là rất khó khăn.
Bốn là, quy mô nguồn vốn và phạm vi hoạt động của Nhà xuất bản chưa
đảm bảo tiềm năng phát triển của Nhà xuất bản. Với cơ cấu vốn điều lệ 596 tỷ
đồng, nhu cầu vốn của NXB Giáo dục Việt Nam phục vụ cho các hoạt động
phát triển, đầu tư đang thiếu hụt, cũng như gây ra những hạn chế về mở rộng
quy mô sản xuất - kinh doanh. Do quy định tại Quy chế tài chính hiện hành của
NXB Giáo dục Việt Nam được Bộ GD&ĐT phê duyệt ngày 22/3/2018, Hội
đồng thành viên quyết định phương án huy động vốn đối với từng dự án có mức
huy động không quá 30% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý
hoặc báo cáo tài chính năm của NXB Giáo dục Việt Nam tại thời điểm gần nhất
với thời điểm huy động vốn để đạt được hiệu quả cao việc phục vụ cộng đồng
và nhà xuất bản có lợi nhuận. Vốn điều lệ không đổi qua các năm tạo giới hạn
về không chỉ về quản lý bảo toàn và phát triển vốn mà còn về quản lý vốn huy
động là rất hạn chế. Ngoài ra, lộ trình bổ sung vốn điều lệ bằng việc chuyển
Quỹ Đầu tư phát triển chưa được chú trọng và thúc đẩy hoàn thành cũng là một
nguyên nhân dẫn đến đói vốn.
Năm là, năng lực đội ngũ quản lý tài chính Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam chưa theo kịp tốc độ phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu
tư ra ngoài doanh nghiệp. Về xây dựng kế hoạch tài chính, trong khi hoạt động
phát hành áp dụng nhiều bộ sách giáo khoa trong một chương trình, các hoạt
động khác như xuất bản, cho thuê văn phòng gặp nhiều biến động, đội ngũ xây
dựng kế hoạch chưa có dự báo tính đến tất cả các thay đổi xảy ra, dẫn đến con
số kế hoạch chưa sát với tình hình thực tế, gây khó khăn trong công tác quản lý
tài chính. Đối với quản lý đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, người đại diện vốn của
NXB Giáo dục Việt Nam tại các đơn vị thành viên vẫn còn buông lỏng, chưa
theo sát quá trình hoạt động của đơn vị để đưa ra những tham mưu, cảnh báo
119
cho Lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam. Trong khi đó, đội ngũ quản lý tài chính
tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chưa cơ cấu lại danh mục đầu tư, vẫn làm
theo lối đi đã lạc hậu, không phù hợp với nền kinh tế thị trường mà các doanh
nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực khác đang vươn lên mạnh mẽ và được các cấp
hỗ trợ về áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến, không ngừng nâng
cao hiệu quả kinh tế.
Sáu là, công tác quản lý tài chính hiện tại của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam chưa cho phép Nhà xuất bản phát huy đầy đủ quyền tự chủ kinh
doanh, tự chịu trách nhiệm của mình. Trách nhiệm quản lý tài sản của Nhà xuất
bản không rõ ràng nên chưa tạo động lực khuyến khích tăng năng suất và hiệu
quả trong kinh doanh. Công tác đánh giá, kiểm kê, thanh lý tài sản cố định chưa
được thực hiện hiệu quả khi các tài sản là thiết bị, phương tiện hết khấu hao
chưa được đề xuất chính xác lên Ban Kế hoạch Tài chính, gây cản trở quá trình
sửa chữa và đầu tư mua sắm TSCĐ.
Bảy là, cơ sở hạ tầng và trình độ công nghệ chưa đáp ứng đủ nhu cầu
hoạt động của Nhà xuất bản. Cùng với sự chuyển đổi kinh tế số, chuyển đổi
phương thức học tập ứng dụng công nghệ cao, công tác in ấn và phát hành sách
giáo khoa chưa có bước chuyển mình ứng dụng công nghệ đáp ứng nhu cầu
truyền tải và tiếp thu kiến thức khi các biến động vĩ mô về khoa học kỹ thuật
của nền kinh tế thời đại 4.0, theo đó biến động vĩ mô về kinh tế đã và đang
chuyển động mạnh mẽ nhưng nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vẫn đi bước đi
chậm chạp.
3.3.3.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, tình hình kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói
riêng chưa bền vững, các nhà đầu tư không quan tâm nhiều đến việc đầu tư và
các công ty cổ phần về phát hành sách do lợi nhuận thấp nên kết quả thoái vốn
của Nhà xuất bản còn nhiều hạn chế. Thủ tục, hồ sơ tài liệu và quá trình thoái
120
vốn cần nhiều thời gian. Về quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, thị trường
có nhiều biến động bất ngờ trong giai đoạn 2016 - 2019. SGK không phải mặt
hàng thuộc diện Nhà nước quản lý giá nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến dư
luận xã hội khi đối tượng tiêu dùng phủ khắp và liên quan hầu hết các hộ gia
đình trên cả nước. Đặc biệt, trong tình hình dịch bệnh năm 2020 và 2021, NXB
Giáo dục Việt Nam phải mất thêm rất nhiều chi phí liên quan đến vận chuyển,
test covid cho lái xe, chi phí lưu kho, chi phí 3 tại chỗ trong thời gian phong
tỏa. Trong khi đó, NXB Giáo dục Việt Nam đã giảm trừ nhiều tiền cho thuê để
hỗ trợ các đơn vị thuê cơ sở vật chất của Nhà xuất bản, dẫn đến giảm doanh thu
và lợi nhuận từ hoạt động cho thuê.
Thứ hai, chính sách quản lý giá bán sách giáo khoa với mức cố định qua
các năm từ cơ quan quản lý nhà nước tuy góp phần hoàn thành mục tiêu cộng
đồng của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và của quốc gia, nhưng gây ra tình
trạng thu không đủ bù chi đối với Nhà xuất bản. Tuy sách giáo khoa không
thuộc mặt hàng Nhà nước quản lý giá nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến dư
luận xã hội khi đối tượng tiêu dùng phủ khắp cả nước và liên quan hầu hết các
hộ gia đình trên cả nước. Chính vì vậy, Cục quản lý giá - Bộ Tài chính và Bộ
GD&ĐT rất sát sao trong việc kiểm soát chi phí giá thành sách giáo khoa được
kê khai, việc giá bìa sách giáo khoa đã công bố và áp dụng thì rất khó thay đổi
dù các yếu tố cấu thành có thể tăng phi mã như giấy, mực in, phụ liệu.
Thứ ba, chính sách tín dụng tại các ngân hàng thương mại chưa có các
quy định ưu tiên cho các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu cộng đồng. Thêm
vào đó, sự phối hợp của các tổ chức tín dụng với Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam để chuẩn bị và hoàn thiện hồ sơ vay vốn còn chưa kịp thời, một số trường
hợp còn có sai sót nhỏ, không đáng có dẫn đến việc giải ngân còn chậm trễ,
chưa đáp ứng được về thời hạn và yêu cầu đặt ra.
121
Kết luận chương 3
Từ những nghiên cứu về cơ cấu tổ chức quản lý tài chính, thực trạng kết
quả kinh doanh và quy trình quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam, chương 3 đi sâu nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản
với các nội dung:
Thực trạng quản lý bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại Nhà xuất bản,
dựa trên hệ số bảo toàn vốn và phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn trong nhận vốn
từ ngân sách Nhà nước và phân bổ và phát triển vốn, thực trạng quản lý huy
động vốn tín dụng tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Thực trạng quản lý sử dụng tài sản, bao gồm tài sản ngắn hạn tạo nguồn
lực sản xuất kinh doanh, quản lý sử dụng tài sản cố định tại Nhà xuất bản.
Thực trạng quản lý đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, phân tích trên cơ
sở mức sinh lời và rủi ro danh mục đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết và
các đơn vị khác của Nhà xuất bản.
Thực trạng quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận của Nhà xuất bản, phân
tích dựa trên mức hoàn thành mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi nhuận cùng
với mô hình Dupont.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Nhà xuất bản, rút ra
hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý tài chính tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam.
122
Chương 4
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
4.1. Định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam đến năm 2030
4.1.1. Bối cảnh chung của Việt Nam hiện nay về Giáo dục và đào tạo
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành
xu thế tất yếu. Việt Nam hiện nay cũng đặt đầu tư cho giáo dục là một phần
quan trọng trong đầu tư cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
- Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông,
kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát
triển của các nền giáo dục trên thế giới. Công nghệ thông tin và truyền thông
được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục. Việc kết nối mạng, giáo dục từ xa tạo
nên một nền giáo dục mở, không còn khoảng cách, đáp ứng nhu cầu của từng
người học, trở thành giải pháp hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu ngày càng
tăng về giáo dục.
- Nền kinh tế đất nước phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững;
thu nhập bình quân theo đầu người liên tục tăng, đời sống nhân dân được cải
thiện rõ rệt, chi tiêu của người dân cho giáo dục ngày một tăng. Bên cạnh đó,
khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các
vùng miền cũng ngày càng rõ rệt.
- Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với phát triển giáo dục được thể
hiện qua các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị
lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo. Ngành Giáo dục đang triển khai đổi mới chương trình,
SGK theo hướng một chương trình, nhiều SGK.
123
- Luật Giáo dục, Luật Xuất bản, Luật Doanh nghiệp và các luật, pháp
lệnh liên quan, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành đã có những
điều chỉnh, sửa đổi phù hợp hơn với thực tiễn tình hình phát triển kinh tế - xã
hội, tiến bộ khoa học - công nghệ và sự gìn giữ văn hóa của dân tộc.
- Sự cạnh tranh trong lĩnh vực xuất bản phẩm giáo dục ngày càng gia
tăng. Nhiều nhà xuất bản cùng khai thác sản phẩm STK cho nhà trường trong
điều kiện thị trường đã tương đối bão hòa, có tình trạng loạn STK. Chủ trương
xóa độc quyền trong xuất bản SGK sẽ mở ra cơ hội cho nhiều nhà xuất bản
tham gia cạnh tranh, các cơ sở giáo dục, học sinh, giáo viên có điều kiện để lựa
chọn những bộ sách, cuốn SGK với chất lượng, giá cả phù hợp.
- Nền kinh tế đất nước ổn định, phát triển, tuy nhiên không tránh khỏi
những tác động, ảnh hưởng của tình hình chính trị, kinh tế thế giới. Những bất
ổn chính trị, suy thoái kinh tế thế giới làm ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế đất
nước, tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất - kinh doanh của các doanh
nghiệp: tỉ giá hối đoái, giá nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển biến động bất
thường ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo nguồn lực tài chính, chi phí sản xuất,
đến giá thành sản phẩm. Trong khi đó, yêu cầu của xã hội về chất lượng sản
phẩm ngày càng cao tạo nên áp lực lớn trong việc giữ ổn định hoặc giảm giá
sản phẩm.
- Công nghệ thông tin và truyền thông được ứng dụng rộng rãi trong
giáo dục. Các sản phẩm sách điện tử và đào tạo trực tuyến đang phát triển với
mức độ rất nhanh, là nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đối với sản phẩm sách giấy
truyền thống.
- Tình trạng in lậu, vi phạm bản quyền ngày càng gia tăng, nhiều xuất
bản phẩm bị in lậu số lượng lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả sản xuất
- kinh doanh của nhiều nhà xuất bản, trong khi đó các cơ quan quản lí Nhà nước
chưa có biện pháp ngăn chặn hiệu quả.
124
4.1.2. Mục tiêu và định hướng phát triển của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam đến 2030
4.1.2.1 Mục tiêu dài hạn
Thứ nhất, tái cấu trúc doanh nghiệp, tăng dần vốn chủ sở hữu để trở
thành doanh nghiệp có tiềm lực tài chính vững mạnh, nguồn vốn lớn, tăng
trưởng ổn định.
Thứ hai, xây dựng NXB Giáo dục Việt Nam trở thành doanh nghiệp có
uy tín và giữ vững uy tín, tối đa giá trị thương hiệu giáo dục trong lĩnh vực xuất
bản và cung ứng thiết bị giáo dục phục vụ người học, nhà giáo và xã hội.
Thứ ba, tiếp tục khẳng định vị trí nhà xuất bản đứng đầu trong cả nước,
giữ vị trí chủ đạo trong lĩnh vực xuất bản giáo dục phục vụ ngành Giáo dục, trở
thành nhà xuất bản có vị thế trong khu vực, lấy nhiệm vụ phục vụ ngành Giáo
dục là mục đích, kinh doanh là phương tiện, góp phần ổn định kinh tế - xã hội.
4.1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Thứ nhất, hoàn thành biên soạn, xuất bản các bộ Sách giáo khoa mới
phục vụ đổi mới chương trình giáo dục, Sách giáo khoa phổ thông theo Nghị
quyết 29 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Thứ hai, tái cấu trúc hệ thống, phát triển các đơn vị thành viên theo hướng
chuyên môn hóa, tập trung vào các ngành nghề chính, phù hợp với năng lực, sở
trường, kinh nghiệm; với quy mô đủ lớn để đủ năng lực cạnh tranh, đồng thời
hợp lực tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống.
Thứ ba, nâng cao khả năng hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu hợp tác
với các nhà xuất bản lớn, có uy tín trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh
vực xuất bản các ấn phẩm giáo dục; nắm bắt kịp thời các cơ hội hợp tác
cùng phát triển.
125
4.1.3 Định hướng phát triển cụ thể
Thứ nhất, ưu tiên, tập trung mọi nguồn lực đầu tư cho nhiệm vụ biên
soạn Sách giáo khoa mới. Tổ chức biên soạn, xuất bản các sản phẩm đi kèm,
tạo nên chuỗi sản phẩm liên hoàn, kết nối, tạo sức mạnh cạnh tranh cho Sách
giáo khoa mới.
Thứ hai, xây dựng hệ thống giáo trình đại học, sách mầm non, sách dân
tộc, sách phục vụ giáo dục địa phương, sách nâng cao dân trí phục vụ đông đảo
bạn đọc, đáp ứng nhu cầu nâng cao văn hóa đọc cùng với sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước.
Thứ ba, đổi mới chính sách, phương thức kinh doanh, phát hành để
nâng cao tính cạnh tranh của các bộ Sách giáo khoa mới, nâng cao thị phần
trong thị trường sách giáo dục. Đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ biên tập
viên, họa sĩ, thiết kế sách; Xây dựng giải pháp tổng thể phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao.
Thứ tư, thực hiện tái cấu trúc hệ thống theo Đề án tái cơ cấu giai đoạn
2018-2022, tầm nhìn đến 2025 đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt. Tiếp tục tập
trung đầu tư cho các công ty có vai trò trọng yếu, thoái vốn tại các công ty
không còn giữ vai trò quan trọng trong chuỗi hoạt động chính của NXB Giáo
dục Việt Nam, bảo toàn và phát triển nguồn vốn. Khai thác hiệu quả nguồn cơ
sở vật chất hiện có, xây dựng kế hoạch, đảm bảo nguồn vốn để triển khai đầu
tư một số dự án cơ sở vật chất mới.
4.1.4 Kế hoạch phát triển cụ thể
Công tác xuất bản
- Ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ biên soạn Sách giáo khoa mới, rút kinh
nghiệm từ việc tổ chức biên soạn các bộ Sách giáo khoa lớp 1 để tập trung
nguồn lực hoàn thành Bộ Sách giáo khoa lớp 2, lớp 6 chất lượng tốt để gửi Hội
đồng Quốc gia thẩm định, và tổ chức xuất bản kịp thời đáp ứng được lộ trình
thay Sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT trong giai đoạn 2021-2025.
126
- Tổ chức biên soạn đồng thời các bộ sách bổ trợ mới, sách tham khảo
thiết yếu, sách giáo dục địa phương, sách điện tử, học liệu điện tử kèm SGK
giấy và các phần mềm học trực tuyến.
- Duy trì hợp tác với các đối tác trong, ngoài nước để đa dạng hoá và
nâng cao tính cạnh tranh mảng sách Tiếng Anh; dần mở rộng ra tiếng Nhật,
tiếng Đức.
Công tác in, phát hành
- Tuân thủ các nguyên tắc bảo đảm về: chất lượng, số lượng, tiến độ, tính
đồng bộ, không in lậu, không nối bản.
- Tiếp tục phát hành SGD đến học sinh thông qua kênh Công ty Sách -
Thiết bị trường học địa phương, các đại lí, cửa hàng. Duy trì tỉ lệ tồn kho an toàn,
dự báo thị trường để dự trữ sách cho từng thời điểm, không để thiếu sách, sốt
sách, nhất là SGK lớp 2, lớp 6. Xây dựng các phương án phát hành sách linh
hoạt, phù hợp với thực tiễn, đối phó với tình hình dịch bệnh Covid-19 khó lường.
- Tiếp tục vận động sử dụng sách giáo khoa cũ; tăng cường hiệu quả
sử dụng tủ SGK dùng chung tại thư viện trường học, đảm bảo 100% học
sinh có đủ sách giáo khoa đến trường, không có học sinh phải bỏ học vì
thiếu sách giáo khoa.
- Tiếp tục triển khai làm mẫu thiết bị giáo dục của NXB Giáo dục Việt
Nam gắn với việc sử dụng các bộ sách giáo khoa mới. Đẩy mạnh kinh doanh
thiết bị giáo dục, tiếp cận với các đề án, dự án liên quan đến thiết bị giáo dục
để tham gia dự thầu, đấu thầu... với thương hiệu NXB Giáo dục Việt Nam.
Công tác củng cố, phát triển hệ thống
- Thực hiện thoái vốn đầu tư theo Đề án tái cơ cấu NXB Giáo dục Việt
Nam giai đoạn 2020 - 2025 đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt.
- Kiện toàn bộ máy các đơn vị để nâng cao chất lượng, hiệu quả
công việc.
127
- Phối hợp với các công ty in để đảm bảo in ấn kịp thời, đúng tiến độ,
đảm bảo chất lượng. Đầu tư cho những đơn vị có hiệu quả hoạt động tốt, tham
gia tích cực cho việc làm sách giáo khoa mới.
Công tác quản lý tài chính
- Bảo toàn, cân đối nguồn vốn. Sử dụng vốn hiệu quả, luân chuyển dòng
tiền hợp lí, giảm thiểu sự mất cân đối trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chuẩn bị đủ nguồn vốn phục vụ làm sách giáo khoa mới. Đánh giá những khó
khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra để có các biện pháp chủ động về tài chính
cho các hoạt động của NXB Giáo dục Việt Nam.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất thuộc quyền quản lí, sử dụng
của NXB Giáo dục Việt Nam: Thực hiện góp vốn, liên doanh, liên kết, cho thuê
cơ sở với các đơn vị có năng lực để khai thác hiệu quả cơ sở vật chất nhưng
đảm bảo được quyền và lợi ích của NXB Giáo dục Việt Nam.
- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong lĩnh vực tài chính, kế toán để
giảm thiểu rủi ro, cảnh báo sai phạm; hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ đối với các
đơn vị trong hệ thống... đảm bảo hệ thống NXB Giáo dục Việt Nam có nền tài
chính lành mạnh, minh bạch, công tác kế toán nền nếp, tuân thủ đúng các quy
định của Nhà nước.
- Khuyến khích các đơn vị có tiềm lực, thế mạnh tài chính tham gia cùng
NXB Giáo dục Việt Nam hỗ trợ các đơn vị còn khó khăn dưới hình thức hợp
đồng công việc giúp đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên, đảm bảo sự
ổn định, bền vững của từng đơn vị và của toàn hệ thống.
Công tác tổ chức nhân sự
- Hoạch định bộ máy tổ chức, cán bộ cân đối, gọn nhẹ. Tiếp tục rà soát,
tổ chức sắp xếp lại bộ máy các đơn vị trực thuộc; Kiện toàn các chức danh quản
lý các cấp, người đại diện vốn tại các công ty cổ phẩn có vốn góp. Chăm lo
công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho
người lao động, năng lực quản lí của cán bộ quản lí các cấp. Ưu tiên đội ngũ
128
biên tập viên, họa sĩ, thiết kế các Công ty Dịch vụ xuất bản, Mĩ thuật - Truyền
thông, phát hành, thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao kĩ
năng, nghiệp vụ để phục vụ tốt cho nhiệm vụ biên soạn SGK mới.
