VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÔ ĐÌNH TỈNH

PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI

TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội, năm 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TÔ ĐÌNH TỈNH

PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI

TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

Ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN THANH BÌNH

Hà Nội, năm 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,

dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình. Các kết quả được

trình bày trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu

khoa học nào khác. Các số liệu trích dẫn trong Luận văn được trích từ các nguồn

thông tin hợp pháp, chính xác và trung thực.

Tôi đã hoàn thành các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính

theo quy định của Học viện Khoa học xã hội – Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt

Nam.

Tôi xin cam đoan và chịu hoàn toàn trách nhiệm với nội dung cam đoan trên.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TÔ ĐÌNH TỈNH

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Pháp luật về Thừa phát lại từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” đã được

hoàn thành là kết quả học tập, tổng hợp, tìm hiểu, nghiên cứu trong hai năm học cao

học tại Học viện Khoa học Xã hội và sự hướng dẫn, hỗ trợ của người hướng dẫn

khoa học.

Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, các cô là các giáo

sư, phó giáo sư, tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá 2017 - 2018, đặc

biệt xin cảm ơn TS. Nguyễn Thanh Bình - Cục trưởng Cục Công tác phía Nam - Bộ

Tư pháp. Thầy đã nhiệt tình, tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi

hoàn thành Luận văn này.

Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội

đồng chấm luận văn; cảm ơn Học viện khoa học xã hội đã giúp đỡ tôi hoàn thành

Lận văn này.

Học viên

TÔ ĐÌNH TỈNH

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU.…………………………………………………………………...1

1.1. Quá trình hình thành, phát triển của chế định Thừa phát lại.......................................... 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI…..…..7

1.3. Pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay ……………………………..30

1.2. Khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, mối quan hệ của Thừa phát lại......20

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA

PHÁT LẠI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI ....................................................................... 36

2.1. Tổng quan về tỉnh Đồng Nai .................................................................................. ..36

2.2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại tỉnh Đồng Nai từ khi

thí điểm đến nay ................................................................................................................ 37

2.3. Nhận xét, đánh giá về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại tỉnh Đồng Nai

từ khi thí điểm đến nay…..………………..……………………………..................52

Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG

CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, TỔ CHỨC VÀ

HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI …………….62

phát lại........................................................................................................................62

3.1. Quan điểm phát triển, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả về tổ chức và hoạt

động của Thừa phát lại ....................................................................................................... 65

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

THADS: Thi hành án dân sự.

TPL: Thừa phát lại.

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 2.1. Bảng tổng hợp kết quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 - 2019.

2.2. Biểu đồ tỉ trọng doanh thu giữa các loại hoạt động của các Văn phòng Thừa

phát lại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

2.3. Biểu đồ về tình hình hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chế định Thừa phát lại (TPL) xuất hiện trên thế giới hơn 100 năm, ở khu vực

Châu Âu, bắt nguồn từ nước Pháp và hiện đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế

giới, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, TPL được xuất hiện cùng với việc Vua Tự

Đức ký Hòa ước ngày 05/6/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam kỳ. Từ đó, Pháp đã

trực tiếp áp đặt chế độ cai trị thực dân, áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ và coi

6 tỉnh Nam kỳ như một hạt của Pháp quốc. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945,

chế định TPL tiếp tục được duy trì cho đến năm 1950. Ở miền Nam Việt Nam, chế

định TPL cũng tồn tại cho tới năm 1975, khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống

nhất đất nước.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,

nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, Nghị quyết số

49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến

năm 2020 có chủ trương “Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (thừa hành viên),

trước mắt có thể thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết,

đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.

Thực hiện chủ trương trên, ngày 14/11/2008 Quốc hội tiếp tục ban hành

Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó giao

Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL tại một số địa

phương. Tiếp đó Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày

24/7/2009 để thực hiện thí điểm về TPL lại thành phố Hồ Chí Minh từ 01/7/2009

đến ngày 01/7/2012. Sau thời gian triển khai thí điểm, ngày 23/11/2012, Quốc hội đã

thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định

TPL và giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL tại một số

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2015.

Tính đến ngày 31/12/2015, sau 6 năm thí điểm, chế định TPL đã chứng tỏ

được tính đúng đắn và được xã hội chấp nhận, đặc biệt là ở các địa bàn kinh tế - xã

1

hội phát triển, cả nước có 13 địa phương được giao thực hiện thí điểm và đã thành lập

được 53 Văn phòng TPL và đã bổ nhiệm được 245 TPL.

