BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ Nguyễn Duy Thanh THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI THEO THỂ LOẠI
(NGỮ VĂN 11 NÂNG CAO)
Chuyên ngành Mã số : Lí luận và phương pháp dạy học môn Văn : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trước đây, cấu trúc chương trình sách giáo khoa Văn học được biên soạn chủ yếu theo
tiêu chí văn học sử. Việc biên soạn và dạy học theo lịch sử hình thành và phát triển của văn học
giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản, hệ thống về lịch sử văn học và nhận thức rõ tiến trình
lịch sử văn học dân tộc với những qui luật phát triển của nó qua các thời đại, những khái niệm
về văn học sử (giai đoạn, tác gia, trào lưu …), hướng tới bồi dưỡng năng lực tư duy logic. Còn
những kiến thức về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, phong cách tác giả giúp các em hiểu rõ
hơn, sâu rộng hơn những trào lưu, những trường phái, những nguyên tắc sáng tác, những đặc
điểm, thành tựu qua các thời kì văn học. Từ đó, tri thức văn học được hệ thống hóa tương đối
chặt chẽ, tạo điều kiện bồi dưỡng quan điểm thẩm mĩ, trao dồi nhân cách xã hội chủ nghĩa cho
học sinh.
Tuy nhiên mục tiêu dạy học này làm cho học sinh thiếu năng lực tiếp nhận văn học. Các
em không thể tự mình (và cũng không bao giờ tự giác) đọc và lí giải những giá trị về nội dung,
nghệ thuật, tư tưởng tình cảm tác giả … trong các bài đọc thêm nếu như không có sự hướng dẫn
hoặc bắt buộc của giáo viên. Vì vậy, những kiến thức văn học của học sinh cũng chỉ giới hạn ở
những tác giả, tác phẩm đã được học, còn những tác giả, tác phẩm không được học thì hầu như
“ngoài vùng phủ sóng” đối với các em. Thêm nữa, những kiến thức về tiếp nhận văn học, thể
loại văn học đáng lí phải được dạy ở đầu chương trình để làm nền, tạo những kiến thức công cụ
định hướng cho việc tiếp nhận và tự tiếp nhận của học sinh lại được phân phối dạy ở cuối
chương trình, vì thế những kiến thức này vừa không có ý nghĩa hỗ trợ cho việc tiếp nhận văn
học vừa trở thành những “siêu kiến thức”, độc lập với các văn bản trong chương trình.
Mục tiêu chung của môn Văn ở trường trung học phổ thông hiện nay là bồi dưỡng và nâng
cao thêm một bước năng lực văn học cho học sinh, trong đó có năng lực đọc – hiểu văn bản.
Chính vì thế chương trình được xây dựng theo hai trục tích hợp : đọc văn và làm văn. Với
nguyên tắc tích hợp, chương trình hiện nay vẫn dựa vào tiến trình lịch sử văn học dân tộc
nhưng mỗi giai đoạn sẽ lựa chọn ra những thể loại tác phẩm văn học tiêu biểu để làm văn bản
mẫu cho việc dạy học đọc – hiểu. Theo tinh thần này dạy học văn có nhiệm vụ kép : thông qua
dạy kiến thức mà trang bị và rèn luyện cho học sinh cách đọc, phương pháp đọc để các em có
thể tự mình đọc và hiểu những văn bản khác.
Xét trên các phương diện mục tiêu, phương pháp của việc dạy học Văn thì đọc văn bản là
mục tiêu trung tâm. Vì thế, quan tâm đến vấn đề đọc – hiểu là quan tâm đến khâu trung tâm của
đổi mới phương pháp dạy học Văn ở trường phổ thông. Quan tâm đến phương pháp dạy học
đọc – hiểu văn bản văn học theo thể loại còn là quan tâm đến một vấn đề mang tính thời sự,
một vấn đề có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn vì những lí do sau :
- Trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết kĩ năng đọc được chú trọng trước tiên, bởi “đó
là hoạt động cơ bản, thường xuyên của con người trong đời sống nhằm nắm bắt thông tin theo
hướng nhanh, chính xác, biết lựa chọn và xử lí. Thông thường, kĩ năng đọc bao giờ cũng nhiều
hơn kĩ năng viết” [5, tr. 33].
- Đọc – hiểu là hoạt động then chốt để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học,
đồng thời rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
- Phương pháp đọc – hiểu “có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện phương tiện nghe nhìn
có nguy cơ làm suy giảm năng lực đọc của thế hệ trẻ hiện nay”[5, tr. 33].
Cùng với việc xác định lại mục tiêu của việc dạy học văn, vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học một lần nữa được nhắc đến. Đó là đổi mới phương pháp dạy học theo những yêu cầu
của quan điểm dạy học tích cực, tích hợp và tương tác của lí luận dạy học ngày nay. Theo quan
điểm dạy học tích cực, giáo án không còn là phương án trình diễn hoạt động giảng dạy của giáo
viên, không còn là kịch bản độc diễn của người dạy để bằng cách đó giáo viên mang tới cho
học sinh những kết luận có sẵn, mà là bản thiết kế các hoạt động dạy xuất phát từ nhiệm vụ học
tập của học sinh, khơi dậy năng lực tự học và giúp các em có cơ hội tự mình chiếm lĩnh các tri
thức,kĩ năng trong bài học.
Việc thay đổi thuật ngữ từ giáo án sang thiết kế bài học không chỉ đơn giản là chuyện
thuật ngữ mà thực sự đã kéo theo những thay đổi trong cấu trúc bài soạn. Trong các thiết kế bài
học, giáo viên không chỉ thay từ “giảng văn”, “phân tích” bằng đọc – hiểu mà đã chú ý nhiều
đến những biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, có trang bị những kiến thức
về thể loại để hình hành năng lực nhận biết thể loại từ đó định hướng cho học động tiếp nhận
của học sinh … Đây là một tín hiệu đáng mừng cho nền giáo dục nói chung, cho việc dạy học
văn nói riêng trên con đường đổi mới phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, việc dạy học đọc – hiểu văn bản văn học còn nhiều vấn đề cần tiếp tục làm
sáng tỏ.
Ở phương diện lý luận, hiện nay các sách tham khảo, các bài viết đăng trên tạp chí … đều
đề cấp đến đọc – hiểu. Nhưng giữa các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về thuật ngữ
này. Có tài liệu ghi là “đọc - hiểu”(Đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 10 – Nguyễn Trọng Hoàn, Dạy
học văn là dạy học sinh đọc – hiểu văn bản – Trần Đình Sử), nhưng cũng có tài liệu ghi “đọc
hiểu”(Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản – Quách Duy Bình, Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn
học nhằm hình thành khái niệm phong cách nhà văn cho học sinh – Đỗ Tiến Sĩ ). Ở đây không
phải là sai sót trong cách viết hay lỗi kỹ thuật đánh máy mà xuất phát từ quan niệm của người
viết. Như vậy, chúng ta thấy rằng ngay cả một thuật ngữ có thể nói là phổ biến hiện nay vẫn có
những quan niệm không giống nhau.
Ngay cả những người tán thành nên gọi là đọc – hiểu thì cách hiểu của họ về bản chất của
phương pháp này vẫn khác nhau.
Có ý kiến cho rằng giữa đọc – hiểu và đọc truyền thống không có gì khác nhau. Đưa định
ngữ “hiểu” vào sau đọc chẳng những không làm mới được phương pháp này mà còn làm mất đi
tính khái quát của đọc. Vì thế họ đề xuất chỉ nên sử dụng khái niệm đọc là đủ. Bởi vì đọc một
tác phẩm văn học dù ở mức độ nào thì cuối cùng vẫn phải đi đến mục đích chung là hiểu văn.
Khái niệm “ hiểu” ở đây không phải là nhận ra kí hiệu và nghĩa của kí hiệu mà còn phán đoán
ra ý muốn biểu đạt của tác giả, tức là đồng cảm và nắm bắt được những thông điệp nghệ thuật
mà nhà văn muốn nói, muốn gửi gắm tới người đọc.
Lại có ý kiến cho rằng đọc – hiểu không phải là khái niệm mới. Trước đây việc thưởng
thức, phân tích, bình luận văn học cũng bằng hình thức đọc.
Ngược lại, cũng có một vài ý kiến đề cao thái quá phương pháp đọc – hiểu. Có người cho
rằng :“Đọc – hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học,
ngoài ra không có con đường nào khác … đọc – hiểu là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho
học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ”[5, tr.33]. Nghĩ như thế thì từ Giáo sư Đặng
Thai Mai, nhà phê bình văn học Hoài Thanh, Xuân Diệu … đến những thế hệ giáo viên, học
sinh trước đây tiếp nhận văn chương bằng con đường nào. Rõ ràng, nhận xét như trên là quá
cực đoan, thiếu sự tỉnh táo, chuẩn mực cần thiết.
Ở phương diện thực tiễn, có thể thấy rằng từ khi vấn đề đọc – hiểu được áp dụng vào dạy
học văn đã xuất hiện nhiều mô hình đọc – hiểu khác nhau của những tác giả có uy tính, như mô
hình của Vũ Dương Quỹ, Phan Trọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn … Mỗi mô hình đều có
những đóng góp nhất định và trở thành nguồn tài liệu tham khảo phong phú cho giáo viên. Và
cũng không ít giáo viên đã vận dụng một trong những mô hình trên để soạn giảng. Tuy nhiên,
qua một số tiết dự giờ, tham khảo các thiết kế bài học, cũng như qua trao đổi với các đồng
nghiệp trong các đợt tập huấn thay sách, chúng tôi thấy rằng vẫn còn không ít giáo viên chưa ý
thức rõ về tinh thần đọc - hiểu nên còn lúng túng trong thiết kế và dạy học.
Một số giáo viên cho rằng dạy học theo tình thần đọc – hiểu là tăng cường hoạt động đọc
cho học sinh. Vì thế, họ đã tăng cường thời lượng đọc cho học sinh với nhiều hình thức khác
nhau như đọc diễn cảm, đọc phân vai … nhưng đến phần khai thác, tìm hiểu văn bản thì đa số
vẫn giảng bình theo lối cũ.
Cũng có giáo viên cho rằng thiết kế bài học chỉ là sự thay đổi hình thức, còn nội dung thì
vẫn như giáo án trước đây. Và nếu có thay đổi về nội dung cũng chỉ là thêm vào một số câu hỏi,
tăng cường thêm một số hoạt động của giáo viên. Từ suy nghĩ này, họ tăng cường số lượng câu
hỏi vào bài soạn nhưng lại ít quan tâm đến chất lượng câu hỏi. Có những thiết kế cho một tiết
dạy mà giáo viên phát vấn trên 20 lần nhưng đa số là những câu hỏi vụn vặt, rời rạc, mang tính
tái hiện, ít câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề.
Từ những lí do trên, chúng tôi thấy rằng việc tìm hiểu vấn đề thiết kế bài học đọc – hiểu
văn bản văn học theo thể loại là việc làm thiết thực, có ý nghĩa góp thêm tiếng nói về một trong
những vấn đề có tính thời sự hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Những giáo trình về phương pháp dạy học Văn ở trường phổ thông
So với các nước trên thế giới, phương pháp dạy học Văn ở Việt Nam là một khoa học còn
non trẻ. Ngành khoa học này mới xuất hiện và phát triển như một môn học độc lập ở các trường
sư phạm từ khoảng những năm 60 của thế kỷ 20. Dù còn non trẻ nhưng chuyên ngành này đã có
những bước phát triển vững vàng và đạt được những thành tựu nhất định.
Nhận thấy những đóng góp thiết thực trong việc giúp giáo viên Ngữ văn tiến tới nắm vững
và nâng cao tay nghề, hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ cao quí của mình ở trường phổ thông, Phan
Thiều đã lược dịch và giới thiệu giáo trình Phương pháp luận dạy học Văn của tập thể tác giả
Liên Xô do nữ giáo sư, tiến sĩ Z.Ia.Rez chủ biên. Giáo trình đã nắm bắt được phương hướng
nghiên cứu, phương pháp luận bộ môn có triển vọng và hiệu quả nhất và đã đề xuất một cách
sáng tạo, có hệ thống những phương pháp dạy học Văn. Hệ thống phương pháp của giáo trình
nhằm vào cái cơ bản, khái quát, phản ánh được những thành tựu lí luận của các ngành khoa học
liên quan.
Không chỉ dịch các giáo trình từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, một số nhà nghiên cứu
từ thực tiễn dạy học kết hợp với lí luận khoa học tương ứng đã góp thêm nhiều tiếng nói có giá
trị cho ngành phương pháp dạy học Văn còn non trẻ của nước nhà.
Vào thập kỷ 60, trước nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên Văn cho nhà trường phổ thông
trong giai đoạn mới, nhóm nhà giáo của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã biên soạn cuốn
giáo trình Phương pháp dạy học Văn. Giáo trình ra đời đáp ứng kịp thời yêu cầu bồi dưỡng kĩ
năng, kĩ xảo của người giáo viên và mở đầu cho bước phát triển của chuyên ngành phương
pháp dạy học Văn ở nước ta.
25 năm sau cuốn giáo trình đầu tiên về phương pháp dạy học Văn của nhóm nhà giáo
thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, giáo sư Phan Trọng Luận và một số tác giả đã góp
sức biên soạn giáo trình Phương pháp dạy học Văn. Ra đời trong bối cảnh những giáo trình về
phương pháp dạy học Văn chưa nhiều, trong khi những giáo trình trước đó có một số quan điểm
đã trở nên lạc hậu, Phương pháp dạy học Văn thực sự mang lại những kiến thức thích hợp, mới
mẻ đối với người giáo viên văn. Bằng bề dày của lí luận khoa học và sự đút rút kinh nghiệm
dạy học văn trong nhà trường, các tác giả đã mang đến cho người tiếp nhận những kiến thức đa
dạng, thiết thực, hệ thống về mặt phương pháp luận bộ môn để họ có thể làm chủ mọi tình
huống sư phạm khác nhau.
Điểm qua những thành tựu của phương pháp dạy học văn không thể không nhắc đến
những bài báo, những ý kiến trao đổi trên các tạp chí; những Hội nghị chuyên đề được tổ chức
ở Bộ, ở địa phương …Bởi đây chính là cái làm nên sức sống của phương pháp dạy học Văn và
góp thêm những kinh nghiệm quý báu để các giáo viên dạy Văn khắc phục những hạn chế của
mình trong công việc cải tạo, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục.
Nếu nhìn sang các chuyên ngành khác (văn học, lí luận văn học, ngôn ngữ học …) giáo
trình chuyên về phương pháp dạy học Văn chưa nhiều. Mặt khác, số chuyên đề, chuyên luận
cũng chưa thật nhiều và ít có tiếng nói riêng. Những hạn chế trên phần nào đã ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo sinh viên và việc tự bồi dưỡng của giáo viên, cũng như việc đào tạo sau đại
học. Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Văn còn khá trẻ và ít được quan tâm.
Ngành học này mới được mở ra ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh những
năm gần đây. Số lượng học viên đăng kí học cũng khá khiêm tốn so với những ngành khác. Trừ
trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các trường sư phạm ở nước ta vẫn chưa đào tạo tiến sĩ ở
chuyên ngành này.
2.2 Những chuyên luận về vấn đề dạy học Văn theo thể loại
Vấn đề loại thể đã được các nhà lí luận văn học quan tâm từ khá sớm. Từ những góc độ
khác nhau, các tác giả cũng có những quan điểm về loại thể trong tiếp nhận, nghiên cứu, sáng
tác … phần nào giúp cho đông đảo giáo viên văn có được cái nhìn mới mẻ, phong phú về loại
thể.
Tuy vậy, những giáo trình, những chuyên luận về giảng dạy văn học trong nhà trường theo
loại thể không nhiều. Mấy vấn đề giàng dạy văn học theo loại thể của nhóm tác giả Trần Thanh
Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn và Phương pháp dạy học tác
phẩm văn chương theo loại thể của Nguyễn Viết Chữ là những tài liệu vẫn thường được sử
dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên Ngữ văn và học viên cao học chuyên ngành Lí luận
và phương pháp dạy học văn.
Mặt khác những công trình nghiên cứu về đặc trưng của các thể loại văn học hầu như chưa
có. Khi chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới được tổ chức biên soạn theo cụm thể loại và
dạy đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại thì những công trình về thể loại chung tỏ ra xa rời thực
tiễn.
Gần đây có xuất hiện một số chuyên đề về đặc trưng thể loại. Giáo sư Đỗ Bình Trị có
chuyên đề Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian. Giáo sư Hoàng Ngọc
Hiến có Nhập môn văn học và Phân tích thể loại. Tiến sĩ Nguyễn Thành Thi có chuyên đề Đặc
trưng truyện ngắn Thạch Lam,, Đặc trưng truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945.
Hiện nay, trên các tạp chí, các đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học văn, tập huấn
thay sách … đều có đề cập đến vấn đề giảng dạy văn theo đặc trưng thể loại (Đời sống thể loại
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – Vũ Tuấn Anh; Mô hình đọc hiểu theo đặc trưng thể loại
với việc hình thành và bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản văn chương cho học sinh trung học
phổ thông – Trần Thị Thu Hồng).
Các chuyên luận, bài viết đã đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng của một bộ phận văn học,
một giai đoạn văn học. Đó là sự vận dụng cụ thể, cái đóng góp nhiều cho việc dạy học văn.
Những vấn đề các tác giả đặt ra một mặt giúp cho người giáo viên văn ở trường phổ thông có
được những kiến thức cơ bản, hệ thống về đặc trưng thi pháp của các thể loại từ đó giúp cho
công việc giảng dạy thuận lợi và có hiệu quả. Mặt khác, các tài liệu cũng đã trình bày những
quan điểm mới mẻ bổ sung cho những quan điểm thường thấy trong những công trình về lí luận
đang lưu hành ở ta.
2.3 Những tài liệu về việc dạy học Văn theo hướng đọc – hiểu
Đọc – hiểu được nhắc đến từ 200 năm nay trong hoạt động giáo dục ở các quốc gia phát
triển bằng thuật ngữ “reading comprehension”. Ở Việt Nam, thuật ngữ đọc – hiểu mới xuất hiện
vài ba năm nay trong chương trình Ngữ văn trung học và hiện được coi là khâu đột phá trong
quá trình đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Văn.
Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng trong các bài viết về đọc – hiểu (Đọc hiểu văn chương, Tạp
chí Giáo dục, số 92; Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc – hiểu văn chương, Tạp chí
Giáo dục, số 100 … ) đã đi vào lí giải bản chất của hoạt động này, nêu lên những nội dung cần
hiểu khi đọc văn bản văn học, đề xuất những khả năng và hành động cơ bản để rèn luyện việc
đọc – hiểu có hiệu quả cho học sinh…
Trần Đình Sử, trong bài viết Đọc – hiểu văn bản là thế nào, đã kẳng định : sự hiểu văn
bản được đánh dấu bằng việc người đọc biến văn bản của nhà văn thành văn bản của mình,
nghĩa là người đọc chồng văn bản của mình lên văn bản của tác giả. Giáo sư đưa ra luận điểm :
mọi cách hiểu văn bản đều là “hiểu lầm”. Và có hiểu lầm đúng và hiểu lầm sai. Từ đó ông đề
nghị : dạy đọc – hiểu văn bản là dạy học sinh năng lực biết xuất phát từ chỉnh thể văn bản của
tác giả mà kiến tạo nên văn bản của mình.
Nhìn chung, hiện nay các giáo trình về phương pháp đọc – hiểu hầu như chưa có, mà chỉ
là những bài viết, tư liệu trao đổi… đăng trên các tạp chí; các tài liệu do Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn để phục vụ cho các lớp bồi
dưỡng giáo viên. Các tài liệu : Bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường trung học phổ thông, Tài
liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông
môn Ngữ văn … có ưu điểm là ít lí luận, nhiều thực tiễn, đưa ra được những gợi ý tiến trình tổ
chức bài học theo tinh thần tăng cường hoạt động đọc – hiểu văn bản nghệ thuật giúp giáo viên
Văn hình dung ra các hình thức, cấp độ, các bước tổ chức đọc – hiểu.
Tuy nhiên, do đây là phương pháp còn khá mới nên đọc – hiểu còn gây không ít lúng túng
cho giáo viên trong thực tiễn dạy học (như đã trình bày ở mục lí do chọn đề tài). Từ những điều
đã trình bày, luận văn của chúng tôi hướng đến vấn đề :
- Khẳng định vấn đề cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học Văn là thay đổi việc
tổ chức hệ thống hoạt động của giáo viên và học sinh theo nguyên tắc chủ động, tích cực.
- Đề xuất mô hình đọc – hiểu văn bản văn học Việt Nam hiện đại trong chương trình
Ngữ văn 11(Nâng cao) phù hợp với yêu cầu đọc – hiểu theo thể loại.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm xây dựng mô hình dạy học đọc – hiểu các văn bản văn học theo thể loại để
tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc – hiểu các văn bản văn học thông qua một số thể
loại văn học mới, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tự đọc, tự học các văn bản cho học
sinh.
Đề tài cũng nhằm khẳng định tính thực thi của việc sử dụng phương pháp đọc – hiểu để
giảng dạy các thể loại văn học trong nhà trường.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng sự nghiên cứu vào ba đối tượng chính, đó là vấn đề đọc – hiểu đối với việc
đổi mới phương pháp dạy học văn, đặc trưng của các thể loại truyện ngắn, thơ kịch, văn nghị
luận hiện đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 (Nâng cao) và mô hình bài học đọc – hiểu văn
bản văn học.
b. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những tri thức lí luận chủ yếu về vấn đề dạy học đọc – hiểu văn bản văn
học và những đặc điểm của các theo thể loại văn học Việt Nam hiện đại trong sách giáo khoa
Ngữ văn lớp 11 nâng cao để thiết kế một số giáo án thử nghiệm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những định hướng về đổi mới phương pháp dạy học, những cơ sở lí luận và khả năng
ứng dụng phương pháp đọc – hiểu vào dạy học tác phẩm văn chương đề tài tìm ra một mô hình
tương đối chuẩn để thiết kế một số bài học đọc – hiểu văn bản văn học Việt Nam hiện đại theo
thể loại.
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp tổng hợp, phân tích lí luận và thực tiễn
Tổng hợp những công trình, bài viết của các nhà lí luận và nghiên cứu về vấn đề đọc –
hiểu, tổng hợp những giáo trình, tài liệu về phương pháp và đổi mới phương pháp dạy học văn,
giáo trình viết về loại thể và giảng dạy theo loại thể … để nghiên cứu, phân tích nhằm phát hiện
những tư tưởng cơ bản làm tiền đề cho việc đổi mới phương pháp dạy học văn theo tinh thần
tăng cường hoạt động đọc cho học sinh.
b. Phương pháp thực nghiệm
Đây là một trong những phương pháp được chú trọng nhất trong luận văn. Luận văn sẽ đề
xuất một mô hình dạy học đọc – hiểu văn bản và sẽ ứng dụng mô hình này vào thiết kế một số
bài học. Sau đó lên kế hoạch và tổ chức dạy thử nghiệm để đánh giá khả năng ứng dụng việc
dạy học đọc – hiểu văn bản văn học vào thiết kế bài học.
c. Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê dùng để thống kê kết quả khảo sát và kết quả thực nghiệm. Từ đó
xác định tỉ lệ đạt được của bài thực nghiệm.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
a. Về lí luận
Luận văn tìm tới những lí giải khoa học để tìm hiểu tầm quan trọng của vấn đề đọc – hiểu
văn bản văn học theo thể loại trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học văn. Trên cơ sở đó,
lựa chọn và xác định một mô hình đọc – hiểu phù hợp góp phần thực thi yêu cầu đổi mới giờ
học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông.
b. Về thực tiễn
Củng cố và phát triển, mở rộng năng lực văn học trong đó chú trọng bồi dưỡng kĩ năng
đọc, nghe, nói, viết cho học sinh trong dạy học Ngữ văn. Đồng thời cải thiện phương pháp
truyền thụ một chiều, coi nhẹ vai trò của chủ thể tiếp nhận trước đây.
c. Về ý nghĩa xã hội
Luận văn bước đầu thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn – một vấn đề
mang tính thời sự hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương với các nội dung sau :
Chương 1 : Nêu bật mối liên hệ và ý nghĩa của vấn đề đọc – hiểu với việc đổi mới
phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông.
Chương 2 : Mô hình đọc – hiểu văn bản văn học.
Chương 3 : Thiết kế và dạy thực nghiệm bốn giáo án tiêu biểu cho bốn thể loại
truyện ngắn, thơ, kịch, nghị luận.
Tài liệu tham khảo : giới thiệu 43 tài liệu đã được tham khảo và sử dụng trong luận
văn.
Phụ lục : giới thiệu 40 câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã được sử dụng để đo lường
kết quả học tập của học sinh qua các giờ dạy thực nghiệm.
Chương 1 : ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC VÀ VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Môn Văn ở trường phổ thông
1.1.1. Bản chất của môn Văn trong nhà trường
Môn Văn đã được giảng dạy từ lâu ở nhà trường phổ thông. Đến nay, dù sách giáo khoa
đã trải qua nhiều đợt cải cách, chỉnh lí, hợp nhất, giáo viên cũng được tổ chức bồi dưỡng sau
mỗi đợt thay sách, song xung quanh viêc dạy và học bộ môn này vẫn còn những vấn đề cần
được đặt ra để tìm cách giải quyết thấu đáo hợp lí và mang đến hiệu quả như mong muốn.
Có ý kiến cho rằng nội dung chương trình môn văn hiện nay có biểu hiện quá tải, việc lựa
chọn tác phẩm văn chương thực sự văn chương chưa thật tốt. Người người đua nhau viết sách
tham khảo, sách giáo khoa thì dù đã được biên soạn và biên tập cẩn thận nhưng đây đó vẫn
chứa đựng những kiến thức hoặc không cập nhật hoặc chưa chuẩn. Có người nghĩ đến những
thay đổi quan trọng trong tâm lí thanh thiếu niên ngày nay. Chương trình quá cũ trong khi nhu
cầu thị hiếu thẩm mĩ của thanh thiếu niên ngày nay đã thay đổi khá nhiều.
Có một vấn đề tồn tại đã lâu nhưng chưa được giải quyết triệt để và hiện vẫn còn đang làm
nhiều thầy, cô giáo, nhiều nhà khoa học tâm huyết phải băn khoăn trăn trở. Đó là tình trạng
ngày càng có nhiều học sinh tỏ ra không hứng thú với môn Văn. Nhiều nguyên nhân đã được đề
cập và làm sáng tỏ, nhiều biện pháp đã được áp dụng. Tuy nhiên chúng ta phải thừa nhận một
thực tế là cho đến nay, môn Văn trong nhà trường vẫn chưa thật sự tạo ra được sức hấp dẫn, lôi
cuốn cần thiết, do vậy cũng vẫn chưa có được chỗ đứng vững chắc trong tâm hồn, tình cảm của
các em học sinh như vị trí xứng đáng vốn có của nó.
Trong luận văn cao học Tìm hiểu hứng thú học văn của học sinh phổ thông cấp III, bằng
những “phiếu khảo nghiệm”, Nguyễn Xuân Vân đã thăm dò ở khoảng 20 lớp học sinh ở những
trường có đặc điểm khác nhau và cho kết quả : tỉ lệ học sinh hứng thú học văn chiếm 43%,
không hứng thú học văn chiếm 57%. Bảng điều tra cũng cho thấy có đến 57,7% học sinh không
hứng thú học văn vì mắc mớ về phương pháp. Có thể nói đây là một đòi hỏi khá gay gắt đang
đặt ra trong thực tế học tập của học sinh nhưng sự đáp ứng của chúng ta chưa được bao nhiêu.
Trong quá trình giảng dạy, chúng vẫn đi theo con đường mòn là chú trọng cung cấp kiến thức
đơn thuần mà không chú ý đến kiến thức phương pháp. Đã thế, khuynh hướng giảng dạy vẫn
thiên về giáo viên, về lối dạy tái hiện tiếp thụ.
Hiện nay, giới chuyên môn đang tích cực tìm kiếm con đường đổi mới phương pháp dạy
học bộ môn văn theo hai hướng : một là xác định lại từ đầu những tiền đề khoa học có ý nghĩa
phương pháp luận cho việc dạy học văn trong nhà trường (phương pháp dạy học văn như một
khoa học sư phạm, những nguyên tắc cơ bản của việc dạy học văn trong nhà trường, loại hình
và cấu trúc của bài học văn, bản chất khoa học sư phạm của việc phân tích tác phẩm văn học
trong nhà trường, hoạt động ngoại khoá văn học trong nhà trường, năng lực nghiệp vụ của
người giáo viên văn học, v.v.). Hai là, áp dụng công nghệ thông tin để chương trình hoá, điều
khiển hoá, thao tác hoá quy trình dạy học văn, hướng tới đa dạng hoá hoạt động dạy học, góp
phần tích cực hoá hoạt động tự học của học sinh, … tiến tới thực hiện một cuộc cách mạng toàn
diện về giáo dục và học tập trên cơ sở giải quyết đồng bộ một loạt vấn đề : tinh thần của việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học bộ môn Văn cần được hiểu như thế nào, phải chăng
chỉ có thể đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Văn khi áp dụng triệt để công nghệ thông tin,
những loại hình bài học nào thích hợp nhất đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin, để sử
dụng công nghệ thông tin, bài học cần phải được cấu trúc như thế nào, sách giáo khoa tương lai
cần được biên soạn ra sao, v.v.
Trong điều kiện cụ thể của nước ta, trước mắt, xu hướng chủ yếu vẫn là xu hướng thứ
nhất. Để xác định đúng đắn những nguyên tắc, phương pháp dạy học văn, những hoạt động của
người giáo viên văn thì vấn đề có ý nghĩa tiền tiêu là phải nhận thức toàn diện về những thuộc
tính của môn Văn trong nhà trường.
Lâu nay, việc kiến giải về bản chất và thuộc tính của môn Văn vẫn chưa có sự thống nhất
với nhau. Một số người xem môn Văn trong nhà trường như một môn học. Nhưng cũng có ý
kiến xem văn học là “trò diễn ngôn từ”. Vì thế trong thực tiễn sư phạm vẫn thường xảy ra
những đối cực. Hoặc quá thiên về chủ nghĩa nghiệp vụ tầm thường hoặc quá thiên về chủ nghĩa
hình thức, chủ nghĩa thẩm mĩ. Dạy văn quá coi trọng ý của tác phẩm, đến mức dạy thơ không
cần thuộc thơ, dạy truyện không cần kể chỉ nêu ý chính. Việc xem môn Văn như một môn học
khiến cho thầy và trò sa vào công thức “angôrít hoá” quá trình dạy học văn, dễ dẫn tới những
thao tác máy móc, khuôn mẫu. Hiệu quả của một giờ học cuối cùng là có ý, đủ ý là được, một
giờ dạy được công thức hoá để tiện cho kiểm tra, thi và chấm điểm. Và như vậy, vô hình trung
đã thủ tiêu tính nghệ thuật – thuộc tính thứ nhất của môn Văn - một cách không tuyên bố.
Ngược lại, có xu hướng xem tiếp nhận văn chương là lĩnh vực của cảm xúc, của tư duy hình
tượng và những rung động thẩm mĩ. Bởi theo họ văn học là “trò diễn ngôn từ”. Ngôn từ trong
văn học được coi là thứ ngôn ngữ đặc biệt. Nó vừa là một tín hiệu thẩm mĩ vừa là cái biểu đạt
cho các tín hiệu thẩm mĩ. Và tác phẩm văn học là một tín hiệu thẩm mĩ. Chức năng thẩm mĩ của
tác phẩm là cửa ngõ, là cầu nối, là chức năng đầu tiên để tìm tới các chức năng khác. Từ suy
nghĩ đó họ cho rằng dạy văn là giúp học sinh “lĩnh hội và thấm nhuần cái đẹp của văn chương”
là để “trao dồi tình cảm tốt” [2,tr.70]. Dạy văn phải chú ý cho các em có được năng lực thẩm
mĩ, rung cảm cái hay, cái đẹp của thơ văn và cái hay cái đẹp trong cuộc sống; từ đó có khát
vọng muốn có một lẽ sống đẹp, một cuộc sống đẹp, dạy văn là giúp các em tìm tòi phát hiện để
“nhận ra những điều cần suy nghĩ, giải quyết để nâng cao tư tưởng tâm hồn mình lên ngang tầm
thời đại” [2,tr.92].
Để tính môn học lấn át tính nghệ thuật giúp học sinh có được những thông tin, tri thức
chính xác, hệ thống về một giai đoạn văn học, một tác giả, tác phẩm văn học,… nhưng ít tác
động đến tâm hồn các em. Học xong một tác phẩm các em có thể nhớ vanh vách những biến cố,
những nét tâm trạng của nhân vật nhưng đôi lúc lại tỏ ra thờ ơ với những mảnh đời bất hạnh
xung quanh.
Đề cao tính nghệ thuật sẽ làm cho học sinh hứng thú với những bài giảng văn nhưng học
văn xong trong đầu óc học sinh chỉ còn lại những mớ ấn tượng và cảm xúc thiếu hệ thống; hiểu
biết văn thiếu hệ thống, không chính xác, năng lực văn học không được phát triển và hình thành
vững chắc. Điều đáng lo ngại hơn là mặc dù không hiểu tác phẩm hoặc chỉ hiểu một cách khá
mơ hồ nhưng các em vẫn phải phân tích, thể hiện sự cảm thụ của mình về tác phẩm trong các
bài làm văn, nên dần dần đã hình thành ở các em một thói quen ít chú ý đến văn bản tác phẩm,
cứ dựa theo sự phân tích có sẵn trong lời giảng của thầy hoặc trong các tài liệu tham khảo rồi
gán cho tác phẩm những ý nghĩa lớn lao, những mĩ từ to tát nhiều khi rất xa lạ với nội dung tư
tưởng và ý nghĩa chân chính, đích thực của tác phẩm. Thói quen này tạo ra một lối học văn theo
kiểu “mang máng”, thiếu căn cứ, không bám sát tác phẩm, hoặc xã hội học dung tục, tác phẩm
chỉ là cái cớ để bàn luận về một vấn đề luân lí, đạo đức, xã hội nào đấy. Nhiều học sinh không
hề đọc tác phẩm trước khi nghe giảng hoặc phân tích tác phẩm. Có em đã học xong trung học
phổ thông mà vẫn không thuộc nổi dù chỉ một bài thơ, thậm chí một khổ thơ nào đó trong
chương trình. Cho nên cũng không phải chuyện lạ, trong các kỳ thi học kỳ, thi tốt nghiệp hàng
năm việc chép không đúng hoặc nhầm lẫn các câu từ bài nọ sang bài kia, nhầm lẫn nhân vật nọ
với nhận vật kia … là hiện tượng khá phổ biến. Chẳng hạn, nhầm bài thơ Đất nước của Nguyễn
Đình Thi với chương Đất nước (trích trong trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa
Điềm. Có học sinh nhầm lẫn cách nhìn người nông dân, nhìn cuộc kháng chiến giữa Hoàng và
Độ. Các em cho rằng Độ có cách nhìn phiến diện, là người đứng bên lề cuộc kháng chiến …
Như vậy, tuỳ vào kinh nghiệm của bản thân hay theo góc độ nhìn nhận vấn đề khác nhau
mà mỗi quan niệm nhấn mạnh đến một khía cạnh tự mình cho là có ý nghĩa then chốt nhất,
hoặc từ bản chất thẩm mĩ của văn chương hoặc từ yêu cầu tăng cường năng lực ngôn ngữ cho
học sinh, hoặc là từ yêu cầu đổi mới phương pháp. Tuy nhiên những quan niệm trên đều thể
hiện khuynh hướng phiến diện trong cách nhìn nhận vấn đề. Xem văn như một môn học sẽ
thiên về mục tiêu giáo dục tri thức. Còn xem nó như một nghệ thuật sẽ thiên về mục tiêu giáo
dục nhân cách, thái độ tư tưởng tình cảm. Trong nhà trường văn học cũng là một môn học như
các môn khoa học xã hội và tự nhiên, nhưng nó không giống với những môn khác ở chỗ: văn
học là nghệ thuật sử dụng câu văn, lời văn, bài văn vào mục đích nghệ thuật. Ngôn từ có khả
năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc,
ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ thường ít khi truyền đạt được. Vì thế cần phải nhận thức rằng
văn học trong nhà trường vừa có tính nghệ thuật ngôn từ, vừa mang tính chất một môn học.
“Dạy văn phải có tâm hồn nghệ sĩ nhưng lại vừa phải có tài năng sư phạm”[22, tr.184].
Một câu hỏi đặt ra : trong thế kỉ XXI việc chỉ chú trọng đến chức năng nhận thức và thẩm
mĩ của môn Văn đã đáp ứng được yêu cầu đào tạo con người mới hay chưa? Chú trọng đến tính
nghệ thuật và tính môn học của văn học sẽ tạo cơ hội tốt để học sinh tiếp xúc với cái hay, cái
đẹp của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ để các em có thể lớn khôn về trí tuệ, đặc biệt là về tâm
hồn, tư tưởng tình cảm nhưng các em sẽ thiếu đi những kĩ năng hành động, kĩ năng tư duy. Vì
thế có thể khẳng định rằng việc nhận thức được “tính hai mặt” của môn văn trong nhà trường là
một quan điểm tiến bộ. Nó khắc phục được những quan điểm, những ý kiến phiến diện, cực
đoan về bản chất của môn Văn. Nhưng so với mục tiêu của việc dạy học hiện nay, yêu cầu của
xã hội – chúng ta đang sống trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần ba và sự chuyển biến
từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế trí thức. Muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
phải có lực lượng lao động có trình độ, có óc sáng tạo, có khả năng tiếp thu cái mới - thì nhận
thức như trên vẫn chưa thật toàn diện. Chúng ta phải quan tâm đến thuộc tính thứ ba của môn
Văn, đó là tính hành dụng. Dạy học văn cũng cần cung cấp cho học sinh những hiểu biết nhất
định, đồng thời cũng cần quan tâm nhiều đến việc rèn luyện cho học sinh phương pháp học,
cách thức nắm bắt và vận dụng tri thức để các em có thể tự đọc, tự phân tích và đáng giá những
văn bản cùng thể loại vừa học. Nghĩa là trong dạy học văn cần gắn lý thuyết với thực hành, hiểu
biết với khả năng vận dụng hiểu biết vào thực tiễn. Vì lẽ đó, chúng ta phải ý thức được “tính ba
mặt” của môn Văn.Văn học trong nhà trường vừa là một nghệ thuật, vừa là một môn học đồng
thời cũng là một công cụ thực hành tiếp nhận và tạo lập văn bản.