- Chăm lo đời sống người lao động, quan tâm vấn đề lương, thưởng, các
chế độ phúc lợi xã hội để tạo sự tin tưởng, nội bộ đoàn kết, gắn bó lâu dài với
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các quy chế quản lí nội bộ đảm bảo tuân
thủ quy định của pháp luật và đáp ứng nhu cầu quản trị, điều hành, tác nghiệp
của NXB Giáo dục Việt Nam.
4.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản nội bộ quy định về quản lý tài
chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Giải pháp được đề xuất trên cơ sở hạn chế trong quản lý tài chính tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam, bao gồm hệ thống các văn bản nội bộ quy định
về quản lý tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam chưa cập nhật các quy định
mới của Nhà nước.
Để giải quyết được hạn chế trên, một số nội dung được đề xuất như sau:
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần phải ban hành các văn bản nội bộ
quy định về quản lý tài chính, nhằm cập nhật các quy định mới của Nhà nước
mà thời gian trước đây chưa làm được, bao gồm quy chế quản lý tài chính liên
quan đến quản lý, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, liên quan đến thoái vốn
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tại các công ty cổ phần.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần phải ban hành quy chế quản lý tài
chính, thay cho quy chế ban hành từ năm 2018 đã không còn phù hợp, liên quan
đến chuyển nhượng vốn tại đơn vị mà nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã góp
vốn nay phải tuân theo quy định tại Nghị định 140/NĐ-CP ngày 30/11/2020.
129
Nếu vẫn chậm trễ ban hành quy chế mới (hoặc sửa đổi) dẫn đến tư duy của cán
bộ, viên chức không theo kịp mà công việc phải vận hành theo pháp luật, đã
thay đổi cũng như hạn chế hiệu quả công tác.
Các văn bản nội bộ quy định về quản lý tài chính cần được hoàn thiện
theo hướng đổi mới cơ chế quản lý tài chính, hướng tới nâng cao hiệu quả huy
động, phân bổ và sử dụng nguồn lực trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phù
hợp với mục tiêu cộng đồng cũng như mục tiêu lợi nhuận được đặt ra đối với
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Để giải pháp được thực hiện, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam tiếp tục
rà soát, sửa đổi bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định quản lý nội bộ phù
hợp với Điều lệ chung, mô hình tổ chức của các đơn vị, cơ chế điều hành quản
trị nội bộ và pháp luật hiện hành. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác pháp chế
doanh nghiệp, quản trị rủi ro, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật
đến người lao động nhằm tăng cường ý thức thực thi pháp luật và đảm bảo các
hoạt động trong khuôn khổ cho phép của pháp luật.
4.2.2. Thực hiện đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch tài chính, thực
hiện thanh, quyết toán kiểm tra giám sát chặt chẽ
Công tác lập kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản bao gồm kế hoạch tài
chính ngắn hạn và kế hoạch tài chính dài hạn. Kế hoạch tài chính 3 năm và 5
năm mang tính định hướng chiến lược cho Nhà xuất bản là căn cứ cho mọi kế
hoạch tài chính và công tác hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính của Nhà
xuất bản trong từng năm, và là căn cứ để đánh giá xem hoạt động tài chính của
Nhà xuất bản có hiệu quả không. Trong quá trình quản lý tài chính, Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam còn gặp nhiều hạn chế trong hoạt động, bị động trong
huy động vốn tín dụng đáp ứng quy mô sản xuất trong kì. Điều này đặt ra yêu
cầu hoàn thiện kế hoạch tài chính của toàn Nhà xuất bản.
Nội dung giải pháp cần thực hiện các bước cụ thể đối với từng kế hoạch
dài hạn và kế hoạch ngắn hạn như sau:
130
Ban Kế hoạch Tài chính cần tiếp tục thực hiện theo lập kế hoạch tài chính
dài hạn 3 đến 5 năm từng bước nhằm đảm bảo kế hoạch phù hợp với định hướng
của cơ quan quản lý Nhà nước trong khả năng thực hiện của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam:
- Tổng hợp và đánh giá năng lực hoạt động, quản lý tài chính trong 5
năm trước đó với các chỉ tiêu cụ thể: sản lượng sản xuất từng mảng kinh doanh,
chi phí và nguồn quỹ cần có cho từng sản phẩm trong quy trình sản xuất, kinh
doanh; chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh và hiệu quả quản lý kinh doanh,
tài chính.
- Tập trung vào các điểm mạnh, điểm yếu của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam và các cơ hội, thách thức từ nền kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt
động của Nhà xuất bản trong dài hạn. Đồng thời, dựa trên tổng hợp và kế hoạch
dài hạn từ Ban Kế hoạch Marketing về phân tích các yếu tố liên quan về thị
trường, cạnh tranh cho sự phát triển của Nhà xuất bản trong dài hạn, Ban Kế
hoạch Tài chính phân tích chiến lược về giá, so sánh và cân nhắc chiến lược sử
dụng vốn nhà nước và vốn vay trong dài hạn.
- Sau khi triển khai định hướng hoạt động được ban hành từ Bộ Giáo dục
và Đào tạo đến từng đơn vị trực thuộc, Ban Kế hoạch Tài chính tổng hợp, đánh
giá báo cáo kế hoạch hoạt động dài hạn, tiếp thu giải trình từ Phòng Kế hoạch
Tài chính các đơn vị trực thuộc. Kết hợp với kế hoạch hoạt động từ công ty con
và công ty liên kết, Ban Kế hoạch Tài chính điều chỉnh và thiết lập các mục
tiêu tăng trưởng, lợi nhuận trên hoạt động kinh doanh và đầu tư vốn ra ngoài
doanh nghiệp cùng với phương hướng mở rộng, phát triển Nhà xuất bản. Những
mục tiêu này vừa mang tính chiến lược và liên quan đến việc lập các mục tiêu
tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trong vòng từ 3 đến 5 năm, vừa phải được
thể hiện bằng các con số cụ thể, là cơ sở để đưa ra các dự báo về lợi nhuận,
doanh thu và kết quả thực sự đạt được từng năm. Từ đó, Ban Kế hoạch Tài
131
chính tính toán mức vốn cần thiết để sản xuất, đầu tư và dự kiến vốn tín dụng
bên ngoài cần huy động.
- Trên cơ sở các mục tiêu đã xây dựng, Ban Kế hoạch Tài chính cần tiến
hành xây dựng các phương án thực hiện mục tiêu rõ ràng với từng hoạt động
kinh doanh và kế hoạch phân công công việc và trách nhiệm cụ thể đến từng
đơn vị trực thuộc. Sau khi kế hoạch tài chính được Hội đồng thành viên phê
duyệt, Ban KHTC cần nhanh chóng triển khai kế hoạch đến từng đơn vị trục
thuộc và tiến hành kiểm tra thường xuyên công tác triển khai phương án thực
hiện mục tiêu.
Để lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn có hiệu quả, trên cơ sở kế hoạch
tài chính dài hạn, Ban Kế hoạch Tài chính Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
cần thực hiện theo các bước tương tự như quá trình lập kế hoạch dài hạn, bên
cạnh đó cần chú ý thêm một số vấn đề và chỉ tiêu cụ thể hơn: Cập nhật các báo
cáo tài chính mới nhất của Nhà xuất bản để biết được thị phần các mảng kinh
doanh, không chỉ mảng sách giáo khoa được độc quyền xuất bản mà còn thị
phần tất cả các mảng phát hành, kinh doanh khác có tính cạnh tranh, tìm ra và
khắc phụ điểm yếu của Nhà xuất bản; Rà soát và đánh giá tình hình thực hiện
tài chính từ năm đầu tiên thực hiện kế hoạch tài chính dài hạn đến năm tài chính
gần nhất theo tiến độ thực hiện kế hoạch tài chính dài hạn; lên phương án
chuyển đổi cho năm tài chính sắp tới hoặc thay đổi kế hoạch tài chính nếu mục
tiêu đề ra quá thụ động hoặc vượt quá khả năng của Nhà xuất bản.
Như vậy, đối với xây dựng kế hoạch tài chính ngắn hạn cũng như dài
hạn, Ban Kế hoạch Tài chính đều phải chú ý đến nhu cầu về tài chính, về nhân
lực và về vật chất, hạ tầng cần thiết để hoàn thành kế hoạch tài chính. Để đạt
được điều này, kế hoạch tài chính không thể thực hiện một cách độc lập mà
phải xây dựng dựa trên mối quan hệ mật thiết với các mục tiêu quản lý khác và
thống nhất với mục tiêu chung của Nhà xuất bản, đảm bảo việc thực hiện mục
132
tiêu quản lý tài chính không ảnh hưởng đến các mục tiêu quản lý khác. Hay
chính là không chỉ Ban Kế hoạch Tài chính thực hiện lên kế hoạch tài chính
độc lập, sự phối hợp giữa các bộ phận trong xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn
hạn là điều rất cần thiết, cụ thể:
- Hội đồng thành viên và Ban giám đốc cần đánh giá tính hợp lý của kế
hoạch từng bộ phận, bao gồm kế hoạch sản xuất và quản lý xuất bản, kế hoạch
giá và thị trường, kế hoạch tài chính trên cơ sở thống nhất toàn Nhà xuất bản,
đảm bảo một tổng thể vận hành thống nhất, các bộ phận thực hiện theo kế hoạch
sẽ không bị chồng chéo nhiệm vụ, mục tiêu dẫn đến kết quả không như kì vọng.
Bên cạnh đó, một giải pháp quan trọng cần hoàn thiện với tất cả phòng ban là
Hội đồng thành viên thường xuyên tổ chức cho nhân sự cấp cao tại các phòng
ban và đơn vị trực thuộc trau dồi phương pháp điều hành doanh nghiệp, nắm
bắt các cơ hội về thị trường và phát triển sản phẩm để có thể tìm ra những biện
pháp tốt nhất để nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động của Nhà xuất bản.
Ngoài ra, từ định hướng dài hạn của công ty mẹ - Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam, Hội đồng thành viên lên định hướng, chiến lược, tầm nhìn dài hạn của
các công ty con, thực hiện quyền biểu quyết và phủ quyết hợp lý đối với hoạt
động của công ty liên doanh, liên kết cũng như phê duyệt các kế hoạch thoái
vốn, rút vốn trong hoạt động đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp hiệu quả.
- Ban Kế hoạch Marketing cần lên kế hoạch đúng, đủ bám sát theo nhu
cầu thị trường, dự báo mức sản xuất hợp lý và thỏa mãn năng lực sản xuất của
Nhà xuất bản đối với tổng thể và đối với từng sản phẩm sách giáo khoa, sách
bài tập và các sản phẩm giáo dục khác. Kế hoạch sản xuất càng sát với nhu cầu
thị trường thì lượng hàng tồn kho không tồn đọng, công tác mua sắm vật tư
phục vụ tốt cho hoạt động sản xuất và kế hoạch tài chính mới đảm bảo hiệu quả
khi thực hiện, tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận.
- Ban Tổ chức nhân sự xây dựng kế hoạch tuyển dụng, quy chế lương
thưởng theo yêu cầu, định hướng của Nhà xuất bản, các biện pháp khuyến khích
133
người lao động cụ thể, đảm bảo năng suất lao động và trình độ chuyên môn. Từ
đó Ban Tổ chức nhân sự thống nhất với Ban KHTC phương án tối ưu nhằm
đảm bảo các khoản chi người lao động, chi quản lý doanh nghiệp hợp lý.
- Ban Quản lý cơ sở vật chất và xây dựng cơ bản xây dựng kế hoạch quản
lý cơ sở vật chất và đầu tư, xây dựng cơ bản, cụ thể các chi phí khảo sát, đo
đạc, thiết kế, giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng trụ sở mới và chi phí sửa
chữa. Với các hoạt động yêu cầu giai đoạn dài hạn như đầu tư xây dựng cơ bản,
xây dựng kế hoạch quản lý hiệu quả tạo điều kiện cho Ban Kế hoạch Tài chính
lên kế hoạch quay vòng vốn và tài sản hiệu quả trong dài hạn, từ đó Hội đồng
thành viên đánh giá và có quyết định phù hợp trong thời gian xây dựng dở dang.
Kế hoạch hoạt động và kế hoạch tài chính dài hạn cũng như ngắn hạn
NXB Giáo dục Việt Nam bao quát và sát sao với nhu cầu hoạt động trong kì kế
hoạch của Nhà xuất bản, tạo thế chủ động trong hoạt động sản xuất – kinh
doanh của NXB Giáo dục Việt Nam.
4.2.3. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn Hội đồng thành viên và
Ban giám đốc
Huấn luyện, đào tạo để nâng cao năng lực của tập thể hội đồng thành
viên, xác định rõ ràng, chặt chẽ giám đốc chịu trách nhiệm về kết quả điều
hành, sản xuất kinh doanh là giải pháp cấp thiết đối với Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam nhằm chấm dứt tình trạng cấp nào cũng có quyền sản xuất và trách
nhiệm nghĩa vụ như nhau dẫn đến trách nhiệm của từng cá nhân bị lu mờ. Để
đạt được điều này, cần đổi mới công tác quản lý người giữ chức danh, chức vụ
tại doanh nghiệp để tuyển dụng hoặc thuê nhân lực chất lượng cao; thực hiện
cử thành viên Hội đồng thành viên độc lập (các chuyên gia có trình độ, năng
lực về tài chính, quản trị...) tham gia quản lý, điều hành. Nghiên cứu cơ chế,
chính sách tuyển chọn lãnh đạo quản lý, đẩy mạnh việc tuyển dụng thông qua
thi tuyển công khai, minh bạch.
134
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam triển khai theo hướng gắn trách nhiệm
người quản lý đại diện vốn vào trong hệ thống quản trị của từng đơn vị phù hợp
với từng giai đoạn. Với tinh thần tinh gọn sử dụng hiệu quả nguồn lực đảm bảo
quản trị tốt để tăng trưởng.
Để hoàn thiện quản lý tài chính, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần
hoàn thiện Phương án cơ cấu lại và lộ trình, kế hoạch thoái vốn của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam tại các công ty cổ phần giai đoạn 2018 - 2022 theo yêu
cầu tại Quyết định số 707/QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ
và theo ý kiến của Lãnh đạo Bộ để triển khai thực hiện sau khi được Bộ Giáo
dục và Đào tạo phê duyệt.
4.2.4. Tăng quyền huy động vốn thực hiện dự án
Lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam cần chủ động báo cáo lãnh đạo Bộ
Giáo dục và Đào tạo về tăng quyền lực huy động vốn thực hiện các dự án cho
phép hội đồng thành viên thuộc được quyền huy động khoảng 49% vốn chủ sở
hữu để thực hiện dự án cụ thể. Việc này nhằm xác định vị thế mạnh mẽ hơn
tích cực hơn của hội đồng thành viên.
Lãnh đạo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần có cơ chế phối hợp chặt
chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan liên quan, trong đó có cơ quan đầu mối theo dõi
tổng hợp hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam để kịp thời đề xuất
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp toàn diện, nhằm phát huy hiệu
quả hoạt động của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, góp phần bảo toàn và phát
triển vốn nhà nước.
Ngoài ra, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần mạnh dạn đầu tư nâng
cao năng lực cạnh tranh, theo kịp tốc độ phát triển, ứng dụng khoa học công
nghệ trên nguyên tắc hiệu quả; thay đổi mô hình kinh doanh của nền kinh tế
toàn cầu, xu thế phát triển trên thế giới, trong đó nghiên cứu thêm hình thức lựa
chọn tổ chức, cá nhân thực hiện quản lý, vận hành Nhà xuất bản Giáo dục Việt
135
Nam hoặc một phần tài sản, dự án của Nhà xuất bản (hoạt động trong lĩnh vực
liên quan trong một khoảng thời gian nhất định, có thể từ 5 năm đến 10 năm)
nhằm tạo nguồn lực phục vụ mục đích đầu tư phát triển hoặc an sinh xã hội.
Giải pháp trên góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng chiến lược, quy
hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực; gắn chiến lược phát triển của Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam với phát triển ngành, lĩnh vực liên quan đến xuất bản
sách giáo khoa, sách tham khảo và học liệu giáo dục để phát huy nguồn lực
quan trọng của đất nước.
4.2.5. Khai thác, phát huy tiềm năng đội ngũ nhân lực, vốn, trang thiết
bị, tập trung nguồn lực tài chính cao nhất cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Tăng cường tập huấn nghiệp vụ chuyên môn để nâng cao năng lực quản
lý, nhất là năng lực của cán bộ quản lý tài chính theo kịp sự chuyển đổi của nền
kinh tế số chuyển đổi cách học tập và ứng dụng công nghệ cao trong in ấn và
phát hành sách giáo khoa sách tham khảo.
Có cơ chế phù hợp nhằm khuyến khích cán bộ, nhân viên tài chính kế
toán học tập nâng cao trình độ. Có thể tiến hành theo hai hình thức là cử đi học
và đào tạo tại chỗ. Việc cử đi học trước hết cần có sự chọn lựa kỹ càng nhằm
tìm được những người có năng lực, có thể sử dụng lâu dài và trở thành hạt nhân
trong công tác quản lý tài chính. Đào tạo có nhiều hình thức, đào tạo tại chỗ có
thể thực hiện thông qua các đợt tập huấn, mời các chuyên gia có kinh nghiệm
về hoạt động xuất bản và tài chính tại các doanh nghiệp xuất bản nói chuyện,
giảng bài, hoặc tự bồi dưỡng cho nhau... Ngoài ra, trong điều kiện hạn chế về
kinh phí và bố trí thời gian, mỗi cán bộ tài chính kế toán cần nêu cao tinh thần
tự giác, cầu thị, tự nghiên cứu nâng cao trình độ bản thân, liên tục cập nhật
những kiến thức và thông tin có liên quan thông qua sách, tạp chí, phương tiện
trực tuyến.
136
Cần có chính sách khuyến khích những người có năng lực, tuyển dụng
được những cán bộ tài chính - kế toán, đặc biệt là cán bộ quản lý tài chính có
trình độ cao, đồng thời có chiến lược sử dụng hợp lý, tránh tình trạng chảy máu
chất xám trong NXB Giáo dục Việt Nam.
Về vốn và trang thiết bị, đối với máy móc, xe vận tải quá cũ không còn
phù hợp cho hoạt động kinh doanh, tức máy móc trang thiết bị lỗi thời đã khấu
hao hết nên có kế hoạch thay mới. Bên cạnh đó, Nhà xuất bản có thể bắt đầu
thực hiện việc chuyển giao công nghệ để cải tiến công nghệ đầu tư máy móc
thiết bị hiện đại của nước ngoài. Có như vậy, các TSCĐ mới phát huy tác dụng
nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao và tạo vị thế trên thị trường.
Vào thời vụ nhàn rỗi, Nhà xuất bản cần tiến hành bảo dưỡng máy móc
trang thiết bị theo định kì, bảo dưỡng dứt điểm từng máy và theo kế hoạch đã
được thông qua từ đầu kì. Bên cạnh đó, Nhà xuất bản phải có kế hoạch quản lý
chặt chẽ về hiện vật, không để mất mát hoặc hư hỏng tài sản cố định trước thời
hạn khấu hao. Hàng năm, Ban Kế hoạch Tài chính phải lập kế hoạch khấu hao
theo tỷ lệ do Nhà nước quy định về điều chỉnh kịp thời giá trị tài sản cố định
khi có trượt giá để tính đúng, tính đủ khấu hao phân bổ vào giá thành sản phẩm,
nhằm bảo toàn vốn và tài sản cố định trong quá trình sử dụng.
4.2.6. Đổi mới chính sách giá bán sách giáo khoa
Thực hiện đổi mới chính sách giá bán sách giáo khoa phù hợp với sự phát
triển của nền kinh tế nước của đất nước là giải pháp cấp thiết, mặc dù giải pháp
này cực kỳ khó thực hiện. Tuy sách giáo khoa không thuộc mặt hàng nhà nước
quản lý giá, nhưng lại ảnh hưởng đến dư luận xã hội vì đối tượng tiêu dùng phủ
khắp cả nước và liên quan đến hầu hết các gia đình. Do đó, tư duy giữ sách giáo
khoa lâu dài vì mục tiêu cộng đồng đến nay không còn phù hợp với thu nhập
của đại đa số nhân dân. Mặt khác, nguyên vật liệu đầu vào, xăng dầu vận tải,
tiền lương đều tăng. Do đó, tăng giá sách giáo khoa là phù hợp. Nhà xuất bản
137
Giáo dục Việt Nam cần mở rộng việc tuyên truyền, nói rõ lý do cần phải tăng
giá sách giáo khoa và việc này vẫn duy trì mục tiêu cộng đồng.
