
LUẬN VĂN:
Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động
cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng Công
Thương ( NHCT) chi nhánh tỉnh Hà Tây

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) có vai
trò rất quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế ở nước ta, góp
phần không nhỏ đối với việc tăng trưởng kinh tế, ngoài việc cung cấp các sản phẩm
hàng hóa cho nhu cầu thị trường còn xuất khẩu nhiều mặt hàng sang các nước trong
khu vực và trên thế giới như: hàng thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ cao cấp, hàng nông lâm
sản như hạt tiêu, hạt điều, thủy sản đông lạnh. Vì thế, phát triển DNV&N đang là
vấn đề được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, được coi là một trong những nhiệm vụ
trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Các DNV&N đang ngày càng có vai trò
quan trọng và trở thành động lực phát triển kinh tế. Đặc biệt là khi nước ta bước vào
hội nhập từ một nền kinh tế chưa phát triển.
Nghiên cứu về mối quan hệ tín dụng với ngân hàng, các DNV&N được coi là
nhóm khách hàng có nhiều lợi thế của các tổ chức tín dụng, là bạn hàng cùng kinh
doanh giữa một bên là sản xuất hàng hóa, kinh doanh thương mại và dịch vụ, và một
bên là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Nhưng việc đầu tư cho loại
hình doanh nghiệp này thường có độ rủi ro cao và chi phí giao dịch lớn. Do vậy các
ngân hàng vẫn nhìn nhận DNV&N là khách hàng có nhiều rủi ro nên họ rất thận
trọng trong cho vay. Mặt khác, trong những năm gần đây, cùng với sự ra tăng về số
lượng của các DNV&N là xu hướng mở rộng đầu tư tín dụng đối với loại hình
doanh nghiệp này của các ngân hàng. Do đó hoạt động quản lý tín dụng cũng cần
phải được tăng cường, đổi mới về phương pháp nhằm phòng tránh những rủi ro
không đáng có, tránh thiệt hại cho ngân hàng.
Vì lý do đó, em đã lựa chọn đề tài: “ Một số giải pháp tăng cường quản lý
hoạt động cho vay đối với DNV&N tại ngân hàng Công Thương ( NHCT) chi
nhánh tỉnh Hà Tây”.
1. Mục đích nghiên cứu của đề tài là:
- Lý giải tính tất yếu của hoạt động quản lý cho vay đối với DNV&N tại các

ngân hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng quản lý cho vay DNV&N tại chi nhánh NHCT tỉnh Hà
Tây.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động cho vay DNV&N tại
chi nhánh NHCT tỉnh Hà Tây.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: hoạt động quản lý cho vay DNV&N tại
chi nhánh NHCT tỉnh Hà Tây.
- Phạm vi nghiên cứu:
Quan hệ tín dụng của chi nhánh NHCT tỉnh Hà Tây với các DNV&N.
Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2007.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Bài viết đã sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp biểu đồ, phân tích và
đánh giá.
4. Nội dung bài viết.
Bài viết gồm có ba phần : lời mở đầu, phần thân bài, phần kết luận. Phần thân
bài được bố cục gồm ba chương:
- Chương I. Lý luận cơ bản về quản lý hoạt động cho vay đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại.
- Chương II. Thực trạng quản lý hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây.
- Chương III. Một số giải pháp tăng cường quản lý hoạt động cho vay đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây.
Để có thể hoàn thành được bài viết, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
tận tình của thầy giáo GS.TS. Đàm Văn Nhuệ và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô
chú, anh chị tại chi nhánh ngân hàng Công Thương tỉnh Hà Tây đã giúp đỡ em rất
nhiều trong thời gian thực tập vừa qua.

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
1.1.1.Đặc điểm, vai trò của DN&VN trong sự phát triển kinh tế quốc gia.
1.1.1.1.Khái niệm DNV&N.
Doanh nghiệp có thể được hiểu một cách chung nhất là một tổ chức kinh tế
được thành lập nhằm sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị
trường. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại,
phát triển và cạnh tranh lẫn nhau.Tuy nhiên để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ các
doanh nghiệp phát triển người ta thường phân chia các doanh nghiệp thành các loại
hình doanh nghiệp khác nhau, trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ở hầu hết các nước, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển thì việc đầu
tư phát triển các DNV&N đang là vấn đề được quan tâm đặc biệt. Sự thành đạt về
kinh tế- xã hội của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của các doanh
nghiệp, trong khi đó các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ lại có ý nghĩa vô cùng
quan trọng ở giai đoạn đầu phát triển kinh tế thị trường. Tuy nhiên, theo điều kiện
của từng quốc gia, từng loại hình sản phẩm và ý đồ chính sách, khả năng hỗ trợ của
từng chính phủ ở từng thời kỳ…mà có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về
DN&VN. Trong thực tế, việc xác định DNV&N của một nước thường được cân
nhắc đối với từng giai đoạn phát triển kinh tế -xã hội, tình hình việc làm nói chung
trong cả nước và tính chất phát triển kinh tế hiện hành của nước đó. Như vậy, việc
xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ không có tính chất “ cố định” mà có xu hướng
thanh đổi theo tính chất hoạt động của nó, mục đích của việc xác định và mức độ

phát triển doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn để xác định DNV&N là: tổng vốn đầu tư được huy động vào sản
xuất kinh doanh, giá trị tài sản cố định, số lao động được sử dụng thường xuyên, giá
trị bằng tiền của sản phẩm bán hoặc dịch vụ, lợi nhuận , vốn bình quân cho một lao
động…
Đối với nước ta, mặc dù đã quan tâm đến DNV&N và có nhiều hoạt động hỗ trợ
nó, song vẫn chưa có khái niệm chính thức. Các chuyên gia kinh tế thì cho rằng :
“doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có mức vốn đầu tư từ 100-300 triệu đồng và từ 5 -
50 lao động. Doanh nghiệp vừa là những doanh nghiệp có mức vốn đầu tư 300 triệu
đồng trở lên và có lao động trên 50 người’.
Ngoài ra, ngân hàng Công Thương Việt Nam cũng đã nhận định rằng: “ doanh
nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có số lao động thường xuyên dưới 500
người, giá trị tài sản cố định dưới 10 tỷ đồng, số vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng và
doanh thu dưới 20 tỷ đồng/ năm”.
Có thể thấy rằng, việc đưa ra tiêu chí để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ mới
chỉ mang tính ước lệ Có nhiều quan điểm khác nhau về các đối tượng, chủ thể kinh
tế được coi là thuộc hoặc không thuộc khu vực DNV&N. Theo Nghị Định của
Chính Phủ số 90/2001/NĐ- Chính Phủ ngày 23 tháng 11 năm 2001 thì “doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người”. Nghị định quy định đối tượng áp dụng bao
gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo luật Doanh nghiệp nhà
nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo nghị định số 02/2000 NĐ-CP ngày 3