Từ những kết quả đạt được trong thời gian thực hiện thí điểm đã chứng tỏ việc

thực hiện chủ trương phát triển chế định TPL ở Việt Nam là cần thiết, đúng đắn, phù

hợp với xu hướng hội nhập quốc tế, ngày 26/11/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị

quyết số 107/2015/QH13 để thực hiện chính thức TPL trên cả nước kể từ ngày

01/01/2016. Các tổ chức TPL được thành lập theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và

Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội được tiếp tục hoạt động theo quy định của

Nghị quyết này cho đến khi Quốc hội ban hành Luật TPL. Tính đến ngày 31/12/2018,

cả nước đã thành lập 82 Văn phòng TPL. Tại tỉnh Đồng Nai, đến ngày 31/7/2019 có 05

Văn phòng TPL đã thành lập và đang hoạt động.

Mới đây, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày

08/01/2020 về tổ chức và hoạt động của TPL (có hiệu lực từ ngày 24/02/2020) đã

tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho TPL phát triển.

Như vậy, từ chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có nhiều nỗ lực

xây dựng, hoàn thiện pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho TPL ở Việt Nam phát

triển. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới, trong quá trình địa phương tổ chức thực hiện

cũng còn gặp nhiều khó khăn, các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt

động của TPL còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù

hợp với thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện pháp luật.

Với mong muốn được góp phần vận dụng kiến thức pháp luật và hiểu biết

thực tiễn của mình vào nghiên cứu khoa học pháp lý, thông qua nghiên cứu lý luận

và hoạt động thực tiễn về TPL ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng

nhằm hoàn thiện pháp luật về TPL, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của TPL

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã thôi thúc tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp luật

về TPL từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trên tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải

cách tư pháp đến năm 2020, chế định TPL đã được thí điểm và chính thức cho thực

2

hiện trong phạm vi cả nước từ 01/01/2016; trước và trong thời gian trên đã có một số

công trình nghiên cứu liên quan đến chế định TPL, tiêu biểu như:

- Tổ chức Thừa phát lại, Nguyễn Đức Chính (chủ biên), NXB. Tư pháp, Hà

Nội, 2006; đây là kết quả của công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước được

Bộ Tư pháp giao cho Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu thực hiện.

Công trình nghiên cứu đã khái quát lại lịch sử chế định TPL ở Việt Nam và phân

tích một số mô hình về TPL ở một số nước trên thế giới.

- Thừa phát lại trong thi hành án dân sự, luận văn thạc sĩ luật học, Phạm Phúc

Thịnh, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; nội dung chính của đề tài nghiên cứu về

lịch sử pháp luật về thi hành án dân sự ở Việt Nam, việc thực hiện chủ trương xã

hội hóa hoạt động THADS, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của TPL trong họa động tổ chức

thi hành án.

- Thừa phát lại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học,

Nguyễn Anh Thư, Đại học Luật Hà Nội, 2014; Luận văn đi sâu nghiên cứu về lý

luận và một số vấn đề liên quan đến TPL phát sinh từ thực tiễn thực hiện thí điểm

TPL ở Việt Nam.

- Số chuyên đề tháng 11/2011, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp;

- Số chuyên đề chế định TPL năm 2014, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ

Tư pháp;

- Thí điểm mô hình TPL thành phố Hồ Chí Minh - Những vấn đề đặt ra/Bùi

Thị Huyền/Tạp chí Luật học, số 7/2011;

- TPL bước đầu đã đi vào lòng dân và xã hội, là người trợ thủ đắc lực cho

công tác thi hành án dân sự (THADS) và công tác tư pháp/Hà Hùng Cường/Tạp chí

Dân chủ và Pháp luật, số 10/2012;

- Quản lý nhà nước về TPL - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn

thạc sĩ luật học, Nguyễn Đức Biên, Học viện Khoa học Xã hội, 2016; Luận văn đi

sâu, tập trung nghiên cứu pháp luật về quản lý nhà nước đối với TPL và phân tích,

đánh giá thực tiễn, tình hình thực hiện công tác quản lý nhà nước về TPL để đưa ra

các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với TPL.