Để giải pháp được thực hiện, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần công
khai các yếu tố cấu thành giá sách giáo khoa với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền như cục Quản lý giá - Bộ Tài chính nhằm kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ
các yếu tố cấu thành giá bán sách giáo khoa. Sau lần đầu tăng giá, căn cứ vào
thực tế chi phí cấu thành sách giáo khoa mà quyết định tăng giá sách giáo khoa
phù hợp với tốc độ tăng chi phí.
4.2.7. Hoàn thiện đàm phán hướng tới chính sách ưu tiên cho hoạt
động vì mục tiêu cộng đồng
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo
để đàm phán với ngân hàng nhà nước để có chính sách tín dụng ưu tiên cho
hoạt động vì mục tiêu cộng đồng.
Vấn đề đặt ra đối với nguồn huy động vốn hiện tại của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam - tín dụng từ ngân hàng thương mại - là cần giảm thiểu chi phí
lãi vay cùng với giảm tỷ trọng tài sản đảm bảo hiện nay là tài sản, quyền sử
dụng đất. Đặc trưng hoạt động kinh doanh là in ấn và phát hành sách giáo khoa,
sách bài tập với thời gian sản xuất mang tính mùa vụ, vốn ngắn hạn huy động
từ ngân hàng thương mại là một trong những kênh huy động hiệu quả đối với
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, với tài sản đảm bảo từ quyền sử
dụng đất và lãi suất cho vay thả nổi, lãi vay thấu chi ở mức 7,5%/năm, nguồn
vay từ ngân hàng thương mại chưa được tối ưu trong giai đoạn xoay vòng dòng
tiền từ lúc bắt đầu sản xuất đến lúc ghi nhận doanh thu. Theo đó, Hội đồng
thành viên và Ban giám đốc cần đàm phán xác định mục đích huy động vốn,
xác định hoạt động kinh doanh phục vụ mục tiêu giáo dục - đào tạo của nhà
nước, xác định giá trị tài sản nhà nước và uy tín của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam, lấy những yếu tố này làm nền tảng đàm phán hạn mức tín dụng, lãi
138
suất huy động hợp lý theo mức đảm bảo hoạt động cho một doanh nghiệp vì
cộng đồng và có sự bảo lãnh từ nhà nước. Ngoài ra, uy tín và xếp hạng khách
hàng doanh nghiệp là yếu tố tiên quyết đối với ngân hàng thương mại trong
công tác thẩm định tín dụng. Do đó, để Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có
thể thành công đàm phán và hưởng mức lãi suất cho vay thấp, Ban Kế hoạch
Tài chính cần lên phương án hoàn trả nợ vay hợp lý sau khi kí kết hợp đồng tín
dụng và phân bổ vốn cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo đúng thời hạn trên
hợp đồng trong khi hiệu quả sử dụng nợ vay cao hơn tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam.
4.2.8. Hoàn thiện quản lý tài chính thích nghi với tình hình thị trường
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần có biện pháp khắc phục những bất
tiện của thị trường như thị trường nguyên vật liệu để sản xuất sách giáo khoa,
thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ để chủ động giảm nhiệt tác động vào
sản xuất kinh doanh nói chung và sản xuất kinh doanh sách giáo khoa nói riêng
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Hoạt động quản lý tài chính thích nghi với sự biến động thị trường
nguyên vật liệu đầu vào
Hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Do vậy, Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam nên có kế hoạch cung ứng, kế hoạch dự trữ nguyên
vật liệu đúng mức, tránh tình trạng dự trữ quá lâu làm giảm chất lượng nguyên
vật liệu. Quan trọng hơn là cần thực hiện sản xuất bám sát với kế hoạch sản
xuất đã được tính toán và dự báo sát với nhu cầu thị trường, nhất là mảng sách
giáo khoa, tránh tình trạng dư thừa thành phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, làm
công tác xử lý hàng tồn kho lỗi thời trở nên quá tải.
Để có thể đảm bảo nguồn cung ứng và quá trình vận hành hàng tồn kho
cũng như tìm ra mức hàng tồn kho tối ưu, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có
139
thể thực hiện ổn định khối lượng nguyên vật liệu để sản xuất ra thành phẩm
mỗi kỳ so với mức ổn định của đơn đặt hàng trên toàn quốc, góp phần đảm bảo
vòng quay hàng tồn kho, từ đó góp phần tăng hiệu quả kinh doanh của Nhà xuất
bản từng bước xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu, tăng cường công
tác quản lý nguyên vật liệu và hàng tồn kho, thường xuyên đánh giá và kiểm
tra chi phí sản xuất.
Ban Kế hoạch Marketing và Ban Quản lý xuất bản cần xây dựng định
mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng sản phẩm của Nhà xuất bản, từ đây xây
dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho từng hoạt động kinh doanh của Nhà
xuất bản, qua đó kiểm soát được chi phí, nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản
của Nhà xuất bản. Định mức tiêu hao nguyên vật liệu cần được kiểm tra, điều
chỉnh cho phù hợp với từng nguyên vật liệu, đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm chi
phí nhưng vẫn đảm bảo cung cấp cho khách hàng sản phẩm chất lượng tốt nhất.
Để có thể xác định và thực hiện theo định mức tiêu hao tối ưu, cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận Kế hoạch vật tư và các bộ phận sản xuất trực
tiếp, nhằm nắm bắt cụ thể mức tiêu hao trong thực tế cho từng loại sản phẩm,
tạo thuận lợi cho Ban Kế hoạch Tài chính có mức trích lập dự phòng cũng như
nguồn tài chính phục vụ sản xuất - kinh doanh phù hợp.
Bộ phận kĩ thuật sản xuất cần thường xuyên rà soát lại cơ cấu hàng tồn
kho, từ đó đề ra các biện pháp giải quyết hàng ứ đọng, kém phẩm chất, tăng
nhanh vòng quay hàng hoá. Việc đánh giá lượng hàng tồn kho phải được tiến
hành thường xuyên, định kỳ hàng tháng, quý và năm. Có như vậy Nhà xuất bản
mới có cơ sở xác định đúng giá trị hàng hoá. Từ đó có biện pháp giảm nhanh
hàng tồn kho đến mức hợp lý, đảm bảo chất lượng hàng luân chuyển. Bên cạnh
đó, Nhà xuất bản cần phải thường xuyên kiểm tra chất lượng hàng hoá trước
khi nhập kho. Để việc kiểm tra đạt chất lượng cao, Nhà xuất bản cần tuyển chọn
những cán bộ kỹ thuật chuyên môn giỏi và tinh thần trách nhiêm cao thực hiện.
140
Bên cạnh đó Nhà xuất bản cần mua sắm thêm các thiết bị kiểm tra cần thiết
thay thế bổ sung những thiết bị đã lạc hậu hoặc hư hỏng.
Kiểm tra hàng tồn kho từ khâu đầu vào đến đầu ra của nguyên vật liệu,
hàng hóa… để đảm bảo hàng hóa, nguyên vật liệu đúng quy cách và phẩm chất.
Trong quá trình lưu kho, cũng phải thường xuyên kiểm tra để nhằm giảm thiểu
tối đa lượng hàng tồn kho giảm giá, mất phẩm chất để thực hiện tiết kiệm, hiệu
quả trong việc quản lý và sử dụng nguyên vật liệu, hàng hóa của Nhà xuất bản.
Bộ phận Kế hoạch vật tư và Ban Kế hoạch Tài chính cần tổ chức tốt quá
trình thu mua, dự trữ vật tư, nguyên vật liệu chi phí cho mỗi kỳ nhằm đảm bảo
hạ giá thành thu mua vật tư, từ đó có kế hoạch giao cho các đơn vị sản xuất
điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được vật tư, hạn chế mất mát lãng phí
vật tư. Vật tư khi mua về phải được kiểm tra chất lượng theo đúng tiêu chuẩn
kỹ thuật sản xuất đã ban hành, hạn chế tình trạng vật tư kém chất lượng, gây
ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và uy tín của Nhà xuất bản.
Ngoài ra, Nhà xuất bản cần áp dụng một số biện pháp như: lập quỹ dự
phòng giảm giá hàng tồn kho hoặc mua bảo hiểm, thực hiện kiểm kê, ghi giảm
giá hàng tồn kho và sau đó phân bổ dần vào chi phí.
Chi phí trong quá trình sản xuất hiện nay cũng là một yếu tố quan trọng
trong hoạt động sản xuất, là nhu cầu cơ bản nhằm nâng cao giá trị hàng tồn kho,
đảm bảo hạn chế chênh lệch giá trị thành phẩm sau khi sản xuất và giá trị thuần
của thành phẩm, mang lại hiệu quả sử dụng hàng tồn kho, tránh rủi ro mất giá
khi bán sản phẩm hàng tồn kho.
Để thực hiện giải pháp này, bộ phận Kế hoạch vật tư cần thường xuyên
rà soát, kiểm soát chi phí sản xuất từng mặt hàng, từng đợt in ấn và sản xuất,
đề xuất với Ban Kế hoạch Tài chính tính giá bán bằng cách cộng giá thành với
lợi nhuận mong muốn thì việc giảm chi phí sẽ làm giảm giá thành, đó là lợi thế
cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
141
Ngoài ra Ban Kế hoạch Tài chính cần tiếp tục tham mưu với Hội đồng
thành viên và Ban Giám đốc về giá cả mua bán vật tư, chất lượng hàng hóa,
chứng từ mua bán đối với cán bộ cung ứng và nhà cung cấp dịch vụ.
Hoạt động quản lý tài chính thích nghi với sự biến động thị trường chứng
khoán và thị trường tiền tệ
Thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững và minh bạch tạo
điều kiện cho với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam huy động nguồn lực tài
chính thông qua kênh thị trường chứng khoán. Hiện nay, Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam chưa phát hành chứng khoán trên thị trường tài chính, cho nên
kênh huy động vốn này chưa phát huy tác dụng đối với Nhà xuất bản. Để kênh
huy động vốn này đạt kết quả mong muốn đòi hỏi Nhà xuất bản phải được trao
quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động thuộc lĩnh vực sản
xuất kinh doanh của Nhà xuất bản.
4.2.9. Hoàn thiện quản lý bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, quản
lý huy động vốn, quản lý tài sản, quản lý đầu tư vốn
4.2.9.1. Hoàn thiện quản lý bảo toàn và phát triển vốn nhà nước.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được Nhà nước cấp vốn cho hoạt động
kinh doanh dưới mức tối thiểu. Trong quá trình hoạt động với quy mô ngày
càng mở rộng, nhu cầu vốn của sản xuất kinh doanh ngày càng lớn. Để đáp ứng
vốn cho sản xuất kinh doanh ngoài vốn nhà nước cấp, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam phải thực hiện giải pháp huy động vốn từ bên ngoài, gồm huy động
vốn tín dụng và huy động vốn từ các doanh nghiệp hoặc các tổ chức cá nhân
khác. Như vậy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thực tế quản lý hai nguồn
vốn, là vốn nhà nước cấp và vốn huy động. Để thực hiện bảo toàn và phát triển
vốn nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, cần thực hiện:
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là người quyết định đầu tư, quyết định
lựa chọn vốn do nhà nước cấp, vốn tự lập và huy động vốn phục vụ quá trình
142
sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên trong sản xuất kinh doanh, ở những thời điểm
cần bổ sung vốn thì Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải thực hiện việc huy
động để phù hợp với chiến lược phát triển của NXB Giáo dục Việt Nam, thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.
Để hoàn thiện bảo toàn vốn nhà nước, Ban Kế hoạch Tài chính cần từng
bước thực hiện chế độ quản lý tài chính và trích lập các khoản dự phòng rủi ro,
bao gồm dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản phải thu khó
đòi, dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính, dự phòng bảo hành sản phẩm,
hàng hóa, công trình xây lắp. Với các khoản dự phòng được trích lập đầy đủ, Nhà
xuất bản có thể xử lý kịp thời giá trị tài sản tổn thất, các khoản nợ không có khả
năng thu hồi. Thêm vào đó, mua bảo hiểm tài sản nhà nước tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam là điều kiện cần thiết khi nhận vốn từ Nhà nước.
Để phát triển nguồn vốn nhà nước tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam,
cần hoàn thiện công tác điều chuyển tài sản và vốn phù hợp với hoạt động kinh
doanh tại các đơn vị trực thuộc. Theo đó, Hội đồng thành viên cần xác định cụ
thể trách nhiệm và phương thức phân bổ vốn đến các đơn vị trực thuộc với
chính sách và cơ chế phù hợp theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh được thống
nhất với các đơn vị trực thuộc. Như vậy, xác định cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ
của các đơn vị trực thuộc trong sử dụng nguồn lực sau phân bổ vào hoạt động
sản xuất, kinh doanh là nội dung cần thực hiện.
Đối với quỹ đầu tư phát triển, bên cạnh trích lập với tỷ lệ phù hợp, Hội
đồng thành viên cần đánh giá và phê duyệt kế hoạch, mục tiêu, phương thức
đầu tư cơ sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất và tiến hành lộ trình phân bổ,
đầu tư từng bước rõ ràng.
4.2.9.2. Hoàn thiện quản lý huy động vốn
Quy mô kinh doanh với mong muốn ngày càng mở rộng làm cho nhu cầu
vốn đầu tư phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục
143
Việt Nam ngày càng lớn. Để đáp ứng nhu cầu về vốn kinh doanh của mình,
NXB Giáo dục Việt Nam cần thực hiện hai giải pháp song song là tối ưu phương
án huy động tín dụng hiện có và đa dạng thêm nguồn huy động vốn mới.
Nội dung thực hiện giải pháp hoàn thiện quản lý huy động vốn:
Đa dạng hình thức vay vốn là một trong những giải pháp hữu hiệu, góp
phần đảm bảo nâng hạn mức vay lên tối đa 30% vốn chủ sở hữu theo quy định
tại Nghị định 91/2015/NĐ-CP và Nghị định 140/2020/NĐ-CP khi mở rộng hoạt
động sản xuất, dịch vụ của Nhà xuất bản. Điều kiện để thực hiện được phương
pháp đa dạng hóa vốn huy động là Ban Kế hoạch Tài chính xem xét và đánh
giá tất cả các phương án huy động vốn, bao gồm chính sách huy động, hạn mức
huy động, phương án sử dụng vốn, thời điểm hoàn trả nợ vay cũng như tác động
chi phí lãi vay lên hiệu quả tối đa giá trị vốn chủ sở hữu. Các phương án huy
động vốn khả thi trong giai đoạn 2020 - 2025 bao gồm huy động vay tín chấp
và huy động trái phiếu từ thị trường tài chính. Đối với huy động vốn vay tín
chấp, cần áp dụng từng bước tương tự như huy động vốn vay ngắn hạn, bên
cạnh đó cần chú ý thêm về đàm phán hợp đồng tín dụng và phương án trả tiền
vay và lãi vay.
Với phương án thực hiện quá trình huy động vốn thông qua thị trường
tài chính, cụ thể là huy động trái phiếu, là hình thức phù hợp cho các hoạt động
dài hạn của Nhà xuất bản như dự án biên soạn bộ sách giáo khoa mới. Thị
trường tài chính tại Việt Nam đã và đang trên đà phát triển với đa dạng sản
phẩm tài chính. Thị trường tài chính là kênh huy động vốn vô cùng quan trọng
của các doanh nghiệp. Do vậy, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, thông qua thị
trường tài chính đặc biệt là thị trường chứng khoán, có thể tiến hành phát hành
trái phiếu doanh nghiệp huy động vốn nợ phục vụ quá trình đầu tư nền tảng sản
xuất kinh doanh có hiệu quả. Thực tế cho thấy phát triển thị trường tài chính,
đặc biệt là thị trường chứng khoán là nhân tố tích cực góp phần đảm bảo nguồn
144
lực tài chính đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, từng bước đưa thị trường chứng
khoán trở thành thị trường năng động, phát triển mạnh mẽ và đáp ứng nhu cầu
vốn của doanh nghiệp.
Đối với công tác xuất bản sách giáo khoa mới, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam cần tận dụng nguồn lực, thu hút đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ
trợ để có được nguồn vốn từ dự án thay sách giáo khoa của Ngân sách Nhà
nước cũng như các nguồn vốn ODA khác liên quan tới việc thay sách giáo khoa
theo chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Bên cạnh đó, các nguồn lực
cần tập trung tăng cường cho Nhà xuất bản bao gồm vốn, tài nguyên, đất đai,
nhân lực và các nguồn lực khác. Vốn của Nhà xuất bản không chỉ gồm có vốn
chủ sở hữu của Nhà nước mà còn bao gồm vốn được huy động hợp pháp. Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam cần xác định rõ trách nhiệm đầu tư và phương thức
đầu tư cũng như có phương thức huy động vốn phù hợp nhằm tối đa nguồn lực.
Đối với mỗi hình thức vay thấu chi, vay ngắn hạn và vay dài hạn, Ban
Kế hoạch Tài chính cần đánh giá cụ thể nhu cầu vốn, cơ cấu huy động, từ đó
lên kế hoạch huy động cụ thể bao gồm mức tín dụng, chính sách huy động, phương
thức huy động, phương thức hoàn trả gốc và lãi vay và lộ trình huy động vốn. Hội
đồng thành viên có vai trò thẩm định và phê duyệt kế hoạch, từ đó phân công thực
hiện huy động vốn hướng tới vị thế chủ động trong huy động vốn.
Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn huy động đảm bảo được phân bổ hợp
lý, tối ưu hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản, đảm bảo các khoản
vốn được huy động đúng lộ trình, vốn tín dụng huy động trong khả năng hoàn
trả của Nhà xuất bản.
4.2.9.3. Hoàn thiện quản lý sử dụng tài sản
Tài sản đóng vai trò quan trọng, là nguồn lực sinh ra lợi ích kinh tế trong
ngắn hạn cũng như dài hạn đối với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Qua đánh
giá thực trạng quản lý sử dụng tài sản, có thể rút ra một số giải pháp hoàn thiện
145
sử dụng tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của Nhà xuất
bản như sau:
- Quản lý các khoản phải thu hiệu quả
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam với quy mô sản xuất kinh doanh, thị
trường hoạt động rộng lớn và đặc biệt Nhà xuất bản có một lượng khách hàng
dồi dào. Hiện nay, khoản phải thu của Nhà xuất bản đang được quản lý hiệu
quả với bước đầu thực hiện quy chế quản lý nợ mới, tuy nhiên với chiến lược
đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, Nhà xuất bản cần chú ý hoàn thiện hơn công
tác quản lý khoản phải thu, góp phần đảm bảo an toàn vốn nhà nước tại Nhà
xuất bản khi mở rộng hoạt động kinh doanh chính. Vì thế, Nhà xuất bản cần
đưa ra biện pháp thu hồi nợ nhanh và dùng khoản này để tài trợ cho các hoạt
động của Nhà xuất bản mà không phải đi vay ngắn hạn, từ đó giảm bớt nhu cầu
vốn lưu động, cải thiện được cân bằng tài chính trong ngắn hạn.
Nhà xuất bản cần có biện pháp sớm thu hồi nợ khi giao hàng cho các
khách hàng có thời gian nợ lâu, tăng cường thu vốn để đảm bảo cho hoạt động
và thanh toán các khoản nợ khi đến hạn, cụ thể:
Phải mở sổ chi tiết các khoản nợ phải thu trong và ngoài Nhà xuất bản
và thường xuyên đôn đốc để thu hồi đúng hạn. Nhà xuất bản có biện pháp phòng
ngừa rủi ro không được thanh toán: cần phải lựa chọn khách hàng, giới hạn giá
trị tín dụng, yêu cầu đặt cọc, tạm ứng hay trả trước một phần giá trị đơn hàng
bán nợ. Nhà xuất bản có chính sách bán chịu đúng đắn đối với từng khách hàng.