1.1.2. Ý nghĩa của môn Văn trong nhà trường
Những thập kỷ gần đây, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm nảy sinh tâm lý nghi
ngờ hoặc xem nhẹ vai trò của văn học nghệ thuật. Thực tiễn cho thấy khi Bộ Giáo dục và Đào
tạo tiến hành thí điểm phân ban ở trường phổ thông thì số học sinh đăng kí vào ban khoa học tự
nhiên luôn chiếm số lượng đông hơn so với những học sinh đăng kí vào ban khoa học xã hội.
Sở dĩ có hiện tượng này là vì học sinh ngày nay nghhĩ rằng chọn ban khoa học tự nhiên sau này
sẽ có nhiều cơ hội trong lựa chọn nghề, trong khi học văn “không thực tế, dài dòng, có những
cái trừu tượng, khó hiểu”. Các em không ý thức được rằng khoa học kỹ thuật càng phát triển thì
đời sống tinh thần càng mạnh mẽ phong phú đa dạng. Văn học là quốc văn, là lịch sử dân tộc.
Học văn không nhất thiết phải theo nghiệp văn mà để có kiến thức về văn, để “nhận thức cái
đẹp”. Đó là ý thức được vẻ đẹp nhân bản và nhân quyền của con người thông qua cái đẹp trong
văn học, nghệ thuật. Vả lại, con người là tổng hoà các quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân trong những
hoàn cảnh khác nhau có những vai trò xã hội khác nhau. Dù ở vai trò xã hội nào con người
cũng cần phải có “chất văn” trong giao tiếp, ứng xử.
Thái độ hoài nghi về vai trò của văn học hay thái độ coi nhẹ văn học trong nhà trường đều
phản ánh nhận thức không đúng đắn về bản chất của văn học và sự choáng ngợp trước những
thành tựu mới lạ của khoa học kỹ thuật mà quên đi sức mạnh kì diệu và đời sống tinh thần cực
kỳ phong phú của chính con người đã sản sinh ra những thành tựu khoa học kỹ thuật đó. Người
ta nói nhiều về tâm lý công nghiệp và hậu công nghiệp, về thị hiếu văn học mới. Nhưng người
máy không thể cảm nhận được những vẻ đẹp kì vĩ, hùng tráng của Đam san, không thể biết
“thương thân nàng Kiều” của Nguyễn Du... Trước sức mạnh của khoa học kỹ thuật, tâm lý coi
trọng đời sống vật chất văn học nghệ thuật vẫn không mất đi vẻ đẹp và ý nghĩa lớn lao của nó.
Đặc biệt, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, văn học nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật không những đối
với từng người hoặc tầng lớp người mà chúng đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được
trong đời sống văn hoá chung.
Trong nhà trường văn học như một môn học. Nói đến tính chất bộ môn của văn học trong
nhà trường là nói đến yêu cầu về nội dung giáo dục nhận thức cho học sinh về văn học nghệ
thuật. Qua bộ môn này giúp học sinh có được những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ
thống về văn học. Đó là những kiến về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của
văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Cụ thể, học sinh sẽ được cung cấp những kiến thức
về những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian Việt Nam, sẽ tìm hiểu những đặc sắc về nội
dung, nghệ thuật và những đặc điểm cơ bản của các thể loại văn học dân gian và văn học viết
nước nhà như sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, ca dao, thơ, phú, ngâm khúc, nghị luận,
văn tế trung đại và truyện, thơ, kịch, nghị luận, kí hiện đại. Ở mảng văn học nước ngoài các em
sẽ làm quen với những tác gia, tác giả, tác phẩm, đoạn trích nổi tiếng như sử thi Ô-đi-xê (Hô-
me-rơ) Hy Lạp, tiểu thuyết chương hồi, thơ Đường Trung Quốc, thơ Hai-cư Nhật Bản, trích
đoạn Tình yêu và thù hận (Rô-mê-ô và Ju-li-ét của Shakespeare), truyện ngắn Thuốc của Lỗ
Tấn……
Những hiểu biết văn học giúp học sinh có những hiểu biết về thế giới bên ngoài, xã hội,
con người từ đó thế giới tinh thần trí tuệ của các em được giàu có hơn, phong phú hơn, sâu sắc
hơn, rộng mở hơn, tinh tế hơn. Hiểu thế giới bên ngoài để hiểu chính bản thân mình. Nhận thức
để tự nhận thức.
Tuy nhiên, hiểu biết văn học không chỉ thu hẹp trong những tác phẩm văn chương. Môn
Văn còn có ý nghĩa khai sáng cho học sinh những vấn đề về lịch sử văn học, lí luận văn học. Đó
là những kiến thức về vị trí, các giai đoạn phát triển và những đặc điểm cơ bản , những thành
tựu của văn học Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của các tác
giả có tác phẩm được học trong nhà trường; kiến thức về một số thể loại của văn học dân gian
và văn học viết; một số khái niệm lí luận văn học như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn,
phong cách văn học, giá trị văn học … Đây là những thành phần tri thức khái quát cực kì quan
trọng vừa giúp học sinh cảm thụ văn chương, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương được sâu sắc
hơn, vừa giúp học sinh có được những kiến thức công cụ để tự mình sau khi ra trường có thể
tham gia vào sinh hoạt văn học nghệ thuật một cách có ý thức và hiệu quả.
Có người nghĩ rằng chú ý đến ý nghĩa giáo dục nhận thức sẽ làm khô khan sự cảm thụ tươi
mát của học sinh. Quan niệm này dễ dẫn đến khuynh hướng thiên về rung động, tình cảm chủ
nghĩa. Dạy văn mà coi nhẹ mặt nhận thức dễ đi đến giảng dạy tuỳ hứng, tuỳ tiện. Đành rằng
trong dạy văn cần phát huy cao độ sáng tạo cá nhân và cảm hứng cá nhân, nhu cầu đồng cảm.
Nhưng không phải vì thế mà coi nhẹ thậm chí đối lập cảm xúc với hiểu biết, tính nhạy cảm với
tính chuẩn xác của tri thức. Cảm xúc và trí tuệ trong dạy học văn không mâu thuẫn mà hỗ trợ,
bổ sung cho nhau nhằm phát triển nhân cách học sinh một cách hài hoà.
Dĩ nhiên, khi nhấn mạnh đến ý nghĩa giáo dục tri thức chúng ta không nên quan niệm kiến
thức như một thứ ghi nhớ máy móc. Kiến thức là phương tiện nhận thức, khám phá và sáng tạo.
Đặc biệt, trong học văn, kiến thức chỉ thực sự trở thành tài sản của học sinh một khi kiến thức
đó được tiếp nhận thông qua sự vận động của bản thân học sinh. Tác phẩm văn chương chỉ thực
sự phát huy sức mạnh của nó khi nào nó khơi dậy được từ bên trong người tiếp nhận những
hoạt động tâm lý sáng tạo. Cho nên, cung cấp kiến thức cốt là để từ đó học sinh tự mình ý thức
về mình, để sống có nhân cách hơn, trong sạch hơn, cao thượng hơn, có bản lĩnh hơn.
Việc đào tạo nên những bạn đọc có khả năng thưởng thức cái đẹp và tìm thấy ý nghĩa
nghệ thuật đã trở thành nhiệm vụ của toàn thể xã hội. Trong đó việc dạy học văn trong nhà
trường góp phần đào tạo năng lực văn học và giáo dục thẩm mĩ nghệ thuật bằng cách cho các
thế hệ học sinh tiếp nhận độc lập, sáng tạo dưới sự dẫn dắt của giáo viên những tác phẩm có giá
trị trong di sản văn học nhân đạo và văn học tiến bộ.
Nội dung chính của tác phẩm văn chương là thông tin thẩm mĩ, tác phẩm văn chương là
hình ảnh khách quan được nghệ sĩ phản ánh một cách chủ quan. Thông qua cái đẹp được nói ra,
cái phản ánh, trong mặt chìm của hình tượng còn có nỗi niềm tâm sự của nhà văn trước cuộc
đời và những số phận con người khác nhau. Đó là những tình cảm, những xúc động có ý nhĩa
toàn nhân loại, những niềm rung động sâu sắc nhất, thắm thiết nhất của con người và tiêu biểu
nhất cho con người. Makarencô đã từng nói : “Giáo dục tính cách bônsơvích có nghĩa là giáo
dục tình cảm nhân loại. Nếu chúng ta không giáo dục tình cảm nhân loại thì có nghĩa là chúng
ta không giáo dục cái gì cả”[22, tr.44]. Dạy hoc văn mà chỉ chú trọng đến hiểu biết coi nhẹ
những tình cảm nhân loại, những tình cảm thẩm mĩ có nghĩa là không dạy văn chương mà dạy
một thứ xã hội học dung tục. Dạy văn phải xuất phát từ bản chất đặc thù của bộ môn là phát
triển tình cảm tâm hồn của học sinh. Cái đúng, cái đẹp, cái cao thượng không hề tách rời nhau.
Quan niệm tách rời giáo dục thẩm mĩ với hiểu biết và giáo dục tư tưởng tình cảm đạo đức bắt
nguồn từ sự không nhận thức đúng về bản chất của hình tượng văn học, từ sự biệt lập một cách
giả tạo các phương diện, các thành tố hữu cơ của hình tượng, của tác phẩm văn chương. Nhạy
cảm trước cái đẹp của thiên nhiên, của con người, của cuộc đời gắn liền với ý thức và khát vọng
vươn lên cái đẹp, cái cao thượng, bảo vệ cái đẹp, sáng tạo cái đẹp. Hiện nay, môn Văn trong
nhà trường phải góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ phát triển thẩm mĩ lành mạnh cho
học sinh, đó là ý nghĩa lâu dài và cấp bách trong sự nghiệp đấu tranh chống sự xâm nhập của
thứ thẩm mĩ rẻ tiền góp phần xây dựng nền văn hoá thẩm mĩ mới cho xã hội.
Nhưng dạy văn không phải để đào tạo ra những kiểu người mọt sách hay những văn
nhân trói gà không chặt, chỉ biết rung đùi thưởng thức câu thơ, câu phú mà thiếu đi những năng
lực hành động trong đời sống thực tiễn. Lối dạy văn tách rời hiểu biết với kĩ năng, nhận thức
với hành động không phải hiếm trong thực tiễn dạy văn trong nhà trường phổ thông của chúng
ta lâu nay. Những kĩ năng cơ bản về văn ở học sinh còn rất thấp. Các em chưa được chuẩn bị
thực sự để tự mình khi rời ghế nhà trường có thể độc lập và tích cực tham gia vào đời sống văn
hoá của xã hội. Vì thế, song song với việc chú ý đến trí dục, các nhà giáo dục đang hướng đến
việc hình thành những kĩ năng và năng lực cho từng lớp, từng cấp.
Như vậy, với ý nghĩa tổng quát là góp hình thành và phát triển nhân cách xã hội chủ
nghĩa cho học sinh. Môn Văn trong nhà trường phổ thông cần thông qua cung cấp kiến thức,
thông tin mà bồi dưỡng năng lực tiếp nhận ngôn từ, bồi dưỡng nhân cách, thái độ tư tưởng tình
cảm, tinh thần tự học. Mặt khác, qua môn học này mà hình thành và rèn luyện cho học sinh
năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản. Với ý nghĩa như trên, dạy văn thực chất là dạy cách đọc,
cách giải mã văn bản. Thông qua tác phẩm cụ thể vừa giúp học sinh khám phá vẻ đẹp cụ thể,
độc đáo của tác phẩm vừa hình thành và rèn luyện cho các em cách thức khám phá, cách đọc
một thể loại tác phẩm nhất định. Dạy văn là trang bị cho học sinh văn hoá đọc để các em có thể
tự mình đọc và học suốt đời.
1.2. Các phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông
1.2.1. Phương pháp giảng văn
Đây là phương pháp đầu tiên và có sức sống lâu nhất ở nhà trường phổ thông. Năm
1925, trong tác phẩm “Quốc văn trích diễm”, lần đầu tiên Dương Quảng Hàm nói tới giảng văn
và phương pháp giảng văn. Ông đã “phỏng theo lối bình giảng Âu –Tây ” để đề xuất cách thức
và tiến trình bài giảng văn ở nhà trường phổ thông Việt Nam. Mô hình phương pháp giảng văn
của Dương Quảng Hàm gồm hai chặng. Chặng một là quá trình chuẩn bị của thầy và trò. Ở
chặng này, cả thầy và trò đều cần xem xét chú thích và tra cứu chữ khó, điển tích; trả lời câu
hỏi trong sách giáo khoa. Chặng hai là quá trình lên lớp của thầy. Trong quá trình này, thầy cần
tập trung làm rõ với học sinh về tiểu sử tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, xuất xứ, đại ý,
bố cục đoạn trích; giảng nghĩa về tiếng, ý tưởng và pháp văn; nhận định giá trị tác phẩm và kết
luận.
25 năm sau, khi giảng đoạn “Người thiếu phụ trông chồng” trích trong Chinh Phụ Ngâm
của Đoàn Thị Điểm, Đặng Thai Mai đã đưa ra tiến trình giảng văn gồm: giới thiệu vị trí khúc
ngâm, tìm đại ý, bố cục, sự phân phối từ khúc và phân tích chi tiết về phương diện cấu tứ, đề
tài, thế giới quan và cuối cùng là phần kết luận.
Năm 1963, nhóm nhà giáo của Đại học Sư phạm Hà Nội I như Bùi Hoàng Phổ, Nguyễn
Gia Phương, Quách Hy Dong, Hoàng Lân, Trần Thanh Đạm đã đưa ra mô hình giảng văn như
sau: giới thiệu tiểu sử tác giả, hoàn cảnh lịch sử có liên hệ với tác phẩm văn chương, xuất xứ
tác phẩm văn chương, tìm đại ý, chủ đề hoặc tư tưởng chủ đề của tác phẩm, chia bố cục, phân
tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chương và cuối cùng là kết luận.
Tiến trình giảng dạy văn của Đặng Thai Mai và nhóm nhà giáo của Đại học Sư phạm Hà
Nội I cũng chưa có gì khác biệt so với mô hình của Dương Quảng Hàm. Thực ra, nó cũng chỉ là
những biến thể từ mô hình của tác giả “Quốc văn trích diễm” mà thôi.
Trong khoảng một thế kỷ tồn tại, phương pháp này đã nhận được những quan điểm trái
ngược nhau. Những nhà cách tân giáo dục thì phê phán, thậm chí đòi khai tử phương pháp này.
Bởi theo họ, giảng văn chỉ xoay quanh hoạt động đơn phương của giáo viên, đặt trách nhiệm
lên ông thầy, giành cho ông thầy cái uy quyền áp đặt, trong khi vai trò của chủ thể học sinh bị
xem nhẹ. Điều này tạo nên sự thụ động, lười suy nghĩ ở học sinh. Các em đến lớp không phải
bằng tâm lý đối thoại mà bằng tâm lý chờ đợi nghe những lời hay, ý đẹp từ thầy… Vì thế, trong
bước phát triển của xã hội, của ngành, của quan niệm giáo dục con người hiện đại áp dụng
phương pháp này là không ổn.
Những người kiên trì bảo vệ phương pháp giảng văn thì biện giải rằng: trong quá trình
giúp học sinh chiếm lĩnh một tác phẩm nghệ thuật thì diễn giảng, thuyết trình, giảng thuật là
những hoạt động ở chừng mực nhất định vẫn có ý nghĩa. Bởi “không nên nghĩ rằng học sinh đã
đọc sáng tạo là họ có thể biết hết, họ chỉ có việc đọc là đã biết cả những tri thức đòi hỏi trong
chương trình. Ta yêu cầu các em phải đọc một cách sáng tạo và ta có nhiều cách thức để hướng
dẫn các em đọc một cách sáng tạo. Giảng cũng là một cách […]. Không những việc giảng này
phải tiến hành ở phổ thông cơ sở mà lên trung học, lên đại học cũng còn phải giảng” ( 2, tr.46).
Chúng ta thấy rằng có hoạt động dạy học thì không thể xem nhẹ vai trò của giảng giải,
định hướng của giáo viên. Vấn đề là ở nghệ thuật sư phạm, tài năng sư phạm, giáo viên biết
cách thức thích hợp để không thay học sinh cảm thụ hoặc áp đặt lối hiểu, lối cảm của mình.
1.2.2. Phương pháp đọc sáng tạo là phương pháp thông qua việc đọc hoặc các hoạt động
hỗ trợ cho việc đọc hình thành và duy trì những ấn tượng nghệ thuật để học sinh tiếp tục đi sâu
vào nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ của tác phẩm. Để thực hiện phương pháp này,
giáo viên cần có những hoạt động: đọc diễn cảm; đọc văn bản nghệ thuật có lời bình luận và lời
nói ngắn gọn để giúp cho sự cảm thụ của học sinh được đúng đắn và sâu sắc hơn; đàm thoại
nhằm gợi cho học sinh những ấn tượng về tác phẩm vừa đọc. Học sinh cần có những bước
chuẩn bị như sau : đọc tác phẩm (ở nhà hoặc ở lớp); xây dựng dàn bài; kể lại tác phẩm, minh
hoạ tác phẩm đã đọc bằng hình vẽ hoặc sơ đồ.
1.2.3. Phương pháp gợi tìm : phương pháp này được tiến hành bằng hình thức “đàm thoại
gợi tìm” để giúp học sinh “giải quyết các vấn đề nghệ thuật, đạo đức, xã hội hoặc triết học do
nhà văn đặt ra” [7, tr. 27]. Thực hiện phương pháp này, giáo viên và học sinh cần có những
kiểu hoạt động cần thiết như : giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập về văn bản đang
giảng dạy, đặt thành vấn đề và tổ chức cho học sinh tranh luận. Học sinh lựa chọn tư liệu trong
tác phẩm nghệ thuật, trong các bài phê bình, trong sách giáo khoa hoặc các tài liệu tham khảo
khác phù hợp với câu hỏi, vấn đề giáo viên đặt ra; kể lại có phân tích dựa theo câu hỏi đề bài
giáo viên ra; lập đề cương và dàn ý; trình bài tóm tắt kết quả phân tích.
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu : nếu như phương pháp gợi tìm giáo viên đề ra những
nhiệm vụ cụ thể và trong một chừng mực đáng kể hướng dẫn sự tìm tòi của học sinh, dạy cho
các em những biện pháp làm việc thì với phương pháp nghiên cứu, dựa trên sự nắm vững các
biện pháp làm việc, học sinh sẽ tự mình giải quyết các vấn đề phức tạp hơn. Các biện pháp thể
hiện phương pháp nghiên cứu là giáo viên đề xuất những chủ đề, những vấn đề yêu cầu từng
nhóm của cá nhân học sinh giải quyết một số phương diện nào đó của vấn đề. Khi các em thực
hiện được yêu cầu đã nêu thì giáo viên tập cho các em nghiên cứu ở cấp độ cao hơn. Đó là cho
các em tự phân tích những tác phẩm nằm ở phần đọc thêm hoặc những tác phẩm không có
trong chương trình. Về phần mình, học sinh giải quyết những chủ đề, những vấn đề mà giáo
viên nêu ra; đối chiếu hai hoặc nhiều tác phẩm về mặt chủ đề, vấn đề tư tưởng; đối chiếu, phân
tích hai hoặc nhiều quan điểm đối với một tác phẩm, một hình tượng nhân vật với lập luận của
cá nhân mình; tự lực đánh giá một nhân vật, một tác phẩm, một tác giả …
1.2.5. Phương pháp tái tạo : là phương pháp thông qua lời nói hoặc bài giảng của giáo
viên, thông qua sách giáo khoa, các bài phê bình mà giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách
có ý thức. Các biện pháp thuộc phương pháp tái tạo là giáo viên kể về cuộc đời và tác phẩm của
nhà văn, đọc bài giảng về con đường sáng tạo và tác phẩm của nhà văn hoặc bài giảng tổng
quan có dàn ý tóm tắt trên bảng, có thể kết hợp với giáo khoa và phương tiện kỹ thuật. Hoặc có
thể ra bài tập theo sách và tài liệu giáo khoa. Học sinh nghe và ghi dàn bài hoặc tóm tắt bài
giảng của thầy, lập dàn bài, viết tóm tắt hoặc xác định luận điểm của các mục trong sách giáo
khoa, chuẩn bị trả lời miệng theo nội dung bài giảng của thầy.
Ưu điểm chung của những phương pháp này là nó khắc phục được những hạn chế của
những phương pháp dạy học văn truyền thống.
Trong bốn phương pháp trên, phương pháp đọc sáng tạo là phương pháp “đặc biệt nhất
đối với văn học”. Phương pháp này giúp học sinh tiếp xúc trực tiếp với văn bản tác phẩm, từ đó
sẽ gây cho các em được những ấn tượng về tác phẩm, tạo tâm thế thuận lợi để tìm hiểu nội
dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Đối với phương pháp gợi tìm và phương pháp nghiên cứu, nếu nói rằng hai phương pháp
này có chú ý đến phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì không sai nhưng còn chung
chung. Bằng hình thức đàm thoại, hệ thống bài tập … giáo viên sẽ kích thích được tính tích cực
hoạt động nhận thức của học sinh. Quá trình tham gia đàm thoại, trình bày kết quả đàm thoại sẽ
bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, súc
tích. Sử dụng hai phương pháp này trong dạy học văn còn giúp giáo viên thu được những tín
hiệu ngược từ học sinh nhanh, kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy-học, học sinh cũng thu được
tín hiệu ngược để kịp thời điều chỉnh hoạt động học tập - nhận thức của mình. Mặt khác, khi
tham gia vào quá trình đàm thoại, vào việc giải quyết những bài tập, những chủ đề, vấn đề do
giáo viên yêu cầu mỗi cá nhân học sinh có cơ hội tham gia chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm của
mình. Từ đó hình thành khả năng đề xuất và bảo vệ ý kiến. Áp dụng hai phương pháp trên cũng
là cách để xây dựng cho học sinh ý thức làm việc theo nhóm.
Phương pháp tái tạo có ưu thế là cho phép giáo viên trình bày nội dung lí thuyết tương đối
khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà học sinh không tự tìm hiểu lấy được. Mặt khác, nó
cũng tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tính tích cực tư duy của học sinh. Nhờ vậy, các em
hiểu sự giảng giải của giáo viên và ghi nhớ được bài học. Phương pháp này phù hợp với kiểu
bài dạy về tác giả, văn học sử, lí luận văn học.
Tuy nhiên, khi áp dụng các phương pháp trên vào quá trình dạy học văn, giáo viên sẽ gặp
không ít trở ngại. Những phương pháp trên đều đòi hỏi phải có nhiều thời gian, trong khi một
tiết học chỉ gói gọn trong 45 phút. Nếu không khéo sẽ làm mất thời gian ảnh hưởng đến kế
hoạch dạy học.
Giáo viên cần phải có những biện pháp phụ để kích thích mọi học sinh trong lớp tham gia
vào quá trình giải quyết các yêu cầu của mình đề ra. Bằng không, cuộc đàm thoại sẽ biến thành
cuộc đối thoại giữa giáo viên và một vài học sinh trong lớp. Vì trong một lớp học, ắt sẽ có giỏi,
có dở. Một hoặc vài thành viên trong lớp trội hơn thì các thành viên khác có thể bị co lại và bớt
tham gia vào hoạt động chung.
Phương pháp tái tạo tuy có chú ý đến “sự chiếm lĩnh có ý thức” của học sinh nhưng dễ
làm người học thụ động vì không có tác động vào đối tượng trực tiếp mà chỉ nghe, nhìn cùng tư
duy theo lời giảng của giáo viên, hiểu ghi chép và ghi nhớ. Phương pháp này cũng dễ tạo tâm lý
mệt mỏi, uể oải cho học sinh vì sự kích thích đơn điệu.
Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy rằng không có phương pháp nào là tuyệt đối, là tối
ưu. Vì thế, trong quá trình dạy học văn cần phải tuỳ đối tượng học sinh, điều kiện cơ sở vật chất
mà lựa chọn phương pháp thích hợp.
1.2.6. Dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là một hệ thống các tình huống có vấn đề liên kết với nhau và phức
tạp lên dần, mà qua giải quyết các tình huống đó, học sinh, với sự giúp đỡ và chỉ đạo của thầy
giáo, sẽ nắm được nội dung của môn học, cách thức học môn đó, và phát triển cho mình những
đức tính cần thiết để sáng tạo trong khoa học và trong cuộc sống.
Hiện vẫn còn những ý kiến trái ngược nhau về ứng dụng dạy học nêu vấn đề vào giờ giảng
văn. Có ý kiến lo ngại dạy học nêu vấn đề có nguy cơ phá vỡ chỉnh thể tác phẩm. Lại cũng có ý
kiến cho rằng dạy học nêu vấn đề thuộc lĩnh vực phát triển tư duy khoa học nên nó không phù
hợp cho sự phát triển cảm xúc thẩm mĩ. Vì họ cho rằng văn chương thuộc lĩnh vực cảm xúc,
lĩnh vực của tư duy hình tượng và những rung động thẩm mĩ chứ không phải của trí tuệ hay tư
duy logic. Trong khi đó, dạy học nêu vấn đề lại là lĩnh vực của trí tuệ và các thao tác tư duy
logic. Nếu ứng dụng dạy học nêu vấn đề vào giảng văn sẽ làm tổn hại những rung động thẩm
mĩ cần thiết của một giờ văn, nhất là giờ giảng văn.
Ngược lại, có ý kiến cho rằng trong cảm thụ thưởng thức văn chương vẫn cần đến tư duy
logic, cần những thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát. Vì nếu không có tư duy logic
nghĩa là không có phân tích, cắt nghĩa, không hiểu ý đồ nghệ thuật cũng như cái hay, cái đẹp
của tác phẩm thì học sinh cũng không có được những rung động thẩm mĩ thật sâu sắc.
Ý kiến nghi ngờ việc vận dụng dạy học nêu vấn đề vào dạy học tác phẩm văn học không
phải là không có cơ sở, nhưng nếu chỉ coi việc thưởng thức, tiếp nhận tác phẩm văn chương là
lĩnh vực cảm xúc, của tư duy hình tượng và những rung động thẩm mĩ thì chưa đủ để bác bỏ
khả năng ứng dụng của dạy học nêu vấn đề.
1.2.7. Phương pháp đọc – hiểu
Phương pháp này xuất hiện như là sự nối tiếp, là kết quả của quá trình tư duy của nhiều
chuyên gia.
Các tài liệu nghiên cứu về đọc đã xuất hiện nhiều quan niệm với các nội hàm khác nhau.
Mỗi một quan niệm về đọc đều có một cơ sở khoa học nhất định và hạt nhân hợp lí phù hợp với
mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của từng tác giả trong từng công trình khoa học cụ thể. Để có
một cách hiểu đúng về đọc – hiểu làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu của đề tài, chúng tôi
xem xét một số ý kiến, quan điểm khác nhau về đọc - hiểu trong vài năm trở lại đây.
Theo quan điểm thông tin, đọc – hiểu là quá trình tái tạo âm thanh từ chữ viết, cùng với sự
huy động vốn sống, kinh nghiệm cá nhân … để lựa chọn và phát hiện những giá trị tư tưởng
thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm. “Đọc không chỉ là đọc bằng kỹ thuật mà còn phải đọc
bằng hồn, đọc bằng khế ước văn hoá, bằng sự trải nghiệm không ngừng. Đọc văn chính là đọc
người, đọc nhân cách nhà văn và để hoàn thiện nhân cách của mình”[5, tr.26].
Theo quan điểm tâm – sinh lí đọc “là quá trình tri giác và xử lí thông tin mang tính tích
cực - cái đã được mã hoá bằng những nét chữ theo một hệ thống của ngôn ngữ này hay ngôn
ngữ kia”[6, tr.22]
Theo quan điểm giao tiếp đọc – hiểu là quá trình đối đáp qua lại giữa người đọc với tác
giả, với cách hiểu của những người đi trước và cùng thời, với cách hiểu tích lũy ban đầu của
người đọc; là quá trình giao tiếp về tư tưởng giữa “ta”và “người khác”.
Theo quan điểm hoạt động đọc là một loại hoạt động phát ra thành tiếng những điều được
viết ra, theo đúng trình tự để tiếp nhận và thấu hiểu nội dung của một tập hợp các kí hiệu ngôn
ngữ.
Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng cho rằng : “đọc – hiểu là một hoạt động của con
người nó không phải chỉ là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt
động tâm lý sinh động giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người
…”[16, tr.22]
Vũ Dương Quỹ lưu ý muốn đọc – hiểu các văn bản trước hết chúng ta cần ý thức rõ những
thuộc tính của văn học trong nhà trường và “cần sử dụng các thao tác tư duy chủ động, tích cực
theo các bước : đọc thông, đọc thuộc – đọc kĩ, đọc sâu – đọc hiểu, đọc sáng tạo và đọc đánh giá,
đọc ứng dụng. Cách đọc ấy, theo các nhà khoa học, gọi là quá trình : đọc trên dòng, đọc giữa
dòng, đọc ngoài dòng”[28, tr.4].
Từ những hướng tiếp cận chính nêu trên, ta thấy những nội dung trong các quan điểm về
đọc – hiểu của các tác giả đưa ra có thể bao gồm mấy điểm sau : đọc là một quá trình tâm sinh
lý phức tạp; đọc gồm hai quá trình có liên hệ chặt chẽ với nhau – quá trình tri giác, tái tạo lại lời
nói và quá trình thông hiểu nội dung.
Nếu xem đọc – hiểu là quá trình tri giác và thông hiểu nội dung thì vô tình đã thu hẹp
nghĩa của khái niệm này. Ở đây, nên xem xét đọc – hiểu theo nghĩa rộng : đọc – hiểu với tư
cách là một phương hướng, một chiến lược dạy học. Phương hướng, chiến lược này xuất phát
từ bản chất, mục tiêu của việc dạy học văn hiện nay. Đọc – hiểu là hai quá trình hướng đến ba
mục tiêu. Trong đó đọc hướng đến mục tiêu tiếp nhận, xử lí thông tin, còn hiểu hướng đến mục
tiêu kép vừa giải mã thông tin, vừa hình thành và rèn luyện cách thức khám phá, cách đọc một
kiểu văn bản. Nói cách khác, hiểu trong đọc – hiểu không phải chỉ là thông hiểu nội dung tư
tưởng của văn bản mà còn “nắm vững và vận dụng được” những điều đã học vào việc tiếp nhận
và tạo lập văn bản.
Đọc – hiểu văn bản văn học thực chất là phương pháp tiếp nhận nghệ thuật ngôn từ bằng
sự cảm thụ trực tiếp, là sự hiểu thấu ngôn ngữ và là sự phân tích, phát hiện ý nghĩa sâu xa trong
văn bản. Mục đích của đọc –hiểu là hình thành và duy trì những ấn tượng nghệ thuật để học
sinh tiếp tục đi sâu vào nội dung tư tưởng và hình thức ngôn ngữ tác phẩm. Theo tinh thần này,
đọc – hiểu văn chính là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã các văn bản văn học tiêu biểu cho
các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử văn học, qua đó cung cấp và hình thành ở học sinh những
kiến thức cơ bản về lịch sử văn học, lí luận văn học, tác giả và tác phẩm văn học,… làm nền
tảng để từng bước xây dựng văn hoá đọc cho học sinh.
Dưới góc độ phương pháp, dạy học đọc – hiểu là dạy người tiếp nhận cách thức đọc ra nội
dung trong những mối quan hệ qua lại phức tạp của văn bản, là cung cấp cho người tiếp nhận
cách đọc để có quan điểm, thái độ và kĩ năng đọc những sáng tạo ngôn ngữ theo quan điểm
thẩm mĩ nhất định. Dạy đọc – hiểu là vừa dạy cách thức tiếp xúc với văn bản, thông hiểu nghĩa
đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của các hình thức, biện
pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết, các giá trị tự thân
của hình tượng nghệ thuật và cả ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó,
vừa tập trung hình thành cách đọc văn, phương pháp đọc – hiểu theo thể loại, để dần dần các
em có thể tự đọc được văn, hiểu tác phẩm văn học một cách khoa học, đúng đắn.
1.3. Đọc – hiểu văn bản văn học và việc đổi mới phương pháp dạy học văn
Đổi mới nói chung bao hàm ý nghĩa vận động đi lên, thay thế các quan niệm cũ, việc làm
cũ đã lỗi thời bằng quan niệm mới mẻ, việc làm thích hợp với hoàn cảnh mới nhằm thúc đẩy sự
vật phát triển. Như vậy đổi mới tuyệt nhiên không đồng nhất với việc phủ nhận tất cả những gì
đã làm trong quá khứ, mà bao hàm việc tiếp thu những thành tựu dạy học truyền thống. Những
gì đã đặt ra trước đây mà thấy đúng thì vẫn tiếp tục làm, đồng thời với thái độ nhìn thẳng vào sự
thật, cái gì chưa đúng, chưa tốt thì phải làm lại phù hợp với thực tiễn ở cả nội dung và phương
pháp.
Nói riêng về đổi mới phương pháp giảng dạy ở môn Văn. Tuy có nhiều cách nói khác
nhau nhưng xét đến cùng, đổi mới phương pháp giảng dạy ở môn Văn là sự vận dụng linh hoạt
các nguyên tắc, thao tác giảng dạy khác nhau nhằm phát huy tối đa tinh thần chủ động tích
cực, sáng tạo của học sinh, giúp các em tự tìm, tự khám phá ra chân lí thay vì cách học thụ
động, một chiều như trước đây. Từ đó học sinh sẽ có sự phát triển toàn diện, thích ứng với yêu
cầu đa dạng phong phú của cuộc sống.
Ý tưởng này đã xuất phát từ lâu trong lịch sử giáo dục. Ở những năm 60, trong một số
trường đại học đã có tư tưởng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo và ở trường
phổ thông đã có phong trào phát huy tính tích cực của học sinh. Mười năm tiếp theo lại có chủ
trương Thầy thiết kế, trò thi công, Dạy học nêu vấn đề, Chống dạy học theo lối đọc chép. Rồi
có khẩu hiệu : Lấy học sinh làm trung tâm, Tích cực hóa hoạt động của người học …
Hiện nay, một trong những luận điểm cơ bản của quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Văn trong nhà trường là luận điểm “Học sinh là bạn đọc sáng tạo trong quá trình dạy học văn”.
Đây cũng là luận điểm mà giáo sư Phan Trọng Luận đã đề xuất trong hàng lọat công trình của
mình và kiên trì theo đuổi hàng chục năm nay. Chính từ luận điểm này, theo hướng dẫn của
chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, đọc – hiểu văn bản được xem là hoạt động chủ yếu
của quá trình dạy học; là khâu trung tâm của đổi mới phương pháp dạy học Văn trong nhà
trường. Việc xây dựng ổn định khái niệm người đọc – học sinh là bước đột phá mang ý nghĩa
đổi mới nhận thức về người dạy và người học.
1.3.1. Đọc – hiểu - con đường đưa học sinh trở thành người đọc
Từ xa xưa trong lịch sử người ta đã nói đến nền văn học khẩu truyền của nhân loại. Những
người hát rong và các nhóm du ca đã chấp cánh cho những tác phẩm văn học bất hủ bay đi khắp
nơi trên mặt đất miễn là ở đó có con đường và dân chúng. Công chúng văn học thời ấy là người
nghe chứ chưa phải là người đọc. Mãi đến thời Phục hưng ở phương Tây – khoảng thế kỷ XVI,
một trong những phát minh trí tuệ của nó là biến tư tưởng tinh thần thành đối tượng có thể
chuyển lưu qua nội dung phong phú được kiểm định, biến đổi kết hợp phê phán và đúc kết lại
trước khi đem ra lưu hành. Chữ viết và khuôn in sách ra đời là vật trung gian để tư tưởng trong
tác phẩm văn học nhập vào dòng lưu thông văn hoá.
Sách in làm mất giá trị các cấu trúc tư duy cho phép sắp xếp các sự kiện vào kí ức để khi
cần có thể nhớ lại dễ dàng. Thói quen được nhiều thế hệ tri thức áp dụng trước kia là khi gặp
một sự kiện mới lập tức đem gắn nó với hình ảnh rồi xếp vào một khu vực trong kí ức dễ lục
tìm. Thói quen đó đã phải biến đi, nhường chỗ cho việc lưu trữ sách trong thư viện và tủ sách
cá nhân. Sách tạo ra người đọc, nhưng người đọc phân dòng với mọi chủng loại nghề nghiệp rồi
lại hợp lưu lại thành công chúng độc giả của tác phẩm văn học. Lúc đầu, người đọc tác phẩm
chỉ hạn chế trong giới sành văn mà trước hết là bản thân tác giả, các tao đàn và hội bút của họ.
Dần dần, cấu trúc xã hội tiến bộ và dân chủ, bình đẳng sẽ tạo ra một hệ thống phổ biến văn học
sâu rộng vào quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Ngày nay, đọc sách là một trong những
hoạt động không thể thiếu trong đời sống tinh thần của xã hội loài người. “Mỗi cuốn sách là
một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để đi tới gần con người”(M. Gorki).
Vì thế, vấn đề dạy cách đọc để con người đọc có văn hoá, có thái độ ứng xử đúng đắn với sách
là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong sự phát triển của dân tộc, của quốc gia. Đó cũng
chính là mục tiêu dạy học hiện nay, hoạt động đọc sách nói chung và đọc văn bản văn học nói
riêng.
Người đọc ra đời như một tất yếu của sự phát triển xã hội. Nhân tố này lúc đầu chỉ như là
kết quả của một nguyên nhân. Dần dần người đọc trở thành một nhân tố của tiến trình văn học,
là chủ thể của quá trình dạy học. Vấn đề người đọc sau này được nhắc đến cụ thể hơn trong lý
thuyết tiếp nhận văn học.
Lý thuyết tiếp nhận khởi nguồn từ Cộng hoà Liên bang Đức với trường phái Konstanz đã
được các nhà lí luận mĩ học trên thế giới ghi nhận, tiếp thu và phát triển, góp phần bổ sung một
cách đáng kể vào hệ thống tri thức lí luận khoa học, lí luận nghệ thuật và lí luận giảng dạy văn
học.
Lí thuyết tiếp nhận văn học cho rằng tác phẩm văn học là một sản phẩm có ý thức nhưng
chính tác giả của nó cũng chưa ý thức hết những gì đã được viết, những gì được đọc. Tác phẩm
được viết ra nhưng nó có sức sống đến đâu, tiếp nhận như thế nào là tuỳ thuộc vào người đọc.
Những tác phẩm có giá trị sẽ trường tồn, những tác phẩm theo thời sự lịch sử đến một giai đoạn
khác nó sẽ ít được tiếp nhận.