3

- Xu hướng xã hội hóa THADS từ việc thí điểm hoạt động TPL tại TP. Hồ

Chí Minh/Nguyễn Công Bình/Tạp chí Luật học, số 6/2012…

Như vậy, hiện nay đã có những công trình, đề tài, số chuyên đề, bài viết về

chế định TPL ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động TPL trong

bối cảnh thực hiện thí điểm, mới thực hiện chính thức chế định này trên cơ sở pháp

luật hiện hành (chủ yếu là trong giai đoạn thí điểm – trước ngày 1/1/2016), về giá trị

lịch sử, quan điểm chính trị - pháp lý về chế định TPL; nhận diện pháp lý về TPL,

mô hình tổ chức và hoạt động của TPL; những đặc trưng của nghề TPL; về quản lý

nhà nước đối với TPL. Tuy nhiên, qua nghiên cứu nhận thấy, chưa có các công trình

nào đề cập vừa mang tính tổng thể, vừa mang tính cụ thể liên quan đến tổ chức và

hoạt động của TPL từ thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề

tài “Pháp luật về Thừa phát lại từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm luận văn thạc sĩ

luật học để nghiên cứu pháp luật, tổng kết tình hình thực tiễn về thực hiện chế định

TPL tại tỉnh Đồng Nai; từ đó cung cấp những luận cứ, luận chứng khoa học cho

việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về TPL nói chung và nâng cao hiệu lực, hiệu

quả về tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng là cần

thiết và không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố trước đây.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về TPL, xác định rõ cơ

sở khoa học và cơ sở thực tiễn xây dựng và phát triển pháp luật về TPL ở Việt Nam

nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng; phân tích thực trạng về tổ chức và hoạt động

của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; đánh giá ưu điểm, kết quả đạt được, những hạn,

bất cấp để từ đó đưa ra các khuyến nghị khoa học nhằm góp phần vào việc xây dựng,

hoàn thiện pháp luật; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước,

tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng và ở Việt Nam

nói chung.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Về đối tượng nghiên cứu

Với nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu trên, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu

4

các vấn đề về tổ chức và hoạt động của TPL, cụ thể như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và các quy định của pháp luật về TPL;

- Phân tích thực trạng thực hiện chế định TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

tổ chức, hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

4.2. Về phạm vi nghiên cứu:

Thứ nhất, về nội dung, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật,

những nguyên tắc, quy định về tổ chức và hoạt động của TPL ở Việt Nam nói

chung, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng và những thuận lợi, khó khăn về tổ

chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay.

Thứ hai, về thời gian, địa điểm nghiên cứu, các số liệu, thông tin trình bày

trong luận văn được thu thập trong thời gian từ năm 2013 2015 đến ngày

31/12/2019 và có cập nhật, bổ sung thêm một số thông tin đến tháng 02 năm 2020

tại tỉnh Đồng Nai.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận duy

vật biện chứng, lịch sử và các phương pháp khác như: Khảo sát, tổng hợp, phân

tích, thống kê pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng

Nai. Trong từng điều kiện, từng trường hợp, hoàn cảnh cụ thể, tác giả sử dụng các

phương pháp này chủ yếu như sau:

Một là, kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch

sử và phương pháp phân tích: Tác giả sẽ sử dụng tập trung tại chương 1, nhằm mục

đích tìm hiểu về nguồn gốc, vị trí pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn, các mối quan hệ

chủ yếu của TPL theo quy định của pháp luật Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm

ở một số quốc gia trên thế giới.

Hai là, phương pháp phân tích, tổng hợp: Tác giả sử dụng phương pháp này

ở chương 2 để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức, hoạt động

của TPL ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng.

Ba là, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Được sử dụng tại chương

5

2, chương 3 để đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về TPL, nâng cao hiệu lực, hiệu

quả về tổ chức và hoạt động của TPL ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, làm rõ thêm các vấn đề lý luận pháp luật về Thừa phát lại; phân tích, đánh giá một cách đầy đủ và hệ thống đối với thực trạng pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam, qua đó, làm rõ cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn của lĩnh vực pháp luật này.

Về mặt thực tiễn, những đề xuất, kiến nghị được đưa ra trong luận án được xây dựng trên cơ sở lý luận chặt chẽ và có kiểm chứng thực tế nên có thể được sử dụng như một nguồn tham khảo tin cậy trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động TPL ở Việt Nam nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận

văn được chia thành 03 chương gồm:

Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL.

Chương 2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của TPL tại tỉnh Đồng Nai.

Chương 3. Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu lực,

6

hiệu quả về quản lý nhà nước, tổ chức và hoạt động của TPL tại tỉnh Đồng Nai.

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỪA PHÁT LẠI

1.1. Quá trình hình thành, phát triển của Thừa phát lại ở Việt Nam

1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945

Trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, việc xét xử do các quan lại phụ trách

các địa phương tiến hành và chưa có chức danh TPL; tuy nhiên, thực hiện những

công việc giúp cho các quan lại xử án xét ở góc độ nào đó các công việc này gần

giống với một số công việc mà TPL sau này được làm như: Truyền đạt các khẩu

hiệu, công văn, giấy tờ, chuẩn bị phiên tòa, thông báo việc thi hành án…

TPL xuất hiện ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc, bắt đầu từ việc Vua Tự

Đức ký Hòa ước ngày 05/06/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam kỳ, từ đó, Pháp

trực tiếp áp đặt chế độ cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ.