Khi bán chịu cho khách hàng phải xem xét kĩ khả năng thanh toán trên cơ sở
hợp đồng kinh tế đã kí kết. Nhà xuất bản có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp
đồng bán hàng, nếu vượt qua thời hạn thanh toán trong hợp đồng thì bên mua
phải trả lãi suất tương đương với lãi suất quá hạn của ngân hàng. Phân loại các
khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân để từ đó có những biện pháp xử lí thích
hợp như: gia hạn nợ, xử lí xóa nợ hoặc yêu cầu tòa án kinh tế giải quyết theo
thủ tục phá sản của doanh nghiệp.
146
Ngoài ra, để có thể hạn chế bớt rủi ro trong việc mua bán, nhất là đối với
khách hàng tiềm năng, khách hàng mới bắt đầu thực hiện giao dịch kinh doanh
với Nhà xuất bản. Một điều quan trọng trong việc quản lí tốt các khoản công
nợ là phân tích, đánh giá vị thế tín dụng của khách hàng. Sau khi phân tích,
đánh giá, Nhà xuất bản tiến hành so sánh với những tiêu chuẩn tín dụng tối
thiểu, từ đó đi đến quyết định có nên cấp tín dụng hay không hoặc cấp tín dụng
là bao nhiêu.
Đối với những khách hàng thanh toán ngay, thanh toán sớm, Nhà xuất
bản tiếp tục áp dụng những chính sách khuyến khích như: Chiết khấu ngay bằng
tiền mặt hoặc áp dụng chiết khấu thanh toán; Tùy theo số lượng hàng tiêu thụ
sẽ xét thưởng theo quý, theo năm.
Đối với những khách hàng chiếm dụng vốn lớn và thời hạn nợ kéo dài
có thể tiến hành các giải pháp như: Xây dựng chính sách chiết khấu phù hợp để
khuyến khích thanh toán nợ đúng hạn; Giảm mức dư nợ định mức cho các
khách hàng thanh toán chậm; Gửi thư thông báo tới khách hàng, nhắc nhở tình
trạng không trả nợ đúng hạn; Thông báo cho ngân hàng nơi khách hàng vay
vốn, ngừng cấp tín dụng cho đến khi họ thanh toán xong nợ cũ; Tiến hành các
thủ tục pháp lý để đòi nợ; Quy định giới hạn được phép nợ, thời hạn nợ theo
đúng cam kết trong hợp đồng. Việc xác định giới hạn được phép nợ, thời hạn
nợ phải tùy thuộc vào từng khách hàng cụ thể và phải căn cứ vào các yếu tố
như: tính chất của sản phẩm, tùy theo tính chất, đặc điểm của từng sản phẩm,
phân tích vị thế tín dụng của mỗi khách hàng là khác nhau…mà Nhà xuất bản
ấn định thời hạn trả nợ cho từng khách hàng.
- Khai thác cơ sở vật chất hiện có
Hội đồng thành viên và Ban Giám đốc đánh giá và phê duyệt khai thác
hiệu quả đất đai, tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư theo các
tiêu chí:
147
+ Chỉ liên doanh với những đơn vị có tiềm lực, chuyên nghiệp; vận dụng
sự chuyên nghiệp và tiềm lực của các nhà đầu tư để khai thác yếu tố địa lợi;
Đảm bảo hài hòa lợi ích giữa NXB Giáo dục Việt Nam và các nhà đầu tư trên
nguyên tắc đảm bảo chủ quyền sử dụng đất đai của NXB Giáo dục Việt Nam.
+ Thống kê đất đai trong NXB Giáo dục Việt Nam, từ đó phân loại và
có phương án khai thác thích hợp. Hoàn thiện giấy tờ đất đai các cơ sở trên toàn
quốc để đảm bảo quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của NXB Giáo dục Việt
Nam theo quy định của pháp luật đất đai.
+ Đưa vào khai thác, sử dụng các dự án đã hoàn tất để đảm bảo hiệu quả
đầu tư. Với các dự án chưa hoàn thành, cần xúc tiến, đẩy nhanh tiến độ liên
doanh, liên kết, thực hiện dự án hoặc nghiên cứu, có kế hoạch chuyển nhượng
để tập trung vốn đầu tư cho các dự án khả thi hơn.
- Hoàn thiện quản lý mua sắm, sửa chữa tài sản cố định
Với thực trạng tài sản cố định tại các đơn vị trực thuộc đã hết khấu hao
nhưng chưa được sửa chữa và mua sắm thay mới hàng năm, Ban Kế hoạch Tài
chính và Ban Hành chính quản trị cần chú ý thực hiện các giải pháp cụ thể:
+ Hoàn thiện quy trình ra quyết định mua sắm TSCĐ
Công tác đầu tư mua sắm mới TSCĐ là hoạt động trực tiếp ảnh hưởng
đến năng lực sản xuất của Nhà xuất bản. Quy trình ra quyết định mua sắm
TSCĐ là một vấn đề quan trọng cần phải được phân tích kỹ lưỡng do đây là
vốn đầu tư dài hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của NXB Giáo
dục Việt Nam trong ngắn hạn. Theo đó, sau mỗi kì đánh giá tài sản cố định,
trang thiết bị sản xuất từ bộ phận sản xuất, bộ phận Kế hoạch vật tư cần thống
kê, đề xuất nhu cầu đổi mới tài sản cố định. Từ đó, Nhà xuất bản cần lập ra hội
đồng thẩm định có trách nhiệm tìm hiểu, đánh giá lại nhu cầu nhằm tìm ra tài
sản phù hợp nhất cho hoạt động của Nhà xuất bản tại thời điểm đề xuất. Đối
với nhà xưởng cần có các tiêu chuẩn về năng lực hoạt động, nhu cầu mở rộng
148
và quyền sử dụng đất được giao. Đối với máy móc, trang thiết bị sản xuất và
quản lý cần đánh giá theo thời gian sử dụng, nguyên giá, công suất và chế độ
bảo hành. Như vậy, Ban Kế hoạch Tài chính mới có căn cứ để tính toán với
nguồn ngân quỹ hiện tại cùng với nhu cầu đầu tư mua sắm mới và đề xuất lên
ban Giám đốc để thông qua quyết định mua sắm mới các tài sản trên.
Ngoài việc lên kế hoạch đầu tư TSCĐ, Nhà xuất bản cần nâng cao hiệu
quả trong công tác tiến hành thẩm định các dự án đầu tư, xây dựng để đưa ra
được những quyết định tối ưu nhất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các TSCĐ
được mua sắm và đầu tư mới.
+ Thanh lý, xử lý các TSCĐ không dùng đến
Hiện nay, do những nguyên nhân có thể là chủ quan chẳng hạn như bảo
quản, sử dụng kém làm cho tài sản bị hư hỏng hoặc khách quan tạo ra như thay
đổi nhiệm vụ sản xuất mà không cần dùng. Những máy móc thiết bị cũ lạc hậu,
hết khấu hao Nhà xuất bản cần bán thanh lý phế liệu nhằm thu hồi vốn.
Việc giữ nhiều tài sản cố định không dùng, sẽ dẫn đến vốn bị ứ đọng gây
lãng phí trong khi doanh nghiệp lại đang rất cần vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do vậy, Nhà xuất bản cần xác định nguyên nhân dẫn đến việc ứ
đọng tài sản cố định để cần nhanh chóng thanh lý những tài sản cố định đã bị
hư hỏng, đồng thời có kế hoạch điều phối tài sản cố định nhàn rỗi phục vụ cho
các hoạt động khác, phù hợp với khả năng của từng tài sản cố định.
+ Hoàn thiện công tác quản lý và kế toán tài sản cố định
Cùng với quy chế quản lý tài chính kế toán về quản lý sử dụng tài sản
cố định, công tác lập kế hoạch khấu hao cần phải được tính toán chính xác và
chặt chẽ hơn tránh việc thu hồi không đủ vốn đầu tư ban đầu. Thêm vào đó, bộ
phận Kế hoạch vật tư của Công ty cần tiến hành đánh giá lại tài sản cố định một
cách thường xuyên và chính xác. Hiện nay do khoa học công nghệ ngày càng
tiến bộ làm cho các tài sản cố định không tránh khỏi sự hao mòn vô hình. Đồng
149
thời, với một cơ chế kinh tế thị trường như hiện nay giá cả thường xuyên biến
động. Điều này làm cho việc phản ánh giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ
sách kế toán bị sai lệch đi so với giá trị thực tế. Việc thường xuyên đánh giá lại
tài sản cố định sẽ giúp cho việc tính khấu hao chính xác, đảm bảo thu hồi vốn
và bảo toàn vốn cố định, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định hoặc có
những biện pháp xử lý những tài sản cố định bị mất giá nghiêm trọng, chống
thất thoát vốn.
4.2.9.4. Hoàn thiện quản lý đầu tư vốn ra ngoài NXB Giáo dục Việt Nam
Phần lớn ý kiến các cán bộ, chuyên gia được phỏng vấn đều đồng ý đầu
tư vốn ra ngoài NXB Giáo dục Việt Nam là yếu tố quan trọng cần chú ý quản
lý, đánh giá năng lực của công ty liên doanh, liên kết cần đánh giá và quản lý
hướng tới quyết định đầu tư và quyết định thoái vốn kịp thời, đảm bảo lợi ích
cho NXB Giáo dục Việt Nam, cần thực hiện các nội dung như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị có vốn
góp: (1) Cơ cấu lại danh mục đầu tư nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; (2) Duy trì, nâng tỷ lệ nắm giữ vốn lên mức
chi phối ở những đơn vị thành viên có vị trí quan trọng, vị trí chiến lược trong
hệ thống, trong quy trình thực hiện có nhiệm vụ chính trị của Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam.
Thứ hai, liên doanh, liên kết với các đối tác có tiềm lực, kinh nghiệm,
quan hệ để khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có của NXB Giáo dục
Việt Nam.
Ban Kế hoạch Tài chính cần chú ý thường xuyên đánh giá hiệu quả đầu tư
cũng như hiệu quả kinh tế trong quá trình thực hiện hợp đồng hợp tác, cụ thể:
+ Thực hiện chính sách giá bán sản phẩm theo hướng nguyên tắc thị
trường (doanh thu đủ bù chi phí và có lãi nhưng vẫn tạo tính cạnh tranh, sức
hút với người tiêu dùng) với các công ty liên doanh, liên kết góp vốn.
150
+ Công khai, minh bạch tình hình hoạt động và tài chính doanh nghiệp:
Báo cáo tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam, của công ty liên kết… phản
ánh đúng, trung thực, đầy đủ thực tế tình hình tài chính, hoạt động sản xuất
kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp.
+ Yêu cầu các đơn vị có vốn góp hoạt động ổn định đáp ứng được thị
trường, phấn đấu đảm bảo tỉ lệ cổ tức cho NXB Giáo dục Việt Nam và cổ đông
không thấp hơn lãi tiền gửi ngân hàng.
+ Sử dụng hiệu quả công cụ tài chính để ổn định, phát triển hệ thống,
phục vụ nhiệm vụ chính trị. Sử dụng, nguồn thu từ hoạt động quản lý xuất bản,
cho thuê sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, sử dụng và phát huy lợi thế thương
hiệu… để đầu tư nghiên cứu xuất bản sách giáo khoa mới.
+ Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán trong lĩnh vực quản lý tài
chính. Xử lý, điều chỉnh kịp thời những sai sót và những vấn đề bất hợp lý (nếu
có) để có biện pháp kịp thời chấn chỉnh và phòng ngừa trong tương lai.
+ Tăng cường vai trò tham mưu đảm bảo chính xác, kịp thời, theo nguyên
tắc quản lý tài chính đối với lãnh đạo NXB Giáo dục Việt Nam.
4.2.10. Hoàn thiện quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hướng tới đồng thời hai
mục tiêu xã hội và kinh tế, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam gặp một số tồn tại
trong quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận khi doanh nghiệp lỗ lâu dài trong
mảng sản xuất chính, đặt ra yêu cầu hoàn thiện quản lý.
Nội dung thực hiện giải pháp:
Hoạt động kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam bao gồm
hoạt động phát hành sách giáo khoa và hoạt động kinh doanh sản phẩm giáo
dục khác. Đối với sản phẩm sách giáo khoa, giá sản phẩm đầu ra được cố định
theo quy định từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Kế hoạch Tài chính tập trung
vào giảm chi phí, trong khi đối với các sản phẩm giáo dục khác, cán bộ tài chính
151
tập trung song song áp dụng mức doanh thu hợp lý trên mỗi sản phẩm và giảm
chi phí liên quan, tạo mức lợi nhuận tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu.
Mỗi doanh nghiệp hoạt động đều phấn đấu giảm chi phí trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm với một số biện pháp hữu hiệu như quản lý chi phí nguyên
vật liệu đầu vào, quản lý chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp và
các chi phí liên quan khác. Nội dung thực hiện bao gồm:
+ Cơ cấu giá vốn so với doanh thu thuần của các sản phẩm giáo dục tại
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trung bình 70,66%, Ban Kế hoạch Tài chính
cần phối hợp với Ban Kế hoạch Marketing lên kế hoạch tổ chức đấu thầu mua
sắm vật tư và đấu thầu in, giao in gia công sách giáo khoa, sách bài tập với tiêu
chí tìm kiếm nguồn cung in ấn đầu vào ổn định với mức giá hợp lý, đảm bảo
khối lượng cung ứng liên tục trong mùa vụ phát hành sách giáo khoa và các sản
phẩm giáo dục khác. Trên cơ sở kế hoạch sản xuất, kinh doanh đã xây dựng
đầu năm, Ban Kế hoạch Tài chính phối hợp với Ban Kế hoạch Marketing kiểm
tra, rà soát và đánh giá thường xuyên trước khi bước vào giai đoạn phát hành
nhằm đảm bảo báo cáo và đề xuất lên Hội đồng thành viên và Ban Giám đốc
các thay đổi phát sinh nhằm điều chỉnh kế hoạch in ấn kịp thời, giảm thiểu chi
phí giá vốn và chi phí hàng tồn kho cho Nhà xuất bản.
+ Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là khoản có thể tác
động giảm với kế hoạch giảm các dịch vụ mua ngoài, các bên trung gian phân
phối sách giáo khoa và sách bài tập cũng như các sản phẩm giáo dục khác. Bên
cạnh đó cần đảm bảo tối thiểu chi phí tiền lương, chi phí dự phòng. Đối với cắt
giảm chi phí tiền lương, Ban Tổ chức nhân sự cần tuyển dụng người lao động
kinh nghiệm, công tác bố trí lao động hợp lý, đảm bảo tốc độ năng suất lao
động cao hơn tốc độ tăng lương cán bộ các bộ phận gián tiếp và trực tiếp. Đối
với chi phí dự phòng, Ban Kế hoạch Tài chính cần chủ động lập kế hoạch dự
phòng sản xuất, kinh doanh, dự phòng hợp lý các khoản nợ không thể thu hồi,
152
các khoản thu khó đòi, đảm bảo các yếu tố này không ảnh hưởng đến quá trình
sản xuất kinh doanh.
+ Giá bán trên mỗi sản phẩm là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến
doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhà
nước, giá sản phẩm không chỉ được xác định dựa trên nhu cầu thị trường, giá
vốn hàng bán và chi phí phân bổ chung, mà còn dựa vào quy định của cơ quan
quản lý nhà nước và mục tiêu cộng đồng cần hoàn thành. Do vậy, chiến lược
giá đối với NXB Giáo dục Việt Nam cần được đánh giá và dự báo chi tiết với
từng sản phẩm dựa trên nhu cầu, quy định từ các Bộ, ngành liên quan và thị
phần sản phẩm.
4.2.11. Giải pháp khác
Giải pháp về sản phẩm
Nâng cao chất lượng sản phẩm hiện có kết hợp đa dạng sản phẩm mới,
mở rộng sản xuất, phát hành và kinh doanh là một giải pháp tiên quyết đối với
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trong điều kiện hoàn thành mục tiêu cộng
đồng do Nhà nước giao cùng với mục tiêu lợi nhuận như bất cứ doanh nghiệp
nào khác. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Ban Quản lý xuất bản và Ban Kế
hoạch Marketing, cụ thể:
- Thống kê, đánh giá hệ thống sản phẩm hiện có (các mảng sách giáo
khoa, sách bài tập, sách tham khảo và thiết bị giáo dục) phục vụ chương trình
và sách giáo khoa hiện hành để nâng cấp, chỉnh lí, làm mới bổ sung các sản
phẩm còn là “ô trống” để tiếp tục phục vụ học sinh, giáo viên trong các trường
mầm non, trường phổ thông, trường cao đẳng và đại học góp phần đổi mới việc
dạy học, kiểm tra, đánh giá trong các cấp học, bậc học. Tiếp tục khai thác đề
tài - bản thảo thuộc các mảng sản phẩm sách khác nhau để phục vụ phù hợp với
bạn đọc, góp phần phong phú hóa đời sống văn hóa, tinh thần và nâng cao dân
trí cho đông đảo bạn đọc.
153
- Trong khi sách giáo khoa hiện hành chưa được thay thế bằng sách giáo
khoa mới, thì sách bài tập, sách tham khảo đi trước một bước, tiếp cận, định
hướng đổi mới giáo dục phổ thông nhằm phong phú hóa về số lượng và chất
lượng sách giáo dục đồng thời làm bước đệm, tạo đà cho việc triển khai sách
giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo theo chương trình mới, được biên soạn
theo hướng tích hợp, phát triển phẩm chất và năng lực người học.
- Xây dựng hệ thống đề tài - bản thảo phục vụ chương trình và SGK mới
theo cây đề tài, lí thuyết ô trống, công thức 4L, phương pháp domino để phong
phú hoá, đa dạng hoá sản phẩm.
- Xây dựng và ban hành quy trình xuất bản SGK, STK… theo yêu cầu
mới, định hướng mới của đề án đổi mới chương trình và SGK phổ thông và quy
định của pháp luật về công tác xuất bản.
- Nghiên cứu phân luồng khai thác đề tài - bản thảo phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ và năng lực của mỗi Công ty cổ phần trong hệ thống NXB Giáo
dục Việt Nam, phù hợp với định hướng chung của Hội đồng thành viên NXB
Giáo dục Việt Nam.
- Khai thác đề tài - bản thảo đáp ứng quy luật cung cầu, theo nhu cầu xã
hội hoặc theo đơn đặt hàng của các đơn vị, đối tác …, trong đó chú ý các đề tài
- bản thảo giúp giáo viên đổi mới phương pháp giáo dục, sách dịch, từ điển, sổ
tay, sách chất lượng cao, sách đại học, cao đẳng, dạy nghề, nâng cao dân trí,
sách dân tộc, sách điện tử, sách kèm đĩa… bên cạnh hệ thống đề tài về sách
giáo khoa, STK gắn liền với SGK, các ấn phẩm giáo dục khác và hệ thống thiết
bị dạy học.
- Triển khai làm sách giáo dục điện tử, trước mắt làm SGK điện tử phục
vụ chương trình và SGK hiện hành. Tiến tới phát triển mảng sách điện tử theo
lộ trình 3 giai đoạn:
Ngắn hạn (1-3 năm): sản xuất sách điện tử dưới dạng số hoá và/hoặc điện
tử hoá, trình bày như sách truyền thống theo kiểu tuyến tính, bổ sung các minh
154
họa, hoạt động tương tác, trò chơi, bài tập, bài kiểm tra đánh giá đi kèm với nội
dung khoá học phục vụ cho môi trường học tập điện tử.
Trung hạn (5-7 năm): điều chỉnh sách và học liệu điện tử, bổ sung, chia
nhỏ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Xây dựng một kho tàng học
liệu đáp ứng các nhu cầu khác nhau của từng giáo viên và học sinh
Dài hạn (10-15 năm): tiếp tục bổ sung kho tàng sách và học liệu điện tử
của nhà xuất bản. NXB Giáo dục Việt Nam đã có đủ điều kiện về công nghệ để
kiểm soát trực tuyến việc sử dụng, khai thác, kinh doanh học liệu điện tử trên
toàn hệ thống. Một phần của kho tàng học liệu được chính giáo viên và các cơ
sở đào tạo bổ sung.