Nét nổi bật của lí thuyết tiếp nhận văn học là đi sâu vào tính xã hội của tác phẩm. Nó
không nghiên cứu tác phẩm trong trạng thái tĩnh mà trong quá trình vận động, tác động qua lại
lẫn nhau giữa các yếu tố tác phẩm – tác giả – người đọc. Trước đây, lí luận văn học khi nghiên
cứu văn học thường quan tâm đến tác phẩm, tác giả mà không quan tâm đến người đọc. Lí
thuyết tiếp nhận văn học ưu tiên một cách thích đáng cho việc nghiên cứu người đọc dưới nhiều
góc độ khác nhau. Điều này đã làm sáng tỏ mối liên hệ qua lại sinh động, tất yếu giữa sáng tác
văn học và lĩnh hội văn học. Trong mối liên hệ trên, người đọc quyết định sức sống của tác
phẩm. Thiếu người đọc tác phẩm văn học chẳng khác gì “những tiếng kêu vô vọng vang lên
giữa cánh đồng hoang và mọc đầy cỏ dại”[7, tr.10]. Người đọc trở thành nhân tố quan trọng của
tiến trình văn học. Qua người đọc, tác phẩm văn học được thăng hoa hai lần. Một lần trong tư
duy sáng tạo của người viết, một lần trong cảm nhận của người đọc. Nếu tác giả là người sinh
ra tác phẩm thì công chúng là người nuôi dưỡng tác phẩm. Nhiều khi những tác phẩm vĩ đại là
nhờ người đọc vĩ đại. Văn học Nga thế kỷ XIX sở dĩ trở thành nền văn học vĩ đại bởi một phần
nhờ sự vĩ đại của công chúng đọc. Thơ Đường vĩ đại là nhờ những tri âm, tri kỉ vĩ đại của nó.
Như vậy vấn đề bạn đọc – học sinh đã được đề cập từ lâu. Tùy theo quan điểm tiến bộ hay
lạc hậu của giáo viên mà vai trò học sinh được nhìn nhận một cách đúng đắn hay không. Với
quan điểm cũ, học sinh chỉ có nhiệm vụ nghe, nhớ và lặp lại điều đã nhớ được qua lời giảng của
giáo viên. Cố Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nhận xét trong bài viết Dạy học văn là
một quá trình rèn luyện toàn diện :“Tôi nghĩ rằng hiện nay trong nhà trường phổ thông chúng ta
có hiện tượng dạy văn theo điệu “sáo”. Đó là một cách giảng dạy theo kiểu rất xưa, không chỉ ở
nước ta mà cả ở nhiều nước khác, nghĩa là cho học sinh học nhiều, yêu cầu học sinh nhớ nhiều
để bắt chước và như vậy gọi là làm văn. Như vậy khác nào dạy học sinh múa chữ vì học sinh
không phải suy nghĩ nhiều, chỉ cần nhớ nhiều rồi lập lại, gộp nhiều trích dẫn lại thành bài văn”..
coi học sinh là chủ thể cảm thụ trong quá trình dạy học văn là xác định rõ tính ý thức, tính tự
giác, chủ động sáng tạo của học sinh trên lớp cũng như ngoài lớp. Khi học sinh chỉ đóng vai trò
của những người nghe thụ động, cho dù là những thính giả, cần cù tích cực nhất chăng nữa thì
nhất định những năng lực chủ quan của học sinh cũng sẽ bị thui chột đi. Quan niệm học sinh
như một khách thể thụ động kéo theo kiểu dạy học xa rời bản chất văn: coi tác phẩm văn học
như một hiện tượng tĩnh tại dẫn đến nhàm chán, nhạt nhẽo, trì truệ, hoặc coi tác phẩm văn học
như một hiện tượng lịch sử xã hội, dạy theo ý, chấm theo ý trong khi ít chú ý đến vẻ đẹp riêng
của hình tượng nghệ thuật.
Đọc – hiểu trả lại cho người đọc vai trò, vị trí đích thực. Học sinh không còn lệ thuộc vào
thầy như trước mà trong tư thế chủ động, tự giác, tự lực, là một “bạn đọc sáng tạo”. Học sinh từ
chỗ tiếp thu thụ động nay trở thành người đọc trực tiếp, đọc có suy nghĩ, đọc kết hợp với vận
dụng vốn kinh nghiệm, vốn sống, những giác quan cao cấp như cảm giác, xúc giác, tri giác, liên
tưởng tưởng tượng … để từng bước tri giác bằng ngôn ngữ âm thanh, định hình những hình ảnh
chính của tác phẩm và nhận ra tiếng nói của tác giả, xác định chủ để của tác phẩm. Đọc để tìm
ra cái mình cần, đọc để đối thoại với tác giả và giáo viên, với cách hiểu của người đi trước, với
cách hiểu tích lũy ban đầu của chính mình.
Tác phẩm văn học được xây dựng bằng nhiều hình tượng nghệ thuật. Mỗi hình tượng
được dệt nên bởi nhiều chi tiết. Để nắm bắt hình tượng và lưu giữ chúng dài lâu trong tâm trí
học sinh con đường hiệu quả nhất không phải là ép buộc các em học thuộc lòng mà phải tạo cơ
hội cho học sinh đọc và tự phát hiện. Vì chỉ khi nào học sinh chủ động tiếp xúc với văn bản qua
hoạt động đọc, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc, các nội dung của văn bản được
thể hiện qua ngôn từ nghệ thuật thì mới thực sự nắm bắt được các giá trị của văn bản đó. Và
mỗi bạn đọc với kinh nghiệm, vốn sống, năng lực … của mình sẽ rút ra những kết luận, phù
hợp và cần thiết cho bản thân. Nếu các em không tự mình đọc văn, hiểu văn thì những “lời hay,
ý đẹp” của thầy sẽ phai dần trong tâm trí học sinh.
Đề cao vai trò chủ thể học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập văn hoá nói chung,
văn học nói riêng chính là tìm một phương hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả dạy học.
Phương hướng đó không những phù hợp với yêu cầu của thời đại khoa học hiện nay (thông tin
quá nhiều, kiến thức quá nhiều) mà còn là vấn đề quan điểm nhân văn và nhận thức khoa học
(xây dựng những con người mới tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin vào năng lực của mình).
1.3.2. Đọc – hiểu và cơ chế dạy học trên lớp
Nói đến cơ chế dạy học văn là nói đến sự hiện diện của 3 yếu tố : nhà văn cùng tác phẩm –
giáo viên – học sinh.
Có một thời gian rất dài, ở nước ta môn Văn được gọi là môn “giảng văn”, khoa sư phạm
dạy văn gọi là “khoa giảng văn”, sách dạy văn được gọi là “văn học trích giảng”. Dạy văn thực
chất là giảng văn; là nhằm làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp của những tác phẩm văn
chương. Cái hay, cái đẹp ấy lại do chính giáo viên cung cấp, cảm nhận và phân tích hộ cho học
sinh. Các giờ giảng văn trên lớp, giáo viên chủ yếu thuyết trình, giảng giải cho học sinh nghe
những điều thầy cô hiểu và cảm nhận được về tác phẩm ấy. Còn bản thân học sinh hiểu và cảm
nhận như thế nào thì không cần chú ý.
Trong cơ chế dạy và học này, mối liên hệ giữa giáo viên và học sinh là mối quan hệ giữa
người giảng với người nghe, người truyền thụ với người tiếp thụ, người đưa thông tin và người
tiếp nhận, người trình bày và người ghi nhớ. Như vậy là những năng lực chủ quan của bản thân
học sinh không được phát huy. Học sinh chỉ cần nghe, ghi, nhớ và lặp lại những điều đã nghe.
Giáo viên sẽ kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập của học sinh theo điều mình đã thuyết
trình. Nói như Chủ tịch Phạm Văn Đồng là: học sinh chỉ cần “múa chữ ”. Theo cơ chế dạy học
này thì sách giáo khoa, bài văn trở thành vô dụng vì nguồn kiến thức ở đây chỉ là người giáo
viên và chỉ có thể là người giáo viên mà thôi. Học sinh học theo lời ghi và giáo viên cũng chỉ
kiểm tra theo lời giảng của mình. Cũng theo kiểu cơ chế này, chỉ thấy mối liên hệ giữa nhà văn
với giáo viên, và mối liên hệ một chiều giữa giáo viên và học sinh, còn một mối liên hệ rất quan
trọng đã bị phá vỡ. Đó là mối liên hệ giữa học sinh với sách giáo khoa, với tác phẩm. Hiện
tượng học sinh không học sách giáo khoa, hoặc không tiếp xúc với tác phẩm khi học giảng văn
là những hiện tượng đáng lo ngại. Thói quen đọc sách, năng lực độc lập phát hiện kiến thức, tác
phong cụ thể trong học tập không được hình thành mà còn bị thay thế bằng bệnh đại khái, hời
hợt trong lao động.
Đọc – hiểu xây dựng những mối liên hệ hợp lý giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh
với bài văn và sách giáo khoa. Trong đó, sự hoạt động tâm lý của chính bản thân học sinh dưới
sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên được xem là hạt nhân của cơ chế này. Người thầy từ vị trí,
vai trò độc tôn trở thành “cố vấn”, người tổ chức, hướng dẫn cả quá trình dạy học. Không nhà
trường nào không có thầy. Thầy vẫn có vai trò quan trọng nhưng ở một vị thế khác. Giáo viên
không còn là máy phát tin, mà là người hướng đạo, người điều khiển, hướng dẫn để khơi gợi,
phát triển năng lực văn học cho học sinh tạo nên hành động giáo dục xoay quanh trò; là một
“nhạc trưởng” không chơi đàn thay nhạc công mà chỉ huy cả dàn nhạc cùng hoạt động.
Đọc – hiểu không thủ tiêu yếu tố giảng của giáo viên. Nó chỉ biến họ từ người giảng trở
thành người hướng dẫn đọc văn; tăng cường vai trò hướng dẫn của người thầy, tạo điều kiện
cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi nhiều hơn, thực hành nghe, nói, đọc, viết nhiều hơn từ vốn kiến
thức, kĩ năng văn học, tiếng Việt, làm văn mà các em đã có. Giáo viên kết hợp rèn luyện cho
học sinh các kiến thức và kĩ năng ba phân môn theo tinh thần tích hợp. Kết hợp học đi đôi với
hành, tăng cường cho học sinh thực hành giao tiếp bằng nhiều hình thức phong phú, thích hợp
để hình thành năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt, phát triển năng lực cảm thụ văn chương.
Giáo viên ở đây không phải là nguồn kiến thức duy nhất, không phải là máy phát tin, hay nói
như viện sĩ Lepsin là “ bà bảo mẫu mớm cơm cho trẻ”. Học sinh được hướng dẫn, tổ chức để
tìm tòi, phát hiện, lựa chọn kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Có nhà sư phạm đã ví lớp
học như một dàn nhạc, giáo viên là nhạc trưởng. Nhạc trưởng chỉ huy cả dàn nhạc cùng hoạt
động. Nhạc trưởng không chơi đàn thay nhạc công. Sách giáo khoa hay bài văn cùng với vốn
hiểu biết của bản thân học sinh là những nguồn kiến thức quan trọng mà giáo viên hướng dẫn
khai thác, vận dụng…
Học sinh được giáo viên hướng dẫn sẽ hình thành kiến thức mới trên cơ sở sách giáo khoa
và vốn hiểu biết trực tiếp và gián tiếp của bản thân mình. Như vậy, công việc học tập của học
sinh ngay từ trên ghế nhà trường phổ thông đã thực sự là một công việc lao động chủ động và
sáng tạo, có thể phát huy được mạnh mẽ những năng lực tư duy và phẩm chất trí tuệ của từng
học sinh. Công việc dạy văn trong nhà trường thực sự là một hoạt động rèn luyện con người
học sinh, rèn luyện bộ óc của học sinh.
1.3.3. Đọc – hiểu đưa đến cách cấu tạo mới về giáo án
Lâu nay, hình như một giờ lên lớp được định sẵn theo một khuôn mẫu cố định. Đành rằng
mỗi khâu trong cấu tạo giờ lên lớp đã định hình từ nhiều năm nay không phải không có những
cơ sở khoa học và thực tiễn nhất định. Nhưng mặt khác lại phải thấy rằng khi mà quan điểm về
vai trò của học sinh, về mục đích dạy văn đã đổi khác thì cách cấu tạo truyền thống nhất định
có nhiều điểm cần xem xét lại. Từ trước đến nay, chúng ta tiến hành mỗi giờ lên lớp theo các
bước : ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giảng bài mới và cuối cùng là tổng kết rồi dặn dò học sinh
chuẩn bị bài mới. Nhiều giáo viên đã tuân theo cấu tạo đó một cách đơn điệu suốt năm này qua
năm khác cho tất cả các kiểu bài, loại bài và mọi đối tượng khác nhau. Nhất định là một thái độ
cực đoan và giáo điều như vậy trong nghề sư phạm dễ đưa đến những hậu quả không hay trong
suy nghĩ của học sinh. Gần đây, do những chuyển biến mới trong quan điểm dạy học, nhiều
giáo viên tiên tiến đã tiến hành cấu tạo giờ dạy một cách sinh động theo chiều hướng phá vỡ
khuôn mẫu cứng nhắc. Cấu trúc giờ dạy được tổ chức lại cho phù hợp với đặc điểm từng bài
giảng, từng đối tượng khác nhau nhằm mục đích tạo điều kiện tối đa để phát huy được năng lực
nhận thức và phẩm chất trí tuệ cho học sinh.
Bản thiết kế bài học này không phải là sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc những
việc làm của giáo viên và học sinh theo một tiến trình sơ cứng và càng không phải là sự trình
bày một cách nghệ thuật những hiểu biết của bản thân giáo viên cho dù đó là những hiểu biết
rất sáng tạo và mới mẻ. Thiết kế bài học phải là một kết cấu logic chặt chẽ khoa học mà uyển
chuyển linh hoạt, hệ thống đơn vị tình huống học tập đặt ra từ bản thân tác phẩm văn chương
phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh. Và song song tương ứng là hệ thống việc làm, thao tác
do giáo viên dự tính tổ chức để dẫn dắt từng cá thể học sinh tự chiếm lĩnh tác phẩm một cách
hứng thú.
Như vậy, bài soạn văn mới là bản thiết kế các việc làm của học sinh. Trước đó, quan điểm
này đã được thể hiện đầy sức thuyết phục trong công trình Lí luận dạy học hiện đại của Giáo
sư, tiến sĩ Hồ Ngọc Đại mang tên Bài học là gì? Và sau đó được giáo sư Phan Trọng Luận định
hướng trở lại trong cuốn Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông (tập 1) :
“Bản thiết kế giờ học không phải là một đề cương nội dung cần truyền đạt qua lời diễn giảng
của giáo viên. Nội dung cốt lõi, cơ bản, chính yếu của môt thiết kế giờ học tác phẩm văn
chương bao gồm hai thành tố hữu cơ. Một là, những tình huống học tập được đặt ra từ nội dung
khách quan của tác phẩm phù hợp với trình độ và đặc điểm tiếp nhận tác phẩm văn chương của
lớp học. Hai là, song song, ứng hợp với nội dung trên là một hệ thống thao tác được giáo viên
sắp xếp hợp lí nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tự xử lí để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm
một cách sáng tạo. Do đó, tạo được ở từng chủ thể học sinh một sự tự phát triển toàn diện”
(23,tr.36)
Mục tiêu đọc – hiểu của các bài học văn trong bài học Ngữ văn tích hợp sẽ đặt ra yêu cầu
dạy học văn không chỉ chuyên chú vào văn mà còn mở rộng tới đọc – hiểu các kiểu văn bản
khác. Điều này không chỉ dẫn đến sự thay đổi tên gọi một đề mục trong thiết kế bài học mà cả
nội dung được ghi trong đề mục đó. Trong thiết kế hài học đọc – hiểu văn bản, mục tiêu cần đạt
về kiến thức nổi lên hàng đầu do yêu cầu đọc – hiểu, trong khi các mục tiêu kĩ năng, thái độ sẽ
không xuất hiện như những yêu cầu biệt lập của mỗi bài mà trở thành mục tiêu chung xuyên
suốt cả chương trình Ngữ văn. Từ đó mục đầu tiên của thiết kế bài học sẽ là Mục tiêu bài học.
Khi quan niệm giáo án là thiết kế bài học thì việc quan tâm đến các hoạt động chuẩn bị bài
là đương nhiên. Đó sẽ không đơn thuần là sự tìm kiếm (của giáo viên) vài bức tranh, bảng phụ
… mà là sự chuẩn bị có tính toán để thực hiện mục tiêu dạy học theo yêu cầu tích cực và tích
hợp. Hoạt động này sẽ là cụ thể hóa việc chuẩn bị của giáo viên ở 3 trọng điểm : mở rộng về
kiến thức liên quan đến bài học; định hướng dạy học tích hợp; định hướng dạy học tích cực và
tương ứng với nó là việc chuẩn bị bài của học sinh. Trong thiết kế bài học, tên gọi của hoạt
động này là Chuẩn bị bài học.
Công việc thiết kế bài học không phải là tạo sẵn các lời giảng giải của giáo viên mà là tạo
lập các hoạt động dạy và học nhằm đạt tới mục tiêu cụ thể của bài học. Trong thiết kế bài học,
các hoạt động này được gọi là Hoạt động dạy học.
Trong thiết kế bài học đọc – hiểu, họat động có tính chất khởi động, tạo tâm thế cho học
sinh tiếp nhận tác phẩm văn học được gọi là Giới thiệu bài.
Trong các giáo án trước đây, khi văn chỉ được dạy thuần túy như một sản phẩm thẩm mĩ,
các kiến thức về tác giả, tác phẩm được nhấn mạnh trong đề mục Giới thiệu tác giả, tác phẩm
và được dạy chủ yếu bằng lời giảng của giáo viên. Trong thiết kế bài học, nó được gọi là Đọc
và tìm hiểu chú thích văn bản.
Mục tiêu đọc – hiểu quy định trọng tâm, lượng và chất của một bài học văn là hoạt động
hết sức căn bản – khám phá để chiếm lĩnh văn bản. Trong các giáo án trước đây, mục này được
gọi là Phân tích hoặc Tìm hiểu tác phẩm. Trong thiết kế bài học, hoạt động này được gọi là Đọc
- hiểu văn bản.
Đem đọc – hiểu ứng dụng vào hoạt động dạy học văn không chỉ đưa học sinh trở thành
người đọc, phát huy tính tích cực của học sinh, làm cho việc học văn trở nên hấp dẫn, giữ gìn
bản chất của môn học này mà còn gắn liền với việc đổi mới hầu như tất cả những gì liên quan
đến quá trình dạy học văn từ nội dung chương trình sách giáo khoa, đến cách ra đề kiểm tra,
đánh giá.
1.3.4. Đọc – hiểu và việc đổi mới nội dung, cách kiểm tra, đánh giá
Đầu tiên là sự đổi mới về tên môn học. Trước đây (trước khi bộ sách giáo khoa Ngữ Văn
ở cả hai bậc cơ sở và phổ thông được đưa vào sử dụng) bộ môn Văn gồm có ba phân môn: Văn
học, Tiếng Việt, Làm văn. Tương ứng với ba phân môn này là ba bộ sách giáo khoa được biên
soạn độc lập. Chương trình mới môn Văn gọi chung là môn Ngữ văn và sách giáo khoa chỉ có
một cuốn cho ba phân môn và được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp.
Thứ hai là vấn đề chọn văn bản. Chương trình cũ lựa chọn tác phẩm theo lịch sử nặng về
văn học sử, minh hoạ cho văn học sử. Chương trình Ngữ văn mới lựa chọn văn bản văn học
theo thể loại và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại. Và những kiến thức về lịch sử văn học,
lí luận văn học được coi như những kiến thức công cụ giúp học sinh tiếp nhận tốt hơn văn bản.
Không chỉ vậy “biên độ khái niệm văn” cũng được mở rộng hơn. Ngoài những tác phẩm văn
học mang tính hình tượng, sử dụng hư cấu (với một số thể loại chính như thơ, truyện, tiểu
thuyết … ) còn có những văn bản không hư cấu. Đó là những văn bản viết bằng nhiều thể loại
khác nhau theo mỗi giai đoạn. Văn học trung đại học các thể loại như : thơ, nghị luận, truyện kí,
văn tế … Văn học nước ngoài cũng lựa chọn một số thể loại lớn như sử thi, tiểu thuyết, kịch …
để học. Nếu chương trình cũ ít chú ý đến văn nghị luận thì chương trình Ngữ văn mới học khá
nhiều loại văn này (cả nghị luận văn học và nghị luận xã hội; nghị luận trung đại lẫn hiện đại,
trong nước và ngoài nước). Ngoài ra, chương trình còn đưa vào một số văn bản nhật dụng vào
cuối lớp 12 nhằm giúp học sinh quan tâm đến những vấn đề gần gũi, bức thiết đang đặt ra
trong cuộc sống.
Thứ ba : Chương trình văn học cũ lựa chọn tác phẩm dừng lại ở mốc lịch sử 1975.
Chương trình Ngữ văn THPT mới mở rộng lựa chọn đến cuối những năm 2000. Các tác phẩm
văn học sau 1980, đại diện cho thành tựu văn học đổi mới, được đưa vào với một mức độ nhất
định, chẳng hạn: Nguyễn Minh Châu với tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa; Nguyễn Khải với
Một người Hà Nội ; Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đàn ghi ta của
Lorca của Thanh Thảo …). Ngoài ra, giai đoạn văn học đổi mới này còn được giới thiệu trong
mục Đọc thêm bắt buộc với một số tác phẩm như : Đò Lèn ( Nguyễn Duy ); Mùa lá rụng trong
vườn ( Ma Văn Kháng ) …
Thứ tư : Môn học Ngữ văn THPT có 2 chương trình : Chương trình chuẩn và Chương
trình nâng cao. Chương trình chuẩn dành cho những học sinh ở các ban Khoa học tự nhiên và
ban Cơ bản. Chương trình này nhằm đáp ứng cho các học sinh có nhu cầu nắm vững nội dung
môn học để có thể hoàn thành tốt kì thi tốt nghiệp THPT. Chương trình nâng cao ngoài những
nội dung có trong Chương trình chuẩn còn có thêm một số yêu cầu và nội dung khác biệt nằm
phân hóa và đáp ứng nhu cầu của những học sinh không chỉ thi tốt nghiệp mà còn thi đại học
vào các ngành Khoa học xã hội và nhân văn. Yêu cầu về nội dung, khối lượng kiến thức và
mức độ kĩ năng của hai chương trình có khác nhau, nhưng không quá chênh lệch. Nội dung
Chương trình chuẩn được xác định là mặt bằng kiến thức, kĩ năng cơ bản, ( tối thiểu, đại trà).
Sau đó bổ sung một số nội dung tri thức và kĩ năng trong Chương trình nâng cao. Việc nâng
cao tiến hành bằng cách tăng thêm thời gian, số lượng tác phẩm, tri thức đọc văn, yêu cầu viết
bài, hoặc cũng cùng một tác phẩm nhưng thời gian nhiều hơn để có điều kiện khai thác kĩ hơn ;
ngoài ra một số hình thức luyện tập trong làm văn chỉ dành cho học sinh học Chương trình
nâng cao…
Ngoài những đổi mới vừa kể trên, chương trình Ngữ văn mới còn có những thay đổi ở
phần Hướng dẫn học bài. Phần này gồm hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu, giúp
học sinh phát hiện đúng, đầy đủ, sâu sắc những giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.
Điểm khác và cũng là điểm mới của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa Ngữ văn là hạn
chế tới mức tối đa câu hỏi tái hiện một nội dung mà người soạn định sẵn. Hệ thống câu hỏi này
giúp học sinh tự phát hiện, phát huy những suy nghĩ cá nhân
Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá là những thành tố có liên
hệ mật thiết với nhau. Khi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học đã thay đổi thì không thể
không thay đổi cách kiểm tra đánh giá.
“Kiểm tra đánh giá trước hết là để tìm hiểu và đánh giá trình độ năng lực của học sinh ở
vào những thời điểm nhất định của quá trình dạy học theo chương trình và mục tiêu đã qui định.
Sau đó, nó góp phần điều chỉnh phương pháp dạy của giáo viên và phương pháp học của học
sinh. Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, đồng thời là cơ sở để mở ra
một quá trình dạy học mới. Chính vì vậy, khâu kiểm tra đánh giá có một vị trí và tầm quan
trọng đặc biệt đối với toàn bộ quá trình dạy học. Trong kiểm tra đánh giá, việc ra đề là công
đoạn quan trọng nhất”(12, tr.135). Đổi mới kiểm tra đánh giá cũng tức là đổi mới cách ra đề.
Trước khi bộ sách giáo khoa Ngữ văn mới bắt đầu được thực hiện đại trà, tự luận là hình
thức kiểm tra được sử dụng phổ biến trong các thường kỳ, cuối kỳ, cuối năm, các đợt thi tuyển
sinh Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp. Một đề tự luận truyền thống thường có ba
phần: phần dẫn và nêu vấn đề, phần yêu cầu kiểu bài, phần giới hạn vấn đề. (ví dụ :“Nhà thơ
Xuân Diệu viết : “Nguyễn Khuyến mặc dù không cầm gươm chiến đấu dưới lá cờ phấn nghĩa
Cần Vương, vẫn đáng được xếp vào hàng những nhà thơ yêu nước”. Hãy giải thích và chứng
minh”)[27, tr.241]. Nội dung kiểm tra chú trọng nghị luận văn học (những tác phẩm, đoạn trích
học sinh đã được học) trong khi nghị luận xã hội ít được quan tâm. Đề văn nặng về kĩ năng ghi
nhớ và tái hiện kiến thức. Những điều này tạo nên thói quen học tủ, học vẹt, làm văn thiếu sáng
tạo, “dạy gì học nấy”, “học gì thi nấy”, “thi gì học nấy”, “thi gì dạy nấy”
Hiện nay, đề văn đã và đang có sự thay đổi về hình thức lẫn nội dung. Về hình thức, giáo
viên có thể đa dạng hoá cách ra đề, hoặc tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan. Một đề tự luận
kiểu mới chỉ nêu vấn đề, đề tài cần bàn bạc, làm nổi bật, còn các thao tác thì học sinh tuỳ vào
nội dung từng vấn đề, tuỳ vào cách làm, kiểu văn bản cần tạo lập mà sử dụng cho phù hợp. Nội
dung kiểm tra cũng phong phú hơn. Đề bài có thể yêu cầu học sinh nghị luận về một tư tưởng
đạo lí, nghị luận về một hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề xã hội trong văn học…
Chẳng hạn : “Em nghĩ gì về những em bé lang thang, không nhà cửa”, “Bài học đạo lí từ cuộc
đời cô Tấm”, “ Nếu em là cô Tấm trong truyện cổ tích Tấm – Cám”, “ Hình tượng người lính
trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng” … là những kiểu đề mới.
Sự đa dạng hoá hình thức và nội dung kiểm tra đánh giá vừa phát huy khả năng độc lập
suy nghĩ, tính sáng tạo của học sinh vừa rèn luyện cho các em cách “diễn tả cái gì mình suy
nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bất điều mình muốn
nói”[38, tr.41].
Đề văn hiện nay là một vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn thể xã hội. Thời gian gần đây
trên các phương tiện thông tin đã trao đổi rất sôi nổi về vấn đề này, nhất là từ khi Báo Văn nghệ
số 27 ra ngày 8/7/2007 đăng một số đề thi tuyển sinh đại học môn Văn ở Trung Quốc. So sánh
với những đề văn truyền thống của chúng ta không ít ý kiến qui “tội” cho những người làm
công tác giáo dục ra đề đơn điệu về hình thức, quá thiên về nghị luận văn học, “nội dung kiểm
tra chỉ xoay quanh vài chục đề trong sách giáo khoa Làm văn, bó gọn trong vài chục tác phẩm
của chương trình …”[5, tr.103]. Thực tế ra một đề văn kiểu mới không khó đối với giáo viên
nhưng vì học sinh còn hơi xa lạ với kiểu đề này nên các em sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá
trình giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề bài. Vì thế cần phải tỉnh táo để thấy rằng đề văn
kiểu mới có những ưu điểm nhất định nhưng không thể áp dụng một cách nóng vội, máy móc
vào thực tiễn giáo dục nước ta mà phải thay đổi từng bước thì mới mang lại hiệu quả như mong
muốn.
Chương 2 : MÔ HÌNH ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
2.1. Sách giáo khoa Ngữ văn 11 Nâng cao – Khảo sát và nhận xét
Sau 3 năm thí điểm, tháng 9 năm 2007, chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 11 chính
thức được giảng dạy trong nhà trường trung học phổ thông toàn quốc.
Xét về tiến trình lịch sử văn học, chương trình văn trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 là sự
tiếp nối chương trình Ngữ văn 10. Ngữ văn 11 bao gồm phần văn học Việt Nam cuối thế kỉ
XIX và phần văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945. Xét về thể loại, Ngữ văn 11 giới thiệu một số
thể loại chính như kí trung đại (Thượng kinh kí sự – Lê Hữu Trác), truyện thơ trung đại (Lục
Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu), văn tế (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu), thơ
trữ tình trung đại (thơ Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương), hát
nói (Bài ca ngất ngưỡng – Nguyễn Công Trứ; Hương sơn phong cảnh ca – Chu Mạnh Trinh),
văn nghị luận trung đại (Chiếu cầu hiền – Ngô Thì Nhậm), tuồng (trích tuồng Sơn Hậu) và
truyện hiện đại (học các truyện ngắn và các trích đoạn của các tác giả đầu thế kỉ XX đến năm
1945 như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng …), thơ trữ tình hiện đại (học
thơ của Phan Bội Châu, Tản Đà, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hồ Chí
Minh, Tố Hữu …), kịch hiện đại (trích vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng), nghị luận hiện
đại (Bàn về đạo đức Đông Tây – Phan Chu Trinh; Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh).
Như vậy so với chương trình Văn học 11 trước đây, chương trình Ngữ văn 11 vừa có sự
kế thừa, vừa đổi mới. Không phủ định sạch trơn các văn bản ở sách Văn học trước đây, tập thể
tác giả sách giáo khoa Ngữ văn 11vẫn giữ lại một số văn bản hay, có giá trị cao, đã được thời
gian thử thách, đồng thời bổ sung thêm một số văn bản mới, thể loại mới như kí, nghị luận,
kịch.
Nhìn chung, các tác giả đã chọn đúng và khá tinh một số văn bản mới, đảm bảo chất
lượng – tư tưởng nghệ thuật cao, lại phù hợp với tâm lí tiếp nhận của học sinh. Điều này cho
thấy sự tiến bộ nhiều mặt, tầm nhận thức và quyết tâm đổi mới của tập thể tác giả.
Không chỉ đổi mới trong việc lựa chọn văn bản, cấu trúc bài dạy học trong Ngữ văn 11
cũng có những điểm mới. Mục Kết quả cần đạt với các yêu cầu về kiến thức, tư tưởng, kĩ năng
… trước đây chỉ có ở sách giáo viên với mục đích định hướng cho giáo viên soạn bài, thì nay
được ghi ở đầu mỗi đơn vị bài học của sách giáo khoa. Việc làm này vừa giúp học sinh khi vừa
giúp phụ huynh dễ dàng kiểm tra, đôn đốc con em học tập.
Mục Hướng dẫn học bài là quan trọng nhất, thể hiện rõ rệt sự đổi mới. Hệ thống câu hỏi,
các bài tập được các tác giả biên soạn đúng theo nguyên tắc sư phạm. Đó là những câu hỏi đề
cập đến các vấn đề từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ hình thức đến
nội dung … các câu hỏi đã tránh được nhược điểm chỉ là những câu hỏi phát hiện, câu hỏi khai
thác nội dung tư tưởng, câu hỏi khái quát tổng hợp. Nhiều hơn về số lượng, phong phú hơn về
kiểu dạng, chất lượng và cách diễn đạt cũng được nâng cao thêm một bước … tất cả cho thấy
năng lực chuyên môn và kinh nghiệm sư phạm của người biên soạn.
Tuy vậy, nếu đánh giá một cách nghiêm túc, khắt khe thì còn đây đó một vài văn bản cần
cân nhắc lại, có khi cần đưa trở lại một số văn bản khác. Đoạn trích Cha con nghĩa nặng tuy
không thành công nhiều về nghệ thuật nhưng giá trị giáo dục lại cao. Nó đề cập đến thứ tình
cảm thiêng liêng cao quý nhất của con người – tình cha con – nhưng lại không được chính thức
sử dụng để giáo dục thế hệ trẻ hôm nay. Trong khi vấn đề đạo đức hiện nay là một trong những
vấn đề được xã hội quan tâm nhiều. Giáo dục về lòng nhân ái (Hai đứa trẻ), cái tâm, cái tài
(Chữ người tử tu), về nguyên tắc sống (Đời thừa) … là cần thiết nhưng thiết nghĩ không nên bỏ
qua hình ảnh về người cha chí tình, người con chí hiếu.
Nếu cho rằng Nguyễn Bính “nhạy cảm với thời đại đầy biến động, trong đó những nền
nếp nghìn đời sau lũy tre xanh đang bị lung lay trước sự thâm nhập của cuộc sống đô thị,
Nguyễn Bính đã thể hiện sâu sắc nỗi bất an của một tâm hồn vốn thiết tha với những giá trị cổ
truyền mà bấy giờ đang có nguy cơ mai một” [33, tr.55] thì có vẻ như giới thiệu đến học sinh
thi phẩm Chân quê là hợp lí, thiết thực hơn so với Tương tư. Bởi Chân quê thể hiện rõ “tình
quê, duyên quê, nỗi bất an” của Nguyễn Bính.
2.2. Đặc trưng của các thể loại truyện ngắn, thơ, kịch và văn nghị luận hiện đại
2.2.1. Đặc trưng của truyện ngắn
Truyện ngắn gồm nhiều tiểu loại (truyện ngắn kịch hóa, truyện ngắn trữ tình hóa, truyện
ngắn tiểu thuyết hóa ) mỗi tiểu loại ngoài một số đặc điểm chung còn còn có những đặc điểm
riêng. Cách đọc các tiểu loại này cũng đa dạng, không rập khuôn cứng nhắc. Tuy nhiên, do
cùng thuộc thể truyện các tác phẩm đó thường có những nét chung về cấu tạo hình tượng, nên
có thể rút ra những đặc điểm chung đặc trưng của truyện như sau:
Cốt truyện - một dấu hiệu đặc trưng đầu tiên của truyện ngắn nói riêng và của truyện nói
chung. Dù tồn tại dưới hình thức nào, truyện đều chứa đựng trong nó một cốt truyện. Đó là vấn
đề những sự kiện đang xảy ra, đang diễn biến có sự tham gia của các nhân vật với những hành
động, ngôn ngữ, tâm trạng, tình cảm … của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh xã hội, với
hoàn cảnh tự nhiên và trong mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau.
Tình tiết ( cốt truyện ) có thể biến hóa trăm màu nghìn vẻ. Có những truyện tình tiết đơn
giản, đơn tuyến diễn tiến một chiều từ đầu đến cuối theo một trình tự thời gian nhưng có những
truyện tình tiết phức tạp, đa tuyến, nhiều chiều.
Mỗi truyện ngắn thường xoay quanh một tình huống của đời sống. Tình huống là lát cắt,
một khúc của đời sống. Dòng chảy đời sống như một cây, tình huống chỉ là một lát cắt, một
khúc của thân cây nhưng ta có thể thấy cả trăm năm của đời thảo mộc. Tình huống xét đến cùng
là một sự kiện đặc biệt của đời sống được nhà văn sáng tạo trong tác phẩm dù là hư cấu hay có
thật. Gọi là sự kiện đặc biệt vì tình huống ấy phải hiện được một tình thế của quan hệ, các nhân
vật được đặt trong mối tương quan khác nhau, tại sự kiện ấy tính cách nhân vật bộc lộ sâu sắc,
thông điệp nhà văn định nói hiện hình trọn vẹn. Đối với người viết, nếu tạo được một tình
huống truyện đặc sắc hứa hẹn tạo ra một câu chuyện thành công. Đối với người đọc, nắm được
tình huống truyện tức là tìm được chìa khóa mở vào thế giới câu chuyện.
Văn học do con người sinh ra và con người luôn luôn là đối tượng miêu tả chủ yếu của
văn học. Chính vì thế, tác phẩm văn học không thể vắng bóng nhân vật. Nhân vật văn học cũng
là một đơn vị thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm cũng như quan niệm của mình về con
người và cuộc đời. Hiểu theo nghĩa hẹp, nhân vật là những con người được nói tới trong tác
phẩm văn học. Những con người đó có thể có tên như chị Dậu, lão Hạc, thằng Dần, bé An …
có thể không có tên như bà lão hàng xóm, ông giáo … hiểu theo nghĩa rộng, nhân vật trong tác
phẩm văn học là tất cả những chủ thể tạo nên hành động trong tác phẩm. Theo nghĩa này, nhân
vật trong tác phẩm văn học có thể là người, có thể là vật, có thể là đồ vật. Vì thế, chúng ta bắt
gặp trong tác phẩm văn học những hình ảnh “ Mèo con lùi mãi vào sát vách, bốn chân chú rung
cả lên. Chuột Cống bò đến gần, nghếch mồm cười ngất : - Chú mình sắp đái dầm rồi hay sao
thế ? Thôi biết điều thì đứng yên đấy, ta tha chết. Hễ ngọ nguậy, ta chỉ đớp một răng là mày
ngoẻo không kịp ngáp.”( Cái tết của Mèo con – Nguyễn Đình Thi )
Trong truyện ngắn, có những nhân vật xuất hiện nhiều, từ đầu chí cuối, được nhà văn tập
trung khắc họa trên nhiều phương diện đa dạng và phong phú. Loại nhân vật này giữ một vai
trò then chốt, là trung tâm của truyện, thiếu những nhân vật này thì không còn chuyện, không
có chuyện. Đó là nhân vật chính. Trái với nhân vật chính là nhân vật phụ. Nhân vật này có
nhiệm vụ làm sáng tỏ nhân vật chính, tô đậm nhân vật chính. Tuy vậy, có những nhân vật phụ
nhưng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cốt truyện.
Nhà văn khi sáng tác bao giờ cũng chịu sự chi phối của một tư tưởng, một lí tưởng xã hội
thẩm mĩ nhất định. Nhân vật chính diện là loại nhân vật thể hiện lí tưởng ấy của tác giả. Đó là
loại nhân vật được tác giả tập trung đề cao, biểu dương và khẳng định bằng những phẩm chất
và những hành động cao cả. Ví dụ như Huấn Cao trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Nếu
nhân vật chính diện là loại nhân vật được nhà văn ca ngợi thì nhân vật phản diện là loại nhân
vật bị tác giả phê phán, tố cáo, phủ định. Loại nhân vật này thường đại diện cho cái ác, cái xấu,
cái đồi bại. Ví dụ : Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao, Huyện Hinh trong Đồng hào có ma
của Nguyễn Công Hoan.