Sau này, triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước ngày 06/6/1884 với Pháp, đưa nước ta

trở thành một nước đặt dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp, chia thành ba vùng là

Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Ở Bắc kỳ và Trung kỳ, nhà Nguyễn vẫn giữ quyền

nội trị, quyền tư pháp vẫn thuộc về hoàng đế mặc dù nó đã bị hạn chế đi rất nhiều

bởi sự kiểm soát của đại diện chính quyền Pháp [16, tr.9-10]. Mặc dù chưa có chế

định TPL, nhưng những công việc của TPL như trát hầu tòa, truyền phiếu… do các

Môn lại, Môn vệ, Nha lại đảm nhiệm, chứng tỏ đã dần dần hình thành một lực

lượng chuyên làm nhiệm vụ thi hành án. Ở Nam kỳ, tổ chức bộ máy nhà nước và hệ

thống tư pháp được tổ chức giống mô hình ở Pháp và xuất hiện chức danh TPL gần

đầy đủ chức năng như ngày nay.

Tổ chức và hoạt động của TPL được chính thức ghi nhận trong “Bộ Dân sự

tố tụng Nam Việt” ban hành kèm theo Nghị định ngày 16/3/1910 (áp dụng tại khu

vực Nam kỳ); “Bộ Dân luật Trung năm 1936-1939”, ban hành kèm bộ Hộ sự,

Thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 (áp dụng tại khu vực Trung kỳ); “Bộ Dân

luật Bắc năm 1931”, ban hành kèm Bộ Dân sự tố tụng Bắc năm 1917 (áp dụng tại

7

khu vực Bắc kỳ).

Tuy được quy định ở các Bộ luật khác nhau ở ba miền, tên gọi ở mỗi miền

khác nhau như có nơi gọi là Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), TPL

(miền Nam) và chúng đều có nguồn gốc từ tiếng Pháp “Huissier”, dịch ra tiếng Việt

đều có nghĩa là Chưởng tòa [16, tr.10]. Chế định TPL ở các bộ luật nói trên hầu hết

đều theo khuôn mẫu của mô hình TPL tại Pháp được quy định trong Bộ luật Dân sự

Pháp năm 1804 và Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp năm 1807. Công việc của TPL

không được xem như một nghề, không có cơ quan quản lý về tổ chức và hoạt động.

TPL không phải là thành phần của chính quyền mà chỉ là người được nhà nước giao

thực hiện một số công việc mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động xét xử của cơ quan

tư pháp.

Từ khi được ghi nhận chính thức trong văn bản pháp lý, chức danh TPL do

Tổng trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm bằng nghị định, có định rõ trụ sở của TPL và

TPL chỉ được thi hành chức trách trong phạm vi quản hạt của Tòa sơ thẩm dân sự.

Ở những nơi chưa có TPL thì nhân viên hành chính hoặc cán bộ Tòa án được kiêm

nhiệm công việc của TPL. Trong quá trình hoạt động, TPL chịu sự kiểm soát của

Hội đồng TPL trong phạm vi quản hạt và chịu sự giám sát của Chưởng lý Tòa

thượng thẩm. Ngoài ra, trên bình diện cả nước, hoạt động của TPL còn chịu sự kiểm

tra, giám sát của Tổng trưởng Bộ Tư pháp. Tùy từng mức độ vi phạm có thể bị xử

phạt cảnh cáo, khiển trách nhẹ, khiển trách nặng, huyền chức, thay thế, triệu hồi. Để

trợ giúp cho công việc của mình, TPL có quyền nhận một thư ký. Thư ký TPL cũng

phải đáp ứng những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt như: Đủ tuổi quy định (thường là

25 tuổi trở lên), có thời gian thực tập hai năm ở một văn phòng chưởng khế, luật sư

hay TPL, đặc biệt phải trải qua kỳ thi do Bộ Tư pháp tổ chức. Nhiệm vụ của TPL

gồm các công việc chính sau đây:

Một là, làm các truyền phiếu (tống đạt các giấy tờ của tòa án): Tất cả các

thông báo của toà án cho các đương sự và người có liên quan đến một vụ tranh chấp

trước toà án đều giao cho TPL tống đạt. Các truyền phiếu phổ biến nhất mà TPL

tống đạt là các trát đòi (giấy mời, giấy triệu tập) bị đơn, nguyên đơn, bị cáo dân sự

8

ra hầu toà (có mặt tại toà vào ngày xét xử vụ án). Các giấy này do phòng lục sự

(tương tự như thư ký tòa) Toà án lập và giao cho TPL tống đạt tận tay đương sự

hoặc nơi cư trú đương sự, lấy chữ ký rồi hoàn lại để lưu hồ sơ và bản sao thì giao

cho đương sự. Việc tống đạt này phải được làm theo thủ tục quy định trong các bộ

luật tố tụng và kết quả tống đạt phải ghi nhận đầy đủ để xác nhận đương sự có nhận

được hay không để làm cơ sở cho việc toà án có xét xử vắng mặt hay không.