- NXB Giáo dục Việt Nam xác định việc xuất bản SGK và SBT, là nhiệm
vụ trọng tâm và cốt lõi, do vậy phải chuẩn bị tốt các điều kiện về nhân lực, tài
lực, vật lực cho việc triển khai làm các sản phẩm phục vụ chương trình và SGK
mới. Huy động tổng lực toàn hệ thống NXB Giáo dục Việt Nam trong tổ chức
thực hiện chiến lược đề tài - bản thảo thành các sản phẩm cụ thể phục vụ các
cơ sở giáo dục trong giai đoạn mới.
- Tăng cường hợp tác với các nhà xuất bản nước ngoài để có thể học hỏi,
tổ chức bản thảo và các sản phẩm giáo dục khác đáp ứng yêu cầu về chất lượng
(hình thức và nội dung) nâng cao tính cạnh tranh của các sản phẩm.
- Đầu tư, nghiên cứu sản xuất thiết bị giáo dục bám sát chủ trương đổi
mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông của Bộ GD&ĐT và tiến độ biên
soạn các bộ SGK mới của NXB Giáo dục Việt Nam. Triển khai các hoạt động
hợp tác quốc tế, nhập khẩu mẫu thiết bị giáo dục; nghiên cứu sản phẩm mới,
chuyển giao công nghệ, từng bước tiếp cận và triển khai hiện đại hóa thiết bị
giáo dục theo chuẩn khu vực và quốc tế.
Giải pháp về marketing
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, tập trung từ NXB Giáo
dục Việt Nam đến các đơn vị thành viên. Triển khai kịp thời, chính xác các chủ
trương, chỉ đạo của Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc.
155
- Cơ quan Văn phòng giám sát, kiểm tra, đảm bảo việc tuân thủ các chỉ
đạo, điều hành của Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, các quy trình, quy
định trong kinh doanh, phát hành; làm cầu nối giữa các đơn vị sản xuất - kinh
doanh với các Cục, Vụ, Viện, Dự án của Bộ GD&ĐT để tiếp cận và tham gia
các dự án cung ứng sách, thiết bị cho các địa phương.
- Đa dạng hóa hình thức bán hàng: bán buôn, bán lẻ, bán hàng qua mạng,
bán trao đổi hàng... Liên kết phát hành tăng tính cạnh tranh, tăng thị phần và
hiệu quả phát hành.
- Thực hiện chiết khấu, khuyến mại linh hoạt theo thời điểm, mùa vụ
phát hành. Có chính sách thưởng cho người bán hàng (cấp trung gian) về số
lượng phát hành, về thanh toán nhanh; Kích cầu người mua hàng: tặng sản
phẩm hoặc hỗ trợ dịch vụ khi mua hàng.
- Chú trọng quảng cáo, tiếp thị hiệu quả, tập trung vào các yếu tố quan
trọng: thương hiệu, chất lượng, mẫu mã, giá cả cạnh tranh so với sản phẩm
cùng loại trên thị trường.
- Phát triển mạng lưới thư viện, gắn công tác thư viện với phát hành sách
phục vụ nhà trường (tuyên truyền giới thiệu sách, phát động phong trào đọc
sách mỗi ngày, ngày Hội đọc sách...).
- Tăng cường vai trò tổng đại lí phân phối thiết bị của 4 Công ty Sách và
Thiết bị giáo dục miền. Thống nhất tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm thiết bị
giáo dục của NXB Giáo dục Việt Nam để đẩy mạnh việc phân phối thiết bị giáo
dục qua kênh thương mại toàn hệ thống NXB Giáo dục Việt Nam.
- Khuyến khích liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước
có kinh nghiệm, năng lực công nghệ và tài chính trong lĩnh vực sản xuất, cung
ứng thiết bị giáo dục. Ưu tiên lựa chọn hợp tác, liên doanh, liên kết với các đối
tác có kinh nghiệm, năng lực sản xuất - kinh doanh, thương hiệu mạnh trên thị
trường, trên cơ sở đó tận dụng năng lực vốn, công nghệ, kinh nghiệm sản xuất
kinh doanh của đối tác để vừa làm vừa học hỏi.
156
Để thực hiện được các giải pháp về Marketing, cần sự phối hợp giữa Ban
Kế hoạch Marketing và Ban truyền thông trong nghiên cứu, đề xuất thực hiện
các nội dung tuyên truyền, định hướng, nâng cao uy tín, vị thế và tầm quan
trọng của NXB Giáo dục Việt Nam trong xã hội; Quảng bá rộng rãi hình ảnh,
thương hiệu và các sản phẩm của toàn NXB Giáo dục Việt Nam.
Giải pháp về nguồn nhân lực
- Trước hết đội ngũ lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam phải ý thức và xác định việc đoàn kết, thân ái, chia sẻ,
vì mục đích chung của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là nhiệm vụ sống còn
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam do vậy phải được đặt lên hàng đầu để xây
dựng và đưa Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đi đầu, tiên phong và có vị trí số
1 quan trọng trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo đúng
Nghị Quyết 29 Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo tâm huyết, có tầm nhìn chiến lược,
ứng phó linh hoạt trong điều hành, quản lí tổ chức bộ máy, hoạt động sản xuất
- kinh doanh.
- Chăm lo tới đời sống của người lao động, quan tâm đến lương và các
chế độ phúc lợi xã hội để tạo sự tin tưởng, nội bộ đoàn kết, tình cảm gắn kết
lâu dài với NXB Giáo dục Việt Nam.
- Các tổ chức đảng, đoàn thể được tạo điều kiện và hoạt động theo đúng
định chế doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo đúng pháp luật.
- Tận dụng được nguồn lao động cao tuổi đã về hưu, có kinh nghiệm, đủ
sức khỏe để tiếp tục tham gia cộng tác biên soạn các bộ SGK mới.
- Định biên nhân sự không tăng về “lượng” nhưng định hướng thay đổi
về “chất”, vì vậy phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ biên tập
trẻ có trình độ chuyên môn cao nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm, các cán bộ
marketing, phát hành được đào tạo bài bản nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm
157
thực tiễn. Mở rộng các hình thức đào tạo: ngắn hạn, dài hạn, đào tạo trong nước
và đào tạo nước ngoài, đào tạo theo trường lớp và tự đào tạo.
- Xây dựng, hoàn thiện các quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm,
quy hoạch cán bộ, thi đua - khen thưởng, chế độ lương, thưởng… phù hợp với
tình hình thực tế và khuyến khích được người lao động tham gia cống hiến cho
sự phát triển chung của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
- Xây dựng đội ngũ tác giả, cộng tác viên đông đảo và có chất lượng cao,
tâm huyết với Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Thực hiện tốt chế độ, chính
sách thu hút tác giả, cộng tác viên. Coi đội ngũ này là tài sản quý giá nhất trong
mọi tài sản quý giá của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Giải pháp về tái cấu trúc doanh nghiệp
Đây là vấn đề trọng tâm và quan trọng, Lãnh đạo Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam đã quán triệt và tập trung những nhiệm vụ cụ thể như sau: Sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; sắp xếp lại cơ cấu tổ chức
quản lý, bộ máy điều hành; hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đào tạo
nguồn nhân lực; tăng cường công tác kiểm soát nội bộ; đẩy mạnh ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ, thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất lao động,
giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt
động; tăng cường trách nhiệm, quyền hạn và chỉ đạo của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam đối với người đại diện vốn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
tại các doanh nghiệp khác.
Giải pháp về quản lí và điều hành
- Nghiên cứu, sắp xếp lại các đơn vị quản lí theo mô hình chức năng,
tách chức năng quản lí hành chính với quản lí sản xuất kinh doanh, phân cấp
quản lí một cách hợp lí để bộ máy gọn nhẹ, hoạt động hiệu quả. Phân công,
phân nhiệm, phân cấp rõ ràng, mạch lạc, quản lý dựa trên quy trình, quy chế
đảm bảo tính pháp chế, công bằng, dân chủ.
158
- Nắm cổ phần chi phối, tăng cường đầu tư cho các đơn vị trong lĩnh vực
xuất bản, lĩnh vực cốt lõi của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, các đơn vị
trong lĩnh vực sản xuất thiết bị trường học.
- Tăng cường liên kết giữa các đơn vị trong hệ thống, các đơn vị hoạt
động hiệu quả hỗ trợ, phối hợp với những đơn vị còn khó khăn…
- Nghiên cứu điều tiết công việc, nguồn tài sản trí tuệ giữa các đơn vị
thành viên trực thuộc, tránh sự phân cực, nghịch chiều.
- Đổi mới hoạt động của các đơn vị thành viên, đẩy mạnh thực hiện chủ
trương giao, bán, khoán kinh doanh/Cần có sự phối hợp, gắn kết hình thành
chuỗi liên kết sản xuất - cung ứng - phát hành trong từng khu vực và cả nước,
tạo điều kiện chuyển biến mạnh về vốn và nhân lực, năng lực chiếm lĩnh thị
trường, thị phần, góp phần củng cố hệ thống vững mạnh, phát triển.
4.4. Kiến nghị
4.4.1. Kiến nghị với Chính phủ
Để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam nói riêng và các doanh nghiệp nhà nước nói chung, bên cạnh nỗ lực đổi
mới và cải thiện, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Nam kiến nghị Chính phủ
hỗ trợ:
(1) Phát triển hệ thống hỗ trợ Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam kinh doanh
vì mục tiêu cộng đồng và mục tiêu lợi nhuận. Hệ thống hỗ trợ góp phần đẩy nhanh
sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc thực hiện các chính sách và
công cụ hỗ trợ NXB Giáo dục Việt Nam phù hợp với các định hướng phát triển
và quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà Việt Nam gia nhập.
(2) Quy định giá bán sách giáo khoa, thành phẩm in ấn cần có những
chính sách hỗ trợ riêng phù hợp với đặc thù hoạt động vì mục tiêu cộng đồng
vừa vì mục tiêu lợi nhuận.
(3) Bên cạnh hoạt động sản xuất theo mục tiêu nhà nước đề ra, các hoạt
động tăng thêm, mở rộng thêm cũng cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ, nhằm tạo
159
ra lợi nhuận và được nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chủ động điều tiết sử
dụng nhằm nâng cao thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức.
(4) Tăng cường kiểm tra giám sát Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam hoạt
động vì mục tiêu cộng đồng và vì cả mục tiêu lợi nhuận. Hình thành khung
pháp lý đồng bộ, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, đáp ứng nhu cầu và
sự phát triển nhanh chóng của thị trường.
(5) Tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục phổ thông theo mức tăng
trưởng kinh tế, hiện đại hóa các chương trình đào tạo với các sản phẩm giáo
dục công nghệ cao như sách giáo dục điện tử, góp phần giảm chi phí cho các
đơn vị xuất bản.
4.4.2. Kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính
+ Đẩy mạnh phổ cập giáo dục phổ thông, đặc biệt là các vùng sâu vùng
xa, chú trọng phát triển các chương trình học phổ thông, đảm bảo tính khoa học
cơ bản phù hợp với điều kiện và khả năng học tập của từng lứa tuổi.
+ Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý giáo dục chủ động giữa các đơn vị
giáo dục phổ thông, tạo động lực và sự chủ động trong giáo dục từ các cơ sở
giáo dục phổ thông cũng như các địa phương một cách hiệu quả.
+ Thay đổi giá bán sách giáo khoa theo nguyên tắc thu đủ bù chi. Hàng
năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt kế hoạch sản xuất, doanh thu, lợi nhuận
của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam theo cam kết giá bán từ Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, giá mỗi sản phẩm được tính theo công thức (giá vốn hàng
bán + chi phí phân bổ sản xuất chung)/ số sản phẩm.
+ Quy định mức giá trần đối với các sản phẩm giáo dục khác, đảm bảo
thị trường sách bài tập, sách tham khảo và học liệu giáo dục nằm trong khả
năng chi trả và sử dụng của đa số học sinh.
+ Tiến hành đánh giá và giảm giá, trợ cấp một phần giá khi phân phối
sách giáo khoa. Tỷ lệ trợ cấp được xác định theo từng khu vực I, II, III, theo
160
từng trường học và theo điều kiện hoàn cảnh của từng hộ gia đình (hộ nghèo,
hộ cận nghèo).
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hướng dẫn
chi tiết về quản lý tài chính, huy động vốn, quản lý tài sản đối với Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam bằng cách tạo hành lang pháp lý cho mọi hoạt động của
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Hướng dẫn xây dựng quy trình kiểm toán
nội bộ là tiền đề để doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra; Bộ Tài chính phối
hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng vốn điều lệ cho Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam.
4.4.3. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước ban hành lãi suất thấp áp dụng cho Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam khi vay vốn của các tổ chức tài chính tín dụng phục vụ sản
xuất sách giáo khoa sách tham khảo… vì Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải
thực hiện song song mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu cộng đồng, trong khi chính
sách của Nhà nước còn có những hạn chế nhất định.
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam là đơn vị kinh tế nòng cốt, là đơn vị
chủ lực của ngành Giáo dục Việt Nam. Vì vậy, nhu cầu vốn ngắn hạn của Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam là rất lớn, cho nên mỗi lần vay vượt quá quy định
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phải có công văn trình Thủ tướng Chính phủ
và Bộ Giáo dục và Đào tạo, gây phiền hà chậm trễ để thực hiện và triển khai
dự án, làm giảm hiệu quả đầu tư vào các dự án đó. Thực hiện đề xuất trên, đòi
hỏi các ngân hàng thương mại cần có chính sách ưu đãi về lãi suất trong quá
trình huy động vốn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm tra, giám sát những ngân hàng
thương mại cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vay vốn, cả thời gian quy
trình thực hiện cho vay, hồ sơ vay vốn, thời gian vay vốn và lãi suất vay vốn.
161
Kết luận chương 4
Trong bối cảnh chung về giáo dục và đào tạo, thông qua thực trạng
chương trước và định hướng chung và kế hoạch hoạt động kinh doanh, quản lý
điều hành của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, chương 4 đề xuất các giải pháp
hoàn thiện quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cũng như đề
xuất các kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước và đối tác liên quan.
Thứ nhất, nội dung chương phân tích bối cảnh của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam, nêu ra những định hướng phát triển của Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam trên các cơ sở mục tiêu dài hạn, mục tiêu cụ thể, định hướng phát
triển cụ thể và kế hoạch phát triển cụ thể.
Thứ hai, chương đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, đồng thời đề xuất một số kiến nghị đến Chính
phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính và ngân hàng Nhà nước.
162
KẾT LUẬN
Hiện nay, quản lý tài chính là vấn đề không mới đối với các doanh nghiệp,
nhưng là vấn đề chủ chốt được các doanh nghiệp nhà nước ưu tiên đặt mối quan
tâm hàng đầu. Việc hoàn thiện quản lý tài chính một cách có hiệu quả giúp
doanh nghiệp nâng cao sự bền vững tài chính, góp phần tạo vị thế của doanh
nghiệp cũng như đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn thành mục
tiêu cộng đồng do nhà nước giao.
Luận án nghiên cứu “Quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam” đã đạt được mục tiêu nghiên cứu là: đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện hơn nữa quản lý tài chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Trong
đó đã thực hiện được các nhiệm vụ đặt ra bao gồm:
Tổng kết các vấn đề đã được nghiên cứu trong các công trình đã công bố,
tìm ra khoảng trống nghiên cứu và xây dựng định hướng nghiên cứu cho luận án.
Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại doanh
nghiệp nhà nước, và tổng kết kinh nghiệm của một số doanh nghiệp nhà nước
trong và ngoài nước về quản lý tài chính.
Phân tích thực trạng quản lý nguồn vốn, quản lý và sử dụng tài sản, quản
lý hoạt động kinh doanh. Từ đó, tác giả đánh giá về những thành tựu đã đạt
được của Nhà xuất bản cũng như tìm ra những bất cập cần được khắc phục
nhằm đặt nền tảng để đề ra những giải pháp phù hợp hoàn thiện quản lý tài
chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, bao gồm: Hoàn thiện hệ thống các
văn bản nội bộ quy định về quản lý tài chính của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam; Thực hiện đổi mới cơ chế xây dựng kế hoạch tài chính, thực hiện thanh,
quyết toán kiểm tra giám sát chặt chẽ; Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn Hội
đồng thành viên và Ban giám đốc; Tăng quyền huy động vốn thực hiện dự án;
Khai thác, phát huy tiềm năng đội ngũ nhân lực, vốn, trang thiết bị, tập trung
163
nguồn lực tài chính cao nhất cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam; Đổi mới
chính sách giá bán sách giáo khoa; Hoàn thiện đàm phán hướng tới chính sách
ưu tiên cho hoạt động vì mục tiêu cộng đồng; Hoàn thiện quản lý tài chính thích
nghi với tình hình thị trường; Hoàn thiện quản lý bảo toàn và phát triển vốn nhà
nước quản lý huy động vốn quản lý sử dụng tài sản quản lý đầu tư vốn; Hoàn
thiện quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
Luận án cũng đề xuất một số giải pháp khác về sản phẩm, marketing, nhân
sự, công nghệ cùng các kiến nghị đến Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
I. Báo Khoa học
1. Trần Văn Quế (5/2020) “Quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam”, Trang 81-82-83, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 14-tháng 05/2020),
ISSN 0866-7120.
2. Trần Văn Quế (6/2020) “Kinh nghiệm quản lý tài chính của một số doanh
nghiệp nhà nước và gợi ý cho Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam”, Trang
80-81-82, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 16-tháng 6/2020, ISSN 0866-
7120
3. Trần Văn Quế (10/2020), “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty
Cổ phần In Sách giáo khoa tại thành phố Hà Nội”, Trang 37-38-39, Tạp
chí Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (số 575-tháng 10/2020), ISSN
0868-3808.
II. Đề tài khoa học
1. Trần Văn Quế (9/2020); “Nâng cao sử dụng tài sản tại công ty cổ phần in
sách giáo khoa tại Thành phố Hà Nội”, chủ nhiệm, Đề tài cấp Học viện,
Học viện Hậu Cần, Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), “Quyết định số 1068/QĐ-BGDDT, Phê
duyệt Quy chế tài chính của Công ty TNHH MTV Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam”, Hà Nội
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), “Quyết định số 2273/QĐ-BGDDT, Giao
chỉ tiêu kế hoạch tài chính năm 2018 cho Công ty TNHH MTV Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam”, Hà Nội
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), “Quyết định số 3790/QĐ-BGDDT, Về
việc giao chỉ tiêu đánh giá xếp loại doanh nghiệp năm 2018 đối với Công
ty TNHH MTV Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam”, Hà Nội
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), “Quyết định số 1547/QĐ-BGDDT, Phê
duyệt Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2019 của Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam”, Hà Nội
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), “Quyết định số 1548/QĐ-BGDDT, Phê
duyệt Kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam giai đoạn 2018 - 2022”, Hà Nội
6. Bộ Tài chính (2018), “Thông tư số 59/2018/TT-BTC, sửa đổi, bổ sung
một số điều của thông tư số 219/2015/tt-btc ngày 31 tháng 12 năm 2015
của Bộ trưởng Bộ Tài chính về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp
và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp”, Hà Nội.
7. Chính phủ (2015), “Nghị định số 91/2015/NĐ-CP, Nghị định về đầu tư
vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại
doanh nghiệp”, Hà Nội
8. Chính phủ (2020), “Nghị định số 140/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một
số điều của nghị định số 126/2017/nđ-cp ngày 16 tháng 11 năm 2017
của chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước và công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn
điều lệ thành công ty cổ phần; nghị định số 91/2015/nđ-cp ngày 13 tháng
10 năm 2015 của chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp
và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp và nghị định số
32/2018/nđ-cp ngày 08 tháng 3 năm 2018 của chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của nghị định số 91/2015/nđ-cp”, Hà Nội
9. Trần Tiến Cường (2005), “Tập đoàn kinh tế: Lý luận và Kinh nghiệm
quốc tế - Ứng dụng vào Việt Nam”, Nhà xuất bản Giao thông vận tải,
Hà Nội.
10. Cốc Nguyên Dương và Võ Đại Lược (1997), “Cải cách doanh nghiệp
nhà nước ở Trung Quốc - so sánh với Việt Nam”. Nhà xuất bản Khoa học
xã hội.
11. Trần Duy Hải (2009), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với doanh
nghiệp viễn thông ở Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế trong điều
kiện phát triển và hội nhập”, Luận án tiến sĩ, Học viện Tài chính.