Trong tác phẩm văn học có những nhân vật mang một cá tính nổi bật, những nét tính cách
sâu sắc được nhà văn tập trung khắc họa. Đó là nhân vật tính cách. Nhân vật có tính cách chưa
chắc đã trở thành nhân vật điển hình. Muốn trở thành nhân vật điển hình, nhân vật đó phải được
nhà văn khắc hoạ những đặc điểm, cá tính nổi bật độc đáo không lẫn với ai được, vừa khái quát
được những phẩm chất và tính cách của một tầng lớp người hay một giai cấp trong xã hội nhất
định. Như thế, điển hình là sự thống nhất cao độ giữa cái cá biệt, cái riêng vá cái khái quát, cái
chung. Chí Phèo là một ví dụ tiêu biểu về nhân vật điển hình.
Cốt truyện, tình huống truyện, nhân vật… là những đặc trưng của truyện. Nhưng đôi khi
trong một tác phẩm có sự hiện diện của những yếu tố này nhưng chúng vẫn không được xem là
truyện mà được xếp vào kịch. Bởi nó thiếu lời kể. Lời kể là một yếu tố rất quan trọng của
truyện. Đó vừa là phương tiện để phản ánh cuộc sống thành hình tượng trong truyện, vừa là
phương tiện để biểu lộ thái độ, tình cảm, sự đánh giá của người kể đối với nhân vật, cuộc sống.
Kể chuyện là phương thức trình bày nghệ thuật trong tác phẩm tự sự. Nói đến phương
thức kể là nói đến lời kể, cách kể. Lời kể thường là lời tác giả. Lời vai kể là nhân vật kể. Mỗi
lời kể là một góc nhìn, một điểm nhìn, một ngôn ngữ, giọng điệu với những hiệu quả riêng. Bởi
thế, khi tiếp cận tác phẩm tự sự, cần có sự phân biệt và nhận thức được hiệu quả của từng lời
kể. Cơ sở để phâ biệt lời kể là ngôi kể. Nếu kể ở ngôi thứ nhất, tác giả hoặc vai trần thuật (vai
kể) xưng “tôi”, còn kể ở ngôi thứ ba xưng “hắn”, “nó”. Ở ngôi thứ nhất, tác giả và vai trần thuật
là nhân vật chính, trực tiếp tham gia vào các sự kiện hoặc kể lại câu chuyện của mình. Nhân vật
“tôi” song trùng với Độ (truyện Đôi mắt), Lãm (truyện Mảnh trăng cuối rừng) đều kể lại câu
chuyện của mình.
Trong thể tự sự không chỉ có nhiều lời kể, ngôi kể mà còn có nhiều cách kể; có khi tác giả
tách ra khỏi nhân vật để kể về nhân vật hoặc để vai nhân vật và trần thuật cùng tham gia kể; khi
tác giả hòa vào nhân vật, kể bằng ngôn ngữ của nhân vật. Cũng có khi kết hợp nhiều cách kể
trong tác phẩm tự sự… Do nhiều cách kể và hiệu quả của mỗi cách kể thường khác nhau nên
tác giả không thể không lựa chọn cách kể để đạt được ý đồ nghệ thuật. Một khi cách kể liên
quan đến ý đồ nghệ thuật của tác giả và giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm thì khám phá,
chiếm lĩnh một tác phẩm, không thể không chú ý khai thác cách kể của nhà văn.
2.2.2. Những đặc trưng của tác phẩm trữ tình (chủ yếu là thơ trữ tình)
Thơ trữ tình bộc lộ trực tiếp ý thức, cảm xúc của con người. Nghĩa là con người tự cảm
thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân
sinh. Tiếng nói của cái tôi trữ tình khi cất lên lại trở thành tiếng lòng thầm kín của mọi người.
Tiếng nói của cái tôi trữ tình được triển khai theo một cấu tứ đặc biệt. Tiếng nói ấy được cất
giấu ở bên trong các hình ảnh, các chi tiết, các hình tượng buộc người đọc phải liên tưởng,
tưởng tượng kết hợp với những tri thức về tác giả, thời đại mới “nghe” được. Khi Huy Cận viết
: “Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật. Lặng lẽ bờ
xanh tiếp bãi vàng”. Ở đây tác giả không muốn nói đến sự thiếu vắng của những phương tiện
lưu thông mà muốn nói đến lòng khao khát sự đồng cảm, tri âm.
Thơ trữ tình có một kiểu tổ chức ngôn ngữ đặc biệt. Nhờ cấu tạo ngôn ngữ đặc biệt nên
thơ có thể nói được những điều hết sức lắng đọng, kết tinh, có sức khêu gợi lớn mà nhiều khi
văn xuôi không nói được. Ví dụ hai câu thơ sau trong bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng
Cầm :
Đứng bên này sông sao nhớ tiếc
Sao xót xa như rụng bàn tay
Những hình ảnh trong hai câu thơ trên rất khó diễn tả bằng văn xuôi hoặc nếu viết bằng
văn xuôi thì lời văn phải tãi ra mới khỏi trở thành khó hiểu. Hai câu thơ đã diễn tả một cách cô
đọng, tập trung những cung bậc tình cảm của tác giả. “Đứng bên này sông” tức đứng ở vùng tự
do nhìn về bên kia sông – vùng đất quê hương đang bị chiếm đóng – nhà thơ nhớ và tiếc quê
hương với những đền chùa cổ kính, những hội hè đình đám vào dịp đâu xuân, những bãi mía,
bờ dâu … bị thiêu hủy dưới “ngọn lửa hung tàn”. Câu thơ tiếp theo chỉ với một chữ “rụng” đã
khêu gợi trong tâm tư người đọc những mối liên tưởng khác nhau. Thêm một phần đất nước rơi
vào tay giặc như một phần của Tổ quốc rụng khỏi cơ thể Tổ quốc. Nhìn quê hương Kinh Bắc
rơi vào tay giặc tác giả cảm thấy đau âm ỉ, kéo dài như một bàn tay rụng khỏi cơ thể.
Cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ còn tạo nên nhạc điệu của lời thơ. Số chữ trong một dòng,
cách phối hợp âm thanh và cách ngắt nhịp, sự hiệp vần … làm cho ngôn ngữ thơ có nhạc tính.
Nhạc tính trong thơ thể hiện ra ở những mặt sau : sự tương xứng hoài hòa giữa các dòng thơ;
sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ, tức là sự thay những âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh
bằng và thanh trắc làm cho câu thơ lúc thì trở nên du dương êm ái “Nhà ai Pha Luông mưa xa
khơi”, lúc thì trúc trắc trục trặc khó đọc “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây
súng ngửi trời”.
Nhạc tính còn do sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự điệp vần, điệp câu, điệp
ngữ, sự láy đi láy lại một số âm, một số tiếng “Nước non nặng một lời thề. Nước đi đi mãi
không về cùng non”.
2.2.3. Những đặc trưng của kịch
Hiện nay khi bàn về các loại hình nghệ thuật người ta dựa vào hai tiêu chí để phân loại :
hình thức và nội dung. Những người dùng hình thức làm tiêu chí đã chia nghệ thuật làm hai
nhóm : nghệ thuật không gian (kiến trúc, hoa văn, điêu khắc, hội họa..), nghệ thuật thời gian
(nhảy múa, âm nhạc, hoạt cảnh..). những người dùng nội dung và cứu cánh làm tiêu chí đã chia
các loại hình nghệ thuật ra nghệ thuật tạo hình (điêu khắc, hội họa, hoạt cảnh…), nghệ thuật
biểu hiện (kiến trúc, hoa văn, nhảy múa, âm nhạc…)
Kịch là loại nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu, là nghệ thuật tổng hợp nhiều nghệ thuật
khác. Kịch có những đặc trưng cơ bản sau :
Xung đột kịch : tức xung đột cụ thể của các nhân vật thể hiện những mâu thuẫn sâu sắc
về tư tưởng, quan điểm trong đời sống. Do đặc điểm này các nhân vật kịch bị lôi cuốn vào các
xung đột căng thẳng từ đầu đến cuối, luôn luôn lo lắng, ứng phó, nói chung không thảnh thơi
như nhiều nhân vật trong tự sự, trữ tình.
Hành động và cốt truyện kịch : hành động kịch là hành động thể hiện tính cách và ý chí
tự do của nhân vật kịch, gây xung đột với hoàn cảnh xung quanh. Đó là một chuỗi hành động
nhỏ phối hợp, kết thành một hành động lớn, phức hợp. Hành động kịch không chỉ là động tác
mà gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ của nhân vật. Đó là một chuỗi những hành động có ý
nghĩa – hành động quyết định bởi một trạng thái tâm lý.
Cốt truyện kịch được tổ chức thành hành động kịch (xung đột một khi xảy ra liền phát
triển liên tục không gián đoạn cho đến khi kết thúc). Cốt truyện kịch được dẫn dắt theo quy luật
nhân quả, có những chỗ ngoặt, những chỗ đột biến, những sự việc bất ngờ được kết cấu trong
mối quan hệ chặt chẽ.
Nhân vật kịch : nhân vật kịch không được khắc họa với nhiều khía cạnh tỉ mỉ “phần
đông đều đơn giản về mặt bên trong” mà chỉ mang một nét tính cách nổi bật, xác định. Nhưng
tính cách xác định, nổi bật không có nghĩa là đơn giản một chiều. Xoay quanh nét tính cách đó
còn có những nét tính cách khác vừa liên đới vừa biến thái làm cho gương mặt trong kịch sinh
động và đa dạng hơn. Nhân vật kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm (Tobe or
not tobe). Bởi vì đặc trưng của sự chiếm lĩnh nghệ thuật đối với hiện thực của kịch là hướng về
những xung đột. Đứng trước những xung đột đó nhân vật trong kịch không tránh khỏi cuộc đấu
tranh đó ở những hình thức, mức độ và tính chất nhất định. Bởi vì quyết định hành động con
người không chỉ có lập trường, quan điểm, mà còn phương pháp tư tưởng, không phải chỉ có lí
trí mà còn tình cảm, không chỉ có động cơ mà còn những suy nghĩ về hiệu quả. Lúc bình
thường những mặt đó hòa quyện vào nhau nhưng đến lúc xảy ra xung đột, buộc phải tỏ thái độ
và hành động thì con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, có khi dằn vặt.
Trong kịch không có ngôn ngữ của người kể chuyện mà chỉ có những chú thích trực tiếp
của tác giả. Nhưng những chú thích ấy chỉ có giá trị hướng dẫn người đọc, diễn viên, đạo diễn;
còn lúc trình diễn chỉ còn lại ngôn ngữ của nhân vật mà thôi. Ngôn ngữ nhân vật có hai loại :
Độc thoại – nói với chính mình. Mỗi khi nhân vật kịch rơi vào một hoàn cảnh, một tâm trạng
thì họ thường thốt lên một vài câu, một vài tiếng để người khác hiểu về họ và những dằn vặt
trong nội tâm họ. Có nhiều hình thức độc thoại, những hình thức này tùy vào cảnh ngộ mà họ
đang đối diện. Chẳng hạn khi phẫn uất quá, hay vui mừng quá thì nhân vật có thể thốt lên
những tiếng căm hờn hay reo lên những lời vui sướng; khi đau buồn thất vọng quá thì họ khóc
than kể lể, khi do dự quá mức thì lẩm nhẩm những câu cân nhắc thiệt hơn. Đối thoại : là lời đối
đáp qua lại giữa các nhân vật. Qua đối đáp, hành động, mâu thuẫn bật ra. Lời đối đáp của kịch
thường sắc sảo, sinh động, khớp nhau về nội dung và hình thức.
2.2.4. Đặc trưng của văn nghị luận
Văn nghị luận là văn lí thuyết, trực tiếp trình bày các tư tưởng, quan điểm, đạo lí ở đời,
bao gồm các tư tưởng chính trị, triết học, đặc điểm xã hội, văn hóa nghệ thuật. Các bài cáo,
chiếu, hịch, bình sử, điều trần… là những thể loại của văn nghị luận thời trung đại. Văn nghị
luận hiện đại thể hiện ở các lời kêu gọi, bình luận, tranh luận… Xét về đặc trưng chung, văn
nghị luận có đặc điểm sau:
Văn nghị luận thường thể hiện các tư tưởng, ý tưởng tiến bộ. Trong thơ, tác giả dùng trí
tưởng tượng và lấy ngôn ngữ tinh túy, giàu hình ảnh, nhạc điệu để biểu hiện cảm xúc của mình
và bản chất của cuộc sống. Tự sự tác giả lấy việc xây dựng hình tượng nhân vật làm trung tâm
để miêu tả cuộc sống, con người qua đó bộc lộ tư tưởng tình cảm của mình. Trong văn chính
luận tác giả đứng trên một lập trường, quan điểm nhất định, vận dụng lí lẽ, thực tế và dùng
ngôn ngữ trực tiếp của mình để trình bày, phân tích, phê phán, giải quyết một vấn đề chính trị,
xã hội, văn hóa do cuộc sống đặt ra nhằm mục đích tuyên truyền chiến đấu.
Sức mạnh của văn chính luận là lối lập luận theo tư duy logic. Lập luận là các thao tác
để triển khai luận điểm. Trong lập luận thường sử dụng những thao tác sau : chứng minh, giải
thích, phân tích, bình luận.
Chứng minh là dùng những cứ liệu, những bằng chứng để làm sáng tỏ hơn một vấn đề
vốn đã được thừa nhận. Người viết có thể chứng minh theo phương pháp qui nạp hoặc diễn
dịch.
Giải thích là dùng luận chứng và luận cứ để làm cho người đọc, người nghe hiểu được
những vấn đề, những luận điểm vốn chưa được công nhận một cách phổ biến, hiển nhiên.
Phân tích là thao tác lập luận chia tách sự vật, hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ để đi
sâu vào xem xét một cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng
đó.
Bình luận là đánh giá, xem xét cái đúng, cái sai,cái hay, cái dở của một hiện tượng, một
sự vật, một quan niệm đồng thời đào sâu mở rộng thêm nhằm phát huy những mặt tích cực và
ngăn ngừa những mặt tiêu cực.
Tính thuyết phục của văn nghị luận là ở luận cứ vững chắc.
Ngôn ngữ trong văn chính luận bao giờ cũng giàu sắc thái triết lí. Nó biểu hiện tập trung
ở sự chính xác, trong sáng của từ ngữ, và ở sự chặt chẽ, mạch lạc, giản dị và có sức lôi cuốn, có
ngữ điệu hùng hồn của cú pháp.
2.3. Yêu cầu của việc thiết kế bài học đọc – hiểu văn bản văn học
2.3.1. Phù hợp với đặc trưng thể loại
Thể loại là một phạm trù rất quan trọng trong sáng tác. Nó không chỉ là phạm trù mĩ học
mà còn là phạm trù văn hoá lịch sử. Khi lựa chọn một thể loại làm phương thức phản ánh đời
sống và biểu hiện tình cảm nhà văn đã có ý thức thể hiện sự đánh giá của mình về cuộc đời, hé
lộ cho người đọc một “kênh giao tiếp”, dự báo “cái vùng đời sống được quan tâm, cách tiếp cận
và quan sát”[26, tr.345], hướng người đọc vận dụng những kinh nghiệm nhất định vào thưởng
thức tác phẩm.
Tác phẩm văn học trong đời sống thực tế không phải như một cái gì đơn nhất, nhất dạng
mà dưới dạng thể loại; không phải dưới hình thức những tác phẩm chung chung, trung tính về
mặt thể loại mà dưới hình thức những tác phẩm thuộc một thể loại tương đối xác định, đó là
những câu tục ngữ, những truyện cổ tích, những bài văn tế, những truyện ngắn … Bản chất
chung của một tác phẩm văn học cũng như đặc trưng cơ bản của nó đều mang những biểu hiện
cụ thể khác nhau theo thể loại. Mỗi thể loại đều có cách phản ánh thực tại và thái độ đối với
thực tế riêng, mà một số nhà khoa học gọi là phương pháp lịch sử đặc thù của nó. Thể loại, do
đó được coi là đơn vị cơ sở và là xuất phát điểm tất yếu của việc nghiên cứu và giảng dạy văn
học.
Tác giả sáng tác theo thể loại người tiếp nhận cũng phải đi trong hành lang của thể loại,
phải tôn trọng thể loại. Vì thể loại qui định đề tài, cảm hứng, giọng điệu, kết cấu … Không ý
thức được việc xác định thể loại là vấn đề mấu chốt trong quá trình phát triển khoa học phương
pháp dạy học văn, là chìa khóa để mở cánh cửa đi vào tác phẩm văn học sẽ dẫn đến tình trạng
võ đoán, mò mẫm, bệnh công thức cứng nhắc, bệnh rập khuôn máy móc, bệnh xã hội học dung
tục …
Ở góc độ phương pháp dạy học thể loại là cơ sở để giáo viên có ý thức lựa chọn phương
pháp đi vào dạy tác phẩm, từ đó có điều kiện để làm toát lên yêu cầu bộ môn. Mặt khác cũng là
để trang bị cho mình những tri thức cần thiết để dùng vào việc phân tích các tác phẩm, từ đó
làm cho việc hiểu và cảm, dạy và học tác phẩm có kết quả hơn. Đó là ý nghĩa thực tiễn chủ yếu
của thể loại đối với việc dạy học văn. Khi chúng ta hiểu được thế nào là cổ tích thần kỳ, thế nào
là văn tế, thế nào là thơ mới … thì sự cảm nhận sẽ sâu sắc hơn, tinh tế hơn và do đó giảng dạy
có hiệu quả hơn.
Chúng ta không thể không nhìn nhận hiện nay có một sự thật là không ít giáo viên loay
hoay lúng túng trước tác phẩm nghệ thuật. Không ít những giờ dạy tác phẩm văn chương diễn
ra khá bài bản từ khâu ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, giới thiêu bài mới. Người dạy đã đi từng
bước một La Mã, hai, ba La Mã …. Có bố cục, chủ đề, có lời bình về nhân vật, về nghệ thuật
rất bóng bẩy, cuốn hút …. mà họ cảm thấy chưa an tâm chút nào. Hình như, có một cái gì sâu
thẳm lớn lao ở tác phẩm mà do mở nhằm cửa người dạy học đã không đến được với cái kho đầy
châu báu. Nguyên nhân là chưa xác định thể loại trong tác phẩm với tính chất nội dung của nó
là không “chính danh”. Sự thiếu sót này thì dù việc phân tích có sắc sảo đến đâu cũng không
thể khoả lắp được mà chỉ là võ đoán.
Không dựa vào đặc trưng thể loại khi phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm văn học sẽ rơi vào
tình trạng võ đoán, mò mẫm. Nhưng cũng có trường hợp hiểu được ý nghĩa của thể loại trong
dạy học văn nhưng do quan niệm “mỗi loại có một thể tiêu biểu tạo thành những ấn tượng” nên
dẫn đến tình trạng không ít giáo viên nhầm lẫn rằng nói đến trữ tình là nói đến thơ, nói đến tự
sự là nói đến truyện. Cách hiểu phiến diện này dẫn đến cách dạy rập khuôn, máy móc, công
thức. Khi thấy thơ dạy thơ trữ tình, khi gặp truyện dạy học theo tinh thần của văn xuôi. Có giáo
viên khi dạy truyện Tấm Cám đã đọc mẫu trước một đoạn rồi yêu cầu học sinh lần lượt đọc hết
truyện, ở phần phân tích văn bản giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích phẩm chất, tính cách
của nhân vật Tấm mà quên rằng truyện cổ tích là để kể, nhân vất cổ tích là nhân vật chức năng
không thể phân tích như một nhân vật trong văn học hiện đại.
Cũng có trường hợp khi phân tích tác phẩm văn học, giáo viên luôn phân tích theo những
chủ điểm, chủ đề chính trị, xã hội, luân lí mà không nhìn nhận tác phẩm văn học như một sản
phẩm nghệ thuật, một đối tượng thẩm mĩ. Khuynh hướng này dẫn đến hậu quả tách rời mắt
nghệ thuật của tác phẩm. Biến giờ văn thành giờ dạy chính trị, đạo đức sống sượng. Chúng ta
thấy rằng trước khi cầm bút bao giờ người nghệ sĩ cũng xác định viết cho ai, viết để làm gì, viết
cái gì, viết như thế nào. Trong đó nội dung viết cái gì và những thủ pháp nghệ thuật phản ánh
thực tại, những nguyên tắc điển hình hóa thực tại, tức là phương pháp nghệ thuật của nó – viết
như thế nào – là hai yếu tố làm nên đặc sắc của một sáng tác văn học. Mà thể loại văn học là
một vấn đề thuộc hình thức nghệ thuật của văn học có liên quan khăng khít đến nội dung. Nếu
không nắm vững những đặc trưng thể loại thì cũng không thể tìm hiểu những phương pháp
nghệ thuật của tác phẩm văn học.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng phân tích tác phẩm văn học theo thể loại
là yêu cầu có tính chất chìa khóa để mở cánh cửa đi vào tác phẩm. Căn cứ vào những đặc trưng
của các thể loại đã trình bày ở mục 2.2 có thể khái quát việc dạy học văn theo đặc trưng thể loại
như sau :
Khi dạy truyện ngắn cần: Làm cho học sinh nắm được diễn biến của câu chuyện. Đây là
yêu cầu có ý nghĩa quyết định quá trình cảm thụ tác phẩm của học sinh. Tùy vào mỗi thể loại
mà giáo viên có những cách để làm cho học sinh nắm vững sự phát triển của tình tiết truyện.
Đối với những truyện dân gian, có thể yêu cầu học sinh kể lại. Đối với truyện hiện đại có thể
cho học sinh phân tích các chặng đường phát triển chủ yếu của nó. Đây phải là nội dung chủ
yếu của phần phân tích bố cục, tức là phần cấu tạo đại cương của tác phẩm, trong quá trình đọc
hiểu. Tùy vào thời gian qui định, giáo viên có thể tiến hành bằng những biện pháp khác nhau :
đối đáp ngắn hoặc dùng hệ thống câu hỏi và bài tập, thiết kế các Worksheets (làm việc với
mảnh giấy)… vừa để kiểm tra hoạt động chuẩn bị bài ở nhà của học sinh vửa giúp các em nắm
vững hơn cốt truyện, củng cố ấn tượng hoàn chỉnh đầu tiên của học sinh đối với hình tượng tự
sự của tác phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho bước phân tích nhân vật.
Xác định đúng tình huống truyện. Trong một tác phẩm có thể có tình huống chính, tình
huống phụ, tình huống phụ xoay quanh tình huống chính. Dạy truyện ngắn phải làm bật lên tình
huống của câu chuyện, định danh nó và chỉ ra tác dụng của tình huống đó.
Tìm hiểu hình tượng nhân vật bằng cách giúp học sinh hiểu được sâu sắc, đánh giá được
đúng đắn nhân vật trong tác phẩm. Trong một tác phẩm có nhiều nhân vật tiểu biểu cho những
loại người khác nhau. Cách miêu tả nhân vật ở các tác giả cũng không giống nhau. Có người
thiên về miêu tả nội tâm, có người dùng ngoại hình để nói lên tính cách, số phận của nhân vật.
Vì thế, khi tìm hiểu hình tượng nhân vật không nên rập khuôn công thức.
Khi tìm hiểu nhân vật cần tập trung vào những yếu tố sau : chú ý đến những chi tiết về
lai lịch, ngoại hình (nếu có), hành động, cử chỉ, nội tâm, ngôn ngữ, số phận, tính cách nhân vật.
Tuy nhiên không có nghĩa là liệt kê ra tất cả những yếu tố đó mà quan trọng tìm ra dụng công,
dụng ý của tác giả khi xây dựng nhân vật của mình. Những vết sẹo, vằn ngang, vằn dọc trên
khuôn mặt Chí Phèo, thói quen say rượu chửi bới, rạch mặt ăn vạ của Chí không chỉ mang đến
cho người đọc một dung mạo dị thường, mất nhân tính mà còn mang ý nghĩa tố cáo nhà tù
phong kiến không nhằm cải tạo một con người mà biến một con người thành con quỷ dữ.
Phân tích mối liên hệ giữa nhân vật này với nhân vật khác, giữa nhân vật và hoàn cảnh
xung quanh. Yêu cầu này một mặt giúp cho việc nhìn nhận nhân vật trong nhiều chiều hơn,
toàn vẹn hơn, mặt khác giúp người đọc lí giải được những chi tiết về tính cách, giá trị của nhân
vật một cách có cơ sở, chính xác hơn, đầy đủ hơn. Bởi vì chỉ đặt trong tương quan giữa các
nhân vật như thế thì những phẩm chất của nhân vật sẽ bộc lộ rõ ràng hơn. Qua nhân vật này,
người đọc có thể nhìn sâu hơn, rộng hơn về nhân vật kia và ngược lại. Khi tìm hiểu nhân vật
Lão Hạc, cần đặt nhân vật này trong tương quan với ông Giáo, vợ ông Giáo, Binh Tư, với con
trai lão và với con vàng. Nếu ông Giáo là một trí thức điển hình thì Lão Hạc là một nông dân
điển hình. Trong quan hệ giữa Lão Hạc và người con trai của mình thì Lão Hạc là người cha chí
tình, bị đẩy đến trước một thử thách nghiệt ngã : muốn sống phải bán mảnh vườn, còn giữ mảnh
vườn thì phải chết. Nghĩa là muốn duy trì sinh mệnh phải lỗi đạo làm cha, nhưng lão đã chọn
cách hi sinh bản thân mình để trọn đạo làm cha. Lão Hạc không phải không biết quí sinh mệnh
nhưng có thứ lão còn quí hơn đó là tình cha con. Lão Hạc hiện ra như một người cha Việt Nam
điển hình với tình phụ tử vĩnh cửu …
Phân tích nhân vật theo từng mặt như trên là nhằm tìm hiểu được đầy đủ, sâu sằc về tính
cách nhân vật. Tuy các nhân vật trong truyện thường có tính cách đa dạng nhưng những tính
cách đó bao giờ cũng thống nhất, qui tụ về một nét nào đó quan trọng, chủ yếu nhất. Mỗi nhân
vật như vậy bao giờ cũng tập trung phản ánh một thực tế của cuộc sống và tập trung biểu hiện
một tư tưởng nào đó của nhà văn. Do đó, nhân vật cũng thường gợi ra những thiện cảm hay các
cảm, nhiều lúc gợi ra nhiều mối liên tưởng đến những con người tương đồng hay tương phản
trong văn học, trong cuộc sống, khiến người đọc tự liên hệ với thực tế, với bản thân mình. Tác
dụng giáo dục của các nhân vật văn học được phát huy chính từ đặc điểm đó. Vì vậy, khi phân
tích nhân vật không chỉ dừng lại ở chỗ phân tích mà phải tổng hợp, khái quát lại, nêu bật tính
điển hình của nhân vật, từ đó mà nâng cao, mở rộng, đi sâu vào ý nghĩa xã hội và giáo dục của
hình tượng nhân vật.
Dạy truyện ngắn ngoài việc giúp học sinh hiểu được về nội dung câu chuyện, tình
huống truyện, nhân vật truyện, thì việc làm cho học sinh cảm và hiểu được ngôn ngữ nghệ thuật
của truyện cũng là một yêu cầu quan trọng. Tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật của truyện là đi tìm
cái hay trong lời kể, như sự linh hoạt trong sự xen kẽ lời kể và lời tả, sức mạnh gợi tả của ngôn
từ, cách sử dụng từ ngữ câu văn để làm hiện lên cảnh, việc, người và làm xúc cảm người đọc.
Dạy thơ trữ tình hiện đại. Thơ có đặc trưng của thơ nhưng thơ cũng là văn học nên thơ
cũng mang đặc trưng chung của văn học là tính hình tượng hình thành trong ngôn ngữ. Dạy thơ
cần có những điều cần lưu ý riêng, nhưng trước hết dạy thơ cũng phải dựa vào những phép tắc
và phương pháp của việc dạy một tác phẩm văn học nói chung. Là một tác phẩm văn học, mỗi
bài thơ có tính độc đáo về nội dung và hình thức, ở đó một hình thức nhất định biểu hiện một
nội dung nhất định. Dạy thơ là giúp học sinh cảm nhận được hình tượng ngôn từ trong tác phẩm
thơ, là thông qua việc phân tích các yếu tố biểu tượng, hình ảnh, nhịp điệu, nhạc điệu… để làm
sống dậy hình tượng với tất cả vẻ đẹp và chiều sâu của nó, từ đó mà truyền đạt tư tưởng, tình
cảm của tác phẩm phù hợp với mục đích yêu cầu giáo dưỡng và giáo dục.
Khi tìm hiểu một tác phẩm trữ tình, việc tìm hiểu và khai thác tâm trạng nhân vật trữ
tình là điều quan trọng. Bởi nội dung của tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình
tượng nhân vật trữ tình. Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng
trong tác phẩm. Những suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng ấy thể hiện qua những lời được thổ lộ, qua
hình ảnh thiên nhiên, qua những cảm xúc thay đổi, qua nhạc điệu …. Ngoài ra, nhân vật trữ tình
nói chung không có chân dung, ngoại hình…
Tìm hiểu nhân vật trữ tình cần đi sâu vào các từ ngữ, các biện pháp tu từ để tìm nghĩa
sâu, nghĩa ẩn chứa đằng sau con chữ. Bởi những cảm xúc của nhân vật trữ tình thường được
biểu hiện một cách kín đáo. Nhà thơ thường chỉ nói những điều họ nghĩ, họ nhìn thấy, cảm
thấy. Người đọc phải nhận ra tâm trạng đằng sau những cái đó. Khi phân tích nhân vật trữ tình
cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình là tác giả với nhân vật trữ tình do tác giả hóa thân sáng tạo
nên.
Khi dạy thơ trữ tình cần tập trung lí giải những chỗ nhảy vọt, đứt đoạn những khoảng
trắng của ngôn từ thơ. Đó có thể là những phần bị tỉnh lược đi, những lời tự sự, những nội dung
hoặc hiện tượng tách câu, dấu ba chấm … tất cả góp phần làm cho tác phẩm trữ tình được triển
khai theo một cấu tứ cô đọng. Và để cảm nhận được cái cấu tứ ấy phải dùng sức tưởng tượng,
liên tưởng. Mặt khác, thơ được diễn đạt theo dòng lời hình tuyến, song khi đọc thơ lại cần dựa
theo sự di chuyển của điểm nhìn trong văn bản và dùng trí tưởng tượng để khôi phục hình
tượng hoàn chỉnh về đời sống, cảm xúc của văn bản thơ, từ hình tượng ấy mà cảm thụ rõ rệt
từng chi tiết.
Thêm một yếu tố nữa góp phần không nhỏ vào việc tạo nên giá trị của bài thơ, đó là các
từ hay, những hình ảnh đẹp, mới lạ. Dạy thơ, đặc biệt là thơ mới giáo viên phải giúp học sinh
phát hiện ra những câu thơ đẹp, ý thơ hay, những lời thơ, hình ảnh lạ hóa …lí giải nghĩa và tác
dụng của chúng, từ đó đi đến lí giải các phương diện chủ để, tư tưởng, cảm hứng, nghệ thuật
ngôn từ. Có thể liên hệ với cá tính tác giả, sự cách tân của bài thơ. Khi dạy bài Đây mùa thu tới
của Xuân Diệu cần chỉ ra được những hình ảnh lạ, cách dùng từ của tác giả (sắc đỏ rủa màu
xanh, hơn một loài hoa …. Hay khi dạy bài Tràng giang của Huy Cận cũng cần chỉ ra nét cổ
điển trong một bài thơ mới, sự cách tân trong thi pháp, lối lạ hóa ngôn từ … của tác giả. Tất cả
không chỉ tạo nên cái mới trong thơ mới mà còn góp phần làm phong phú thêm ngôn ngữ dân
tộc.
Dạy kịch trước tiên phải tóm tắt tình tiết trong văn bản kịch. Thông thường học sinh chỉ
học một hoặc hai hồi của vở kịch. Trong phần Tiểu dẫn người biên soạn đã tóm tắt nội dung
của toàn bộ vở kịch. Vì thế khi tổ chức dạy học giáo viên ít khi cho học sinh tóm tắt lại các tình
tiết trong đoạn trích vì nghĩ đã có trong sách giáo khoa. Thực tế việc tóm tắt này là cần thiết và
bổ ích. Cho nên trước khi đi vào phân tích giáo viên cần hướng dẫn học sinh tóm tắt rõ hơn về
tình tiết này, trong đó tập trung lưu ý sự phát triển xung đột kịch. Việc làm này tạo tâm thế
thuận lợi cho việc phân tích xung đột kịch và tính cách, diễn biến tâm trạng của các nhân vật
kịch.
Xác định những xung đột cơ bản của vở kịch. Để làm được công việc này giáo viên phải
giúp học sinh nắm vững quá trình phát triển của mâu thuẫn (âm ỉ hay tiệm tiến) dẫn đến xung
đột. Trong đó có xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa ai với ai và đỉnh
điểm của mâu thuẫn không thể điều hòa được. Những việc làm này sẽ dẫn đến việc “định danh”
xung đột và đâu là xung đột chủ yếu, đâu là xung đột thứ yếu. Đó là xung đột giữa tính cách và
hoàn cảnh hay giữa các tính cách với nhau hay giữa tính cách của nhân vật với chính nó.
Sau khi đã xác định được xung đột, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra kết quả của
những xung đột tức cách giải quyết xung đột của tác giả. Tuy nhiên, điều quan trọng không
phải là những xung đột đó đưa nhân vật đến kết thúc bi thảm hay buồn cười mà phải lí giải
được vì sao tác giả lại chọn cách giải quyết như vậy. Chẳng hạn, giảng đoạn trích Cha vẫn kiên
quyết không chuyển chăng - khi khai thác xung đột giữa cha con tể tướng Vante và Phecđinăng
: khi mâu thuẫn đã đến độ căng thẳng, quyết liệt, Phecđinăng rút gươm ra nhưng sau đó lại tra
gươm vào vỏ. Đây là cách giải quyết của tác giả. Điều này thì học sinh dễ cảm nhận được.
Điều quan trọng là lí giải được : Sile hiểu rõ rằng người xem có thể chia sẻ sự phẫn nộ của
Phecđinăng nhưng sẽ không tha thứ cho tội giết cha. Đây là tội ác khủng khiếp, không thể nào
biện hộ, không thể nào tha thứ. Vì thế tác giả lại để cho tra gươm vào vỏ.
Trong kịch, các sự việc và nhân vật được tổ chức xoay quanh một biến cố bất thường.
Biến cố ấy chứa đựng mâu thuẫn xã hội, làm nổi bật tính cách nhân vật. Dạy kịch chủ yếu là
dạy học sinh đọc hiểu nhân vật trong biến cố bằng cách phát hiện nhân vật, phân tích, bình
luận, đánh giá nhân vật, từ đó nhận ra ý nghĩa xã hội bộc lộ trong biến cố mà có tình cảm và
thái độ tương ứng. Tìm hiểu tính cách nhân vật trong biến cố là cần thiết nhưng điều quan trọng
hơn là xác định xem vấn đề xã hội nào nổi lên sau các tính cách và biến cố đó; khi dạy văn bản
Bắc Sơn cần cho học sinh thấy hành động cứu người cách mạng của nhân vật Thơm trước sự
săn lùng của bọn phản cách mạng. Nhưng điều quan trọng hơn là từ đó thấy được thiện cảm của
quần chúng với cách mạng : họ sẵn sàng đặt lợi ích của cách mạng lên trên hết.
Đánh giá về ngôn ngữ kịch. Tức tìm hiểu, nhận xét về cách diễn tả không khí nhịp điệu
và những đặc sắc về ngôn ngữ được tác giả sử dụng trong văn bản kịch.
Dạy văn nghị luận. Văn nghị luận thường thể hiện các tư tưởng, lí tưởng của con người.
Đó có thể là những tư tưởng chính nghĩa, quan điểm nhân văn, lập trường cách mạng … các tư
tưởng ấy có sự sâu sắc của lí trí, sự phóng khoáng của tâm hồn, sự dũng cảm của ý chí, sự kiên
định của niềm tin, sự sắc bén, khéo léo của lập luận. Vì thế, đọc văn nghị luận cần phải nắm bắt
được các tư tưởng lớn và cách suy nghĩ của người viết. Đọc văn nghị luận làm cho suy nghĩ của
con người được sáng sủa, sắc sảo và nhạy bén. Những người yêu văn nghị luận sẽ biết ghét
những suy nghĩ tầm thường, mơ hồ, ngụy biện, giả tạo.
Đọc văn nghị luận cần cảm nhận được những lời tâm huyết, những nhịp đập của trái
tim, biết phân biệt cái thật, cái giả. Đọc văn nghị luận cần cảm nhận được vẻ đẹp của lời văn và
tình cảm chất chứa sâu lắng ở trong đó.
2.3.2. Phù hợp với nguyên tắc tích hợp
Trước đây, các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn có đường ranh giới khá rõ. Tương
ứng với 3 phân môn này là 3 bộ sách giáo khoa được biên soạn gần như độc lập với nhau.
Trong dạy học ranh giới này cũng thể hiện khá rõ. Dạy văn thì rất ít khi sử dụng kiến thức
Tiếng Việt, Làm văn, ngược lại dạy học Tiếng Việt, Làm văn thì không quan tâm đến văn.
Chương trình Ngữ văn hiện nay đã dung hợp 3 phân môn trên làm một nhưng vẫn giữ tính đặc
thù của mỗi phân môn. Chính sự tích hợp này nên cảm giác về ranh giới, về tính độc lập của
mỗi phân môn đã trở nên mờ nhạt đi rất nhiều, thay vào đó là sự hòa hợp hỗ trợ cho nhau khá
hợp lí, mạch lạc : trong Văn có Tiếng Việt, Làm văn, Tiếng Việt, Làm văn trong có Văn, lý
thuyết luôn đi đôi với thực hành.
Tích hợp không chỉ là nguyên tắc dùng để xây dựng nội dung và chương trình sách giáo
khoa Ngữ văn trung học, mà còn là một trong hai nguyên tắc có tính chất định hướng đổi mới
phương pháp dạy học môn Ngữ văn. Tuy nhiên trong thực tiễn sư phạm lại có hàng loạt câu hỏi
đặt ra xoay quanh vấn đề này : Có nên tích hợp trong dạy văn? Nếu có, thì tích hợp như thế
nào? Phải chăng bản thân đọc – hiểu đã có tích hợp? Đây quả là những câu hỏi phức tạp.
Gần đây, có xu hướng đề xuất dạy học văn cần tích hợp với nội dung bảo vệ môi trường
(có cả chuyên đề về Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Ngữ văn). Khi xu hướng này xuất
hiện đã có không ít ý kiến không đồng tình. Bởi họ cho rằng đây là xu hướng có phần khiêng
cưỡng. Đối tượng tích hợp này nên dành cho môn Địa lí, Giáo dục công dân thì thích hợp hơn,
gần gũi hơn và tự nhiên hơn.
Trở lại với những câu hỏi vừa nêu, để tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi này thiết nghĩ
cần phải xuất phát từ bản chất và vai trò của tích hợp. Tích hợp là sự hợp nhất, liên kết giữa các
phân môn trong bộ môn, giữa các bộ môn có liên quan, là sự sâu chuỗi những đơn vị kiến thức
ở những bài học khác nhau nhưng có quan hệ hỗ trợ nhau, để hạn chế tình trạng quá tải, trùng
lặp, dư thừa kiến thức, tiết kiệm được thời gian đào tạo, phát huy tư duy tổng hợp và như vậy sẽ
đào tạo được con người năng động, sáng tạo. Như vậy, tích hợp vẫn có ý nghĩa nhất định trong
dạy học nói chung, dạy học văn nói riêng. Vấn đề quan trọng là tích hợp phải thích hợp. Thích
hợp ở đây là phải chú ý đến cơ sở tích hợp và liều lượng trong nội dung tích hợp, đồng thời sử
dụng các phương pháp triển khai hợp lí.
Về cơ sở tích hợp : cơ sở của tích hợp là phải xác định môn chủ đạo. Từ đó, khi dạy môn
chủ đạo có thể liên hệ, vận dụng đến những kiến thức của các môn khác tương cận. Chẳng hạn,
trong tiết dạy văn thì mọi nội dung triển khai đều phải có tính hướng tâm phục vụ cho giờ học
văn, còn những tri thức Tiếng Việt, Làm văn và tri thức của các liên môn khác được kết hợp có
tác dụng làm nền bổ trợ. Có như thế mới làm cho mục tiêu bài học đạt hiệu quả.
Về mức độ, liều lượng của tích hợp : trong các đơn vị bài học ở môn Văn không phải bài
nào cũng cần và có ý nghĩa khi tích hợp. Vì vậy, chúng ta chỉ nên tích hợp ở những bài, những
đơn vị kiến thức thực sự cần phải tích hợp. Có như thế thì việc dẫn dắt học sinh lồng ghép, kết
hợp, tổ hợp các nội dung với nhau mới logic, tự nhiên, có ý nghĩa củng cố, bổ sung cho nhau
mà không khiêng cưỡng, gò ép để cho tích hợp mà thành ra chắp vá, lặp lại một cách nhàm
chán, máy móc.
Phân tích trên cho phép khái quát lý thuyết về dạy học đáp ứng yêu cầu tích hợp như sau :
Dạy truyện ngắn cần gắn kết đọc - hiểu với các đặc điểm của thể loại truyện ngắn, với
phong cách tác giả và trào lưu văn học, với mĩ học. Truyện ngắn trong sách giáo khoa Ngữ văn
11 là những văn bản tự sự nghệ thuật trong thời hiện đại, chúng thể hiện ở mức độ cao nhất và
phong phú nhất đặc trưng của thể truyện cả về mục đích và cách thức diễn đạt. Sự sáng tạo linh
hoạt và đa dạng trong mọi yếu tố tự sự, từ tổ chức cốt truyện, xây dựng tình huống, nhân vật,
vận dụng lời văn …. Sẽ là cơ sở khoa học đọc hiểu truyện ngắn hiện đại, đồng thời cho hoạt
động dạy học làm văn tự sự đang được tiến hành song song ở phần Làm văn.
Dạy một văn bản thơ trữ tình cần gắn kết đọc - hiểu văn bản trữ tình với các tri thức Tiếng
Việt (tích hợp với bài Từ ngôn ngữ chung đế lời nói cá nhân); với các tri thức Làm văn sẽ, đang
và đã được học; với việc đọc hiểu các văn bản thơ trữ tình hiện đại cùng tác giả, cùng thể loại.
Học xong bài Vội vàng giáo viên phải giúp học sinh nắm vững cách thức đọc hiểu những bài
thơ trữ tình khác như Đây mùa thu tới, Tống biệt hành …; gắn đọc hiểu thơ trữ tình hiện đại với
tác giả và đời sống để thấy mối quan hệ mật thiết giữa đời sống và tác giả – tác phẩm trong thơ
trữ tình hiện đại.
Dạy kịch cần gắn kết đọc - hiểu văn kịch với các tri thức về văn tự sự như : hệ thống sự
việc, nhân vật (được miêu tả qua lời nói, hành động), lời văn đối thoại và độc thoại; với kiến
thức về thể loại văn học kịch như : tính chất xung đột của cốt truyện, tính cách nhân vật bộc lộ
qua xung đột; với bản chất thẩm mĩ của cái bi, cái hài, cái cao cả; với nghệ thuật biểu diễn sân
khấu.
Dạy văn nghị luận cần gắn kết dạy học đọc hiểu văn bản với các tri thức về làm văn đã,
đang và sẽ được học trong chương trình Ngữ văn 11; gắn kết đọc hiểu văn nghị luận với hoạt
động thực tiễn của tác giả bài văn, với những vấn đề đời sống trong hoạt động thực tiễn của con
người và người đọc trong thời kì hiện đại; gắn học văn nghị luận với việc xây dựng cho học
sinh lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, có những quan điểm cơ bản của giai cấp
công nhân trên từng vấn đề cụ thể của đời sống. Trong quá trình giảng dạy, trên cơ sở phân tích
những đoạn văn giáo viên chỉ cho học sinh thấy cách vận dụng quan điểm duy vật, phương
pháp tư tưởng duy vật biện chứng trong việc đưa ra các lí lẽ, lập luận, và dẫn chứng.
Tuy nhiên khi sử dụng nguyên tắc này cần lưu ý tích hợp sao cho hợp lí, tự nhiên và
không nhất thiết bài nào cũng tích hợp để không tạo nên sự quá tải về kiến thức.
2.3.3. Phù hợp với nguyên tắc tích cực
Dạy học tích cực đã được diễn đạt bằng những mệnh đề gần gũi nhau như “Dạy học lấy
học làm trung tâm”, “Dạy học hướng vào học sinh”, “Tích cực hóa hoạt động học tập của học
sinh” … Những cách diễn đạt ấy cho thấy dạy học tích cực là người dạy tìm cách tổ chức việc
học cho học sinh, và học tích cực là người học tự mình chiếm lĩnh bài học dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên. Tích cực của người dạy là tạo các họat động học tập của học sinh một
cách hiệu quả. Tích cực của người học là tự mình đáp ứng bằng các họat động học tập. Đích
của dạy học tích cực là đạt tới mục tiêu của bài học về kỹ năng, kiến thức, thái độ.
Để đáp ứng yêu cầu dạy học tích cực cần có sự sáng tạo trong lựa chọn và liên kết các
biện pháp dạy học, các cách thực tổ chức hoạt động dạy học và các phương tiên dạy học. Nói
cách khác, dạy học tích cực là cần đa dạng hóa các hình thực dạy học.
Một câu hỏi đặt ra : Trong dạy học môn Văn nói chung, trong dạy học các thể loại văn học
cụ thể nói riêng, đa dạng hóa các hình thức dạy học đọc – hiểu văn bản gồm những nội dung gì?
Đối với môn Văn có thể sử dụng cấp độ lựa chọn tương ứng từ các hình thức dạy học đa
dùng và cấp độ lực chọn tương ứng từ các hình thức dạy học chuyên dùng.
Cấp độ lựa chọn tương ứng từ các hình thức dạy học đa dùng cho bài đọc – hiểu văn bản
sẽ được hình dung từ các hình thức dạy học tương tác và tích cực như : học độc lập (cá nhân) và
học theo nhóm, giảng bài, ghi bảng và nghe giảng cùng với ghi vào vở, đàm thoại bằng câu hỏi,
trò chơi dạy học … cùng các phương tiện dạy học như bảng, sách giáo khoa, máy chiếu … Tuy
nhiên, sự lựa chọn hình thức dạy học nào và tương ứng và với độ đậm nhạt ra sao sẽ phụ thuộc
vào đặc trưng nội dung và hình thức của kiểu văn bản được tiếp nhận. Ở đây, hình thức học các
nhân sẽ chiếm ưu thế hơn so với hình thức học theo nhóm do đặc trưng cá thể của sự cảm thụ
nghệ thuật, thậm chí đọc văn không theo nhóm mà vẫn hiểu văn. Hoạt động giảng văn không
mất đi mà chuyển từ đặc quyền của người dạy sang hoạt động tự giảng dạy của người học. Hình
thức đàm thoại thể hiện tinh thần hợp tác làm việc và dân chủ hơn vì nó hướng vào mục đích
kích thích và tạo cơ hội giải phóng các năng lực đọc hiểu của người học. Trò chơi dạy học trong
đọc – hiểu chỉ có thể là các hình thức trò chơi thẩm mĩ, vì văn học là một biểu hiện cao quý,
nghiêm túc trong đời sống thẩm mĩ của con người. Máy chiếu, thậm chí cả phần mềm dạy học
trên máy tính sẽ trở thành các hình thức dạy học văn khi nó hỗ trợ tích cực cho hoạt động đọc –
hiểu, chứ không phải là cách chưng diện màu mè như “mốt”.
Ở cấp độ lựa chọn chuyên dùng các hình thức dạy học đọc – hiểu văn bản sẽ được hình
dung từ các hình thức dạy học tương tác và tích cực như : đọc diễn cảm, bình văn, đàm thoại,
trò chơi dạy học.
Bình văn vốn là một biểu hiện tinh túy của văn hóa đọc có truyền thống lâu đời trong đời
sống thẩm mĩ phương Đông, trong một thời kì dài là biện pháp dạy văn đặc dụng. Kết hợp với
giảng giải, lời bình luôn hàm chứa trong nó sự khám phá và cảm thụ vẻ đẹp thẩm mĩ của văn
chương, thậm chí đến cả ngóc ngách, ngọn nguồn không phải ai cũng thấy được. Và điều đó lại
được phơi diễn bởi các yếu tố phụ họa như giọng điệu, ánh mắt, nét mặt, cử chỉ của người bình
(giáo viên) tạo thành sức mê hoặc lôi cuốn đặc biệt đối với người học. Không ai bình (theo
nghĩa cảm thụ vẻ đẹp của lời văn, ý văn) một câu hoặc đoạn văn trong văn bản vật lý, sinh vật.
Nhưng nhu cầu chiếm lĩnh tinh hoa của tác phẩm văn học nghệ thuật luôn là khát vọng của
công chúng nghệ thuật. Và các lời bình văn là cái cách chiếm lĩnh tinh hoa ấy. Khát vọng thẩm
mĩ ấy thuộc về mọi công chúng nghệ thuật. Mỗi công chúng sẽ in lại dấu ấn của mình trong các
lời bình, tùy thuộc vào năng lực đọc – hiểu, do vốn sống, đặc điểm, trạng thái tâm lý, kinh
nghiệm thẩm mĩ cá nhân quy định.
Hình thức dạy học bằng đàm thoại xoay quanh các câu hỏi giữa giáo viên và học sinh về
bài học không phải là độc quyền của dạy học văn, nhưng đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi phân
tích cảm thụ văn bản do giáo viên phát vấn và học sinh trả lời sẽ là hình thức dạy học chuyên
dùng cho dạy học đọc – hiểu văn bản do tính chất quá trình của hình tượng bằng lời, tính chất
mơ hồ đa nghĩa của chúng và do dấu ấn của thể của sự cảm thụ hình tượng đòi hỏi. Ở đây, câu
hỏi không xuất hiện ở dạng hoàn toàn duy lí, vô cảm, rời rạc mà là hệ thống câu hỏi vừa manh
tính khoa học vừa gợi xúc cảm, tưởng tượng, liên tưởng ở người học. Mức độ đọc – hiểu phụ
thuộc trực tiếp vào chất lượng trả lời câu hỏi của học sinh. Khả năng đọc – hiểu một tác phẩm
văn chương lệ thuộc không ít vào việc có thể trả lời được hay không những câu hỏi đặt ra ở
những cấo độ khác nhau. Mức thấp nhất là chỉ cần sử dụng những thông tin đã có ngay trong
văn bản. Đó là trường hợp câu trả lời có sẵn trong bài, là trình độ chỉ mới biết đọc trên dòng.
Mức cao hơn là buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong bài. Đó là trường hợp
phải suy nghĩ ra câu trả lời từ những đầu mối có trong văn bản, là trình độ đã biết đọc giữa các
dòng. Cao hơn nữa là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa những cái mà học sinh đã đọc với thế giới
bên ngoài bài học; đó là trình độ biết vượt ra khỏi dòng để đọc văn bản….
Các trò chơi dạy học sẽ là hình thức dạy học chuyên dùng dạy học văn mang tính chất
thẩm mĩ. Ở đây, hoạt động dạy học cũng sẽ đa dạng. Đó có thể là thi hát dân ca, thi kể chuyện
dân gian hoặc tóm tắt cốt truyện các văn bản tự sự, thi nhớ và thống kê nhanh các văn bản đã
học theo thể loại, thi vẽ tranh minh họa cho bài học, chuyển thể văn bản theo vai nhân vật ở
dạng diễn xuất đơn giản … Các trò chơi này có thể diễn ra ở cuối bài học, hoặc trong các giờ
ngoại khóa Ngữ văn, và có thể thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm, tùy thuộc tính chất mỗi
kiểu văn bản và thời lượng của mỗi buổi học.
Đối với từng thể loại văn học cụ thể, yêu cầu của việc kết hợp các hình thức dạy học sẽ là
đảm bảo sự liên kết tương hợp các hình thức dạy học với đặc trưng của từng thể loại. Theo đó,
các hình thức dạy học tương hợp trong đọc – hiểu văn bản tự sự sẽ có những điểm khác biệt so
với các hình thức dạy học đọc – hiểu văn bản trữ tình, hoặc đọc – hiểu văn bản nghị luận sẽ
khác với đọc – hiểu văn bản kịch… Cũng là đọc diễn cảm, những yệu cầu đọc ở mỗi thể loại
văn học không giống nhau. Chẳng hạn, đó sẽ là sự tái hiện bằng giọng khách quan các sự việc
trong các văn bản tự sự, trong khi các văn bản trữ tình cần được đọc với giọng cảm xúc tương
ứng hoặc sôi nổi hào tráng hoặc trầm lắng suy tư … Trong khi cần nhại theo tính cách nhân vật
kịch để đọc kịch thì giọng đọc của văn bản nghị luận căn bản là rành rõ khi tái hiện các luận
điểm, luận cứ. Bình văn là hình thức dạy học chuyên dùng trong dạy học văn, nhưng không
phải kiểu văn bản nào trong chương trình Ngữ văn cũng sử dụng hình thức này. Yêu cầu hiểu
chính xác, tường minh các quan điểm trong văn nghị luận hoặc các văn bản nhật dụng ở dạng
thuyết minh không tạo cơ duyên cho những lời bình, và như thế, các lời bình (nếu có) trong các
trường hợp này sẽ là vô nghĩa, thậm chí có hại cho hoạt động đọc – hiểu.
Từ những phân tích trên, có thể khái quát lý thuyết dạy học các thể loại văn học Việt Nam
hiện đại trong chương trình Ngữ văn 11 Nâng cao theo nguyên tắc dạy học tích cực như sau :
Tổ chức dạy học truyện hiện đại theo hướng đa dạng hóa các hình thức đọc - hiểu như :
đọc tóm tắt truyện, sử dụng câu hỏi tái hiện, câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi hình dung tưởng tượng
… để giúp học sinh tham gia lí giải tình huống truyện, tính cách nhân vật, những sáng tạo trong
kết cấu và nghệ thuật sử dụng chi tiết tác phẩm. Nhận xét về lời kể, cách kể trong tác phẩm
….sử dụng không gian nhà trường, lớp học một cách sáng tạo để tổ chức cho học sinh thảo luận
cũng như tiến hành các hoạt động khác theo nhóm; liên môn với Mĩ thuật; máy chiếu hỗ trợ dạy
học : bố cục văn bản, câu hỏi trắc nghiệm, ngữ liệu cần phân tích, các tư liệu mở rộng về tác
giả, tác phẩm đang được học.…
Tổ chức dạy học thơ trữ tình hiện đại theo hướng đa dạng hóa các hình thức dạy học
như: gắn kết đọc – hiểu văn bản trữ tình hiện đại với các tri thức Làm văn biểu cản đã học; với
tác giả và đời sống để thấy mối quan hệ mật thiết giữa đời sống – tác giả – tác phẩm. Kết hợp
đọc diễn cảm với hình thức đàm thoại bằng cách hệ thống câu hỏi phân tích cảm thụ, xen kẽ lời
giảng bình.
Về hệ thống câu hỏi, giáo viên cần biết cách đặt ra những câu hỏi gợi mở, khuyến khích
học sinh suy nghĩ, nghe học sinh trả lời một cách tin cậy và thân ái. Đối với thơ trữ tình hiện đại
để kích thích học sinh từng bước thuộc được câu thơ hay, cảm nhận được những nét tâm trạng
của nhân vật trữ tình, tiến tới hiểu được những tầng nghĩa sâu xa của tác phẩm, giáo viên cần sử
dụng các câu hỏi hướng về những rung động ban đầu bởi những tác động của những hình thức
nghệ thuật của tác phẩm đến người đọc; hoặc dạng câu hỏi hòinh dung tưởng tượng để giúp học
sinh phát hiện ra ý nghĩa của hình tượng thơ, nguyên tắc xây dựng hình tượng thơ, phát hiện
tính hàm súc của ngôn ngữ, tính đa nghĩa của bài thơ…
Tổ chức dạy học văn bản kịch theo hướng đa dạng hóa các hình thức đọc - hiểu kịch
như : đọc diễn cảm theo vai nhân vật, đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi kết hợp lời giảng bình;
học cá nhân kết hợp học theo nhóm; liên môn với Mĩ thuật và Sân khấu; trò chơi diễn xuất của
học sinh; máy chiếu tái hiện chất liệu văn bản, xung đột kịch, câu hỏi trắc nghiệm; thiết kế và
trình chiếu tư liệu về tác giả, tác phẩm, các trích đoạn sân khấu; ngoại khóa về sân khấu (xem
diễn kịch…).
Tổ chức dạy học văn nghị luận hiện đại theo hướng đa dạng hóa các hình thức đọc -
hiểu : (kết hợp đọc diễn cảm với đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản, đan xen
lời bình luận); liên môn với Lịch sử, Giáo dục công dân … liên quan đến chủ đề văn bản; thiết
kế và trình chiếu qua phương tiện điện tử các tư liệu liên quan đến tác giả và nội dung bài học,
nhất là các bài nghị luận về chính trị, xã hội; sử dụng máy chiếu khi hình thành hệ thống luận
điểm của bài văn; ra bài tập trắc nghiệm và câu hỏi thảo luận nhóm; trò chơi thi mô hình hóa hệ
thống luận điểm, luận cứ trong bài văn nghị luận được học, hoặc viết nhanh và đúng đoạn văn
nghị luận minh họa cho bài văn nghị luận vừa học.
2.4. Mô hình dạy học đọc - hiểu văn bản văn học
Từ khi hoạt động đọc - hiểu văn bản nghệ thuật được vận dụng trong quá trình dạy học
văn, chúng ta thấy xuất hiện nhiều tài liệu giới thiệu mô hình dạy học đọc hiểu như mô hình của
Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Dương Quỹ, Trần Đình Chung …. Tuy triển khai việc thiết kế bài học
đọc hiểu theo những mô hình khác nhau nhưng nhìn chung các mô hình đều thống nhất với
nhau ở những vấn đề, nội dung, giai đoạn cơ bản, của qui trình đọc hiểu văn bản văn học. Từ sự
thống nhất đó có thể tổng hợp thành một mô hình tương đối chuẩn sau đây.
A. Kiểm tra bài cũ : công việc này cần thực hiện đầu tiên vì qua kiểm tra bài cũ giáo
viên sẽ có những thông tin ngược về mức độ hiểu và cảm của học sinh đối với một văn bản cụ
thể, từ đó mà điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò cho phù hợp.
Hoạt động này thường chiếm khỏang thời gian rất ngắn của tiết dạy và chỉ nên gọi 1 hoặc 2 học
sinh để kiểm tra là đủ. Những câu hỏi kiểm tra bài cũ cần ghi cụ thể trên bài soạn của giáo viên
và đó phải là những câu hỏi chuẩn về kiến thức, kĩ năng, thái độ của chương trình môn học.
B. Mục tiêu cần đạt : xác định các yêu cầu cần đạt về kiến thức tổng hợp văn học, nhận
thức, ngôn ngữ … những mục tiêu này giáo viên có thể dựa vào mục Kết quả cần đạt để triển
khai cụ thể hơn và có thể thêm vào một vài mục tiêu phù hợp với trình độ nhận thức của đối
tượng học sinh.
C. Những phương tiện dạy học thầy và trò cần chuẩn bị. Đó có thể là những đồ dùng
dạy học như tranh, ảnh hoặc là những thiết bị dạy học như máy chiếu, micro …
D. Hoạt động dạy học
1. Giới thiệu bài :
Tính phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức của các kiểu văn bản sẽ mở ra vô
số cách khởi động bài học văn. Một cách giới thiệu bài sinh động, hấp dẫn, kích thích sự chú ý
của người học sẽ là cách tạo tâm thế tốt nhất cho cả quá trình đọc hiểu văn bản.
Cũng thuộc về phần giới thiệu bài là mục Tiểu dẫn. Trong sách giáo khoa Ngữ văn
hiện nay, mục Tiểu dẫn đề cập tương đối đầy đủ những nét lớn về tác giả, tác phẩm, thể loại, bố
cục …. Đây là những tri thức rất quan trọng. Tuy nhiên giáo viên không nên tham lam trình bày
tất cả những kiến thức đã có trong phần này mà chỉ cần nêu những thông tin có ý nghĩa định
hướng việc đọc hiểu và trực tiếp tham gia vào quá trình đọc hiểu tác phẩm văn học.
2. Đọc và tìm hiểu chú thích
Việc tiếp nhận các văn bản văn học bao giờ cũng bắt đầu từ đọc đúng, cảm thụ đúng
tất cả các đơn vị ngôn từ trong văn bản đó. Đọc và hiểu đúng ngôn từ sẽ làm cơ sở cho hoạt
động kháo phá để hiểu văn bản ở những cấp độ sâu sắc hơn.
Trên thực tế mặc dù đã được biên soạn và biên tập theo một qui trình hết sức chặt chẽ
và đầy trách nhiệm nhưng do tính phức tạp của vấn đề, một số thuật ngữ trong sách giáo khoa
Ngữ văn vẫn chưa được giải thích hoặc giải thích chưa thỏa đáng . Vì thế giáo viên và học sinh
cần tiến hành bước này một cách cẩn trọng.
3. Đọc- hiểu văn bản
Có thể khẳng định trong tất cả các bước của hoạt động dạy học thì đây là hoạt động
khó khăn, phức tạp nhất. Nó đòi hỏi cao cả về trình độ chuyên môn và tài năng sư phạm của
người giáo viên. Để hoạt động đọc - hiểu của học sinh đạt hiệu quả cao cần phải căn cứ vào đặc
trưng của từng thể loại mà triển khai qui trình đọc hiểu theo hướng :
a. Đọc hiểu ngôn từ :
Bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng sử dụng một chất liệu nhất định trong tự
nhiên để xây dựng thành hình tượng. Nhờ những thủ pháp nghệ thuật riêng của từng loại hình
nghệ thuật, các chất liệu tự nhiên được nhào nặn lại và trở thành những yếu tố mang tính thẩm
mĩ. Quan hệ giữa hình tượng và chất liệu là quan hệ hữu cơ, xuyên thấm, thâm nhập vào nhau.
Chất liệu sẽ mất đi tính thẩm mĩ nếu rời bỏ hình tượng và ngược lại hình tượng chỉ có thể tồn
tại qua chất liệu. Vì vậy trong thực tế không có hình tượng nói chung mà chỉ có hình tượng gắ
liền với chất liệu cụ thể. Hình tượng hội họa được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; hình
tượng điêu khắc được xây dựng bằng đường nét, hình khối; hình tượng âm nhạc được xây dựng
bằng nhịp điệu, giai điệu … Còn văn học? Văn học xây dựng hình tượng bằng ngôn từ. Nói văn
học là nghệ thuật ngôn từ là vì thế. Nói văn học là nghệ thuật ngôn từ thực chất là nói văn học
là nghệ thuật sử dụng các từ ngữ hình tượng, các phương thức chuyển nghĩa của từ, các câu, các
đoạn … để tạo nên chỉnh thể tác phẩm văn học thống nhất.
Để giải mã tác phẩm thì trước hết cần có ấn tượng chung về nội dung và hình
thức của tác phẩm. Muốn vậy, phải đọc thông suốt toàn tác phẩm, hiểu được các từ khó, từ lạ,
các điển cố, các phép tu từ … Đối với thơ, nếu học thuộc lòng thì càng tốt, bởi như thế ấn
tượng về âm hưởng, hình ảnh thơ sẽ ăn sâu vào tâm trí tạo điều kiện để hiểu thơ hơn. Đối với
tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc.
Ngoài ra, khi đọc văn bản văn học cần hiểu được cách diễn đạt, nắm bắt mạch
xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt là phát hiện ra
những mạch ngầm trong văn bản, từ đó mới phát hiện ra chất văn. Bởi thế phải đọc kĩ thì mới
phát hiện ra những điểm đặc sắc, khác thường thú vị.
Thực hiện những yêu cầu trên học sinh cần (hoặc giáo viên hướng dẫn học sinh)
tiến hành một số bước sau :
Bước 1 : đọc với cây bút chì và gạch chân những từ khó, từ chìa khóa trong văn
bản.
Bước 2 : nắm bắt logic của văn bản, trong đó có logic về thể loại và logic về ý
nghĩa. Nghĩa là đọc và tìm hướng trả lời các câu hỏi : văn bản thuộc thể loại gì? Logic người
viết có tuân theo thể loại đó không?
Bước 3 : đi vào khảo sát ngôn ngữ văn bản bằng cách xác định những từ hoặc
hệ thống từ chìa khóa trong văn bản, xác định các biện pháp tu từ và ý nghĩa của việc sử dụng
những phép tu từ đó.
Bước 4 : đi tìm những cái bất thường, những điểm cộm trong logic các sự kiện
và trả lời câu hỏi : Những bất thường, điểm cộm là có dụng ý hay chỉ là do sự non yếu của
người viết.
Bước 5 : sâu kết các hoạt động trên lại để tạo ra những ấn tượng chung về nội
dung và hình thức của tác phẩm.
Các bước này có thể yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà (đối với văn xuôi) hoặc thực hiện tại
lớp (đối với thơ, các đoạn trích).
Nếu hoạt động giới thiệu bài là để tạo tâm thế cho hoạt động cảm thụ văn chương được
thuận lợi thì đọc – hiểu ngôn từ là hoạt động tạo tiền đề, hoạt động có tính chất bản lề cho việc
đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật.
b. Đọc- hiểu hình tượng nghệ thuật
Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư
tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan
hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh. Nhưng khác với các
nhà khoa học, người nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp bằng ý nghĩ và tình cảm, bằng khái niệm
trừu tượng, bằng định lí, công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là làm sống lại một cách cụ thể
và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng, những con người … đáng làm ta suy nghĩ về tính
cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể – ngôn từ.
Như vậy, hình tượng nghệ thuật là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện
không phải bằng sao chép từ cái có sẵn mà bằng tưởng tượng sáng tạo. Các khách thể này luôn
tồn tại trong một không gian, thời gian, trong các sự kiện và những quan hệ; và quan trọng là
chúng thường có nội tâm, ngoại hình, hành động, ngôn ngữ. Đó là tính tạo hình của hình tượng.
Thế giới hình tượng không chỉ được nghệ sĩ phú cho môt hình hài, thể xác mà còn
có khả năng bộc lộ cái bên trong, hé mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn. Đó chính là
tính biểu hiện của hình tượng. Tính biểu hiện góp phần gọi lên sự toàn vẹn, đầy đặn của hình
tượng.
Hình tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thực đời sống, lại vừa là một
quan hệ xã hội thẩm mĩ. Đó là những mối quan hệ chồng nén, đối xứng, nhân hóa, ví von … tạo
thành những phức hợp quan hệ mang nội dung khái quát. Trước hết đó là quan hệ giữa thế giới
nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh, thứ đến, là quan hệ của tác giả đối với cuộc sống trong
tác phẩm, quan hệ tác giả với người đọc, quan hệ hình tượng với ngôn ngữ của một nền văn
hóa, cuối cùng, quan hệ của các yếu tố của bức tranh đời sống. Phức hợp quan hệ này làm cho
hình tượng nghệ thuật mang một nội dung đa nghĩa, hàm súc, không nói hết, mà Hêminguây ví
như phần chìm của tảng băng trôi.
Chính vì những đặc trưng nêu trên nên khi đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật cần
lưu ý một số yêu cầu sau :
Hình tượng nghệ thuật có khi thể hiện rõ ràng, dễ nắm bắt nhưng cũng có khi
không thể hiện rõ nét từ đầu khiến cho người đọc khó nhận ra hoặc nhận diện không chính xác,
chỉ xem hình tượng như một chi tiết, một hình ảnh. Cho nên yêu cầu đầu tiên là phải xác định
được và chính xác hình tượng.
Sâu chuỗi các chi tiết, hình ảnh dệt nên hình tượng và bằng kinh nghiệm, kiến
thức văn học, văn hóa, bằng việc huy động các giác quan cao cấp (liên tưởng, tưởng tượng ) để
hiểu những điều mà ngôn ngữ chỉ có thể biểu đạt khía quát.
Đặt hình tượng trong các mối quan hệ xã hội – thẩm mĩ để phát hiện hết những
ý tứ kín đáo của nó.
Đọc – hiểu hình tượng còn đòi hỏi phải biết phá hiện và lí giải các mâu thuẫn
tiềm ẩn trong đó và tìm hiểu logic bên trong của chúng
c. Đọc- hiểu tư tưởng tình cảm tác giả.
Nhà văn sáng tác bao giờ cũng nhằm thể hiện tư tưởng tình cảm trong tác phẩm.
Tư tưởng tình cảm là linh hồn của tác phẩm. Vì vậy đọc – hiểu văn bản văn học là phải phát
hiện được linh hồn đó. Tuy nhiên tình cảm thường không được tác giả bộc lộ trực tiếp mà được
thể hiện giữa lời, ngoài lời (vì thế mới có cách nói đọc giữa dòng, ngoài dòng, đọc – hiểu ý
nghĩa …)
Việc đọc hiểu tư tưởng tình tảm tác giả đòi hỏi người đọc phải có năng lực tổng
hợp, phán đoán, khái quát cao để từ các mối quan hệ giữa các nhân vật, các sự kiện, chi tiết …
trong tác phẩm và thái độ, cách miêu tả của tác giả mà rút ra những kết luận khái quát về đề tài,
chủ đề, cảm hứng, quan niệm thẩm mĩ … mà tác giả muốn nói với người đọc.
4. Liên hệ – Ghi nhớ
Liên hệ là một thao tác có thể được vận dụng một cách linh hoạt. Nhiều khi thao tác
này được triển khai ngay trong hoạt động đọc hiểu văn vản, giúp người đọc hiểu văn bản sâu
sắc hơn. Chẳng hạn khi dạy đến hai câu cuối của bài thơ Tràng giang “Lòng quê dợn dợn vời
con nước. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” giáo viên nên liên hệ với hai câu thơ của Thôi
Hiệu “Quê hương khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” để làm nổi bật
cảm giác nhớ nhà luôn thường trực trong tâm hồn Huy Cận.
Tuy nhiên với tư cách là phần kết thức bài đọc hiểu, liên hệ là phần có kết cấu mở nhằm
đáp ứng những yêu cầu khác nhau. Ở đây giáo viên có thể giới thiệu một văn bản tương đương
hoặc gần gũi với bài học để tạo điều kiện so sánh kiến thức, có thể cung cấp một bài văn, bài
thơ để học sinh thực hành hoặc mở rộng trường liên tưởng.
Ghi nhớ là bước củng cố của tiến trình dạy học. Ghi nhớ cần tập trung vào hai hoạt
động chính : hướng dẫn học bài và hướng dẫn học bài. Hướng dẫn học bài là vừa nhắc lại
những kiến thức trọng tâm của bài vừa dạy (bởi vì những điều giáo viên trình bài có phần mênh
mông) vừa hướng dẫn cách học bài. Hướng dẫn soạn bài là gợi ý những công việc cần chuẩn bị
cho bài học sắp tới. Giáo viên không nên dùng những câu hỏi trong sách giáo khoa để hướng
dẫn học bài. Bởi vì, thứ nhất đây là những câu hỏi tương đối khó, có những câu học sinh chỉ có
thể trả lời được sau khi đã học xong, thứ hai trên lớp chưa chắc gì giáo viên đã hỏi lại những
câu hỏi đó. Nếu dùng tất cả những câu hỏi trong sách giáo khoa sẽ tạo tâm lý đối phó ở học
sinh. Giáo viên nên soạn những câu hỏi ứng với những nội dung chính và sẽ được hỏi trong bài
học sắp tới.
Chương 3 : THIẾT KẾ BÀI HỌC VÀ TỔ CHỨC DẠY THỰC NGHIỆM
3.1. Thiết kế thử nghiệm
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - Nguyễn Tuân
A. Kiểm tra bài cũ :
Câu hỏi 1 : Theo em tác giả Thạch Lam muốn nói điều gì với người đọc khi miêu tả cuộc
sống nghèo nàn, đơn điệu của một phố huyện nhỏ?
Câu hỏi 2 : Chuyến tàu đêm có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống và con người nơi
phố huyện?
B. Mục tiêu cần đạt:
Về kiến thức : giúp học sinh thấy được cái đẹp, cái tài hoa được chung đúc trong một hình
tượng nghệ thuật có sức cuốn hút mãnh liệt về khí tiết, nhân cách – nhân vật Huấn Cao; những
đặc sắc cơ bản về nghệ thuật của thiên truyện.
Về thái độ : xây dựng cho học sinh ý thức đúng đắn về nhân cách cao thượng và lòng yêu
quý cái đẹp, nét truyền thống văn hóa của dân tộc.
Về kĩ năng : thông qua bài học củng cố và phát triển kĩ năng đọc một truyện ngắn; vận
dụng nhiều dạng câu hỏi nhằm phát huy vai trò chủ thể cảm thụ của học sinh.
C. Những phương tiện dạy học cần chuẩn bị : tranh, ảnh về thư pháp.
D.Hoạt động dạy học
I. Giới thiệu
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
Giáo viên giới thiệu bài : Trong cuộc sống có
những cái cúi đầu làm cho con người trở nên
hèn hạ, có những cái vái lạy làm cho con
người đê tiên. Nhưng cũng có những cái cúi
đầu làm cho con người bỗng trở nên cao cả
hơn, lẫm liệt hơn. Hôm nay chúng ta sẽ tìm
hiểu xem cúi đấu, vái lạy trong hoàn cảnh
nào làm cho con người trở nên đáng quý hơn.
Về tác giả Nguyễn Tuân sẽ được học kĩ ở lớp
12. Nên ở đây chỉ giới thiệu cho học sinh 1. Tác giả :
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một thấy được những nét quan trọng trong cuộc
nghệ sĩ say mê và đi tìm cái đẹp. Vẻ đẹp của đời và sáng tác của ông.
nhân vật Huấn Cao và cảnh cho chữ thể hiện
niềm say mê đó của ông.
2. Tác phẩm :
a. Xuất xứ : Chữ người tử tù (ban đầu có
tên là Dòng chữ cuối cùng) là một truyện
ngắn đặc sắc trong Vang bóng một thời.
b.Thể loại : truyện ngắn (có tình huống
truyện, nhân vật, lời kể …)
II. Đọc và tìm hiểu chú thích
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
* Giáo viên nêu yêu cầu : trong số những chú - Tri kỉ : người bạn hiểu được tâm tình của
thích sau văn bản chú thích nào làm em đắn mình.
đo? - Tứ bình : tranh 4 bức, thường vẽ phong
* Giáo viên gọi 1, 2 học sinh trả lời. cảnh 4 mùa xuân, hạ, thu, đông.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Đọc – hiểu ngôn từ
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
Giáo viên lưu ý học sinh cần đọc văn
bản này với nhịp điệu chậm rãi, đĩnh
đạc, nhất là ở đoạn mở đầu và đoạn tả
cảnh cho chữ.
* Giáo viên hỏi : Theo em, nên chia văn a. Bố cục văn bản: 3 phần
bản này ra làm mất phần là hợp lí ? Nội - Phần 1 : “Nhận được … liệu sau” :
Nỗi lòng xốn xang, trăn trở của viên dung chính của từng phần?
quản ngục. - Định hướng học sinh trả lời : nên chia
- Phần 2 : “Sáng hôm sau … thiên văn bản làm 3 phần. Phần một : nỗi lòng
của viên quản ngục khi hay tin Huấn hạ” : Tâm trạng, thái độ của HC và viên
Cao sắp giải đến. Phần hai : thái độ của quan ngục.
Viên quản ngục và Huấn Cao. Phần ba : - Phần 3 : “Đêm hôm ấy … bái lĩnh” :
cảnh cho chữ và những lời khuyên. Cảnh cho chữ và những lời khuyên tâm
* Giáo viên hỏi : Câu chuyện là cuộc huyết
gặp gỡ giữa Huấn Cao và Viên quản b. Tình huống truyện : cuộc gặp gỡ oái
ngục. Cuộc gặp gỡ này nên gọi tên như oăm giữa hai người thực chất là tri kỉ
thế nào là hợp lí? Cuộc gặp gỡ này có ý nhưng lại ở vào hai vị thế đối nghịch,
nghĩa gì? đối địch. Tình huống gặp gỡ làm nổi bật
vẻ đẹp của Huấn Cao và ngục quan, tạo
kịch tính hấp dẫn người đọc.
2. Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
* Diễn biến tâm trạng của ngục quan a. Nhân vật Viên quản ngục :
được tác giả miêu tả qua những chẳng hồi hộp lo lắng, suy tư day dứt (bóp
thái dương), có thái độ cư xử khác nào?
thường (cho dọn buồng giam, dâng - Định hướng trả lời : từ khi nghi tin
rượu thịt..), cam chịu khổ tâm không Huấn Cao sắp bị giải đến cho đến khi
dám giãi bày (bị Huấn Cao đuổi ra được Huấn Cao cho chữ và khuyên.
khỏi buồng giam và không cho đặt
chân đến nữa), cảm động, nghẹn ngào * Qua thái độ và những hành động
(được Huấn Cao cho chữ và khuyên). khác thường của viên quan ngục, em
Ngục quan tiêu biểu cho người thấy đây là con người như thế nào?
tuy không sáng tạo ra cái đẹp nhưng - Học sinh chia nhóm thảo luận và đại
biết quí trọng và thực lòng say mê cái diện trình bày ý kiến. Giáo viên tổng
đẹp. kết .
b. Nhân vật Huấn cao :
- Rất mực tài hoa : * Qua cuộc trao đổi giữa viên quản
+ tài viết chữ đẹp (chữ của ông ngục và thầy thơ lại ở phần đầu thiên
vuông …. Báo vật trong nhà) tài viết truyện giúp em phát hiện được điều gì
chữ của Huấn Cao không chỉ là kỹ ở nhân vật Huấn Cao?
thuật viết mà còn cho thấy đó là con - Học sinh trả lời : Huấn Cao là người
người có văn hóa, con người văn hóa. tài hoa.