12. Phạm Thị Thanh Hòa (2012), “Cơ chế quản lý vốn Nhà nước đầu tư tại
doanh nghiệp ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ. Hà Nội.
13. Chu Xuân Lai (2006), “Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Dầu
khí Việt Nam theo định hướng Tập đoàn kinh tế”, Luận án tiến sĩ, Học
viện Tài chính.
14. Nguyễn Đăng Nam (2009), “Chính sách cơ chế quản lý vốn Nhà nước
tại các doanh nghiệp đến giai đoạn 2020”. Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp Bộ năm 2009, Bộ Tài chính, Hà Nội.
15. Nguyễn Xuân Nam (2006), “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối
với các Tổng công ty 91 phát triển theo mô hình Tập đoàn kinh doanh ở
Việt Nam”. Luận án Tiến sĩ. Hà Nội.
16. NXB Giáo dục Việt Nam (2017), “Báo cáo tài chính hợp nhất 2016”,
Hà Nội
17. NXB Giáo dục Việt Nam (2017), “Báo cáo thường niên 2016”, Hà Nội
18. NXB Giáo dục Việt Nam (2017), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2016,
triển khai công tác trọng tâm năm 2017”. Hà Nội.
19. NXB Giáo dục Việt Nam (2018), “Báo cáo tài chính hợp nhất 2017”, Hà Nội
20. NXB Giáo dục Việt Nam (2018), “Báo cáo thường niên 2017”, Hà Nội
21. NXB Giáo dục Việt Nam (2018), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2017,
triển khai công tác trọng tâm năm 2018”. Hà Nội.
22. NXB Giáo dục Việt Nam (2019), “Báo cáo tài chính hợp nhất 2018”,
Hà Nội
23. NXB Giáo dục Việt Nam (2019), “Báo cáo thường niên 2018”, Hà Nội
24. NXB Giáo dục Việt Nam (2019), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2018,
triển khai công tác trọng tâm năm 2019”. Hà Nội.
25. NXB Giáo dục Việt Nam (2020), “Báo cáo tài chính hợp nhất 2019”,
Hà Nội
26. NXB Giáo dục Việt Nam (2020), “Báo cáo thường niên 2019”, Hà Nội
27. NXB Giáo dục Việt Nam (2020), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2019,
triển khai công tác trọng tâm năm 2020”. Hà Nội.
28. NXB Giáo dục Việt Nam (2021), “Báo cáo tài chính hợp nhất 2020”,
Hà Nội
29. NXB Giáo dục Việt Nam (2021), “Báo cáo thường niên 2020”, Hà Nội
30. NXB Giáo dục Việt Nam (2021), “Báo cáo tổng kết công tác năm 2020,
triển khai công tác trọng tâm năm 2021”. Hà Nội.
31. Quốc Hội (2014), Luật số 68/2014/QH13, “Luật Doanh nghiệp”, Hà Nội
32. Quốc Hội (2014), Luật số 69/2014/QH13, “Luật quản lý, sử dụng vốn
nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp”, Hà Nội
33. Quốc Hội (2019), Luật số 39/2019/QH14, “Luật Đầu tư công”, Hà Nội
34. Quốc Hội (2020), Luật số 59/2020/QH14, “Luật Doanh nghiệp”, Hà Nội
35. Phạm Sĩ Thành (2006), “Con đường phát triển doanh nghiệp Nhà nước
Trung Quốc từ 1949 đến 2004 - Những vấn đề nhận thức”. Nhà xuất bản
Thế Giới, Hà Nội.
36. Phùng Thế Tính (2008), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong các
Tổng công ty Nhà nước theo mô hình Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam”.
Luận án Tiến sĩ, Hà Nội.
37. Phạm Quang Trung (2000), Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài
chính trong Tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ,
Hà Nội
38. Viện Adam Smith (2002), “Kinh nghiệm quốc tế về cải cách doanh
nghiệp nhà nước”, Báo cáo thuộc Dự án của Chính phủ Vuơng quốc Anh
tài trợ cho Chính phủ Việt Nam, Hà Nội
Tài liệu tiếng Anh
1. ACCA, (2010). “Improving public sector financial management in
developing countries and emerging economies”. The Association of
Chartered Certified Accountants
2. Ahmed I. H., Babar Z. B. and Kashif, R. (2010). “Financial Management
Practices and Their Impact on Organizational Performance”. World
Applied Sciences Journal, Vol. 9, No. 9, pp. 997- 1002.
3. Alchian, A. A., & Demsetz, H. (1972). “Production, information costs
and economic organization”. American Economic Review, Vol. 62.
4. Amaka, C. P. (2008). “The impact of internal control system on the
financial management of approach to enhance development and
fiduciary objectives”. World Bank.
5. Ashbaugh-Skaife, H., D. W. Collins, W. R. Kinney, Jr.: (2007). “The
Discovery and Reporting of Internal Control Deficiencies Prior to
SOX-Mandated Audits”. Journal of Accounting and Economics 44(1-
2), 166-192.
6. Baily, P., Farmer, D., Jessop, D. & Jones, D. (2005). “Purchasing
principles and management”. 9th edition. Harlow, England: Financial
Times Prentice Hall.
7. Bhimani, A. (2008) “Making corporate governance count: The fusion of
ethics and economic rationality”. Journal of Management and
Governance, Vol.12, No. 2
8. Kloha, P., Weissert, C. S., & Kleine, R. (2005). “Developing and testing
a new composite model to predict local fiscal distress”. Public
Administration Review, 65(3).
9. Kilo, M. R & Ngugi, K (2014). ”Effect of Public Financial Management
Reforms in the Effective Management of Public Funds in Kenya: A Case
Study of the National Treasury”, European Journal of Business
Management, 2(1).
10. Kothari, C. (2004). “Research Methodology: Methods & Techniques”,
2nd edition. New age International Publishers, New Delhi, India
11. Kung, F., Huang, C., & Cheng, C. (2013). “An Examination of the
Relationships among Budget Emphasis, Budget Planning Models and
Performance”, Management Decision, 51, 120-140.
12. Lawson, A. (2015). “Public Financial Management. Birmingham, UK:
GSDRC”, University of Birmingham
13. Mathiba, L. S. (2011). “Evaluation of Financial Management Practices
in the Department of Correctional Services”. Stellenbosch University,
March 2011.
14. Mwaura, J. (2011). “The effect of financial planning on the financial
performance of Automobile firms in Kenya”, University of Nairobi
15. Noore Alam, S., Dian Nastiti, and Nur Ana Sejati (2012). “Regional
Autonomy and Local Resource Mobilization in Eastern Indonesia:
Problems and Pitfalls of Fiscal Decentralization”. Asian Affairs: An
American Review Vol. 39, Issue. 1, 2012
16. Okongo G.A. (2015). “Factors Influencing the Implementation of
County Government Mandates in Kenya; a Case of Bungoma”.
University of Nairobi Ombuki, K., Arasa, R., Ngugi, P. & Muhwezi, and
M. (2014): Determinants of Procurement Regulatory Compliance by
Kenya Public Universities. Journal of Supply Chain Management.
Vol.10, No.6. pp. 132-134.
17. Padilla, A. (2002). “Can agency theory justify the regulation of insider
trading?” The Quarterly Journal of Austrian Economics, Vol.5, No.1
18. Polit, D.F. & Beck, C.T. (2003). “Key Concepts and Terms in Qualitative
and Quantitative Research”. Nursing research: principles and research
19. Rawi, A. (2007). “Capital Rules: The Construction of Global Finance:
Cambridge”. Harvard University Press
20. Saunders, M., Lewis, P. & Thornhill, A. (2012) “Research Methods for
Business Students” 6th edition, Pearson Education Limited
21. Shah, A. (2009). “Budgeting and budgetary institutions”. World Bank
Publications.
22. Stanton, A. (2009). “Decentralisation and Municipalities in South
Africa: An Analysis of The Mandate to Deliver Basic Services”.
University of KwaZulu-Natal, Pietermaritzburg
23. Ullah, A. & Pongquan, S. (2010). “Financial Resources Mobilization
Performance of Rural Local Government: Case Study of Three Union
Parishad in Bangladesh”. Asian Social Science, 6(11), 1-22.
24. Wanjara, S. (2015). “Influence of Internal Control System on the
Financial Performance of Kenya Power”. KCA University
PHỤ LỤC 1
Danh sách chuyên gia được phỏng vấn
TT Tên Học vị Chức danh - Nơi làm việc
1 Ngô Văn Thịnh Tiến sĩ Phó vụ trưởng Vụ KHTC - Bộ GD&ĐT
2 Đinh Minh Tùng Tiến sĩ Phó vụ trưởng Vụ KHTC - Bộ GD&ĐT
3 Cảnh Chí Dũng Tiến sĩ Phó vụ trưởng Vụ TCCB - Bộ GD&ĐT
Phó tổng Giám đốc, Tổng biên tập, Uỷ
4 Phan Xuân Thành Tiến sĩ viên Hội đồng thành viên – NXB Giáo
dục Việt Nam
Tổng Giám đốc – NXB Giáo dục Việt 5 Hoàng Lê Bách Thạc sĩ Nam
Kế toán trưởng – NXB Giáo dục Việt 6 Phạm Gia Thạch Thạc Sĩ Nam
Trưởng Ban KHTC – NXB Giáo dục Việt 7 Vũ Gia Hưng Thạc sĩ Nam
Nguyễn Thị Thu Phó Trưởng Ban KHTC – NXB Giáo dục 8 Cử nhân Hồng Việt Nam
9 Trương Thanh Thuỷ Cử nhân Kế toán trưởng - NXBGD Tại Hà Nội
10 Nguyễn Thanh Hữu Cử nhân Kế toán trưởng - NXBGD Tại TP. HCM
11 Hồ Phú Cường Cử nhân Kế toán trưởng - NXBGD Tại Đà Nẵng
12 Nguyễn Thị Thuỳ Cử nhân Kê toán trưởng – NXBGD Tại Cần Thơ
13 Nguyễn Thị Huyền Cử nhân Kế toán trưởng - Tạp chí THTT
14 Hoàng Kim Phượng Cử nhân Kế toán trưởng - Tạp chí VHTT
15 Nguyễn Hải Anh Cử nhân Kế toán trưởng - Tạp chí Toán Tuổi thơ
Nguyễn Thị Trà Kế toán tổng hợp – NXB Giáo dục Việt 16 Cử nhân Giang Nam
Kế toán trưởng - Viện Nghiên cứu sách 17 Nguyễn Minh Thanh Cử nhân và Học liệu giáo dục
PHỤ LỤC 2
PHIẾU KHẢO SÁT
Về quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Tôi đang tiến hành nghiên cứu về “Quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam”, kính mong anh/ chị dành ít thời gian trả lời một số câu hỏi
trong phiếu phỏng vấn này. Những ý kiến của anh/ chị là những đóng góp vô
cùng quý giá đối với đề tài nghiên cứu của tôi.
A. Thông tin chung
1. Họ và tên……………………………… (không bắt buộc). Nam Nữ
2. Tuổi: < 30 30-40 41-50 >51
3. Đơn vị công tác:
………………………………………………………………………
4. Chức danh đảm nhận của Anh/chị
……………………………………………………………
5. Thời gian làm việc tại đơn vị của Anh/chị cho đến nay là : ……………. Năm
6. Trình độ đào tạo cao nhất của Anh/chị?
Cao đẳng Đại học Thạc sỹ Tiến sĩ
7. Anh/ chị có hài lòng với công việc được giao thực hiện ở cơ quan không:
Rất hài lòng Hài lòng Bình thường Chưa hài lòng Rất tệ
8. Anh/chị đánh giá thế nào về quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam?
- Rất tốt cho triển vọng của trường sau này
- Tốt
- Bình thường
- Không tốt, có nhiều khó khan
- Ý kiến khác
(………………………………………………..)
B. Nội dung khảo sát
Câu 1: Theo Anh (Chị), quy định về quản lý tài chính được áp dụng tại Nhà
xuất bản Giáo dục Việt Nam cần bổ sung, điều chỉnh những vấn đề gì?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 2: Theo Anh (Chị), kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam đã được xây dựng và thực hiện hợp lý chưa?
Xây dựng kế hoạch
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Thực hiện kế hoạch
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Quyết toán tài chính
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 3: Theo Anh (Chị), quản lý bảo toàn và phát triển vốn tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào
trước tiên? Tại sao?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 4: Theo Anh (Chị), quản lý huy động vốn tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước tiên?
Tại sao?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 5: Theo Anh (Chị), quản lý sử dụng tài sản tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước tiên?
Tại sao?
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Các đơn vị trực thuộc
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 6: Theo Anh (Chị), quản lý đầu tư vốn ra ngoài Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước
tiên? Tại sao?
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Câu 7: Theo Anh (Chị), quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết
vấn đề nào trước tiên? Tại sao?
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Các đơn vị trực thuộc
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Chân thành cám ơn Anh (Chị) đã tham gia khảo sát giúp đề tài được hoàn
thiện!
PHỤ LỤC 3
KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Khảo sát chuyên sâu được thực hiện với 16 chuyên gia, chuyên viên làm
việc và có kinh nghiệm, hiểu biết chuyên sâu về tình hình tài chính và quản lý
tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Thông qua phỏng vấn chuyên
sâu, tác giả tổng hợp ý kiến thu được như sau:
A. Thông tin chung
Phỏng vấn được thực hiện với 3 chuyên gia công tác bên ngoài NXB Giáo
dục Việt Nam, 13 chuyên gia công tác tại NXB Giáo dục Việt Nam với kinh
nghiệm làm việc từ 7 năm trở lên.
Giới tính: 10/16 nam, 6/16 nữ.
Trình độ: 4/16 tiến sĩ, 3/16 thạc sĩ, 9/16 cử nhân.
B. Nội dung khảo sát cụ thể về quản lý tài chính tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam
Câu 1: Theo Anh (Chị), quy định về quản lý tài chính được áp dụng tại
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần bổ sung, điều chỉnh những vấn đề gì?
+ Quy định về quản lý tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam hiện nay đã
được xây dựng đầy đủ, chặt chẽ, bám sát các quy định hiện hành của Nhà nước,
không cần bổ sung hay điều chỉnh thêm. Tuy nhiên do các quy định, chính sách
của Nhà nước được cập nhật, thay đổi thường xuyên và yêu cầu thực tiễn nên
NXB Giáo dục Việt Nam cần thường xuyên cập nhật các thay đổi của chính
sách pháp luật để bổ sung vào quy chế quản lý tài chính cho phù hợp.
+ Mặc dù trong Quy chế quản lý tài chính của NXB Giáo dục Việt Nam đã
nêu sau ngày Quy chế có hiệu lực, nếu nhà nước ban hành các văn bản pháp
luật mới có điểm khác với các quy định trong Quy chế này thì thực hiện theo
văn bản pháp luật mới ban hành đó, tuy nhiên, để có cơ sở, căn cứ rõ ràng chi
tiết để thực hiện thì Hội đồng thành viên NXB Giáo dục Việt Nam nên báo cáo,
đề xuất để sửa đổi, bổ sung Quy chế cho cập nhật và phù hợp với các quy định
mới ban hành. Hiện nay quy định về chuyển nhượng vốn chưa cập nhật theo
quy định tại Nghị định 140/NĐ-CP ngày 30/11/2020, chế độ báo cáo công bố
thông tin chưa cập nhật theo Thông tư 36/2021/TT-BTC ngày 26/5/2021.
+ Một số nội dung quy định tại các quy chế về quản lý tài chính, tài sản đã
không còn phù hợp do các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được
sửa đổi, bổ sung, cụ thể: Quy chế Quản lý tài chính: điểm b khoản 5 Điều 6 -
Đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, khoản 2 Điều 14 - Thanh lý nhượng bán tài
sản cố định; Quy chế quản lý nợ: điểm a khoản 2 Điều 5: Trách nhiệm trong
việc quản lý nợ phải thu, khoản 2 Điều 4: Nguyên tắc về quản lý và xử lý nợ.
Câu 2: Theo Anh (Chị), kế hoạch tài chính tại Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam đã được xây dựng và thực hiện hợp lý chưa?
Về cơ bản, quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch tài chính của NXB
Giáo dục Việt Nam được triển khai hợp lý. Hàng năm, NXB Giáo dục Việt
Nam có tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm để công việc này càng được hoàn
thiện hơn trong các kỳ tiếp theo.
Xây dựng kế hoạch
+ Việc xây dựng kế hoạch tài chính năm sau tại NXB Giáo dục Việt Nam
được xây dựng vào thời điểm trước ngày 31/7 của năm thực hiện. Thời điểm
này chưa xác định, đánh giá cụ thể được tình hình sản xuất kinh doanh của năm
thực hiện, dẫn đến việc xây dựng kế hoạch về doanh thu, chi phí cho năm sau
gặp nhiều khó khăn, có thể chưa sát được với thực tế. Các cơ quan quản lý nên
nghiên cứu và xem xét lại thời điểm lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho các
doanh nghiệp để công tác lập kế hoạch được đầy đủ và sát với thực tế kết quả
hoạt động của các doanh nghiệp.
+ Căn cứ theo các định hướng. Chính sách hiện hành, cùng với việc dự báo
sự biến động kinh tế xã hội trong thời gian tiếp theo, NXB Giáo dục Việt Nam
đã có những nhận định để tính toán xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp.
Tuy nhiên, Kế hoạch của NXB Giáo dục Việt Nam được tạo nên từ tổng thể kế
hoạch các đơn vị, các bộ phận chuyên môn. Hiện nay còn tồn tại tình trạng kế
hoạch kinh doanh của các đơn vị xây dựng vẫn mang tính chất thủ tục, an toàn,
nghĩa là xây dựng ít hơn so với dự báo thực tế về doanh thu, và xây dựng nhiều
hơn so với dự báo thực tế về chi phí. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch
doanh thu bán hàng, doanh thu tài chính nói riêng và kết quả kinh doanh nói
chung của NXB Giáo dục Việt Nam. Vì vậy, NXB Giáo dục Việt Nam cần có
các đánh giá về năng lực xây dựng kế hoạch kinh doanh của các đơn vị thành
viên, từ đó đưa ra yêu cầu và giải pháp để có thể tổng hợp được bản Kế hoạch
kinh doanh bám sát thực tế nhất.
+ Trong 2 năm trở lại đây, thị trường có quá nhiều biến động do ảnh hưởng
nặng nề của dịch bệnh Covid-19. Các em học sinh phải ở nhà học online, mặc
dù vẫn dùng SGK nhưng NXB Giáo dục Việt Nam và các đơn vị phải mất thêm
rất nhiều chi phí liên quan đến vận chuyển, test covid cho lái xe, chi phí lưu
kho, chi phí 3 tại chỗ trong thời gian phong tỏa. Ngoài ra, covid cũng ảnh hưởng
đến tình hình tài chính của rất nhiều doanh nghiệp, và các công ty hiện thuê cơ
sở vật chất của NXB Giáo dục Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó. NXB
Giáo dục Việt Nam đã phải giảm trừ khá nhiều tiền cho thuê CSVC để hỗ trợ
các đơn vị này, với mục tiêu hợp tác lâu dài và ổn định. Vì vậy, công tác xây
dựng kế hoạch phải có những dự báo, tiên lượng các trường hợp có thể xảy ra
trong tương lai, dự phòng các chi phí có thể phát sinh, từ đó xây dựng kế hoạch
kinh doanh hợp lý và sát thực.
+ Trong khâu xây dựng kế hoạch, hiện nay khó khăn lớn là việc xây dựng
giá SGK mới. Mặc dù SGK không phải mặt hàng thuộc diện Nhà nước quản lý
giá nhưng lại ảnh hưởng rất nhiều đến dư luận xã hội khi đối tượng tiêu dùng
phủ khắp và liên quan hầu hết các hộ gia đình trên cả nước. Chính vì vậy, Cục
quản lý giá - Bộ Tài chính và Bộ GD&ĐT rất sát sao trong việc kiểm soát chi
phí giá thành SGK được kê khai, việc giá bìa SGK đã công bố và áp dụng thì
rất khó thay đổi dù các yếu tố cấu thành có thể tăng phi mã (ví dụ giá SGK hiện
hành giữ nguyên từ năm 2011 đến năm 2019 mới được thay đổi dù mức lương
cơ sở tăng hàng năm, chi phí vận chuyển, xăng xe, công in, vật tư ... đều tăng
phi mã trong vòng 10 năm). Điều này cho thấy công tác xây dựng giá SGK mới
là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng sống còn đến kế hoạch kinh doanh hàng năm
của NXB Giáo dục Việt Nam. Vì vậy NXB Giáo dục Việt Nam cần hết sức cẩn
trọng trong công tác này, để có được nguồn thu đủ bù đắp chi phí, mang lại
hiệu quả kinh tế cho NXB Giáo dục Việt Nam nhưng vẫn đảm bảo hài hòa lợi
ích của người tiêu dùng.