+ Tài bẻ khóa và vượt ngục * Giáo viên dừng lại giảng giải cho
Huấn Cao là con người yêu tự học sinh rõ hơn về nghệ thuật thư
pháp : chữ Hán là loại chữ tượng hình do không chịu cảnh kìm kẹp ngục tù,
được việt bằng bút lông và mục Tàu. là con người văn võ song toàn.
Có 4 kiểu chữ : chân (lối việt chân - Khí phách hiên ngang, bất khuất
phương), thảo (lối viết thoắng), triện + Dám chống lại triều đình mà
(chữ được sắp xếp trong một cái triện ông căm ghét.
hình vuông), lệ (lối chữ có nét uốn + Bước vào nhà lao trong tư
lược, ngoằn ngoèo). Mỗi khi xuân về thế ung dung lãnh đạm và thái độ
bên cạnh nhựng sản vật có tính vật khinh bỉ những kẻ đại diện cho quyền
chất, người xưa thường mời người lực thống trị (hành động rỗ gông, trả
viết chữ đẹp về cho viết lên bức lụa lời như tát nước vào mặt ngục quan).
hay chạm vào phiến gỗ để treo trong + Có suy nghĩ và hành động
nhà. phóng khoáng (thanh nhiên nhận
* Thái độ và hành động của Huấn rượu thịt … sinh bình)
Cao từ khi bước chân vào chốn ngục - Có thiên lương trong sáng
tù? Thái độ và hành động ấy nói với + Tự trọng không ham quyền,
chúng ta điều gì về con người này? hám lợi (ta nhất sinh … của ta thôi)
* Có người cho rằng Huấn Cao không + Do cảm “tấm lòng biệt nhỡn
chỉ là một nghệ sĩ thư pháp tài hoa mà liên tài ” và hiểu ra “sở thích cao quý
còn là một trang anh hùnh dũng khí. của ngục quan”, Huấn Cao đã nhận
Ý kiến của em như thế nào? lời cho chữ.
- Học sinh trả lời từng khía cạnh của + Huấn Cao luôn tỏ ra cảm
câu hỏi, giáo viên lắng nghe và nhận thông với những ai biết quý trọng cái
xét. đẹp.
Hình tượng Huấn Cao tượng
* Tại sao Huấn Cao nhận lời cho chữ trưng cho cái đẹp tài hoa hòa hợp với
cái đẹp tâm hồn; hiên ngang bất khuất người mà trước đây ông vốn rất khinh
trước cái xấu, cái ác nhưng lại mềm bỉ? Điều đó nói lên vẻ đẹp nào trong
lòng trước cái thiện cái đẹp. con người ông?
Huấn Cao gợi liên tưởng đến - Học sinh cắt nghĩa nguyên nhân cho
Cao Bá Quát – một danh sĩ lừng lẫy, chữ và chỉ ra vẻ đẹp trong tâm hồn
tài năng lỗi lạc đời Nguyễn. của Huấn Cao.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đánh c. Cảnh cho chữ :
giá khái quát về Huấn Cao và liên hệ - Không gian : buồng giam
với Cao Bá Quát. - Thời gian : nửa đêm
* Cảnh cho chữ diễn ra trong không - Hình ảnh : đối lập : nhà tù tối
gian, thởi gian nào? tăm, dơ bẩn, ẩm ướt >< ánh sáng bó
* Để khắc họa cảnh cho chữ Nguyễn đuốc đỏ rực, màu trắng của bức lụa,
Tuân đã dùng thủ pháp nghệ thuật mùi thơm của thỏi mực; người tử tù
nào? uy nghi, lẫm liệt, bị cầm tù về nhân
thân nhưng tự do về nhân cách ><
Học sinh phát hiện và phân tích hiệu ngục quan khúm núm, run run, tự do
quả của việc sử dụng tối đa thủ pháp về nhân thân nhưng bị cầm tù về nhân
Tô đậm sự vươn lên thắng thế
thương phản. cách.
* Nhà văn đã gọi cảnh cho chữ là gì? của cái đẹp, cái thiện đối với cái xấu,
Vì sao? cái ác.
Giáo viên có thể gợi mở thêm : thông - Cảnh tượng xưa nay chưa từng có
thương viết chữ ở trong thư phỏng, + Diễn ra trái quy luật xưa nay.
giữa những giữa những người tri kỉ, + Người nghệ sĩ sáng tạo lúc bị
còn trong truyện thì nó diễn ra ở đâu, cầm tù, đầu sắp rơi.
trong hoàn cảnh nào? + Có sự đảo lộn trật tự.
Nhịp điệu chậm rãi, từ ngữ * Có người nói đoạn văn miêu tả cảnh
giàu sức khêu gợi như một đoạn phim cho chữ giống như một đoạn phim
quay chậm. Từng hình ảnh, động tác quay chậm. Em nghĩ như thế nào về ý
hiện dần lên dưới ngòi bút đậm chất kiến trên?
điện ảnh của nhà văn. - Học sinh đọc lại đoạn văn, liên
tưởng và nêu ý kiến của mình. d. Nghệ thuật :
- Tạo tình huống độc đáo.
- Bút pháp điêu luyện.
- Sử dụng ngôn ngữ có tính tổng
hợp cao.
3. Đọc – hiểu tư tưởng tình cảm tác giả
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
* Qua những lời khuyên, Huấn Cao - Cái đẹp có thể sản sinh từ đất chết,
muốn nói gì với viên quan ngục và nơi cái xấu xa ngự trị nhưng không thể
người đọc? sống chung với cái xấu xa. Con người
- Học sinh thảo luận tìm ra quan niệm chỉ có thể và xứng đáng thưởng thức cái
đẹp khi giữ được thiên lương trong thẩm mĩ của nhà văn.
sáng.
- Cái đẹp có khả năng cảm hóa con
người, đề nghị một lối sống, một mẫu
người “Cả đời chỉ cúi đầu vái lạy hoa
mai”.
- Cái đẹp có thể hòa đồng hai thế giới
nhân sinh ở hai vị thế xã hội khác nhau
xích lại gần nhau, nương tựa vào nhau,
cùng vươn tới hoài bão tháo củi xổ lồng.
Luyến tiếc cái nhã thú văn hóa cổ
truyền của người Việt đang lụi tàn và
gửi gấm kín đáo triết lí nhân bản của * Nguyễn Tuân đã gửi gấm kín đáo điều
mình : “biết trọng người có tài, hẳn gì qua tác phẩm?
không phải là kẻ xấu”.
IV. Liên hệ – Ghi nhớ
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
* Em rút ra được bài học gì cho bản thân khi 1. Liên hệ :
học xong tác phẩm? - Tài phải gắn liền với chữ tâm
- Chữ người tử tù nêu lên bài họ c về thái độ Học sinh suy nghĩ và nêu lên bài học của
tô n trọng tài năng, phẩm giá con người và vẻ mỗi các nhân.
đẹp của tâm hồn trong cách nghĩ, cách ứng Giáo viên dùng hình thức hỏi – đáp để hướng
xử cao thương. dẫn học sinh củng cố kiến thức
2. Ghi nhớ : * Vẻ đẹp của Huấn Cao và viê n quản ngục
nói gọn lại là gì ?
* Vì sao nói Nguy ễn Tuân đã phục chế cái
cổ điển bằng bút pháp và kỹ thuật hiện đại?
* Để tìm hiểu một truyện ngắn chúng ta cầ n
đi vào khai khác những phương diện nào?
- Vận dụng các bước đọc hiểu truyện ng ắn
em hãy đọc truyện Vi hành của Nguyễn Aí
Quốc và thức hiện theo các yêu cầu sau (giáo
viên phát cho mỗi học sinh 01 bảng
Worksheet )
Một tron g những sáng tạo độc đáo của
Nguyễn Ái Quốc trong VI HÀNH là tạo ra
một tình huống truyện :
Tên tình Nhân vật Tính hiệu
huống tham gia quả của
tình huống tình huống
VĨNH BIỆT CỬ ĐÀI U TRÙNG
(Tríc ởng) h VŨ NHƯ TÔ – Nguyễn Huy Tư
A. Kiểm tra bài cũ :
y trình bày ngắn ngọn những nội dung trong quan điểm nghệ thuật của Câu hỏi 1 :Em hã
Na m cao?
Câu hỏi 2: Nêu vắn tắt những nét đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện của Nam Cao?
B. Mục tiêu cần đạt :
Về kiến thức : giúp học sinh hiểu được xung đột kịch, diễn biến tâm trạng bi kịch của các
nhâ n vật Đan Thiềm, Vũ Như Tô; nhận thức được quan điểm nhân dân và thái độ trân trọng của
Nguyễn Huy Tưởng đối với người nghệ sĩ tài năng, khát vọng nhưng không thể giải quyết được
mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật lớn lao và thực tế xã hội không tạo điều kiện để thực hiện
khát vọng ấy; cảm nhận được những đặc sắc nghệ thuật của vở kịch có yếu tố lịci sử.
Về thái độ : khơi gợi niềm say mê sáng tạo cái đẹp ở học sinh. Làm cho học sinh nhận thức
đún g về cái đẹp – nó chỉ thực sự có giá trị khi phục vụ thiết thực cho lợi ích của con người.
Về kĩ năng : hiểu và biết cách tự đọc môt văn bản kịch.
C. ới thiệu nhân vật; Bảng kiệt kê Các phương tiện dạy học : giất ruki, bút lông để vẽ Bảng gi
lời thoại.
ộng dạy học D. Hoạt đ
I. Giới thiệu
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
viên giới thiệu bài học : Chúng ta Giáo đã
từng làm quen với Nguyễn Huy Tưởng qua
tiểu thuyết lịch sử Lá cờ thêu sáu chữ vàng
với hình ảnh Trần Quốc Toản dù tuổi nhỏ đã
có lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm
lớn lao. Đến với Vũ Như Tô, chúng ta lại
thấy có thêm những phát hiện về nhà văn này
: ông chẳng những là người viết tiểu thuyết
mà còn là nhà viết kịch tài hoa.
Học sinh nghe, ghi tên bài học m ới vào vở.
i * Giáo viên nêu câu hỏi : Em nào có thể giớ
thiệu những nét chính về tác giả Nguyễn Huy
Tưởng?
h trình bày có thể còn dài dòng, giáo - Học sin . Tác giả : 1
Huy Tưởng (1912 – 1960) xuất viên cần nhận xét và chốt lại những nét chính - Nguyễn
thâ về Nguyễn Huy Tưởng. n trong gia đình nhà nho, từng gắn bó với
ủa Nguyễn * Có người cho rằng văn phong c phong trào cách mạng trong các tổ chức văn
Huy Tưởng chỉ hợp với tâm hồn tuổi nhỏ. hóa văn nghệ do Đảng lãnh đạo.
khai thác đề Em có đồng ý không? - Ông thường có thiên hướng
tài l o viên nhận xét và kết Học sinh thảo luận, giá ịch sử để xây dựng tác phẩm.
trong sáng, luận. - Văn phong của ông giản dị,
hợp với tâm hồn tuổi trẻ nhưng cũng thâm
trầm sâu sắc khi đặt ra những vấn đề triết lí
2. Tác phẩm
* Một số người muốn xem Vũ Như Tô là vở a. Thể loại : bi k ịch về đề tài lịch sử. Bi
h là thể loại đối lập với kịch, sử dụng các kịch lịch sử, một số khác có xu hướng xem kịc
xung đột quyết liệt mang tính sống còn giữa đây là bi kịch. Ý kiến của em thế nào?
cái cao cả và cái thấp hèn, giữa cái tốt và cái
xấu … số phận nhân vật chính của bi kịch
thường có kết cục là cái chết và lí tưởng mà
họ theo đuổi thì chưa thực hiện được.
b. Tóm tắt : sách giáo khoa
II. Đọc và tìm hiểu chú thích
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội du ng bài học
áo viên hỏi : Những chú thích trong s * Gi ách
giáo khoa có chú thích nào em chưa rõ
không?
- Học sin h trình bày ý kiến
iể III. Đọc - h u văn bản
1. Đọc – hiểu ngôn từ
Ho ạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
a. Xuất xứ đoạn trí * Theo em cần có giọng đọc nào để ch : hồi V
b. Tóm tắt tình tiết trong đoạ đọc diễn cảm đoạn trích này? n trích :
biết tin có binh biến, bạo loạn nguy - Học sinh trả lời.
hiểm đến tính mạng Vũ Như Tô, Đan Giáo viên định hư ớng thêm : đây là
Thiềm hết lời khuyên và giục chàng văn bản kịch nghĩa là được viết chủ
đi trốn. Nhưng Vũ khăng khăng yếu bằng lời thoại để diễn viên biểu
diễn trên sân khấu. Do đó cần dựa không nghe vì tự tin mình “quang
vào những chỉ dẫn sân khấu để thể minh chính đại”, “không làm gì nên
hiện giọng đọc cho phù hợp với tình tội” và hi vọng ở chủ tướng An Hầu.
huống kịch. Tình hình càng lúc càng nguy kịch.
Lê Tương Dực bị giết, hoàng hậu
cung nữ của y cũng vạ lây. Đan
Thiềm bị bắt… Kinh thành điên đảo.
Khi quân khởi loạn đốt Cửu Trùng
đài thành tro, Vũ Như Tô mới tỉnh
ngộ. Chàng đau đớn vĩnh biệt Cửu
trùng đài rồi bình thản ra pháp
trường.
2 . Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
áo viên hỏi : “Loạn ” và “biến ”là 2 * Gi sự a. Xung đột k ịch
việc khủng khiếp xảy ra trong hồi V. Theo * Mâu thuẫn g iữa lợi ích của bạo chúa
em nó xuất từ đâu? Liệu có cách giải quyết với quyền sống của thường dân
g Dực ăn nào tốt đẹp mà không xảy ra “Loạn ” và - Nguyên nhân : vua Lê Trươn
“biến ” ? chơi hưởng lạc, ra sức bắt thuế tróc thơ để
- Học sinh suy nghĩ tìm câu trả lời. xây Cửu trùng đài >< dân đói khát điêu
đứng vì mất mùa, bệnh dịch, tai nạn
thất * Cuộc “Loạn ” và “biến” này gợi cho em - Kết quả : dân nổi can qua, vua quan
liên tưởng đến điều gì? thế, hôn quân Lê Trương Dực bị Trịnh
- Định hướng trả lời : tức nước vỡ bờ; dân Duy Sản giết, Nguyễn Vũ tự sát trong trò
nổi can qua. hề ngu trung, hoàng hậu nhảy vào lửa,
Kim Phụng và đám cung nữ bị bắt, nhục
mạ.
Cuộc n ổi dậy này sẽ không mang lại điều
gì tốt đẹp cho người dân bởi giang sơn sẽ
rơi vào tay những kẻ cầm đầu cuộc phản
loạn.
* Mâu thuẫn giữa niềm khát khao hiến
dâng tất cả cho nghệ thuật của người
nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng với lợi
* Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ những ích trực tiếp và thiết thực của nhân dân
lời đối thoại giữa Vũ Như Tô và dân chúng, y - Nguyên nhân : Vũ Như Tô mượn ta
quân nổi loạn, nội gián và tìm sự khác biệt bạo chúa , bất chấp tất cả, kể cả khi phải
trong cách nhìn nhận và đánh giá của họ về trả bằng công sức, mồ hôi, xương máu của
Cửu trùng đài. những người thợ để thực hiện hoài bão
ại văn bản, liệt lê các lời - Học sinh đọc l của mình >< đối với nhân dân Cửu trùng
thoại và tìm nguyên nhân. đài là hiện thân của sự ăn chơi xa xỉ, hiện
thân của tội ác.
ẫn được đẩy lên đến - Kết quả : mâu thu
đỉnh điểm dẫn đến cuộc nổi loạn.
Mâu thuẫn này ở những hồi
đầu chỉ
Giáo viên hỏi : Các mâu thuẫn thường chỉ * là m âu thuẫn tiềm ẩn, thấp thoáng đằng
có thể giải quyết hoặc bằng cách triệt tiêu sau mâu thuẫn 1. Khi nó hỏa nhập làm
hoặc bằng cách hòa giải. Trong trường hợp một với mâu thuẫn một đã đẩy xung đột
này mâu thuẫn được giải quyết theo hướng kịch lên đến cao trào.
nào? Nhân vật kịch. b.
* Đan Thiềm : h sinh dựa vào diễn biến của xung đột để - Học oảng sợ chạy đến báo tin,
khuyên Vũ Như Tô bỏ trốn; thất vọng, trả lời.
đau đơn tột cùng khi Vũ quyết ở lại; xin
chịu tội thay cho ông Cả; tuyệt vọng
bệnh của Đan Thiềm là bệ
buông lời vĩnh biệt Cửu trùng đài * Đan Thiềm đã hành động ra sao trong cơn
biến loạn? nh đam
rân trọng cái đẹp, cái tài, bệnh của kẻ mê, t
Tuy vậy Đan T
“biệt nhỡn liên tài”.
hiềm vẫn tỉnh táo ,
* nhạy bén để nhận thức rõ sự việc. Trong đề tựa Nguyễn Huy Tưởng viết :
“Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan * Vũ Như Tô :
Thiềm”. Theo em nên hiểu bệnh của Đan - Người ngh ệ sĩ tài ba, hiện thân cho
Thiềm là bệnh gì? niềm khao khát và đam mê sáng tạo cái đẹp.
- Thiên tài ngàn năm có một, người
nghệ sĩ ấy có thể “sai khiến … hóa công….”.
- Mơ mộng, ảo mộng xa rời thực tế.
âu - Mê muội trong những toan tính lo
* Qua tóm tắt em thấy giấc mộng ảo vọng đời th ường :
của Vũ Như Tô bắt đầu ra sao? + chà ng không tin cái việc làm của
ng dữ dội họ * Trong thời khắc đầy biền độ lại có thể bị xem là tội các. mình
Vũ có còn mơ? + Không thể tin sự quan g minh
* Đâu là khoản h khắc Vũ Như Tô nhận ra đại của mình lại bị rẻ rúng, nghi chính
ngờ. giấc mộng lớn đã tan tành?
- Học sinh trả lời từng khía cạnh của câu hỏi, - Vỡ mộng khi mộng lớn biến thành
giáo viên nhận xét, tổng hợp. lửa. đài
ghệ thu c. N ật :
- Sử dụng ngôn ngữ có tính tổng hợp
. cao
- Cách sử dụng không gian và thời
gia n trong vở kịch góp phần tạo nên
khung cảnh bi tráng của lịch sử.
iáo viên hướng dẫn học sinh phân tích, G
đánh giá thành công về nghệ thuật của đoạn
trích.
3 . Đọc – hiểu tư tưởng tình cảm tác giả
H oạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
Qua bi kịch vỡ mộng của Vũ Như Tô rọng cái tài, khâm * , - Trân t phục cái
hoài bảo, cảm thông với bi kịch của em thấy thái độ và cách đánh giá của tác
giả như thế nào về nhân vật của mình? người nghệ sĩ.
ính táo nhận ra Vũ - Thận trọng, t
Như Tô chỉ là người tài chứ chưa
phải bậc hiền tài.
- Mâu thuẫn giữa cái đẹp siêu đẳng, - Cũng là bậc tài hoa, sáng tạo ra cái đẹp
thuần túy và cái thiện có lẽ không như Huấn Cao. Tại sao cái tài của Vũ
bao giờ và không ai có thể giải quyết Như Tô bị phủ định, cái đẹp do ông
cho dứt khoát, ổn thỏa khi cái đẹp ấy sáng tạo bị triệt tiêu?
đứng trên cái có ích, nó nhảy múa - Học sinh so sánh ha i nhân vật và trình
trên thân hình quằn quại của cái bày ý kiến.
thiện.
- Cái đẹp sẽ không tồn tại khi nó
đứng trên lợi ích trực tiếp, thiết thực,
lợi ích thường thấy của đời sống
nhân dân.
- Lên án b ọn tham quan, ca ngợi
những nhân cách nghệ sĩ chân chính
và tài hoa.
IV – Liên hệ – Ghi nhớ
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung bài học
1. Liên hệ:
Bi kịch của Vũ Như Tô đã thức tỉnh ý
thức chúng ta vấn đề muôn thưở : mối
quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.
2. Ghi nhớ
a. Hướng dẫn học bài
- Đoạn trích gồm những mâu thuẫn nào?
Chúng được thể hiện cụ thể ra sao?
- So sánh tính cách của Đan Thiềm và
Vũ Như Tô?
- Ngôn ngữ kịch có những nét nào đặc
biệt?
- Để tìm hiểu một văn bản kịch chúng
phải tìm hiểu những nội dung nào?
b. Hướng dẫn soạn bài :
Hãy đọc kĩ đoạn trích Tình yêu và thù
hận rồi lần lượt làm sáng tỏ các vấn đề sau :
1. Sưu tầm những tài liệu có đề cập đến
những tri thức về thời đại phục hưng,
đề tài tình yêu gắn với lí tưởng nhân
văn của thời đại.
2. Tóm tắt những tình tiết trong đoạn
trích.
3. Những nét tâm trạng của Rô-mê-ô và
Ju-li-ét.
4. Em hiểu thế nào về nhan đề đoạn trích
Tình yêu và thù hận.
VỘI VÀNG – Xuân Diệu
A. Kiểm tra bài cũ :
Câu 1 : Hãy trình bày ngắn gọn những đặc điểm của thơ?
Câu 2 : Để tiếp nhận một văn bản thuộc thể loại thơ cần phải chú ý đến những yếu tố nào?
B. Mục tiêu cần đạt :
- Về kiến thức :
+ Giúp học sinh cảm nhận được lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt của nhà thơ với một
quan niệm mới về thời gian, tuổi trẻ và hạnh phúc.
+ Giúp học sinh thấy được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc dồi dào và mạch
triết luận sâu sắc trong bài thơ cùng những sáng tạo mới mẻ trong nghệ thuật thể hiện.
- Về thái độ: làm cho học sinh cảm thấy trân trọng thời gian, tuổi trẻ, biết quý trọng cuộc
sống, góp phần làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp.
- Về kĩ năng : củng cố và nâng cao năng lực đọc – hiểu một tác phẩm thuộc thể thơ mới. Từ
đó các em đúc kết được những yêu cầu cần thiết của việc đọc thơ.
C. Những phương tiện dạy học cần chuẩn bị : giấy rôki, bút lông vẽ bảng so sánh đặc điểm của
thơ cũ và Thơ mới; bảng so sánh quan niệm thời gian của người xưa và quan niệm về thời gian
của Xuân Diệu
D. Tiến hành dạy học
I. Giới thiệu
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có 1.Tác giả:
- Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong nhận xét thật xác đáng về một đặc điểm của
các nhà thơ mới”, nhà thơ của tình yêu, khát thơ Xuân Diệu : “Xuân Diệu say đắm tình
khao giao cảm với đời. yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống
- Sự nghiệp sáng tác đồ sộ, có thành tựu quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi
ở nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, phê bình, của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người
dịch thuật. Đặc biệt là thơ. đều nồng nàn tha thiết”. Điều này thể hiện
- Xuân Diệu làm thơ là để giao cảm với rất rõ qua bài Vội vàng.
đời, và đời theo Xuân Diệu là những gì trần * Yêu cầu học sinh nêu những nét chính về
thế nhất tác giả Xuân Diệu có ý nghĩa phục vụ cho
việc tiếp cận bài thơ Vội vàng (không nên 2. Văn bản
quá chi tiết vì sẽ có một bài học riêng về tác a. Xuất xứ : trích từ tập Thơ thơ
gia này). b. Thể loại : thơ trữ tình hiện đại: không
- Học sinh trình bày, giáo viên ghi nhận và theo những khuôn khổ chất hẹp, những qui
bổ sung (nếu có). tắc gò bó của thơ cũ, nhất là luật thơ, để giải
* Giáo viên hỏi : Vội vàng thuộc thể lọai phóng cho cảm hứng, đi tìm nhịp điệu của cái
nào? Có gì khác biệt giữa thơ cũ và thơ mới? tôi. Sự vật được miêu tả không phải bằng sự
* Học sinh nhớ lại và so sánh giữa thơ cũ và sắp xếp những thi liệu sáo mòn mà bằng sự
thơ mới. mở rộng cảm xúc và nhạy bén của cảm giác.
- Giáo viên dùng bảng so sánh để đi tìm
những đặc trưng cơ bản của thơ mới.
Bảng so sánh
Thơ cũ Thơ mới
- Có những qui định - Không hạn định về
chặt chẽ về số tiếng số tiếng, số câu.
trong câu, số câu
trong bài.
- Nhịp chẵn, lẻ là - Ngắt nhịp tùy theo
tình ý trong câu, chủ yếu.
trong bài.
- Không coi trong - Phối thanh theo
việc phố thanh. luật bằng vần bằng
hoặc luật trắc vần
bằng.
- Không sử dụng - Các dòng thơ niêm
niêm luật. với nhau theo qui
tắc dòng 1 nêm với
dòng 8, dòng 2 nêm
với dòng 3, dòng 4
niêm với dòng 5,
dòng 6 niêm với
dòng 7.
- Hiệp vần theo - Hiệp vần : chỉ sử
nhiều kiều. dụng vần chân và
một vần cho toàn
bài.
II. Đọc và tìm hiểu chú thích
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
Tuần tháng mật : người phương Tây, sau * Giáo viên hỏi : em thấy có những từ, cụm
ngày cưới thường dành một khoảng thời gian từ nào trong văn bản chưa được hoặc chú
để đôi vợ chồng đi chơi với nhau, vui hưởng thích chưa rõ?
hạnh phúc tân hôn. Người ta gọi thời kỳ ấy là - Học sinh phát biểu ý kiến về những chú
thời kỳ trăng mật. Cụm từ “tuần tháng mật” thích phía sau văn bản.
có thể hiểu theo hai nghĩa : nghĩa thứ nhất là * Giáo viên cần giải thích rõ hơn về 2 chi tiết
trăng mật, nghĩa thứ hai là mùa xuân hoa nở “tuần tháng mật”, “reo thi”.
nhiều, ông bướm đua nhau đi hút nhụy hoa
làm mật. Cả hai đều có nghĩa vui sống.
Reo thi : đua nhau hót.
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Đọc – hiểu ngôn từ
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
* Nếu phải hướng dẫn bạn đọc diễn cảm * Bố cục :
bài thơ Vội vàng thì em sẽ yêu cầu - 13 câu đầu : Tình yêu thiết tha với
giọng điệu đọc như thế nào? thiên đường nơi trần thế của nhà thơ
* Giáo viên gọi1, 2 học sinh trả lời. - Từ câu 14 đến câu 29 : Cảm nhận
- Giáo viên định hướng : mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian,
+ Từ câu 1 đến câu 13 : cần được tuổi trẻ và tình yêu.
đọc với giọng vui tươi, náo nức, xuyến - Từ câu 30 đến hết : Lời giục giã
xao, chú ý đến các điệp từ, điệp ngữ. sống vội vàng, cuống quýt.
+ Từ câu 14 đến câu 29 chuyển sang Chính nhận thức mới mẻ, mặt
giọng tranh luận, phản bác, thảng thốt “luận lí” đã chi phối hướng vận động
nuối tiếc. mạch cảm xúc. Đang sung sướng vui
tươi trước khu vườn xuân, cái tôi thảng + Từ câu 30 đến hết đọc nhanh, sôi
thốt vội vàng một nửa vì nhận ra tất cả nổi, nhấn giọng ở các điệp ngữ, các từ
miêu tả, các động từ được thể hiện theo chỉ thực sự thần tiên trong cái xuân thì
lối tăng tiến của nó. Con người cũng vậy. Tuổi xuân
- Giáo viên đọc mẫu một đọan sau đó không thắm lại hai lần. Đó là lí do phải
gọi học sinh lần lượt đọc các đọan còn sống vội vàng, sống cuống quýt hy vọng
lại. chiến thắng thời gian bằng tốc độ sống.
* Mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình
trong bài thơ vận động như thế nào?
Dự kiến học sinh trả lời : từ sung sướng,
vui tươi sang thảng thốt vội vàng và
giục giã, cuống quýt.
Điều gì đã chi phối hướng vận động
của mạch cảm xúc?
Dự kiến học sinh trả lời : nhận thức mới
mẻ, mặt “luận lí” đã chi phối hướng vận
động của mạch cảm xúc.
2. Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
* Giáo viên chuyển dẫn và đặt câu hỏi : 13 a. Tình yêu thiết tha của thi sĩ với thiên
câu đầu của bài thơ như vẽ ra trước mắt đường nơi trần thế (13 câu đầu).
người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt - Bức tranh thiên nhiên mùa xuân
đẹp. Em hãy vẽ lại bức tranh ấy bằng ngôn từ + Ong bướm rộn ràng bởi những đóa
? hoa xuân khoa sắc thắm nổi bật giữa đồng
* Giáo viên hỏi : Việc lập lại nhiều lần từ nội xanh rì.
“này đây” là vô tình hay nằm trong ý đồ nghệ + Cành tơ phơ phất vươn dáng nõn nà.
thuật của tác giả? + Ánh sáng mình minh tỏa màu hồng
- Học sinh lí giải tác dụng của biện pháp điệp bừng hé đầy ngạc nhiên vì thế giới xung
từ. quanh mình.
* Giáo yêu cầu học sinh nêu cảm nhận về vẻ + Yến anh hội hè rộn rã.
đẹp của bức tranh. + Tháng giêng mơn mởn da thịt xuân
- Học sinh trình bày cảm nhận, giáo viên ghi hồng.
nhận và nhận xét. - Điệp từ “này đây” cho thấy sự phát
hiện dồn dập, liên tục của thi sĩ sự phong phú
dường như vô tận của thiên nhiên : một bức
tranh đầy ánh sáng mới mẻ, tinh khôi, đầy âm
thanh tình tứ, rộn rã, đầy màu sắc hương
thơm và vị ngọt men say tình ái, đầy niềm
vui đón chờ mỗi ngưỡng ban mai. Và nhựa
sống dâng lên trong lòng tạo vật “như máu
căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non
của cây cối, nằm im mãi không chịu được
phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ
tay vẫy những cặp uyên ương đướng
cạnh”(Vũ Bằng). Tất cả đều bày sẵn, gọi mời
như một bữa tiệc trần gian.
* Giáo viên yêu cầu học sinh lí giải nguyên ay sưa, rộn ràng Thiên nhiên tạo vật s
nhân tạo nên cảm nhận đó. và mãi mê trao gửi hương sắc trong mủa tình
- Nếu học sinh không lí gi ải được giáo viên ái như xui khiến lòng người cũng tạo ra sức
có thể gợi ý : Thơ trung đại xem thiên nhiên đắm say, sung sướng ngất ngây tận hưởng.
là chuẩn của cái đẹp, thơ mới nói chung, thơ n, Chính cái nhìn trẻ, “cặp mắt xanh no
Xuân Diệu nói riêng lấy cái gì để làm chuẩn ếc rờ bi n” luôn lấy con người giữa thời trẻ và
cho cái đẹp? tình yêu làn chuẩn mực cho cái đẹp đã tọao
ảo luận và đại diện nhóm trình - Học sinh th nên vẻ đẹp riêng trong bức tranh xuân của thi
sĩ. bày.
o viên bổ sung : giữa lúc “ta thoát lên Sự cách tân trong thi pháp đã trẻ hóa * Giá
ế gi th ới cũ kĩ, già nua, làm cho nó mới mẻ tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường
đầy bất ngờ. tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng
Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên …” nhưng
“động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên
cuồng rồi tỉnh” thì “Xuân Diệu đã đốt cảnh
bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Bức tranh
thi sĩ vẽ ra quả thực là một thiên đường đầy
mật ngọt. Nó không tồn tại trong hư ảo mà
hiển hiện với hơi thở sống, nhịp điệu sống,
nhịp tim phấp phồng. Nó ở ngay trước mắt
người, giữa cuộc sống trần thế vui tươi, mời
- Thiên đường trần thế ngọt ngào đương gọi con người mở lòng mình tận hưởng say
đ ộ xuân thì là lí do để tác giả mở đầu bằng sưa.
bốn câu thơ “Tôi muốn … bay đi”. Khát * Giáo viên hỏi : Đến đây, liệu em đã hiểu
vọng mãnh liệt, ước muốn đọat quyền của tạo được vì sao tác giả lại thốt lên “Tôi muốn …
cho hương đứng bay đi”? hóa, muốn khuất phục thiên nhiên để hương
* Học sinh suy nghĩ tìm ra lí do tác giả thể sắc cuộc đời tươi mãi.
hiện ước muốn can dự vào - Đây không phải là ước muốn của quy luật muôn đời
của tạo hóa. người không lồ trong thần thoại có thể ghé
vai vào gánh đỡ cả bầu trời, không phải * Giáo viên hỏi tiếp : Theo em đó là ước
ười khổng lồ bước ra từ thần những nông nổi, ngông cuồng của tuổi trẻ mà muốn của ng
là khát vọng cháy bỏng của một thi nhân : thọai, cổ tích hay khát vọng của một thi
ước muốn bất tử hóa cái đẹp, giữ cho cái đẹp nhân?
tỏa sắc lên hương với cuộc đời. - Học sinh dựa vào những nội dung đã phân
trên để phát hiện ra đấy là ước mơ tích ở
cháy bỏng của một điệu tâm hồn luôn bám
riết lấy trần gian, chạy đua với thời gian, lúc b . Những cảm nhận mới mẻ của “tôi” về thời
nào cũng thèm yêu khát sống. g ian, tuổi trẻ và mùa xuân.
- Tác giả đã tạo ra giọng “tranh luận” để
nh. Nhà thơ như bảo vệ quan điểm của mì
đang đối thọai với những ai đang yên tâm với
quỷ thời gian bốn mùa, “xuân đến xuân đi
xuân lại lại”… Thi sĩ thấy thời gian như một
cơn gió nhẹ lướt qua tất cả. Lúc tạo vật đang Giáo viên chuyển dẫn và đặt câu hỏi : Xuân *
độ căng mọng cũng là khi đối diện với sự ám iệu không chỉ có những cảm nhận mới mẻ D
ảnh tàn phai, hủy diệt của ngọn gió thời gian. về không gian mà còn có những cảm nhận
Thời gian có mùi, có vị chia phôi. Mỗi mới về thời gian. Theo em đâu là điểm mới
khoảnh khắc trôi qua là sự chia lìa, một sự trong quan niệm về thời gian của Xuân Diệu
mất mát. Cho nên cả đất trời núi sông dâng và tác giả đã “bảo vệ” ý kiến của mình ra
lên một âm thanh duy nhất – âm thanh của sự sao?
chia ly. Vạn vật thở than, ngậm ngùi đưa tiễn - Học sinh căn cứ vào đọan thơ thứ 2 để trả
phần đời của chính nó. Sự thức dậy sâu xa về lời.
giá trị của sự sống cá thể đã đưa đến một cảm * Giáo viên giới thiệu Bảng so sánh quan
nhận đầy ám ảnh về thời gian trong lòng tạo niệm về thời gian :
vật như thế ở nhà thơ Xuân Diệu. niệm cũ Quan Quan niệm của
Xuân Diệu
“Xuân vẫn tuần “Xuân đương tới
hoàn”, thời gian nghĩa là xuân sẽ
vòng tròn theo chu còn non qua. Xuân
kỳ xuân, hạ, thu, nghĩa là xuân sẽ
đông. Quan niệm già” và thời gian
này xuất phát từ cái tính tuyến. Quan
nhìn tĩnh tại siêu niện này xuất phát
hình lấy sinh mệnh từ cái nhìn động, rất
vũ trụ làm thước đo biện chứng về vũ
thời gian. Vì vậy trụ, về thời gian, lấy
con người luôn an sinh mệnh cá nhân,
nhiên tự tại, không hơn thế lấy tuổi trẻ,
- Tuổi trẻ - khoảng đời đẹp nhất nhưng có gì phải lo lắng. khỏang thời gian
c ũng rất ngắn ngủi của đời người – một đi ngắn và đẹp nhất
k hông trở lại bao giờ. của đời người, làm
- Điệp từ “nghĩa là” được sử dụng như thước đo thời gian.
để chỉ ra một sự thất hiển nhiên không thể Vì thế con người
phủ nhận : trong hiện tại bắt đầu ở quá khứ luôn trăn trở về tính
ó mầm móng của tương lai, cái đương có và c mất mát của thời
cũng là cái mất dần. gian.
- Dùng những từ ngữ, cách diễn đạt đối
lập mạnh mẽ : non >< già, rộng >< chật, còn
>< chẳng còn, tuần hoàn >< chẳng hai lần - Có người cho rằng Vội vàng thể bài thơ
lại hụt hẫng, nuối tiếc, thảng thắm iện chất triết luận nhưng vẫn không khô h
thốt khi nhận ra cái hữu hạn của đời người và khan mà trái lại còn tự nhiên và nhuần nhị.
cái vô cùng của tự nhiên. Theo em đâu là chất triết luận trong bài thơ?
- Học sinh suy nghĩ để phát hiện ra mạch triết
luận sâu sắc của đoạn thơ.
* Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh thảo
luận : Đặt trường hợp em là thi sĩ, đứng trước
thực tế như thế tâm trạng của em sẽ ra sao? - Đoạn thơ kết thúc bằng lời cảm thán
đ ầy tuyệt vọng thốt lên từ đáy lòng của một - Học sinh trình bày cảm x úc của mình trước
n gười ham mê cuồng nhiệt cuộc sống. qui luật : đời người hữu hạn và thời gian thì
vô hạn.
à * Giáo viên ghi nhận ý kiến của học sinh v
hướng các em nhận ra những nét tâm trạng
của tác giả.
iên hỏi : Câu thơ nào trong đoạn 2 * Giáo v
thể hiện rõ và sâu sắc nhất sự tuyệt vọng của
tác giả? c . Lời giục giã sống vội vàng
đọc lại đoạn 2 và chỉ ra câu - Học sinh - Xuân Diệu từng ước ao có cặp hài vạn
d “Chẳng bao giờ … nữa”. ặm để “đi mau trốn nét, trốn màu” nhưng đó
c hỉ là ước mơ cổ tích. Trong Vội vàng thi sĩ
iên chuyển ý và đặt câu hỏi : Nhận đã tìm ra cách chiến thắng thời gian bằng * Giáo v
cườn thức được quy luật khắc nghiệt của thời gian, g độ sống, khát vọng sống, tận hiến và
i tiếc. Nhưng rồi Xuân Diệu băn khoăn, nuố tận hưởng cuộc sống bằng tất cả các giác
n hịp thơ bỗng bừng lên nhịp sống mới. Phải quan, sống mãnh liệt như ngọn lửa thổi bùng.
chăng thi sĩ đã tìm ra được cách chiến thắng + Biện pháp điệp từ và những động từ
thời gian? tăng tiến (ôm – riết – say – thâu - cắn) được
* Em sẽ suy nghĩ và hành động như thế nào khai thác tối đa để diễn tả những cảm xúc
mãnh liệt, những ham muốn mỗi lúc một trước sự trôi chảy của thời gian, sự ngắn ngủi
cuồng nhiệt vồ vập, nồng nàn. của tuổi trẻ?
+ Điệp từ “cho” và những từ láy gợi tả trình bày ý kiến của mình. Có thể - Học sinh
“chuếch choáng”, “đã đầy”, “no nê” tạo nên có những quan niệm sống khác nhau ở mỗi
những làn sóng ngôn từ với nhịp độ tăng tiến học sinh, nhưng giáo viên cần hướng các em
thụ thỏa thuê nhấn mạnh các động thái hưởng có ích, tận hiến và tận hưởng, đến lối sống
và kết thúc trong tột cùng của cảm xúc “Hỡi chủ động, tích cực.
ồng … ngươi”. xuân h
Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút
nhụy đã no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy
thi sĩ như một tình lang trong cuộc tình
chuếch choáng men say.
- Xưng “tôi” để b ộc bạch, phơi trải, bày
tỏ với mọi người với cuộc đời.
- Xưng “ta” như muốn đối diện với toàn
bộ sự sống trên trần gian, đối tượng cần tận
hưởng.
ghệ thuật d. N
- Bài thơ là sự đan xen củ a cảm xúc và
h chính luận. Nếu cảm xúc làm nên cái mạc
* Giáo viên hỏi : “Tôi” và “Ta” trong bài thơ nội dung hình ảnh, hình tượng sống động như
một. Em thử lí giải vì sao đọan đầu thi sĩ mây trô là i, nước chảy trên bề mặt của văn bản
ưng “tôi” nhưng đoạn cuối lại xưng “ta”? thơ, thì yếu tố x chính luận lại ẩn mình, lạc
Học sinh chia tổ thảo luận. xuốn g bề sâu, làm nên cấu tứ của thi phẩm. *
Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên,
nhuần nhị.
- Kết cấu ngữ pháp trùng điệp, kết hợp
với các động thái và cảm xúc tăng tiến làm
hiện ra tính cao trào mãnh liệt của cảm xúc.
- Sử dụng trùng điệp các liên từ, các giới
từ điệp ngu yên vẹn, những tính từ chỉ xuân
sắc, các động từ chỉ trạng thái đắm say,
những hình ảnh tình tứ quyến rũ, tất cả cộng
hưởng để thúc giục vội vàng.
3. Đọc – hiểu tư tưởng tình cảm tác giả
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
* Giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng - Thời gian một đi không trở lại,
k tuổi trẻ là phần đẹp đẽ nhất, quý giá iến thức bài Phỏng vấn và trả lời
p nhất của đời người. Vì thế hãy quý hỏng vấn để phát hiện những tư tưởng
m trọng những năm tháng một đi không tình cả của tác giả qua bài thơ Vội
g. trở l ại này. vàn
Giáo viên phân công một học sinh l - Vội hút, từng * à vàng trong từng p
giây phóng viên Báo Văn nghệ, một học sinh là cách đến với hạnh phúc, là chính
là tác giả bài Vội vàng và thực hiện hạnh phúc và dường như là cái giá trả
cuộc phỏng vấn theo chủ đề : thông điệp cho hạnh phúc.
tác giả muốn gửi tới mọi người qua bài - Sống ở trên đời, nếu không thay
ế giới thì nên thay đổi bản thơ. đổi được th
thân - Học sinh dựa vào chủ đề soạn một vài cho phù hợp.
câu hỏi thực hiện phỏng vấn.
IV . Li ên hệ - Ghi nhớ
Ho ạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
1. Liên hệ :
- Đưa ngôn ngữ bình dân vào văn * Xuân Diệu được đánh giá là “nhà thơ mới
chương bác học : nhất trong các nhà thơ mới”. Em hãy chỉ ra
đi + Sử dụng nhiều yếu tố của văn bản những ểm mới đó trong bài thơ Vội vàng?
i … rằng … chẳng hai lần - Học sinh nhìn lại toàn bộ quá trình tìm hiểu nói (Nói làm ch
thắm lại ). tác p hẩm để tìm ra những nét mới.
ừ nghiêng về khẩu ngữ được + Những t
sử d ụng với mật độ khá dày (này đây, nghĩa
là, và …).
- L ối nói lệch chuẩn :
+ “Tháng giêng … cặp môi gần” :
nghệ thuật so sánh mới lạ mà trước Xuân
rong thơ Việt Nam chưa có cảm giác Diệu t
này.
+ “M ùi tháng năm … tiễn biệt” : đem
một cảm giác đầy tín đến h lạ hóa về thời
hời gian được cảm nhận bằng khứu gian. T
giác “mùi tháng năm”, thị giác “rớm”, vị giác
“vị”.
+ “Và … cỏ rạng” : câu thơ không thể
có đối với thi pháp trung đại vốn coi trọng
chữ đúc. Vậy mà đó lại là sáng tạo của nhà
thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và”
hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng
ng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể cái giọ
hiện đ ậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân
Diệu.
2. Ghi nhớ :
a. Hướng dẫn học bài
- Giáo viên lần lượt nêu câu hỏi và yêu
c ầu học sinh dựa vào dàn bài trên bảng trả
lờ i.
* Những nét tâm trạng của nhân vật
trữ tình?
i về nội dung và hình * Những nét mớ
thứ c nghệ thuật của bài thơ?
* Bức thông điệp thi sĩ gửi đến người
qua bài Vội vàng? đọc
b. Hướ ng dẫn soạn bài
- Giáo viên cho học sinh ghi câu hỏi về
ẩn bị : nhà chu
* Dựa vào sách giáo khoa, tài liệu
hảo hãy chỉ ra những yếu tố ảnh tham k
hưởng đến đặc điểm co n người Xuân Diệu.
* So sánh cách k hẳng định cái tôi cá
n của Xuân Diệu với các nhà thơ mới nhâ
cùng thời.
* Giá trị, vị trí và những đóng góp
của Xuân Diệu cho phong trào thơ mới nói
chung, cho nền văn học hiện đại nói riêng.
* Qua tác gia Xuân Diệu, em hiểu
thêm được gì về giai đoạn văn học Việt Nam
ỷ XX đến Cách mạng tháng Tám từ đầu thế k
và các thể thơ mới.
VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
ông Tây - Phan Châu Trinh) (Trích Đạo đức và luân lí Đ
A. Kiểm tra bài cũ :
mới về lẽ sống, tình cảm trong cái tôi Tố Hữu? Câu 1: Nêu những chuyển biến, nhận thức
y ý nghĩa của nhan đề “Từ ấy”? Câu 2 : Trình bà
B . Mục tiêu cần đạt
- Về kiến thức, giúp học sinh hiểu được :
+ Tinh thần yêu nước, tư tưởng tiến bộ của Phan Chu Trinh khi kêu gọi gây dựng nền
luân lí xã hội ở nước ta.
+ Sức thuyết phục của bài diễn văn qua lập luận tương đối chặt chẽ, cách diễn đạt khá
với giọng điệu chân thành nhiều khi thống thiết. dung dị, dễ hiểu cùng
tâm chia sẻ, xây dựng mối quan hệ tương thân - Về thái độ : làm cho học sinh biết quan
tương á i trong xã hội.
ài học giúp học sinh biết những yêu cầu và cách thức đọc – hiểu một - Về kĩ năng : qua b
văn bản chính luận.
thuyết được vẽ trên giấy C. Những phương tiện dạy học cần chuẩn bị : bảng dàn ý của bài diễn
ruki bằng bút lông.
D. Tiến hành dạy học
I. Giới thiệu
Nội dung dạy học Hoạt động của g iáo viên và học sinh
Được biết đến với tư cách là nhà thơ. Nhưng 1. Tác giả :
ông còn nổi tiếng là nhà diễn thuyết. Các bài - Phan Châu Trinh (1872-1926) là một
ầy tính chất hào hùng. trong những nhà chí sĩ cách mạng nổi tiếng diễn thuyết của ông đ
Có lập luận đanh thép. Bài Về luận lí xã h ững năm đầu thế kỷ XX. ội ở trong nh
nước âu Trinh còn là mộ - Phan Ch t trí thức có ta là một trong số đó.
* Giáo viên nêu câu hỏi : Em hãy nêu tóm tắt lòng yêu nướ c nồng nàn, một chính khách có
những nét cơ bản về Phan Châu Trinh và ng lối mới mẻ, có tình cảm cách mạng. đườ
những tác phẩm tiêu biểu của ông? 2.Đoạn trích :
a.Vị trí : Về luân lí xã hội ở - Học sinh có thể trình bày những nét về quê nước ta là
t đoạn trích trong phần III của bài Đạo quán, xuất thân, sự nghiệp cách mạng, sự mộ
đức và luân lí Đông Tây (gồm 5 phần chính, nghiệp văn chương. Giáo viên ghi nhận và
kể cả nhập đề và kết luận), được diễn thuy rút ra những nét cơ bản nhất về tác giả nhưng ết
thông tin vào đêm 19-11-1 có ý nghĩa giúp học sinh khai thác 925 tại nhà Hội Thanh niên
ài Gòn. để tạo tâm thế cho việc hiểu văn bản. ở S
b.Thể loại : diễn thuyết. Diễn thuyết là - Về vị trí đoạn trích, sách giáo khoa đã trình
bày chi tiết nên giáo viên cần lướt qua phần hình thức giao tiếp với công chúng, thường
này. được các nhà chính trị dùng để khẳng định,
phổ biến một tư tưởng, một quan điểm, một
đường lối c hính trị, kinh tế, văn hóa nào đó.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định thể Ng ười diễn thuyết có thể chọn hình thức ứng
loại của văn bản. Đây là thể lọai vừa quen tác hay nói dựa vào bài đã soạn sẵn. Muốn
vừa lạ đối với học sinh. Thông qua các bài diễn thuyết có sức thuyết phục diễn giả
hương tiện truyền thông các em tình cờ p phải nắm chắc đối tượng người nghe, xác
n ghe thấy các bài diễn thuyết của các chính định rõ chủ đề của bài nói, lập luận khúc
khách về một vấn đề nào đó của xã hội chiết, ngôn ngữ có thể dung dị hay bay bổng
nhưng chưa có ý thức được đó là văn diễn nhưng không quá trừu tượng, khó hiểu. Đặc
thuyết. Bởi các em chưa hiểu được những nét biệt, tâm huyết của người diễn thuyết phải
đặc thù của thể văn này. Vì thế, bằng những được thể hiện rõ trong giọng điệu, nhịp điệu,
câu hỏi gợi mở để học sinh trình bày những ngữ điệu của bài nói.
hiểu biết mơ hồ, không hệ thống về diễn
thuyết, giáo viên giúp học sinh nhận ra
những nét đặc trưng của thể văn này.
II. Đọc và tìm hiểu chú thích
Nội dung dạy học Hoạt động của giáo viên và học sinh
* Giáo viên bổ sung thêm quan niệm của Quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan
Phan Châu Trinh về chủ nghĩa xã hội. Châu Trinh không hoàn toàn giống với quan
niệm của chủ nghĩa Mác. Phan Châu Trinh
cho rằng, lịch sử xã hội loài người đi lên theo
con đường gia đình – quốc gia – xã hội (khác
với chủ nghĩa Mác khẳng định lịch sử của tất
cả các xã hội chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.
Thêm nữa, luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải
thiết lập chế độ dân chủ trong từng quốc gia,
bồi dưỡng ý thức “nghĩa vụ mỗi người trong
nước”, một khi nói đến chuyện xây dựng chủ
nghĩa xã hội với nền tảng của nó là luân lí xã
hội, là sự phát triển của ý thức nghĩa vụ “loài
người ăn ở với loài người”).
III. Đọc - hiểu văn bản
1. Đọc – hiểu ngôn từ
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
* Giáo viên nêu yêu cầu công việc : Em Bố cục : đoạn trích có cấu trúc chặt
hãy ghi lại dàn ý của đoạn trích. Từ dàn chẽ theo hướng :
ý có được hãy đánh giá mạch lập luận - Đặt vấn đề bằng một phủ định
của đoạn trích? mạnh mẽ.
- Học sinh ghi dàn ý vào bảng - Trình bày hiện trạng, lí giải
Wordsheet do giáo viên soạn và phát. nguyên nhân trong sự so sánh với châu
Sau đó trình bày cách chia bố cục của Âu và Pháp.
mình và phát biểu ý kiến về kết cấu của - Phần cuối rút ra kết luận, cũng
mạch lập luận. là giải pháp thiết thực.
* Giáo viên ghi nhận và nhận xét, kết
luận bằng sơ đồ.
Bảng sơ đồ dàn ý đoạn trích\
Xã hội luân lí ở nước ta tuyệt nhiên
không ai biết đến
Hiện trạng và nguyên nhân
Bên châu Âu, Ơ nước ta
Pháp
-Không hiểu -Xã hội chủ nghĩa
rất thịnh hành. nghĩa vụ của loài
người, nghĩa vụ
của mỗi người
-Biểu hiện : “Mỗi trong nước.
khi … mới nghe”. -Biểu hiện :
-Nguyên nhân : vì “Người mình …
người ta có đoàn đến mình”.
-Nguyên nhân : thể, công ít.
bọn vua quan
muốn giữ túi
tham của mình
được đầy mãi nên
thiết pháp luật,
phá tan tành đoàn
thể của quốc dân.
Cần phải xây dựng đoàn thể, truyền
bá chủ nghĩa xã hội để tiến đến giành
độc lập, tự do cho đất nước.
- Giáo viên dùng hình thức hỏi – đáp
ngắn để kiểm tra hoạt động đọc của học
sinh.
* Hãy chỉ ra những cụm từ nói về việc
dân tộc ta tuyệt nhiên không có luân lí
xã hội?
* Đối tượng mà tác giả hướng mũi dùi
đã kích là ai?
* Loại câu nào được tác giả sử dụng
nhiều trong bài diễn thuyết?
* Học sinh dựa vào sự chuẩn bị bài ở
nhà để trả lời từng câu hỏi.
* Giáo viên đặt vấn đề : Giả sử em là
người diễn thuyết, em sẽ trình bày bài
nói chuyện của mình bằng những giọng
điệu nào?
- Học sinh trình bày cách đọc đọan
trích.
- Giáo viên ghi nhận và bổ sung :
+ Cần đọc với giọng khúc chiết,
hùng hồn, tự tin, giàu sức thuyết phục.
+ Cần chú ý nhấn giọng vào các
cụm từ : tuyệt nhiên không ai biết đến,
không cần cắt nghĩa làm gì, mất đi đã
từ lâu rồi, không biết gì là gì, chưa hiểu
gì cả …; các câu hỏi, câu cảm thán...
+ Cần đọc với giọng đanh thép, thể
hiện thái độ quyết liệt khi đọc đoạn viết
về sự thối nát của bọn Nam triều.
2. Đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
* Giáo viên gợi dẫn và nêu câu hỏi : a. Lập trường thái độ của Phan
Một trong những luận điểm cơ bản Châu Trinh
* Đối với hiện tượng không có luân của bài diễn thuyết là “xã hội …
đến”. Để làm sáng tỏ luận điểm này lí xã hội ở nước ta
- Bằng hàng loạt các phản chứng tác giả đã dùng những luận cứ nào?
tác giả chứng minh một cách thuyết Em có nhận xét gì về cách trình bày
phục cho người nghe hiểu được nước luận cứ?
ta tuyệt nhiên không có luân lí xã hội - Học sinh dựa vào những ý nói về
+ Dân ta “phải ai tai nấy, ai chết nước ta tuyệt nhiên không có luân lí
mặc ai”, sợ sệt, ù lì, trơ tráo. để trả lời. Điều quan trọng ở phần này
+ Dân “không biết đoàn thể, là giáo viên giúp học sinh phát hiện ra
không trọng công ích”. tác giả đã thuyết phục người đọc bằng
+ Người này đối với kẻ kia đều hàng loạt những phản chứng.
“ngó theo sức mạnh”, thấy quyền thế
thì chạy theo, dựa dẫm.
+ Vua quan mặc sức bóp nặn dân
chúng, chỉ biết vơ vét, coi việc ngu
dân giống như một điều kiện tốt để
* Giáo viên gợi dẫn : Đoạn trích củng cố quyền lực và lòng tham của
Vừa tỏ thái độ phê phán nghiêm
không chỉ nêu lên nhận định mà còn mình.
thể hiện thái độ của tác giả trước các
khắc, vừa đau lòng chỉ ra sự hèn kém hiện tượng. Em thấy thái độ của tác
của dân mình, nước mình giả ra sao?
hành động can đảm nói ra sự thật - Học sinh phân tích, lí giải để tìm ra
nhạy cảm. thái độ của tác giả.
* Giáo viên hỏi : Từ những điều tác - Luân lí xã hội mà tác giả nêu
trong đoạn trích chứa đựng một nội giả trình bày có giúp em hiểu được
dung phong phú : thế nào là luân lí xã hội ?
+ Trước hết đó là ý thức tương * Học sinh dựa vào những câu nói
của tác giả trong đoạn trích, diễn đạt trợ lẫn nhau giữa các cá nhân trong xã
lại theo ý mình và sắp xếp theo trật tự hội.
+ Tiếp đó, luân lí xã hội là “cái phù hợp và trả lời.
nghĩa vụ của mỗi người trong nước”,
tức là ý thức công dân mà mỗi người
phải có.
+ Cao hơn, luân lí xã hội là “cái
nghĩa vụ loài người ăn ở với loài
người”, tức là tinh thần hợp tác của
con người vượt lên các ranh giới dân
Nói giản dị và cũng thiết thực
tộc và lãnh thổ.
hơn, theo Phan Châu Trinh, luân lí xã
hội gắn liền với ý thức sẵn sàng làm
việc chung, sẵn sàng giúp đỡ nhau và
tôn trọng quyền lợi của người khác.
* Giáo viên gợi dẫn và nêu vấn đề : * Đối với chế độ vua quan chuyên chế
“Luân lí của bọn thượng lưu – tôi - Tác giả không muốn gọi
không gọi bọn ấy là thượng lưu, tôi chúng là thượng lưu, bởi hai chữ này
chỉ mượn hai chữ thượng lưu nói cho chưa thể hiện bản chất thực của bọn
anh em dễ hiểu mà thôi – ở nước ta là vua quan chuyên chế ở nước ta thời
thế đấy”. Không gọi chúng là thượng bấy giờ, đồng thời cũng chưa nói hết
lưu tác giả gọi chúng là gì? Và đâu là thái độ căm giận sôi trào của Phan
Châu Trinh. Ông đã gọi tên chúng luân lí của chúng? Thứ luân lí ấy gây
bằng nhiều cách khác nhau để thể ra những hậu quả gì?
hiện hết những cung bậc của lòng
căm ghét.
- Thực ra trong hệ thống “thuật - Học sinh tìm và chỉ ra tác giả đã gọi
bọn vua quan bằng nhiều tên khác ngữ” của bài viết không có khái niệm
nhau, mỗi tên gọi gợi lên những hình “luân lí của bọn thượng lưu”. Tác giả
ảnh, cách ví von đầy châm biếm. chỉ nói đến luân lí gia đình, luân lí
quốc gia, luân lí xã hội. Nhưng ở đây
lại hạ bút : “Luân lí của bọn thượng
lưu … ở nước ta là thế đấy”. Đó là
cách diễn đạt mỉa mai, châm biếm, đả
kích “bọn học trò”, “kẻ mang đai đội
mũ”, “kẻ áo rộng khăn đen”, “đám
quan trường” …
- Đanh thép kết tội thứ luân lí
của bọn vua quan chuyên chế từ 300
400 năm trở lại đây. Đó thứ luân lí
trái đạo. Bởi thứ luân lí ấy chỉ để
phục vụ cho việc hưởng vinh hoa phú
quý của bọn vua quan; để củng cố
quyền lực của kẻ thống trị, tạo ra
những “giấy phép” hợp lệ để “lũ ăn
cướp” có thể “dầu tham dầu nhũng,
dầu vơ vét, dầu rút tỉa của dân thế nào
cũng không ai bình phẩm”. Thứ luân
lí ấy cũng là thủ phạm “phá tan tành
đoàn thể của quốc dân” nô lệ hóa
người dân, làm cho họ từ chỗ biết
bênh vực nhau, biết ý thức về nghĩa
* Giáo viên gợi dẫn : “Một dân tộc vụ giữa người với người, với nghĩa vụ
như thế thì tư tưởng cách mạng nảy chung, trở thành “trơ trọi, lơ lào, sợ
nở trong óc chúng làm sao được!”. sệt, ù lì” không còn biết đến “khen
Phải chăng đó là thái độ bi quan của chê”, “khinh bỉ” là gì nữa.
tác giả. * Đề nghị cấp thiết phải xây dựng
- Học sinh dựa vào những câu nói luân lí xã hội ở nước ta
- Tác giả nhìn thấu tình hình đen trong phần ba để tìm hiểu thái độ tác
tối của đất nước song ông không có giả.
thái độ bi quan mà tin tưởng rồi đây * Giáo viên hỏi : Tác giả đã đề xuất
nước ta sẽ có luân lí xã hội và sẽ có những giải pháp nào để xây dựng
một tương lai tươi sáng. Muốn vậy, luân lí xã hội?
theo tác giả cần phải : * Học sinh thảo luận theo nhóm và trả
+ Biết gầy dựng đoàn thể để hỗ lời. Giáo viên ghi nhận, rút ra kết
trợ nhau trong cuộc sống và để tự bảo luận.
vệ chính quyền lợi của mình.
+ Bỏ thói dựa dẫm vào quyền
thế, chấm dứt tệ mua danh bán tước
hòng có được vị trí “ngồi trên, ăn
trước”.
+ Đánh đổ chế độ vua quan thối
nát làm bại hoại luân lí xã hội, khiến
* Giáo viên nêu vấn đề : Có ý kiến tư tưởng cách mạng không thể nảy
cho rằng Phan Châu Trinh thuộc số sinh và nước ta không thể có được
Phan Châu Trinh dám nhìn
không nhiều lắm những nhà cách độc lập, tự do.
mạng nhìn ra chỗ yếu cốt tử của nước
thẳng và can đảm chỉ ra thực trạng ta trong cuộc tranh cường cùng thiên
nhức nhối là dân trí nước ta quá thấp hạ. Em có nhận thấy như vậy không?
và ý thức đoàn thể của người dân rất - Học sinh sâu chuỗi các nội dung đã
kém. Đó cũng là cách “hát cho đồng phân tích ở những phần trước để tìm
bào mình nghe bài hát lạc điệu của ra sự thẳng thắn, tầm nhìn xa và tấm
chính họ”, cảnh báo họ, lay tỉnh họ, lòng của Phan Châu Trinh đối với đất
thúc giục họ hãy vượt qua cái vòng u nước, nhân dân.
mê tâm tối đó, xây dựng đoàn thể, * Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại
mưu cầu sự nghiệp chung, hướng đến khái niệm luân lí xã hội theo quan
mục tiêu giành độc lập tự do. niệm của Phan Châu Trinh. Sau đó
đặt câu hỏi : Đối tượng của bài diễn
thuyết gồm những ai?
- Học sinh căn cứ vào văn bản, hoàn b. Đối tượng tiếp nhận
- Những người có mặt tại Hội cảnh ra đời của tác phẩm để trả lời.
Thanh niên Sài Gòn.
- Rộng hơn, tác giả còn muốn tác
động đến tất cả nhân dân, đồng bào,
những người yêu nước, đau xót trước
thực trạng đất nước, trăn trở muốn
tìm con đường đi cho cả xã hội. Họ là - Giáo viên nêu câu hỏi hướng dẫn
“người mình”, “người bên ta”, “người học sinh đánh giá thành công về nghệ
nước ta”, “ông cha mình”, “dân Việt thuật của đoạn trích. Theo em, điều gì
Nam”. làm nên sức hấp dẫn của bài diễn
thuyết? c. Nghệ thuật :
- Tình cảm tràn đầy, thường -Học sinh dựa vào cách lập luận,
được biểu lộ qua những lời cảm thán những câu cảm thán, cách đề xuất kế
thống thiết. hoạch … để tìm ra những thành công
- Lập luận sáng sủa, khúc chiết. về nghệ thuật của đoạn trích.
Lập trường đánh đổ chế độ quân chủ
luôn được tuyên bố công khai, dứt
khoát.
- Kế hoạch hành động được vạch
ra rõ ràng cụ thể.
- Phong cách chính luận độc đáo
: thay đổi linh hoạt tùy vào đối tượng
được nói đến. Lúc từ tốn, lúc kiên
quyết, đanh thép, khi nhẹ nhàng, khi
mạnh mẽ đầy sức thuyết phục.
3. Đọc – hiểu tư tưởng tình cảm tác giả
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung dạy học
- Sự xuất hiện những câu cảm thán cho * Giáo viên hỏi : Em hãy sâu chuỗi lại
thấy tác giả không chỉ phát biểu chính xem trong đoạn trích tác giả đã bộc lộ
kiến bằng lí trí tỉnh táo mà còn bằng trái những cung bậc tình cảm gì?
tim tràn trề cảm xúc, chan chứa niềm - Học sinh dựa vào thá độ của tác giả
xót xa cùng với nỗi đau về tình trạng đối với những đối tượng được nói đến
đình truệ thê thảm của xã hội Việt Nam. trong đoạn trích để phát hiện tư tưởng
Qua trạng thái cảm xúc ấy, ta nhận rõ tình cảm tác giả.
phẩm chất trung thực, cứng cỏi, quyết
liệt của một nhà cách mạng toàn tâm
toàn ý đấu tranh vì dân chủ, vì tiến bộ
xã hội.
IV. Liên hệ - Ghi nhớ
Nội dung dạy học Hoạt động của giáo viên và học sinh
1. Liên hệ
* Giáo viên nêu vấn đề : Là tuổi trẻ trong thế - Phan Châu Trinh là một trong những
kỷ XXI, em nghĩ gì về những vấn đề mà tác người có tầm nhìn vượt thời đại. Những vấn
giả đã đặt ra? đề ông đặt ra trong cách diễn thiết vẫn rất cần
- Học sinh phát biểu suy nghĩ. Có thể có thiết với chúng ta hôm nay :
những cách nghĩ khác nhau, nhưng giáo viên + Nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng
cần hướng các em về tính thời sự của những của việc xây dựng đoàn thể nhằm tạo nên ý
vấn đề Phan Chu Trinh đặt ra. thức trách nhiệm của các nhân đối với cộng
đồng.
+ Cảnh báo nguy cơ tiêu vong các quan
hệ xã hội tốt đẹp do những kẻ “ham tước
quyền, ham bả vinh hoa đem đến”.
+ Khơi dậy niềm âu lo về sự chậm tiến
của một xã hội mà ở đó tinh thần dân chủ còn
chưa được ý thức như một nhân tố thức đẩy
sự phát triển.
2. Ghi nhớ :
a. Hướng dẫn học bài :
- Giáo viên giúp học sinh hệ thống lại
nội dung bài học bằng những câu hỏi – đáp
ngắn.
+ Những luận điểm chính trong đoạn
trích vừa học?
+ Tư tưởng tình cảm của tác giả nói
gọn lại là gì?
+ Điều gì làm cho đoạn trích trở nên
hấp dẫn?
- Học sinh nhớ lại (hoặc nhìn bảng) để
trả lời.
b. Hướng dẫn soạn bài :
- Giáo viên nêu yêu cầu : Từ những kinh
khi đọc – hiểu đoạn trích Vấn đề luân lí xã
hội ở nước ta em hãy :
+ Xác định những luận điểm chính
trong đoạn trích Một thời đại trong thi ca –
Hoài Thanh.
+ Lập dàn ý đoạn trích.
+ Chỉ ra con đường, cách thức Hoài
Thanh vạch ra để đi tìm “tinh thần thơ mới”.
+ “Tinh thần thơ mới ” theo quan
niệm của Hoài Thanh là gì? Hành trình xuất
hiện và đến với bạn đọc của nó ra sao?
3.2. Mô tả thực nghiệm
3.2.1 Mục đích thực nghiệm : thực nghiệm là quá trình vận dụng mô hình dạy học đọc –
hiểu văn bản theo thể loại vào thực tế dạy học để quan sát, kiểm tra, đánh giá khả năng ứng
dụng của mô hình mà luận văn đã đề xuất.
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm :
* Địa bàn thực nghiệm : chọn 2 trường trong địa bàn Tỉnh Tiền Giang
Trường trung học phổ thông Chợ Gạo
Trường trung học phổ thông Long Bình
Trường trung học phổ thông Chợ Gạo là trường loại A. Trường được thành lập nhiều năm,
có đội ngũ giáo viên lâu năm, có nhiều kinh nhiệm giảng dạy. Trường được trang bị đầy đủ các
phương tiện dạy và học. Học sinh của trường đa phần là học sinh khá giỏi, mỗi kỳ thi học sinh
giỏi trường đều có học sinh đạt giải, tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông hàng năm đứng nhất
nhì tỉnh. Học sinh của trường rất có ý thức về việc học tập, phụ huynh luôn phối hợp chặt chẽ
cùng nhà trường để quản lí và tạo điều kiện thuận lợi cho con em mình học tập.
Trường trung học phổ thông Long Bình là trường thuộc nhóm C. Trường được thành lập
nhiều năm, có đội ngũ giáo viên lâu năm, có nhiều kinh nhiệm giảng dạy. Trang thiết bị dạy
học tương đối đủ. Tuy nhiên do hàng năm trường tuyển học sinh vào lớp 10 với điểm khá thấp
(điểm chuẩn : 10), tỉ lệ tốt nghiệp hàng năm không cao. Phần đông học sinh của trường có cha
mẹ làm nghề nông, hoặc những nghề lao động tự do khác, nên mọi việc học tập của con em
mình phụ huynh hầu như giao phó cho trường. Vì ít được tạo điều kiện và quan tâm trong việc
học nên ý thức học tập của một bộ phận học sinh còn thấp.
Việc chọn học sinh ở hai trường trên làm đối tượng thực nghiệm sẽ đánh giá được năng
lực cảm thụ của những đối tượng khác nhau trước một vấn đề và cũng là cơ sở để đánh giá
khách quan tính khả thi của mô hình mà luận văn đề xuất.
3.2.3 Kế hoạch thực nghiệm
* Dự kiến thời gian thực nghiệm : chúng tôi tiến hành thực nghiệm trong hai học kỳ
(học kỳ II năm học 2007-2008 dạy 2 bài Vội vàng – Xuân Diệu, Về luân lí xã hội ở nước ta
(Trích Đạo đức và luân lí Đông Tây - Phan Châu Trinh); học kỳ I năm học 2008-2009 dạy bài
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân và bài Vĩnh biệt cửu trùng đài (trích Vũ Như To – Nguyễn
Huy Tưởng).
* Quy trình tiến hành thực nghiệm :
Bước 1 : Liên hệ với Ban giám hiệu 2 trường, trình bày lí do và xin ý kiến.
Bước 2 : Xác định giáo viên thực nghiệm, gồm :người trực tiếp dạy, Tổ trưởng
chuyên môn, một giáo viên lâu năm, một giáo viên trẻ; lớp thực nghiệm (chúng tôi chọn 4 lớp
Nâng cao của Trường trung học phổ thông Chợ Gạo, gồm 11c/8, 11c/13, 11c/14, 11A/15 và 3
lớp Nâng cao của Trường trung học phổ thông Long Bình, gồm : 11c/1, 11c/2, 11c/4).
Bước 3 : Gặp gỡ giáo viên, lớp tham gia thực nghiệm. Đối với giáo viên, chúng tôi
thống nhất thời gian thực nghệm, nhiệm vụ thực nghiệm và giao tài liệu thực nghiệm cho họ.
Đối với học sinh : yêu cầu các em chuẩn bị bài ở nhà bằng hệ thống câu hỏi mà chúng tôi đã
chuẩn bị.
Bước 4 : Tiến hành dạy thực nghiệm.
Bước 5 : Kiểm tra kết quả học tập của học sinh (bằng trắc nghiệm khách quan) sau
mỗi tiết thực nghiệm.
Bước 6 : Hợp nhóm thực nghiệm và lắng nghe ý kiến của giáo viên.
Sau khi đã tiến hành dạy thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành họp và ghi nhận những ý
kiến đóng góp của các giáo viên trong nhóm. Các giáo viên đã đóng góp khá thẳng thắn, chân
thành về phương pháp dạy học, mô hình đọc – hiểu, cử chỉ, hành động của giáo viên dạy thực
nghiệm… Tựu trung lại chúng tôi ghi nhận được những ý kiến sau :
Ưu điểm : các tiết dạy đã đảm bảo tốt yêu cầu về nội dung, phương pháp, tổ chức.
Về nội dung : người dạy đã kiến thức chính xác, khoa học, hợp logic, đảm bảo tính hệ
thống, làm nổi bật được những vấn đề trọng tâm của bài học, có liên hệ thực tế, giáo dục được ở
học sinh đạo đức tư tưởng. Sử dụng và kết hợp hợp lí các phương pháp phù hợp với đặc trưng
bộ môn, với nội dung bài học.
Về phương pháp : người dạy có ý thức cao trong việc lựa chọn và kết hợp các phương
pháp dạy học nhằm phát huy hoạt động tích cực và phát triển năng lực của học sinh; lựa chọn
và kết hợp tốt các biện pháp nhằm củng cố, đào sâu và kiểm tra kiến thức của học sinh.
Mô hình dạy học tương đối phù hợp với mục tiêu dạy học văn hiện nay. Mô hình này
vừa giúp học sinh hiểu rõ bài học, vừa trang bị cho các em kĩ năng đọc – hiểu văn bản văn học
theo thể loại.
Về tổ chức :
- Người dạy có sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy từ phưong tiện dạy học đến cách soạn
giáo án. Các phương tiên dạy học phong phú, đa dạng, giáo án đảm bảo được vai trò của chủ
thể học sinh trong mối quan hệ giữa nhà văn – giáo viên – học sinh.
- Căn cứ vào muc tiêu đã xác định, người dạy có sự tính toán kỹ lưỡng trong phân phối
thời gian, vì thế đã tạo ra được sự cân đối, hợp lí về thời gian giữa các phần, các khâu và đã
hoàn thành kế hoạch bài giảng đúng như dự kiến.
- Mối quan hệ giữa thầy và trò, gữa học sinh với nhau được giáo viên xây dựng khá tốt.
Từ những ý kiến trên, nhóm thực nghiệm đã thống nhất cách xếp loại như sau :
- Tiết giỏi : 3 bài (Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân, Vội vàng – Xuân Diệu, Vấn đề luân
lí xã hội ở nước ta – Phan Châu Trinh).
- Tiết khá : bài Vĩnh biệt Cửu trùng đài – Nguyễn Huy Tưởng.
Nhược điểm : các tiết dạy còn bộc lộ những sai sót nhất định.
- Giáo viên ghi bảng hơi nhiều, trong khi chỉ cần ghi một vài từ then chốt của từng ý lên
bảng là đủ.
- Giáo viên còn vội vã trong một vài trường hợp phát vấn. Khi phát vấn giáo viên không
đưa ra nhận xét về câu trả lời của học sinh mà vội cho các em ngồi xuống.
- Có một số câu hỏi còn dài, hỏi về nhiều vấn đề, cần xem xét rút ngắn lại. Chẳng hạn
như câu hỏi trong bài Vấn đề luân lí xã hội ở nước ta :
Một trong những luận điểm cơ bản của bài diễn thuyết là “xã hội … đến”. Để làm sáng
tỏ luận điểm này tác giả đã dùng những luận cứ nào? Em có nhận xét gì về cách trình bày luận
cứ?
“Luân lí của bọn thượng lưu – tôi không gọi bọn ấy là thượng lưu, tôi chỉ mượn hai chữ
thượng lưu nói cho anh em dễ hiểu mà thôi – ở nước ta là thế đấy”. Không gọi chúng là thượng
lưu tác giả gọi chúng là gì? Và đâu là luân lí của chúng? Thứ luân lí ấy gây ra những hậu quả
gì?
Ý kiến đề xuất :
Có giáo viên đề xuất nên bỏ hoạt động đọc – hiểu ngôn từ, vì họ cho rằng trong hoạt
động đọc và tìm hiểu chú thích đã hàm chứa hoạt động đọc – hiểu ngôn từ. Tiến hành hoạt động
này vừa mất thời gian vừa không phục vụ gì nhiều cho hoạt động đọc – hiểu hình tượng.
Thực ra đọc – hiểu ngôn từ đọc và tìm hiểu chú thích có những nét tương đồng nhưng
cũng có những điểm khác nhau. Vì thế không nên đồng nhất hai hoạt động này. So với đọc và
tìm hiểu chú thích, đọc – hiểu ngôn từ có yêu cầu cao hơn. Trong hoạt động này, giáo viên
không chỉ hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từng từ riêng lẻ mà còn dẫn dắt các em tìm
hiểu cách diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này sang ý khác
để hiểu được những nét đặc sắc, khác thường, thú vị trong nghệ huật sử dụng ngôn từ của tác
giả. Đây còn là hoạt động tri giác, trích dẫn chính xác các chi tiết, sự vật, hiện tượng được văn
bản miêu tả. Tất cả đều có ý nghĩa quan trọng khi giáo viên phân tích văn bản cho học sinh.
Có ý kiến đề xuất nên xây dựng mô hình đọc – hiểu riêng cho từng thể loại. Bởi loại văn
học thì có nhiều, mỗi thể loại có những đặc điểm riêng cho nên nó qui định cách tiếp cận, cách
cảm thụ, cách phân tích riêng. Vì thế khó có thể có một mô hình đọc – hiểu duy nhất đạt hiệu
quả cao để áp dụng chung cho tất cả các thể loại văn học.