Thực hiện kế hoạch
+ NXB Giáo dục Việt Nam quán triệt đến từng cán bộ công nhân viên, Lãnh
đạo phụ trách chuyên môn, phụ trách phòng ban thực hiện nghiêm túc, phấn
đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đã đề ra. Định kỳ hàng tháng, hàng quý, các cán bộ
phụ trách phòng ban phải có báo cáo đánh giá các công việc đã triển khai, kết
quả đã đạt được, so sánh với cùng kỳ năm trước và phân tích với tỷ lệ đạt được
so với kế hoạch để Lãnh đạo nắm được bức tranh tổng thể tại thời điểm đó, đưa
ra các giải pháp chủ trương xử lý kịp thời.
+ Căn cứ trên kế hoạch đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt, các đơn vị và cá
nhân đã nghiêm túc thực hiện. NXB Giáo dục Việt Nam kiểm soát và có đánh
giá ghi nhận đối với các đơn vị và các bộ phận chuyên môn về kết quả thực
hiện, tuy nhiên mức độ đánh giá chỉ mang tính chất khuyến khích các đơn vị,
bộ phận có cái kết quả cao, đạt và vượt kế hoạch, chứ chưa có chế tài đối với
các bộ phận chưa hoàn thành theo kế hoạch. Vì vậy, NXB Giáo dục Việt Nam
cần cải tiến khâu đánh giá, khen thưởng để các đơn vị, cá nhân có động lực
phấn đấu và phát huy.
+ Các đơn vị và bộ phận chuyên môn luôn thực hiện đầy đủ và nghiêm túc
trong khâu triển khai kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, do chưa quen bước sang nền
kinh tế cạnh tranh nên khâu phục vụ khách hàng vẫn chưa thực sự chuyên
nghiệp, vẫn còn mang tính chất bao cấp. NXB Giáo dục Việt Nam cần cải tiến
hơn nữa các thủ tục để quá trình phục vụ khách hàng gọn nhẹ, giản tiện và mang
lại lợi ích cho khách hàng.
+ Căn cứ trên kế hoạch đề ra, các đơn vị và cá nhân đã nghiêm túc thực
hiện. NXB Giáo dục Việt Nam kiểm soát và có đánh giá ghi nhận đối với các
đơn vị và các bộ phận chuyên môn về kết quả thực hiện, tuy nhiên NXB Giáo
dục Việt Nam cần cải tiến khâu đánh giá, khen thưởng để các đơn vị, cá nhân
có động lực phấn đấu.
+ Cần cải tiến cách thức hoạt động của các bộ phận chuyên môn thông qua
việc đánh giá mức độ lương thưởng để cải thiện tình trạng làm việc còn bao
cấp, ì trệ, thiếu trách nhiệm của một số cá nhân, phòng ban; từ đó nâng cao
được hiệu quả thực hiện kế hoạch.
+ Căn cứ vào kế hoạch đã được xây dựng, các bộ phận chuyên môn cần
hoạch định các công việc cụ thể cần triển khai trong thời gian tiếp theo, dự trù
nhân sự để có những đề xuất hợp lý về việc tận dụng điều chuyển nhân sự sẵn
có, bổ sung tuyển dụng các vị trí cần thiết để có thể đạt được hiệu quả cao nhất
đối với công việc được giao.
+ Do giai đoạn này đã bước vào giai đoạn cạnh tranh trên thị trường SGK,
NXB Giáo dục Việt Nam cần có những chính sách khen thưởng và chế tài
thưởng phạt công minh để động viên những đơn vị làm tốt và phê bình những
bộ phận yếu kém, nhằm mục tiêu cao nhất là đạt hiệu quả kinh doanh, mang lại
lương thưởng và lợi ích cho cán bộ công nhân viên.
Quyết toán tài chính
+ Công việc quyết toán tài chính thực hiện đúng quy trình, đảm bảo theo
đúng quy định hiện hành của pháp luật.
+ Công tác quyết toán tài chính cần được quản lý theo dõi sát sao, tránh để
xảy ra sai sót do vô tình, do yếu kém về năng lực chuyên môn, ảnh hưởng đến
kết quả kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp.
+ Công việc này được thực hiện nghiêm túc, kịp thời, được kiểm soát bởi
rất nhiều bộ phận chuyên môn như Ban Kế hoạch Tài chính, đơn vị kiểm toán
nội bộ (được NXB Giáo dục Việt Nam thuê hàng năm). Đề nghị NXB Giáo dục
Việt Nam nâng cao hơn nữa vai trò kiểm soát của phòng KSNB - thuộc Ban
Kiểm soát và pháp chế để công tác quyết toán tài chính đảm bảo đúng quy định,
tránh các sai sót xảy ra.
Câu 3: Theo Anh (Chị), quản lý bảo toàn và phát triển vốn tại Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào
trước tiên? Tại sao?
+ Về cơ bản, công tác bảo toàn và phát triển vốn tại NXB Giáo dục Việt
Nam được thực hiện tốt. Trong các năm vừa qua, NXB Giáo dục Việt Nam đều
được Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính đánh giá tốt, xếp loại A và người
quản lý doanh nghiệp hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên, để phát triển vốn
hơn nữa thì NXB Giáo dục Việt Nam cần có các giải pháp đồng bộ để tiết kiệm
hơn về chi phí, tăng năng suất lao động qua hệ thống đánh giá KPI, từ đó sẽ
tiếp tục bảo toàn và phát triển vốn hơn nữa.
+ Tại thời điểm hiện tại, NXB Giáo dục Việt Nam vẫn đảm bảo vốn được
bảo toàn và phát triển thể hiện qua tình hình vốn chủ sở hữu tăng dần qua từng
năm. Tuy nhiên, nhu cầu vốn của NXB Giáo dục Việt Nam hiện ngày một lớn
vì phải phục vụ cho làm SGK chương trình phổ thông mới nhưng NXB Giáo
dục Việt Nam vẫn chưa thể thực hiện tăng vốn điều lệ. NXB Giáo dục Việt
Nam cần phải tích cực hơn nữa trong vấn đề xin Bộ chủ quản phê duyệt tăng
vốn điều lệ.
+ Qua xem xét số liệu về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, các chỉ số về
khả năng sinh lời, tôi nhận định công tác quản lý bảo toàn và phát triển vốn tại
NXB Giáo dục Việt Nam được đánh giá ở mức tốt, đảm bảo an toàn đối với 1
công ty có 100% vốn của nhà nước. Mọi hoạt động đều được thực hiện công khai,
minh bạch, kinh doanh hiệu quả và mang nguồn lợi về cho ngân sách nhà nước.
+ NXB Giáo dục Việt Nam cần xem xét, đánh giá lại, tái cơ cấu danh mục
đầu tư để lựa chọn tập trung vào các mảng đầu tư trọng yếu, có hiệu quả, mang
lại lợi ích cho doanh nghiệp và nhà nước.
+ Căn cứ trên dữ liệu thực tế các năm, công tác bảo toàn và phát triển vốn
tại NXB Giáo dục Việt Nam đã được thực hiện tốt và có hiệu quả. Để nâng cao
và phát huy hơn nữa công tác này, NXB Giáo dục Việt Nam cần chú trọng việc
quản lý tài sản, mua bảo hiểm tài sản, xử lý tổn thất tài sản, nợ không có khả
năng thu hồi.
Câu 4: Theo Anh (Chị), quản lý huy động vốn tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước
tiên? Tại sao?
+ Công tác huy động vốn tại NXB Giáo dục Việt Nam được thực hiện đầy
đủ theo quy định: Bộ phận tham mưu đề xuất hạn mức tín dụng tại từng ngân
hàng và trình Hội đồng thành viên xem xét thông qua. Các ngân hàng có giao
dịch với NXB Giáo dục Việt Nam đều là các ngân hàng lớn, có vị thế trên thị
trường (Vietinbank, Vietcombank, BIDV), lãi suất huy động vốn của NXB
Giáo dục Việt Nam luôn được hưởng mức ưu đãi. Tuy nhiên, công tác huy động
vốn tại NXB Giáo dục Việt Nam còn gặp một số khó khăn nhất định như sự
phối hợp của các tổ chức tín dụng, việc hoàn thiện hồ sơ vay vốn tại các đơn vị
còn chưa kịp thời, đôi khi còn có sai sót nhỏ, không đáng có dẫn đến việc giải
ngân còn chậm trễ, chưa đáp ứng được về thời hạn và yêu cầu đặt ra.
+ Với cơ cấu vốn điều lệ là 596 tỷ đồng, riêng đầu tư tài chính vào 40 công
ty cổ phần đã là 491,7 tỷ, thì nhu cầu vốn của NXB Giáo dục Việt Nam phục
vụ cho các hoạt động khác đang bị thiếu hụt trầm trọng, do đó trong những năm
vừa qua NXB Giáo dục Việt Nam đã phải thực hiện vay ngân hàng (khoảng
hơn 800 tỷ/năm) và trả 1 khoản tiền lãi vay ngân hàng không nhỏ, tương ứng
20 - 28 tỷ mỗi năm. Vì vậy, trước hết NXB Giáo dục Việt Nam cần bổ sung
vốn điều lệ bằng việc chuyển Quỹ Đầu tư phát triển sang, ngoài ra, để đảm bảo
dòng tiền đầy đủ, NXB Giáo dục Việt Nam cần sát sao hơn nữa công tác thu
hồi công nợ, xây dựng các chính sách bán hàng và thu hồi công nợ mang lại lợi
ích tối đa cho NXB Giáo dục Việt Nam nhưng vẫn phải đảm bảo hài hoà lợi
ích của các bên.
Việc huy động vốn ngắn hạn phục vụ SXKD của NXB Giáo dục Việt Nam
nhiều năm gần đây nhận được sự cộng tác, hỗ trợ rất tốt từ nhiều tổ chức tín
dụng. NXB Giáo dục Việt Nam nhận được ưu đãi về thời hạn, lãi suất vay vốn
và được đánh giá là khách hàng có mức độ tín nhiệm cao trên bảng xếp hạng
tín dụng của các Ngân hàng. Tuy nhiên do vốn vay chiếm tỉ trọng cao trong cơ
cấu vốn lưu động nên các chính sách của ngân hàng (lãi suất, thời hạn) ảnh
hưởng lớn tới kết quả sản xuất kinh doanh của NXB Giáo dục Việt Nam. Để
giải quyết vấn đề này, NXB Giáo dục Việt Nam cần tái cơ cấu danh mục đầu
tư để tăng nguồn vốn tự có, giảm tỉ trọng vay vốn để giảm bớt sự phụ thuộc vào
các nguồn vốn vay, vốn huy động. Các đơn vị trực thuộc NXB Giáo dục Việt
Nam cần chủ động trong công tác tiết giảm chi phí, kiểm soát chặt chẽ việc thu
- chi tại đơn vị, chuyển nguồn tiền nhàn rỗi về cơ quan văn phòng công ty mẹ
để tập trung nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm tỉ trọng
vốn vay.
+ Giai đoạn trước năm 2016, NXB Giáo dục Việt Nam huy động vốn chủ
đạo tại 3 - 4 ngân hàng và chỉ sử dụng hình thức vay ngắn, dài hạn và để dòng
tiền nhàn rỗi ở tài sản tiền gửi không kì hạn vì vậy NXB Giáo dục Việt Nam
phải chịu gánh nặng lãi suất vay tương đối lớn. Hiện tại, NXB Giáo dục Việt
Nam huy động vốn tại nhiều ngân hàng TMCP lớn hơn, sử dụng nhiều hình
thức vay hơn (vay ngắn, dài hạn và vay thấu chi) để phục vụ nhu cầu sản xuất
kinh doanh đảm bảo đúng quy định, thẩm quyền theo Quy chế quản lí tài chính
của NXB Giáo dục Việt Nam đã được Bộ GD&ĐT phê duyệt. Để tăng hiệu quả
sử dụng vốn vay, NXB Giáo dục Việt Nam thực hiện nguyên tắc chỉ thực hiện
vay số tiền vốn, tiền phải trả thiếu hụt sau khi đã nỗ lực, tận dụng tối đa nguồn
tiền hiện có, đã tích cực thu hồi công nợ giảm thiểu việc bị chiếm dụng vốn,
thưởng chiết khấu cho khách hàng trả tiền sớm … Đồng thời, NXB Giáo dục
Việt Nam luôn đàm phán với ngân hàng để được hưởng mức lãi suất vay thấp
nhất có thể thông qua việc cam kết về uy tín, thuyết phục về mức tín nhiệm
của quá trình, lịch sử trả nợ để luôn được các tổ chức tín dụng tin tưởng, đánh
giá tốt và dành nhiều ưu đãi lâu dài. Tuy nhiên, NXB Giáo dục Việt Nam vẫn
cần phải quản lý chặt hơn nữa nguồn tiền nhàn rỗi của đơn vị hạch toán phụ
thuộc để chuyển về Cơ quan văn phòng mẹ để sử dụng nguồn tiền đó hiệu quả
hơn nữa.
+ Nguồn tiền thiếu hụt trong lưu thông là tình trạng thường xảy ra tại các
doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp phát sinh nhiều giao dịch lớn như
NXB Giáo dục Việt Nam. Hiện nay, NXB Giáo dục Việt Nam phải vay ngân
hàng để thanh toán tiền mua giấy, tiền công in, vật tư (thùng carton, tem chống
giả), thực hiện đề án biên soạn SGK mới, chi sửa chữa và cải tạo văn phòng
làm việc, thanh toán lương, bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên và các khoản
chi tiêu thường xuyên khác, trong đó riêng tiền giấy, nguyên vật liệu chiếm
khoảng 40%. Để giảm áp lực về thời hạn trả nợ và lãi suất, NXB Giáo dục Việt
Nam có thể thống nhất với các đơn vị cung ứng giấy để giãn thời gian thanh
toán công nợ.
+ Về việc huy động vốn của NXB Giáo dục Việt Nam các năm qua đều
được thực hiện tốt, công khai và minh bạch. Thực tế cho thấy thời điểm đầu
năm (quý I và đầu quý II) là thời điểm rất áp lực trong việc trả nợ vay ngân
hàng do đây là thời điểm phải nộp các khoản thuế, các khoản nộp ngân sách
nhà nước, thanh toán vật tư, công in, trong khi đó thời điểm này chưa có nguồn
thu từ doanh thu bán SGK do chưa bán sách. Vì vậy, để giảm áp lực tại giai
đoạn này, NXB Giáo dục Việt Nam cần có thêm các chính sách ưu đãi để huy
động nguồn tiền nhàn rỗi từ các đơn vị đầu mối phát hành (khi các đơn vị này
chưa đến hạn thanh toán), chính sách này có thể bao gồm lãi suất trả trước hạn
cộng với các chính sách ưu tiên liên quan đến việc cung cấp hàng hóa sớm,
đồng bộ, ưu đãi đối với sản lượng tồn kho ....
Câu 5: Theo Anh (Chị), quản lý sử dụng tài sản tại Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước
tiên? Tại sao?
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
+ NXB Giáo dục Việt Nam đã ban hành quy chế quản lý tài sản áp dụng
cho Cơ quan văn phòng, các đơn vị trực thuộc và Các công ty con. Tuy nhiên
quy định đã ban hành từ nãm 2018, NXB Giáo dục Việt Nam cập nhật và có
quy định về quản lý tài sản mới đáp ứng đầy đủ quy định hiện hành
+ NXB Giáo dục Việt Nam đã rà soát các cơ sở vật chất kinh doanh, cho
thuê. NXB Giáo dục Việt Nam hiện đang sử dụng, khai thác tài sản theo đúng
quy định của Luật doanh nghiệp, Quy chế quản lý tài chính của NXB Giáo dục
Việt Nam số 1068/QĐ-BGDĐT ngày 22/3/2018. Bên cạnh đó, NXB Giáo dục
Việt Nam đã lên kế hoạch làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển
đổi chủ sở hữu, mục đích sử dụng đất của các cơ sở theo luật đất đai.
+ Tình hình quản lý sử dụng tài sản tại NXB Giáo dục Việt Nam được thực
hiện tốt, đúng quy định hiện hành. Tuy nhiên để nâng cao hiệu quả hơn nữa thì
NXB Giáo dục Việt Nam cần rà soát, sắp xếp, bố trí việc sử dụng tài sản, đặc
biệt là nhà đất, xe cộ .. phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận
chuyên môn, tránh tình trạng mua sắm lãng phí, vượt định mức, vượt tiêu
chuẩn. NXB Giáo dục Việt Nam cũng cần quản lý sát sao hơn công tác này đối
với các đơn vị trực thuộc.
+ Để công tác quản lý sử dụng tài sản tại NXB Giáo dục Việt Nam được
thực hiện tốt như hiện nay, NXB Giáo dục Việt Nam đã ban hành các quy định
nội bộ căn cứ theo nhu cầu năng lực thực tế, căn cứ các văn bản quy định của
Nhà nước. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa công tác này thì NXB Giáo dục
Việt Nam cần đổi mới cách thức quản lý, giao nguồn kinh phí đến từng bộ phận
chuyên môn để tự chịu trách nhiệm mua sắm, tự chịu trách nhiệm thực hiện,,
được hưởng lợi nhuận từ phần tiết kiệm chi phí. Từ đó sẽ tránh được các trường
hợp mua sắm lãng phí không cần thiết.
Các đơn vị trực thuộc
+ Tình hình quản lý sử dụng tài sản tại các đơn vị trực thuộc được triển
khai tốt, tuy nhiên cũng giống như các bộ phận chuyên môn trên văn phòng,
các phòng ban tại đơn vị trực thuộc cần chủ động hơn nữa trong việc báo cáo
và tham mưu, để tránh rủi ro cũng như đạt hiệu quả cao nhất trong công tác
quản lý.
+ Việc quản lý sử dụng tài sản tại các đơn vị trực thuộc được triển khai tốt,
nghiêm túc theo đúng quy định của NXB Giáo dục Việt Nam, tuy nhiên cũng
như trên bộ phận văn phòng NXB Giáo dục Việt Nam, các đơn vị trực thuộc có
thể giao nguồn kinh phí đến các phòng ban chuyên môn để họ tự thu, tự chi,
nhằm giảm thiểu tối đa những sự mua sắm cần thiết.
Câu 6: Theo Anh (Chị), quản lý đầu tư vốn ra ngoài Nhà xuất bản Giáo
dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải quyết vấn đề nào trước
tiên? Tại sao?
+ Hiện nay, công tác quản lý đầu tư vốn ra ngoài NXB Giáo dục Việt Nam
còn 1 số bất cập. Mặc dù về tổng thể, hàng năm số cổ tức NXB Giáo dục Việt
Nam nhận được từ 38-41 tỷ/ tổng số vốn đầu tư khoảng 491,7 tỷ, tức là tỷ suất
cao hơn lãi gửi tiết kiệm ngân hàng. Tuy nhiên có một số đơn vị kinh doanh
không hiệu quả, không chi trả cổ tức. Người đại diện vốn của NXB Giáo dục
Việt Nam tại đơn vị vẫn còn buông lỏng, chưa theo sát quá trình hoạt động của
đơn vị để đưa ra những tham mưu, cảnh báo cho Lãnh đạo NXB Giáo dục Việt
Nam. Trước tiên, NXB Giáo dục Việt Nam cần cơ cấu lại danh mục đầu tư,
những đơn vị nào có nguy cơ rủi ro về hiệu quả như kinh doanh yếu kém trong
nhiều năm, không trả cổ tức nhiều năm liền, đơn vị có các cổ đông ngoài mua
để thâu tóm và chuyển đổi ngành nghề kinh doanh phục vụ lợi ích nhóm …
NXB Giáo dục Việt Nam cần thoái vốn tại các đơn vị này để thu hồi vốn, lấy
tiền về thực hiện cho các mảng kinh doanh khác hiệu quả hơn.
+ Do tác động của nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan nên tình hình
hoạt động SXKD của một số đơn vị thành viên (công ty con, công ty liên kết)
của NXB Giáo dục Việt Nam gần đây chưa đạt được kết quả mong muốn. Để
nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của các đơn vị này, NXB Giáo dục Việt
Nam cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nghiên cứu vị thế và điểm
mạnh-yếu của từng đơn vị để đưa ra giải pháp kịp thời, thoái vốn tại các đơn vị
kinh doanh không hiệu quả hoặc có biện pháp đổi mới, tái cơ cấu toàn diện các
phương diện: nhân sự - định hướng – phương pháp sản xuất – kinh doanh của
từng đơn vị.
+ Hiện tại, NXB Giáo dục Việt Nam quản lý vốn đầu tư ra ngoài thông qua
nhóm người đại diện vốn trong khi đó người đại diện vốn chính lại không trực
tiếp làm việc tại Công ty, họ quản lý thông qua các cuộc họp HĐQT, vì vậy,
các thông tin chuyển về NXB Giáo dục Việt Nam hiện vẫn chưa đáp ứng được
các tiêu chí kịp thời, khi NXB Giáo dục Việt Nam biết được các thông tin đó
thì thời gian xử lý không còn nhiều. Đồng thời, NXB Giáo dục Việt Nam chưa
có quy chế chi thưởng – phạt đối với Người đại diện vốn do đó không nâng cao
được trách nhiệm của Người đại diện vốn trong công tác quản lý của mình.
+ Tình hình quản lý đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp của NXB Giáo dục
Việt Nam khá tốt tại thời điểm hiện nay nhưng tiềm tàng nhiều rủi ro trong
tương lai. Đối với các đơn vị mà NXB Giáo dục Việt Nam có tỷ lệ góp vốn, có
quyền quyết định, thì đều nằm trong hệ thống kinh doanh SGD. Tuy nhiên có
một số đơn vị thì tỷ lệ NXB Giáo dục Việt Nam góp vốn khá thấp, không đủ
quyền phủ quyết, không tham gia vào Hội đồng quản trị thì có rất ít tiếng nói
đối với quyền lợi cổ đông của mình. Hiện nay, có một số đơn vị bị các cá
nhân thâu tóm và thay đổi ngành nghề kinh doanh, NXB Giáo dục Việt Nam
cần phân loại và thoái vốn tại các đơn vị này để bảo toàn vốn, đặc biệt với
các đơn vị không trả cổ tức hoặc có dấu hiệu cổ tức giảm dần từ khi thay đổi
cơ cấu cổ đông.
Câu 7: Theo Anh (Chị), quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi
nhuận Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam còn vấn đề gì chưa tốt và cần giải
quyết vấn đề nào trước tiên? Tại sao?
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
+ Việc quản lý doanh thu, chi phí tại NXB Giáo dục Việt Nam được thực
hiện tương đối đầy đủ, đáp ứng quy định hiện hành. Tuy nhiên, việc phân phối
lợi nhuận tại NXB Giáo dục Việt Nam gặp nhiều khó khăn do việc xếp loại
doanh nghiệp từ Bộ Giáo dục và Đào tạo còn chậm trễ, chưa kịp thời.
+ Việc phân phối lợi nhuận của NXB Giáo dục Việt Nam hàng năm còn
chưa kịp thời, nguyên nhân dẫn tới sự chậm trễ này là do việc phân phối lợi
nhuận phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và việc đánh giá
xếp loại của các cơ quan chủ quản (Bộ Giáo dục và Đào tạo & Bộ Tài chính).
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, việc đánh giá xếp loại hàng năm thường bị
kéo dài, NXB Giáo dục Việt Nam không có đủ căn cứ để thực hiện phân phối
lợi nhuận và trích lập các quỹ theo quy định.
Các đơn vị trực thuộc
+ Đây là các đơn vị ghi nhận trực tiếp các khoản doanh thu lớn của NXB
Giáo dục Việt Nam, các đơn vị trực thuộc đã thực hiện tốt về việc quản lý doanh
thu chi phí. Các đơn vị đều cập nhật và nghiêm túc áp dụng các quy định chính
sách của NXB Giáo dục Việt Nam liên quan đến vấn đề ghi nhận doanh thu và
chi trả chi phí, tạo sự đồng bộ và nhất quán trong hệ thống.
+ Các đơn vị trực thuộc cần chủ động trong công tác tiết giảm chi phí, kiểm
soát chặt chẽ việc thu – chi tại đơn vị, chuyển nguồn tiền nhàn rỗi về cơ quan
văn phòng công ty mẹ để tập trung nguồn lực phục vụ hoạt động sản xuất kinh
doanh, giảm tỉ trọng vốn vay.
+ Các đơn vị hạch toán phụ thuộc (NXB Giáo dục tại các miền) cần chủ
động hơn trong công tác phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tại đơn vị. Định kỳ cần chủ động thống kê, báo cáo kết quả hoạt động
SXKD theo mảng hoạt động (sản xuất kinh doanh SGK, hoạt động quản lý xuất
bản, hoạt động kinh doanh bất động sản, hoạt động khác….), và hiệu quả hoạt
động theo từng loại sản phẩm (SGK, STK, từng công trình ….) để có ý kiến
tham mưu, đề xuất với Lãnh đạo các vấn đề và giải pháp khắc phục để nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
PHỤ LỤC 4
BẢNG TỔNG HỢP TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH 2016-2021
Năm 2016
Năm 2017
Năm 2018
Năm 2019
Năm 2020
Năm 2021
Nội dung
Thực hiện
Kế hoạch
Thực hiện
Kế hoạch
Thực hiện
Kế hoạch
Thực hiện
Kế hoạch
Thực hiện
Kế hoạch
Thực hiện
Kế hoạch
1,147,447,847,102
1,050,000,000,000
1,203,119,304,345
1,100,000,000,000
1,233,698,916,952
1,173,000,000,000
1,482,584,504,654
1,406,000,000,000
1,370,362,704,071
1,294,604,222,000
1,828,264,574,928
1,386,751,000,000
1,079,261,086,779
1,020,000,000,000
1,111,145,981,016
1,065,000,000,000
1,175,713,412,845
1,123,000,000,000
1,420,784,179,405
1,347,000,000,000
1,288,807,753,345
1,239,858,000,000
1,780,499,375,382
1,339,589,000,000
65,776,364,310
25,500,000,000
79,138,380,115
30,000,000,000
55,076,054,553
45,000,000,000
57,884,538,592
56,000,000,000
74,789,159,780
52,524,000,000
44,941,518,908
45,061,000,000
2,410,396,013
4,500,000,000
12,834,943,214
5,000,000,000
2,909,449,554
5,000,000,000
3,915,786,657
3,000,000,000
6,765,790,946
2,222,222,000
2,823,680,638
2,101,000,000
1,075,340,778,771
1,014,000,000,000
1,052,306,153,942
1,027,000,000,000
1,105,550,148,180
1,082,000,000,000
1,350,592,833,868
1,264,491,000,000
1,247,739,580,105
1,185,679,222,000
1,513,853,619,300
1,261,423,970,000
845,319,667,489 11,807,647,306
798,000,000,000 10,000,000,000
870,235,821,112 12,116,119,590
839,000,000,000 14,000,000,000
911,816,014,545 12,041,722,322
895,000,000,000 11,000,000,000
1,115,703,092,478 15,729,984,917
1,082,151,000,000 13,000,000,000
938,526,867,161 17,520,650,645
913,389,222,000 20,670,000,000
1,235,634,005,416 32,959,908,356
977,616,970,000 18,409,000,000
165,864,295,780
153,000,000,000
166,464,114,978
168,000,000,000
192,164,433,628
188,000,000,000
201,897,436,813
136,340,000,000
214,409,732,492
210,400,000,000
229,320,907,326
219,278,000,000
Tổng doanh thu Doanh thu thuần Doanh thu tài chính Thu nhập khác Tổng chi phí Giá vốn Bán hàng Quản lý doanh nghiệp Tài chính Khác
51,562,096,467 787,071,729
50,000,000,000 3,000,000,000
(3,552,459,840) 7,042,558,102
5,000,000,000 1,000,000,000
(15,890,175,319) 5,418,153,004
(15,000,000,000) 3,000,000,000
13,746,119,596 3,516,200,064
30,000,000,000 3,000,000,000
69,427,011,390 7,855,318,417
40,460,000,000 760,000,000
13,079,202,496 2,859,595,706
45,000,000,000 1,120,000,000
72,107,068,331
36,000,000,000
150,813,150,403
73,000,000,000
128,148,768,772
91,000,000,000
131,991,670,786
141,509,000,000
122,623,123,966
108,925,000,000
314,410,955,628
125,327,030,000
Lợi nhuận trước thuế
11,022,735,814
10,617,054,770
6,000,000,000
10,698,159,306
12,181,000,000
15,495,457,380
8,994,000,000
26,996,660,546
10,180,000,000
Thuế TNDN
72,107,068,331
36,000,000,000
139,790,414,589
73,000,000,000
117,531,714,002
85,000,000,000
121,293,511,480
129,328,000,000
107,127,666,586
99,931,000,000
287,414,295,082
115,147,030,000
Lợi nhuận sau thuế
650,008,824,989
-
748,085,657,944
-
730,202,715,536
778,024,027,215
799,240,940,074
917,369,575,529
-
-
-
-
577,901,756,658
577,901,756,658
596,000,000,000
596,000,000,000
596,000,000,000
596,000,000,000
-
45,471,001,534
80,730,515,735
116,816,980,472
148,955,280,447
-
72,107,068,331
170,183,901,286
88,731,714,002
101,293,511,480
86,423,959,602
172,414,295,082
Vốn chủ sở hữu Vốn góp của chủ sở hữu Quỹ đầu tư phát triển Lợi nhuận
1,200,495,661,671
1,122,515,948,667
1,348,381,737,545
1,487,593,967,261
1,466,518,126,251
1,609,241,291,117
1,200,495,661,671
1,122,515,948,667
1,348,381,737,545
1,487,593,967,261
1,466,518,126,251
1,609,241,291,117
24%
19.8%
18.7%
15.6%
39.9%
12%
12%
8.7%
8.2%
7.3%
17.9%
6%
578,056,148,079
577,901,756,658
593,794,067,877
650,285,880,084
685,752,131,919
720,851,555,466
chưa phân phối Tổng tài sản Tổng nguồn vốn Tỉ suất lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân Tỉ suất lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu bình quân
PHỤ LỤC 5
BẢNG THUYẾT MINH KẾT QUẢ KINH DOANH CÁC NĂM TỪ 2016-2021
STT
Chỉ tiêu
2016
2017
2018
2019
2020
2021
1
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
1,079,261,086,779
1,111,145,981,016
1,175,713,412,845
1,420,784,179,405
1,288,807,753,345
1,780,499,375,382
Doanh thu sách giáo khoa
735,050,308,668
703,909,736,387
734,151,617,794
966,854,409,091
1,078,552,695,832
1,583,056,226,625
-
Doanh thu sách tham khảo
56,400,436,989
43,376,917,697
58,641,066,444
51,270,534,766
73,827,064,526
39,745,037,166
-
Doanh thu hoạt động quản lý xuất bản
85,567,964,422
113,024,928,935
133,441,229,903
127,033,792,503
75,577,089,713
99,821,758,329
-
Doanh thu bán vật tư
144,462,699,569
199,398,980,121
196,209,190,051
222,020,556,545
6,573,093,324
5,853,524,489
-
Doanh thu cho thuê cơ sở hạ tầng
33,508,463,939
38,028,266,525
41,549,532,665
43,664,816,592
44,544,312,596
44,596,984,821
-
Doanh thu tạp chí
11,052,392,782
9,418,639,241
8,446,095,331
8,785,550,172
8,100,806,667
6,968,424,590
-
Doanh thu khác
13,218,820,410
3,988,512,110
3,274,680,657
1,154,519,736
1,632,690,687
457,419,362
-
Giá vốn hàng bán
845,319,667,489
870,235,821,112
911,816,014,545
1,115,703,092,478
938,526,867,161
1,235,634,005,416
2
Giá vốn sách giáo khoa
606,728,591,372
601,053,334,782
626,628,968,717
811,748,295,913
833,939,744,955
1,135,890,078,920
-
Giá vốn sách tham khảo
54,896,132,145
38,497,142,459
53,456,351,227
44,793,972,190
55,776,807,521
35,220,014,419
-
Giá vốn hoạt động quản lý xuất bản
11,438,581,705
10,821,584,445
14,895,663,281
18,640,299,595
18,962,435,825
33,815,815,789
-
Giá vốn vật tư
143,076,998,606
200,359,747,176
195,558,384,057
218,784,389,328
6,545,771,233
5,850,405,055
-
Giá vốn cho thuê cơ sở hạ tầng
14,015,098,628
13,696,219,467
13,992,764,634
15,658,792,132
17,745,318,024
19,249,330,537
-
Giá vốn tạp chí
6,343,316,135
4,704,593,792
4,859,424,536
5,301,703,642
5,066,112,003
4,930,614,423
-
Giá vốn khác
8,820,948,898
1,103,198,991
2,424,458,093
775,639,678
490,677,600
677,746,273
-
Doanh thu tài chính
65,776,364,310
79,138,380,115
55,076,054,553
57,884,538,592
74,789,159,780
44,941,518,908
3
Cổ tức, lợi nhuận được chia
39,694,046,085
43,673,527,012
45,074,057,716
43,261,156,500
41,855,699,720
40,053,379,930
-
Lãi tiền gửi ngân hàng, cho vay
3,506,373,508
2,819,026,892
5,946,768,041
7,867,965,617
4,671,673,409
3,802,903,556
-
Lãi chuyển nhượng cổ phần
22,478,030,000
32,235,271,622
3,763,875,120
6,162,065,730
399,600,100
-
Lãi chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
97,914,717
410,554,589
279,289,780
155,061,476
174,919,996
7,256,745
-
Doanh thu hoạt động tài chính khác
12,063,896
438,289,269
387,266,555
1,077,978,677
-
-
Doanh thu chuyển nhượng quyền góp vốn
27,300,000,000
-
Chi phí tài chính
51,562,096,467
(3,552,459,840)
(15,890,175,319)
13,746,119,596
69,427,011,390
13,079,202,496
4
Lãi tiền vay
30,736,783,253
19,945,656,735
20,171,162,669
27,683,154,974
38,739,568,070
32,873,038,987
-
Chi phí chuyển nhượng cổ phần
1,793,395,537
1,015,475,581
994,818,182
618,915,222
899,854,546
-
Lỗ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện
789,235,540
1,156,798,649
98,666,062
115,770,038
201,881,073
-
Chiết khấu thanh toán
4,291,369,230
1,384,216,541
3,535,793,226
5,461,458,807
2,161,442,781
5,497,724,165
-
Chi phí tài chính khác
129,947,242
153,927,688
149,693,316
149,130,146
107,486,503
360,509,421
-
Dự phòng đầu tư tài chính
13,821,365,665
(27,208,535,034)
(40,840,308,774)
(20,282,309,591)
27,316,778,417
(25,652,070,077)
-
11,807,647,306
12,116,119,590
12,041,722,322
15,729,984,917
17,520,650,645
32,959,908,356
Chi phí bán hàng
5
5,001,979,668
4,910,866,774
5,375,910,402
5,914,793,576
6,240,242,091
7,228,207,910
Chi phí nhân viên
-
-
Chi phí vật liệu, bao bì
-
-
Chi phí dụng cụ, đồ dùng
-
-
Chi phí khấu hao TSCĐ
154,625,608
575,135,142
455,838,132
455,838,124
705,768,257
1,064,443,084
-
Chi phí bốc xếp, vận chuyển hàng hóa tiêu
1,551,209,057
504,565,579
387,044,656
-
thụ
702,271,822
393,006,334
236,261,986
Chi phí nguyên liệu, vật liệu
-
-
Chi phí thuê đất
-
-
Chi phí rọc giấy
-
-
Chi phí dịch vụ mua ngoài
3,328,569,945
5,556,413,859
12,868,209,753
-
Chi phí thuê kho
865,440,603
563,694,796
278,722,605
-
Chi phí bằng tiền khác
4,234,392,370
5,561,857,299
5,544,206,527
5,328,511,450
4,625,220,104
11,562,785,623
-
Chi phí quản lý doanh nghiệp
165,864,295,780
166,464,114,978
192,164,433,628
201,897,436,813
214,409,732,492
229,320,907,326
6
Chi phí nhân viên
74,092,150,519
78,558,079,651
89,574,610,482
87,179,840,419
90,905,493,929
106,958,062,045
-
Chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ
552,770,988
9,968,668,187
10,403,444,700
7,308,686,398
1,103,819,079
1,439,451,395
-
Chi phí đồ dùng văn phòng
-
Chi phí khấu hao TSCĐ
4,244,360,897
5,414,797,983
5,445,355,162
5,322,929,932
5,440,874,770
6,038,244,643
-
Chi phí thuê đất
-
Thuế, phí, lệ phí
-
Dự phòng trợ cấp mất việc làm
-
Dự phòng phải thu khó đòi
573,344,344
158,212,294
-
Thuế, phí, lệ phí
1,895,705,097
1,581,808,523
2,140,913,297
-
Chi phí dịch vụ mua ngoài
26,894,745,958
29,883,351,135
52,200,699,302
-
Trích quỹ phát triển khoa học công nghệ
2,735,077,125
2,740,374,549
7,731,706,968
-
Chi phí bằng tiền khác
87,616,081,971
70,004,091,941
87,305,095,958
73,325,560,662
85,992,954,833
52,848,281,742
-
Hoàn nhập dự phòng công nợ phải thu khó
(641,068,595)
(829,944,253)
(3,462,659,517)
(30,031,653)
(498,569,777)
(36,452,066)
-
đòi
Thu nhập khác
2,410,396,013
12,834,943,214
2,909,449,554
3,915,786,657
6,765,790,946
2,823,680,638
7
-
Thanh lý, nhượng bán TSCĐ
549,204,546
4,838,104,628
529,273,636
470,290,909
864,958,182
-
Cho thuê kho, đất
864,562,165
7,174,987,297
1,820,385,211
1,820,384,611
679,651,471
-
-
Tiền điện, nước của hoạt động cho thuê
715,868,235
669,015,172
687,013,668
657,771,869
649,308,677
553,271,263
-
-
-
Lãi do đánh giá lại tài sản
-
-
-
Tiền phạt thu được
30,310,000
-
-
-
Thuế được giảm
-
Phí chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
526,279,183
888,100,091
696,281,910
-
Các khoản khác
250,451,067
152,836,117
402,050,675
382,077,358
4,078,439,798
709,169,283
-
Chi phí khác
787,071,729
7,042,558,102
5,418,153,004
3,516,200,064
7,855,318,417
2,859,595,706
8
-
Tiền truy thu thuế
2,697,675,317
-
Chi phí thuê đất
6,306,451,951
1,820,384,911
2,309,279,671
2,567,242,531
2,037,024,000
-
Chi phí điện, nước của hoạt động cho thuê
695,502,419
607,177,602
687,013,668
238,571,371
648,999,166
558,826,266
-
Chi phí thanh lý tài sản
-
-
10,630,275
3,181,045
-
Tiền chậm nộp
441,952
523,416,851
-
-
-
Chi phí D32 Cầu Giấy
4,124,065,473
Các khoản khác
91,127,358
128,928,549
213,079,108
444,932,171
504,380,972
260,564,395
-
Tổng doanh thu
1,147,447,847,102
1,203,119,304,345
1,233,698,916,952
1,482,584,504,654
1,370,362,704,071
1,828,264,574,928
9
Tổng chi phí
1,075,340,778,771
1,052,306,153,942
1,105,550,148,180
1,350,592,833,868
1,247,739,580,105
1,513,853,619,300
10
Lợi nhuận kế toán trước thuế
72,107,068,331
150,813,150,403
128,148,768,772
131,991,670,786
122,623,123,966
314,410,955,628
11
Thuế thu nhập doanh nghiệp
11,022,735,814
10,617,054,770
10,698,159,306
15,495,457,380
26,996,660,546
12