Đúng là khó có thể có mô hình đọc – hiểu duy nhất đạt hiệu quả cao để áp dụng chung
cho tất cả các thể loại văn học, nhưng cũng không nên và không thể xây dựng mô hình đọc –
hiểu cho từng thể loại. Văn học có nhiều thể loại, mỗi thể loại lại có nhiều tiểu thể loại. Nếu
xây dựng mô hình đọc – hiểu riêng sẽ khiến học sinh không những khó nhớ và khó nắm bắt các
bước của quá trình đọc – hiểu văn bản mà còn làm cho các em rơi vào ma trận mô hình. Mục
đích của mô hình là định hình cho học sinh nắm được các bước khi tìm hiểu một tác phẩm cụ
thể và ứng dụng vào việc đọc – hiểu các văn bản khác cùng thể loại, cùng tác giả. Điều cần đặc
biệt lưu ý là không nên cứng nhắc, máy móc trong việc sử dụng mô hình này mà phải có sự
thay đổi linh hoạt. Cũng là đọc – hiểu hình tượng nghệ thuật nhưng hình tượng nghệ thuật trong
thơ trữ tình là trạng thái tâm hồn của cái tôi trữ tình, là những biểu tượng, hình ảnh, nhạc điệu
… hình tượng nghệ thuật trong truyện là nhân vật, cốt truyện, tình huống truyện… trong văn
nghị luận là các tư tưởng, các luận điểm của người viết … Tùy vào đặc trưng của từng thể loại
chúng ta sẽ triển các bước đọc hiểu hợp lí mà không cần thiết phải xây dựng nhiều kiểu mô
hình,
- Kết quả kiểm tra các bài dạy thực nghiệm
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – Nguyễn Tuân
Xếp loại Số
Trường Lớp bài Giỏi Khá Trung Yếu Kém
kiểm (9-10) (7-8) bình (3-4) (0-2)
tra (5-6)
SB % SB % SB % SB % SB %
THPT
Chợ 11c/14 45 10 22,2 18 40 16 35,5 1 2,2 0 0
Gạo
THPT
0 0 Long 11c/2 41 6 14,6 13 31,7 21 51,2 1 2,2
Bình
VỘI VÀNG – Xuân Diệu
Xếp loại Số
Trường Lớp bài Giỏi Khá Trung Yếu Kém
kiểm (9-10) (7-8) bình (3-4) (0-2)
tra (5-6)
SB % SB % SB % SB % SB %
THPT
Chợ 11c/15 44 5 11,3 20 45,5 17 38,6 2 4,5 0 0
Gạo
THPT
11c/1 45 5 11,1 10 22,2 27 60 3 6,7 0 0 Long
Bình
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI – Vũ Như Tô
Số Xếp loại
bài Trường Lớp Giỏi Khá Trung Yếu Kém
(9-10) (7-8) (3-4) (0-2) bình kiểm
(5-6) tra
SB % SB % SB % SB % SB %
THPT
11c/13 45 11 24,4 15 33,3 18 40 1 2,2 0 0 Chợ
Gạo
THPT
Long 11c/4 43 4 9,3 12 27,9 21 48,8 6 14 0 0
Bình
VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA – Phan Châu Trinh
Số Xếp loại
Trường Lớp bài Giỏi Khá Trung Yếu Kém
kiểm (9-10) (7-8) bình (3-4) (0-2)
tra (5-6)
SB % SB % SB % SB % SB %
THPT
Chợ 11c/8 45 6 13,3 18 40 20 44,4 1 2,2 0 0
Gạo
THPT
Long 11c/1 45 2 4,4 14 31,1 25 55,6 4 8,9 0 0
Bình
- Bảng tổng hợp kết quả dạy thực nghiệm
Xếp loại Tổng
Trường số Giỏi Trung bình Khá Yếu Kém
bài (9-10) (5-6) (7-8) (3-4) (0-2)
SB % SB % SB % SB % SB %
THPT 32 17,9 81 71 39,7 5 2,8 0 0
Chợ 179 54,3
Gạo
THPT 17 9,8 49 89 51,4 14 8 0 0
28,2 Long 174
Bình
KẾT LUẬN
Những năm gần đây, thành tựu nghiên cứu của ngành khoa học xã hội và nhân văn; của lí
luận dạy học bộ môn trong nhà trường đã có nhiều thay đổi. Những quan điểm và phương pháp
nghiên cứu, phương pháp tiếp cận mới đã đem đến cho ngành nghiên cứu văn học, phê bình văn
học, lịch sử văn học … những sức sống mới. Những thành tựu mới được khẳng định, những giá
trị cũ được xem xét và đánh giá lại, không ít điều đã trở nên bất cập, không còn phù hợp.
Nhìn ra các nước trong khu vực và thế giới, chương trình và sách giáo khoa phổ thông các
nước rất coi trọng thực hành vận dụng, nội dung thiết thực, tinh giản, tập trung vào kiến thức, kĩ
năng cơ bản, tích hợp được nhiều mặt, nhiều nội dung giáo dục. Sách giáo khoa trở thành tài
liệu định hướng cho học sinh tự tìm hiểu, tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới.
Vì những lí do trên, trong tờ trình Chính phủ do Bộ Giáo dục và Đào tạo chuẩn bị, đọc tại
kì học thứ 8, Quốc hội khóa X đã nêu ra sự cần thiết phải soạn thảo chương trình và sách giáo
khoa mới của giáo dục phổ thông. Cùng với việc đổi mới nội dung, mục tiêu, phương pháp dạy
học cũng có sự đổi mới. Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn hiện nay là hình thành
và rèn luyện cho học sinh năng lực đọc – hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản.
Phương pháp dạy học cũng có sự thay đổi phù hợp với đặc trưng, tính chất tính bộ môn
Văn. Dạy học văn hiện nay là dạy học sinh đọc văn. Nghĩa là giáo viên tổ chức cho học sinh
làm việc với văn bản ngôn từ và hệ thống luận điểm, lập luận hay thâm nhập vào thế giới nghệ
thuật của tác phẩm. Hướng dẫn học sinh đọc – hiểu, phát biểu trình bày, trao đổi ý kiến của
mình trong quá trình đọc văn.
Một vài năm trở lại đây, phương pháp dạy học này trở nên quen thuộc với giáo viên Ngữ
văn ở trường phổ thông. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng hiểu một cách thấu đáo về
đọc – hiểu và nhất là khi vận dụng phươpng pháp này vào việc dạy học văn.
Vì thế, trong luận văn này, thông qua việc tìm hiểu những cơ sở lí luận về phương pháp
đọc – hiểu, chúng tôi đã tổng hợp và khái quát nên mô hình đọc – hiểu. Từ mô hình này, chúng
tôi đã ứng dụng thiết kế một số giáo án và tiến hành dạy thực nghiệm ở 02 trường trong tỉnh
Tiền Giang.
Qua các tiết thực nghiệm, kết quả kiểm tra, đánh giá, qua nhận xét của giáo viên trong
nhóm thực nghiệm chúng tôi rút ra được một số kết luận sau :
- Các thiết kế thử nghiệm của chúng tôi được các bạn đồng nghiệp vận dụng vào
thực tế dạy học của mình, và trong quá trình vận dụng, các đồng nghiệp đã bổ sung, thao tác
linh hoạt tùy theo điều kiện cụ thể của họ.
- Hiệu quả của một thiết kế bài học không phải ở chỗ nó bao gồm bao nhiêu bước,
bao nhiêu câu hỏi, hình ảnh, sơ đồ … mà là ở chỗ nó tác động đến quá trình tiếp nhận văn học
của học sinh như thế nào.
- Điều thiết thực và phù hợp của phương pháp đọc – hiểu chính là đáp ứng được
những yêu cầu, nguyên tắc của việc dạy học văn hiện nay. Đó là dạy học văn theo đặc trưng thể
loại, theo nguyên tắc tích hợp và đặc biệt là phù hợp với yêu cầu đào tạo con người mới.
- Đọc – hiểu đã từng bước đưa giờ học văn ra ngoài quỹ đạo của dạy học giáo điều.
- Đọc – hiểu đưa học sinh rở thành chủ thể cảm thụ và giáo viên là người hướng dẫn,
tổ chức.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, chúng tôi thấy việc dạy học văn trong nhà
trường phổ thông vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, cần được giải quyết. Ngay đối với đề tài nay,
khi đã kết thúc, chúng tôi vẫn còn nhiều băn khoăn. Để tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học
văn, biến những ý tưởng đẹp đẽ thành hiện thực, chúng tôi đề xuất một vài vấn đề sau :
- Đọc – hiều văn bản văn học là vấn đề thời sự hiện nay. Nhưng chúng ta chưa có
những giáo trình hoặc tài liệu chính thức về phương pháp này. Thiết nghĩ các nhà sư phạm, các
giáo sư, nhà nghiên cứu cần quan tâm nghiên cứu vấn đề này (hoặc là dịch, hoặc là kết hợp các
tài liệu bằng tiếng nước ngoài với kinh nghiệm, kiến thức của mình… viết thành một giáo
trình) để anh chị em giáo viên văn có được những hướng dẫn cụ thể nhất, tốt nhất về vấn đề
này.
- Cần có những công trình đi sâu vào nghiên cứu hay phát triển vấn đề giảng dạy tác
phẩm văn học theo thể loại đề giải tỏa sự băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của người giáo viên và
đặc biệt để cho vấn đề thể loại không còn ra rời thực tiễn dạy học.
- Việc triển khai mô hình đọc – hiểu như đã đề xuất cần tự nhiên, linh hoạt, thích
hợp. Tuy nhiên không phải vì thế mà giáo viên cho phép mình làm việc tùy tiện theo cảm hứng
chủ quan.
Một phương pháp mới ra đời bao giờ cũng có những khó khăn nhất định trên con đường
vận dụng nó vào thực tiễn, bao giờ cũng trải qua một thời gian dài để khẳng định mình nhất là
trong việc tạo ra sự đồng tình của đông đảo giáo viên. Hi vọng rằng, trong thời gian ngắn nhất
phương pháp đọc – hiểu văn bản sớm trở thành một phương pháp ổn định về nhận thức, về hoạt
động sư phạm của đông đảo đồng nghiệp giáo viên văn học.
Mặc dù đã cố gắng, nỗ lực rất nhiều trong quá trình thực hiện, nhưng do điều kiện nghiên
cứu, kiến thức hạn hẹp, lại là người mới bắt đầu tập sự nghiên cứu nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu xót, hạn chế. Vì thế chúng tôi mong rằng sẽ nhận được ý kiến đóng góp của
quí thầy cô, các anh chị động nghiệp gần xa để chúng tôi hoàn thiện kiến thức và luận văn này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Tuấn Anh (2002), Đời sống thể loại văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Trích từ Nhìn
lại văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Chính trị Quốc gia, HN.
2. Nguyễn Đức Ân (1997), Dạy học giảng văn ở trường phổ thông trung học, NXB Đồng
Tháp.
3. Carl Rogers (2001), Phương pháp dạy và học hiệu quả (Cao Đình Quát dịch), NXB Trẻ.
4. Nguyễn Sĩ Cẩn (1984), Mấy vấn đề phương pháp dạy thơ văn cổ Việt Nam, NXB Giáo dục.
5. Nguyễn Hải Châu và một số tác giả (2006), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 10, NXB Hà Nội.
6. Đỗ Thị Châu (2004), Về khái niệm đọc hiểu ngôn ngữ, Tạp chí Giáo dục, số 80, tháng 3-
2004.
7. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Trần Thanh Đạm và một số tác giả (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại
thể, NXB Giáo dục.
9. Nguyễn Văn Đường (2004), Những điểm mới đáng ghi nhận của bộ sách giáo khoa Ngữ
văn phổ thông, Tạp chí Giáo dục, số 100, tháng 11.
10. Hoàng Ngọc Hiến (2003), Nhập môn văn học và phân tích thể loại, NXB Đà Nẵng.
11. Hoàng Ngọc Hiến (2003), Văn học … Gần và xa, NXB Giáo dục.
12. Nguyễn Trọng Hoàn, Lê Hồng Mai (2007), Đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 10, NXB Giáo
dục.
13. Nguyễn Trọng Hoàn, Đọc – hiểu văn bản văn học, Thế giới trong ta CĐ– PB4.
14. Trần Thị Thu Hồng (2007), Mô hình đọc hiểu theo đặc trưng thể loại với việc hình thành và
bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản văn chương cho học sinh trung học phổ thông, Tạp
chí Giáo dục số 126-kì 1- 5.
15. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB Giáo dục.
16. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Đọc hiểu văn chương, Tạp chí Giáo dục, số 92, tháng 7.
17. Nguyễn Thanh Hùng (2004), Những khái niệm then chốt của vấn đề đọc – hiểu văn chương,
Tạp chí Giáo dục, số 100, tháng 11.
18. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Hội chứng phương pháp dạy học, Khoa học Giáo dục, số 23,
tháng 8.
19. Nguyễn Thị Thanh Hương (2001), Dạy học văn ở trường phổ thông, NXBĐHQGHN.
20. Nguyễn Thị Bích Hường (2007), Thực trạng tiếp nhận tác phẩm văn học dân gian theo thể
loại của học sinh lớp 6 ở một số trường mầm non khu vực phía Bắc, Tạp chí Giáo dục
số 179 kì 2 – 12.
21. I.F.Khalamôp (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào (Đỗ Thị
Trang, Nguyễn Ngọc Quang dịch), NXB Giáo dục.
22. Phan Trọng Luận và một số tác giả (1996), Phương pháp dạy học văn (in lần thứ 2), NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
23. Phan Trọng Luận và một số tác giả (1998), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông (2 tập), NXB Giáo dục.
24. Phan Trọng Luận (1999), Đổi giờ học tác phẩm văn ở trường trung học phổ thông, NXB
Giáo dục.
25. Phan Trọng Luận (2003), Văn chương bạn đọc sáng tạo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
26. Phương Lựu và một số tác giả, Lí luận văn học, NXB Giáo dục.
27. Nguyễn Đăng Mạnh và một số tác giả, 217 đề và bài văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
28. Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo (2006), Văn bản Ngữ văn 10 – Gợi ý đọc – hiểu và lời bình, NXB
Giáo dục.
29. Vũ Dương Quỹ – Lê Bảo (2007), Văn bản Ngữ văn 11 – Gợi ý đọc – hiểu và lời bình, NXB
Giáo dục.
30. Z. Ia. Rez và một số tác giả (1983), Phương pháp luận dạy học văn (Phan Thiều dịch),
NXB Giáo dục.
31. Trần Đình Sử (2003), Đọc văn học văn, NXB Giáo dục.
32. Trần Đình Sử (2004), Đọc – hiểu văn bản – một khâu đột phá trong nội dung và phương
pháp dạy học hiện nay, Tạp chí Giáo dục, số 102, quý IV.
33. Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) (2006), Sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ văn 10 (Nâng
cao) tập 1, 2, NXB Giáo dục.
34. Trần Đình Sử, (Tổng chủ biên) (2006), Sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ văn 11 (Nâng
cao) tập 1, 2, NXB Giáo dục.
35. Trần Đình Sử (2007), Dạy học văn là dạy học sinh đọc – hiểu văn bản, Văn học và Tuổi trẻ,
tháng 9.
36. Nguyễn Thành Thi (1999), Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam, NXB Giáo dục.
37. Nguyễn Thành Thi và một số tác giả (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán trường
phổ thông – Môn Văn, Tp Hồ Chí Minh.
38. Nguyễn Thành Thi, Lê Thu Yến, Trần Quỳnh Nga (2007), Tư liệu Ngữ văn 11 (Phần văn
học), NXB Giáo dục.
39. Đỗ Ngọc Thống (2006), Tìm hiểu nội dung và chương trình sách giáo khoa Ngữ văn trung
học phổ thông, NXB Giáo dục.
40. Hoàng Hương Thuỷ (2007), Suy nghĩ về dạy và học môn Ngữ văn trong nhà trường hiện
nay, Dạy và học ngày nay, số 8.
41. Phạm Toàn (2000), Công nghệ dạy văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
42. Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, NXB
Giáo dục.
43. Lê Hồng Văn (2004), Người đọc như một nhân tố tất yếu của tác phẩm văn học, Nghiên cứu
Giáo dục số 11, tháng 11.
PHỤ LỤC
Giới thiệu 40 câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra kết quả học của học sinh.
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ (10 câu )
Câu 1: Lời tóm tắt nào sau đây đã nêu bật được tình huống truyện của Chữ người tử tù ?
A. Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ tình cờ giữa hai người thực chất là tri âm tri kỉ,
nhưng lại ở vào vị thế đối nghịch, đối địch với nhau.
B*. Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ oái oăm giữa những người thực chất là tri âm tri kỉ,
nhưng lại ở vào vị thế đối nghịch, đối địch với nhau.
C. Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ kì dị giữa hai người thực chất là tri âm tri kỉ, nhưng
lại ở vào vị thế đối nghịch, đối địch với nhau.
D. Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ thú vị giữa những người thực chất là tri âm tri kỉ,
nhưng lại ở vào vị thế đối nghịch, đối địch với nhau.
Câu 2: Nhận định nào sau đây không chỉ ra sự đối lập, tương phản giữa hoàn cảnh và tính
cách nhân vật trong Chữ người tử tù?
Bóng tối, sự nhem nhuốc, độc ác, lọc lừa, thô bỉ, xấu xa ơi nhà ngục đối nghịch gay gắt
với :
A. cái đẹp uy nghi của nhân vật.
B. cái thiên lương của nhân vật.
C. cái thuần khiết của tâm hồn nhân vật.
D*. cái dũng khí phi thường của nhân vật.
Câu 3: Hành động, thái độ nào của ông Huấn Cao không được miêu tả, trần thuật trực tiếp
trong Chữ người tử tù nhưng vẫn góp phần thể hiện khí phách phi thường của ông
trong tác phẩm ?
A*. Dám chống lại cả triều đình (cầm đầu một cuộc khởi nghĩa).
B. Có cốt cách chọc trời quấy nước, bất chấp cả gông cùm, tù tội.
C. Bình thản đón nhận án chém.
D. Khoan thai, ung dung viết những dòng chữ cuối cùng.
Câu 4: Lời giải thích nào sau đây về hai chữ thiên lương có thể xem là đúng nhất ?
A. Bản tính đẹp, tự nhiên của con người được trời phú cho.
B*. Bản tính tốt, tự nhiên của con người được trời phú cho.
C. Bản tính thiện, tự nhiên của con người được trời phú cho.
D. Bản tính lành, tự nhiên của con người được trời phú cho.
Câu 5: Luận cứ nào sau đây tuy chỉ là biểu hiện gián tiếp của thiên lương ở Huấn Cao, nhưng
không kém phần tập trung, sâu sắc ?
A*. Huấn Cao luôn luôn có ý thức sử dụng cái tài của mình cũng như cái đẹp mà mình sáng
tạo nên sao cho thật xứng đáng.
B. Huấn Cao đã đem “tấm lòng” của mình mà đáp lại những “tấm lòng trong thiên hạ”.
C. Huấn Cao hiện lên trong cảnh cho chữ như một biểu tượng của thiên lương lành vững,
trong sáng.
D. Huấn Cao đã ứng xử một cách thật độ lượng với người, thành khẩn với mình trước điều
ngộ nhận về viên quản ngục.
Câu 6: Trong những lí do sau đây, lí do nào là căn bản nhất khiến cảnh cho chữ trong Chữ
người tử tù trở thành một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”?
A. Vì việc cho chữ diễn ra trong một không gian đặc biệt, “chưa từng có”.
B*. Vì người cho chữ và người xin chữ đều được đặt vào một tình huống oái oăm “chưa
từng có”.
C. Vì tư thế cho chữ (bất chấp xiềng xích) uy nghi, lẫm liệt “chưa từng có”.
D. Vì thời điểm cho chữ (trước giờ xử trảm) khác thường khiến việc cho chữ thành một việc
hệ trọng: kí thác, truyền ngôi.
Câu 7: Lời giải nghĩa và cách chú thích nào sau đây là rõ và chính xác nhất về mấy chữ biệt
nhỡn liên tài ?
A. Biệt nhỡn : cái nhìn quý trọng đặc biệt ; liên tài : lòng quý mến người tài.
B. Biệt nhỡn : con mắt tinh tường đặc biệt ; liên tài : quý mến người tài.
C*. Biệt nhỡn liên tài : tấm lòng và con mắt quý trọng đặc biệt người có tài.
D. Biệt nhỡn liên tài : con mắt đặc biệt, cái dây tình liên kết đặc biệt dành cho người tài.
Câu 8: Trong Chữ người tử tù, sự mệnh danh nào sau đây dành cho viên quản ngục được
Nguyễn Tuân tạo ra như một hình ảnh so sánh độc đáo ?
A. Một “tấm lòng trong thiên hạ” .
B. Một kẻ “biết mến khí phách”, “biết trọng người có tài”.
C*. Một “thanh âm trong trẻo…”.
D. Một người có “sở nguyện cao quý”, có “biệt nhỡn liên tài”.
Câu 9: Dòng nào sau đây nêu đúng và rõ nhất những đóng góp có giá trị của Nguyễn Tuân về
nghệ thuật viết truyện trong Chữ người tử tù ?
A. Đậm không khí cổ xưa; thủ pháp đối lập, tương phản được sử dụng nhiều; ngôn ngữ giàu
chất tạo hình.
B*. Tình huống truyện độc đáo; đậm không khí cổ xưa; thủ pháp đối lập, tương phản được
sử dụng nhiều; ngôn ngữ giàu chất tạo hình.
C. Tình huống truyện độc đáo; đậm không khí cổ xưa; thủ pháp đối lập, tương phản được sử
dụng nhiều.
D. Tình huống truyện độc đáo; đậm không khí cổ xưa; thủ pháp đối lập, tương phản được sử
dụng nhiều; ngôn ngữ giàu chất hội họa.
Câu 10: Dòng nào sau đây nêu đúng và rõ nhất thành công của Nguyễn Tuân về khả năng tạo
dựng không khí truyện phù hợp trong ?
A. Tác phẩm mang đậm không khí một thời vang bóng.
B. Tác phẩm mang đậm không khí buổi giao thời.
C. Tác phẩm mang đậm không khí thời đại.
D*. Tác phẩm mang đậm không khí cổ xưa.
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI (10 câu )
Câu 1: Không gian làm nền cho hành động kịch ở hồi V vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy
Tưởng là không gian nào ?
A. Nơi ở của Đan Thiềm
B*. Một cung cấm
C. Nơi ở của Vũ Như Tô
D. Một điện thờ trong cung vua
Câu 2:Trong vở kịch, nhìn từ khát vọng của kiến trúc sư Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài hiện thân
cho điều gì ?
A*. Mộng lớn
B. Món nợ mồ hôi xương máu
C. Niềm kiêu hãnh nước nhà
D. Quyền lực và ăn chơi
Câu 3: Dòng nào sau đây diễn đạt đúng nhất ý nghĩa đối nghịch hàm chứa ngay trong công
trình nghệ thuật Cửu Trùng Đài, tất yếu làm nảy sinh bi kịch của người trí thức- nghệ sĩ
Vũ Như Tô ?
A. Cửu Trùng Đài vừa là hình ảnh của một công trình kiến trúc bền vững, vĩnh cửu vừa là
hiện thân cho cái đẹp xa hoa.
B. Cửu Trùng Đài vừa là hình ảnh của một công trình kiến trúc tuyệt tác, kì vĩ vừa là hiện
thân cho cái đẹp dở dang.
C*.Cửu Trùng Đài vừa là hình ảnh một công trình kiến trúc tuyệt tác, kì vĩ, bền vững
hoàn hảo vừa là hiện thân cho cái đẹp xa hoa, nhất thời, dang dở.
D. Cửu Trùng Đài vừa là hình ảnh một công trình kiến trúc hoàn hảo vừa là hiện thân cho
cái đẹp xa hoa.
Câu 4: Tình tiết nào trong các tình tiết sau cho thấy nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh bi kịch
(vỡ mộng) của Vũ Như Tô ?
A*. Lợi dụng tình hình rối ren, Trịnh Duy Sản cầm đầu một phe cánh phản nghịch trong
triều dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản.
B. Có tin binh biến, bạo loạn trong cung vua đe dọa sinh mạng Vũ Như Tô và Cửu Trùng
Đài, Đan Thiềm hết lòng khuyên Vũ Như Tô đi trốn, Vũ Như Tô một mực không nghe.
C. Lê Tương Dực cùng hoàng hậu, đại thần bị giết hoặc tự tử; lũ cung nữ và bọn nội giám
nháo nhào tìm cách thoát thân.
D. Cửu Trùng Đài bị thiêu hủy, Đan Thiềm hết lời xin tha và xin được chết thay cho Vũ
Như Tô không được, nàng bị bắt đem đi hành hình, còn Vũ Như Tô đau đớn vĩnh biệt
Cửu Trùng Đài và bình thản ra pháp trường.
Câu 5: Lời nào trong những lời sau đây của Đan Thiềm cho thấy niềm lo lắng đã pha lẫn chút
tuyệt vọng trong lòng nàng ?
A. Ông nghe tôi ! Ông trốn đi! Ông nghe tôi ! Ông phải trốn đi mới được !
B. Ông trốn đi, mau lên, khổ lắm.
C*. Ông Cả ơi ! Có trốn cũng không được nữa. Ông nguy mất.
D. Ông Cả ! Ông chạy đi ! Ông có nghe tiếng gì không ? Quân giặc đang tìm ông đấy: trốn
đi !
Câu 6: Ở lớp I, theo lời Đan Thiềm, dân chúng nổi dậy không cần Cửu Trùng Đài, không hiểu
Vũ Như Tô, thậm chí đã quy kết cho ông rất nhiều tội trạng to tát. Trong các tội trạng ấy,
tội trạng nào được quy chụp vô lí nhất và thực sự đã gây nên bi kịch đau đớn nhất của Vũ
Như Tô ?
A. Tạo điều kiện cho “vua xa xỉ”.
B. Làm cho “công khố hao hụt”.
C*. Làm cho “dân gian lầm than”.
D. Làm cho “man di oán giận”, “thần nhân trách móc”.
Câu 7: Câu nói nào của Vũ Như Tô được ông lặp lại nhiều lần nhất trong các lời thoại của
mình, chứng tỏ rằng ông vừa là người thiếu hiểu biết thực tế, rất ảo tưởng, vừa là người
rất trong sáng, hồn nhiên, tuyệt đối tin vào giá trị của cái đẹp và của nghệ thuật ?
A*. Vô lí !
B. Tôi làm gì nên tội ?
C. Ta có thù oán gì với các người ?
D. Tôi quyết ở đây !
Câu 8: Câu nói nào dưới đây của Vũ Như Tô vừa chứng tỏ sự ảo tưởng, cố chấp vừa thể hiện
tấm lòng yêu quý hết sức sâu sắc, chân tình của ông dành cho người bạn tri âm tri kỉ
(đồng bệnh) Đan Thiềm ?
A. Bà ở đây. Vậy tôi cũng ở đây, nguy biến ta cùng chịu . (lớp V)
B. Đa tạ bà. Tấm lòng của bà, chỉ có lòng cha mẹ tôi mới sánh kịp. Nhưng tôi đã quyết,
không chịu rời Cửu Trùng Đài một bước. (lớp I)
C*. Đan Thiềm, xin cùng bà vĩnh biệt ! Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một
đài vĩ đại để tạ lòng tri kỉ. (lớp VIII)
D. Thợ theo quân phản nghịch ? Thế còn Cửu Trùng Đài ? (lớp IV)
Câu 9: Bệnh Đan Thiềm mà Nguyễn Huy Tưởng nói đến trong lời đề tựa (“cầm bút chẳng qua
cùng một bệnh với Đan Thiềm”) và thể hiện qua nhân vật chính của vở kịch, có thể hiểu
thực chất là bệnh gì ?
A. Bệnh đam mê, kính trọng người có tài cao, nghiệp lớn; người có khả năng sáng tạo
những cái đẹp kì diệu, khác thường.
B*.Bệnh ngưỡng mộ, tôn kính, thương cảm những người tài cao, mộng lớn; luôn mở lòng
thao thức, chia sẻ buồn vui cùng với họ.
C. Bệnh ưu tư, đau đớn không nguôi về số phận bi kịch của các bậc tài hoa.
D. Bệnh đa mang, tự cho mình có bổn phận gìn giữ, bảo vệ người tài như những tài sản
muôn đời muôn thuở của quốc gia.
Câu 10: Nét tính cách nào sau đây của Đan Thiềm, đối lập với tính cách Vũ Như Tô, được thể
hiện tập trung trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ?
A. Đam mê cái tài, cái đẹp.
B. Quên mình khích lệ, bảo vệ cái tài, người tài.
C. Luôn mang trong lòng nỗi ưu tư, khổ lụy vì cái tài.
D*. Khéo léo, uyển chuyển, dễ thích ứng với hoàn cảnh.
VỘI VÀNG (10 câu )
Câu 1: Nếu cần chia bài thơ thành hai phần chính (phần bộc lộ cảm xúc, quan niệm, phần thực
thi bằng hành động), thì ranh giới giữa hai phần ấy đặc ở câu thơ nào là hợp lí nhất?
A. Của ong bướm này đây tuần tháng mật.
B. Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
C. Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.
D*. Mau đi thôi!
Câu 2: Ước muốn tắt nắng, buộc gió của “tôi”, nói một cách giản dị và thực chất là ước muốn
điều gì?
A. Muốn có được quyền uy của thượng đế.
B. Muốn có được sức mạnh, quyền năng của tạo hóa.
C. Muốn chặn bước đi của thời gian.
D*. Muốn vĩnh viễn hóa hương sắc của tuổi trẻ.
Câu 3: Cách dùng từ ngữ, hình ảnh “tuần tháng mật, hoa đồng nội xanh rì, lá cành tơ phơ phất,
khúc tình si, ánh sáng chớp hàng mi, ngon như một cặp môi gần” có đặc điểm nào nổi
bật?
A. Từ ngữ gợi tả vẻ ngọt ngào tươi mới.
B. Từ ngữ gợi tả vẻ nồng thắm quyến rũ.
C*. Từ ngữ gợi tả vẻ đẹp đằm thắm kính đáo.
D. Từ ngữ gợi tả sự căng tràn nhựa sống.
Câu 4: Hình ảnh “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” là một so sánh rất Xuân Diệu. Căn
cứ vào đâu là chủ yếu để có thể nói như vậy ?
A*. Xuân Diệu thường lấy vẻ đẹp của con người, sự sống làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp.
B. Cảnh vật trong thơ Xuân Diệu luôn đầy sắc dục, tình tứ.
C. Xuân Diệu nhìn đâu cũng thấy niềm đam mê và hương vị của tình yêu.
D. Xuân Diệu thường có những liên tưởng, so sánh rất táo bạo.
Câu 5: Điệp từ này đây, phép liệt kê cùng với cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh xôn xao hương
sắc trong đoạn thơ từ dòng 5 đến dòng 11 không nhằm tạo ra hiệu quả biểu đạt nào sau
đây?
A. Làm cho bức tranh mùa xuân tươi đẹp, kì thú cứ bày biện, mở rộng ra mãi đến vô cùng.
B*. Làm cho vẻ đẹp kì thú của mùa xuân trở nên bình dị, gần gũi hơn.
C. Làm cho mọi đường nét, hình ảnh, vẻ đẹp của mùa xuân trở nên hiện hữu, gần kề trong
tầm tay với.
D. Làm cho bức tranh mùa xuân hiện lên như một bữa tiệc hân hoan, thịnh soạn, đầy sức
trêu nhử, mời mọc.
Câu 6: Giữa dòng thơ 12, Xuân Diệu đặt một dấu chấm đột ngột (Tôi sung sướng. Nhưng vội
vàng một nửa) nhằm chủ yếu tạo hiệu quả gì?
A. Tạo sự đối lập giữa “sung sướng” với “vội vàng”.
B*. Tạo cảm giác đứt gãy, hụt hẫng vì niềm vui không trọn vẹn.
C. Nhấn mạnh nỗi buồn lo “vội vàng”.
D. Tạo thêm sức ám ảnh cho thời gian.
Câu 7: Trong đoạn thơ từ “Mùi tháng năm” đến “Chẳng bao giờ nữa …”, tác giả đã nhìn vào
đâu để thấy những điềm báo về nguy cơ tất cả sẽ tàn phai?
A. Nhìn vào thời gian.
B. Nhìn vào không gian.
C. Nhìn vào cảnh vật.
D*. Nhìn vào cả ngoại cảnh lẫn tâm hồn.
Câu 8: Các từ ngữ, hình ảnh : rớm vị chia phôi, than thầm tiễn biệt, hờn vì nỗi phải bay đi, đứt
tiếng reo thi, sợ độ phai tàn sắp sửa … cho thấy rõ nhất thế giới ngoại cảnh phản chiếu
điều gì trong tâm hồn nhà thơ?
A*. Một niềm tiếc nuối đến đớn đau, xót xa.
B. Một niềm lo âu, khắc khoải, da diết.
C. Một niềm ân hận về những ngày đã qua.
D. Một niềm băn khoăn cho những ngày sắp đến.
Câu 9: Nhịp điệu gấp gáp trong cuộc chạy đua với thời gian, theo lời giục giã của Xuân Diệu
trong đoạn cuối bài thơ được tạo ra không phải bằng chất liệu, phương tiện nào?
A. Câu thơ vắt dòng, cảm xúc chảy tràn từ dòng trên xuống dòng dưới.
B*. Những cấu trúc đăng đối, hoài hòa.
C. Lối trùng điệp cấu trúc và nhịp điệu khẩn trương, hối hả.
D. Các động từ chỉ động tác mạnh hay trạng thái cảm xúc nồng nhiệt.
Câu 10: Ở phần đầu bài thơ, nhân vật trữ tình xưng “tôi”, phần cuối bài thơ lại xưng “ta”. Việc
thay đổi cách xưng gọi như vậy, chủ yếu nhằm dụng ý gì?
A*. Nhân vật trữ tình muốn tự nâng mình lên một tầm vóc lớn lao hơn để có thể chạy đua
với thời gian và ôm riết lấy tất cả.
B. Nhân vật trữ tình muốn nhân danh cả một lớp người trẻ trung để có thêm sự tiếp sức.
C. Nhân vật trữ tình muốn tạo ra một giọng nói đầy quyền uy trước thời gian, cuộc đời.
D. Nhân vật trữ tình muốn nhấn mạnh sự bé nhỏ, hữu hạn của “cái tôi” cá nhân trước thời
gian, cuộc đời.
VỀ LUÂN LÍ XÃ HỘI Ở NƯỚC TA (10 câu )
Câu 1: Lời giải thích nào sau đây về khái niệm luân lí không đúng với quan niệm của Phan
Châu Trinh trong bài diễn thuyết Về luân lí xã hội ở nước ta ?
A. Luân lí là luân thường đạo lí.
B*. Luân lí đồng nghĩa với đạo đức.
C. Luân lí là những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội.
D. Luân lí là những quy tắc, chuẩn mực đạo đức được xây dựng trong suốt một quá trình lâu
dài.
Câu 2:Thời kì thấp nhất trong sự phát triển của luân lí được ông gọi tên là gì?
A*. Gia đình luân lí
B. Quốc gia luân lí
C. Xã hội luân lí
D. Thời kì không tên
Câu 3: Trong phần 1 của đoạn trích (theo cách đánh số thứ tự của SGK), tác giả đã lựa chọn
cách vào đề nào trong những cách sau đây nhằm đánh tan sự ngộ nhận của nhiều người
về khái niệm luân lí xã hội ?
A. Nói gián tiếp về tình trạng hiểu lầm khái niệm.
B. Nói bóng gió, nhẹ nhàng về tình trạng hiểu lầm khái niệm.
C*. Nói trực tiếp, thẳng thừng về tình trạng hiểu lầm khái niệm.
D. Nói theo lối biểu tượng hai mặt về tình trạng hiểu lầm khái niệm.
Câu 4: Việc đặc biệt nhấn mạnh vào sự dốt nát về xã hội luân lí của người mình như vậy
không nhằm mục đích gì ?
A. Rung lên một hồi chuông cảnh báo với toàn dân, kêu gọi đồng bào mau chóng thức tỉnh.
B. Thôi thúc người dân Việt xây dựng cho mình một xã hội luân lí mới.
C. Xây dựng một ý thức tự tôn dân tộc theo tinh thần phản tỉnh và hướng vào hành động
thực tiễn.
D*. Phê phán, đả kích cái “quốc dân tính” kém cỏi, dốt nát của dân chúng Việt Nam.
Câu 5: Cụm từ nào không nhằm chỉ người nghe bài diễn thuyết ?
A. Người nước ta
B. Người bên ta
C. Người mình, ông cha mình
D*. Người ta, họ
Câu 6: Nói về ý thức nghĩa vụ trong một đất nước có nền xã hội luân lí bền vững, tác giả đã
nhắc đến loại nghĩa vụ nào ?
A. Nghĩa vụ mỗi người trong nước.
B. Nghĩa vụ của mỗi người trong nhà.
C. Nghĩa vụ loài người ăn ở với nhau.
D*. Cả A và C.
Câu 7: Cách giải thích nào sau đây về diễn thuyết là đúng ?
A. Trao đổi về một vấn đề nào đó với tập thể.
B*. Nói trước công chúng về một vấn đề nào đó.
C. Nói về một vấn đề nào đó trước những người cùng quan điểm.
D. Trao đổi về một vấn đề nào đó ở nơi công cộng.
Câu 8: Người diễn thuyết muốn thuyết phục công chúng, không nhất thiết phải đáp ứng yêu
cầu nào sau đây ?
A. Nắm chắc đối tượng.
B. Xác định chủ đề, mục đích rõ ràng.
C. Lập luận khúc chiết, lời lẽ giản dị, dễ hiểu.
D*. Có tài hùng biện xuất chúng.
Câu 9: Cách hiểu nào sau đây là đúng nhất về lối phản chứng trong nghị luận?
A*. Sự chứng minh bằng cách đặt ra một giả thiết ngược lại với điều phải chứng minh và
vạch rõ rằng giả thiết này dẫn đến điều vô lí.
B. Sự chứng minh nhằm hướng đến việc phản bác một điều gì đó, trái ngược với điều cần
chứng minh.
C. Sự chứng minh theo lối bác bỏ ý kiến của đối phương để khẳng định tính đúng đắn trong
ý kiến của mình.
D. Chứng minh bằng cách đưa ra dẫn chứng không thể chối cãi để phản bác lại ý kiến của
đối phương.
Câu10: Trong khi lập luận theo lối phản chứng, đối tượng và hiện trạng nào sau đây bị Phan
Châu Trinh phê phán gay gắt nhất ?
A. Dân chúng ở ta “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai”; “trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì”…
B. Xã hội ở nước ta là một xã hội “không biết đoàn thể, không trọng công ích”.
C. Bọn thức giả ở ta phần đông hèn yếu, “ngó theo sức mạnh”, quỵ lụy quyền thế,…
D*. Bọn quan trường ở nước ta phản động, thối nát, chỉ là một “lũ ăn cướp có giấy phép”.