Ngoài các truyền phiếu phổ biến này, TPL còn tống đạt các loại truyền phiếu

khác như:

- Trát đòi nhân chứng (giấy mời, giấy triệu tập).

- Trát đòi trách nhiệm dân sự (người có liên quan trách nhiệm dân sự)

- Trát đòi giám định viên.

- Tống đạt các quyết định tư pháp .

Ngoài các trát đòi của toà án,TPL còn truyền các lệnh khác liên quan đến

việc giải quyết các vụ tranh tụng như:

- Sai áp bảo toàn (kê biên tài sản) tức là sai áp tài sản của một toà án để đảm

bảo số nợ mà đương sự có trách nhiệm thanh toán.

- Sai áp chế chỉ, hay còn gọi là sai áp chi phó, tức là kê biên một tài vật, một

số tiền của con nợ do một người thứ ba nắm giữ nhằm ngăn cản người thứ 3 trao tài

vật hoặc số tiền cho con nợ, để bảo đảm số nợ mà con nợ phải trả cho chủ`nợ về sau

này không bị tẩu tán.

- Giải trừ sự sai áp này (hủy bỏ việc kê biên) khi hai bên đã tự giải quyết với

nhau hoặc do lệnh của toà án.

Hai là, làm các công việc lục tống (lập các vi bằng, chứng thư về các sự kiện

hành vi nhằm làm chứng cứ): Đây là công việc mà TPL làm theo yêu cầu của toà án

(lục tống về tư pháp) hoặc theo yêu cầu của cá nhân, của tổ chức xã hội, công ty

hoặc đơn vị hành chính (lục tống không thuộc tư pháp) nhằm thông báo, đốc thúc,

9

sưu tầm, lập vi bằng, công chứng các hành vi xâm phạm đến quyền lợi để xác định

các sự kiện thực tế, các sự biểu lộ ý chí của đương tụng (các đương sự và những

người liên quan khác trong một vụ án) hoặc cá nhân trong các mối quan hệ xã hội

để xác lập các chứng cứ dùng làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp... Các công

việc này rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cung cấp chứng cứ.

Các công việc này có thể phân làm 3 loại:

- Thứ nhất, là cáo tri (thông cáo) các ý định và các hành vi đã được thực

hiện đối với một đối tượng như thông báo cho người thuê nhà biết ý định chấm dứt

hợp đồng khi hết hạn, thông báo cho người thuê biết ý định của chủ nhà để người

thuê sử dụng quyền tiên mãi (ưu tiên) hoặc sai áp chi phó cho con nợ, đốc thúc con

nợ phải trả nợ.

- Thứ hai, là sưu tầm xác định các sự kiện, bằng chứng để đối chứng trước

toà, như sưu tầm tài liệu tại các cơ quan, chất vấn lấy lời khai của nhân chứng ...

- Thứ ba, là vi chứng các sự kiện thực tế như làm vi bằng công chứng (lập vi

bằng để ghi nhận - cách hiểu khác với công chứng hiện nay) về các thiệt hại về tài

sản, vi bằng công chứng về việc lấn chiếm đất đai... Luật pháp công nhận cho các

chứng thư của TPL có giá trị của công chứng thư có nghĩa là các chứng thư do TPL

lập đương nhiên được Toà án tin tưởng, sử dụng làm chứng cứ trong việc giải quyết

các vụ án và các chứng thư này không thể bị phủ nhận bởi bất cứ chứng cứ nào

khác.

Chứng thư do TPL lập chỉ có thể không có hiệu lực khi có người muốn phủ

nhận giá trị của chứng thư bằng cách kiện TPL về tội giả mạo chứng thư. Trong

trường hợp này, Toà án sẽ cho tiến hành điều tra, và chỉ khi nào cuộc điều tra xác

định chứng thư có giả mạo thì TPL sẽ bị truy tố và chứng thư này sẽ vô hiệu. Ngược

lại, nếu cuộc điều tra cho thấy là không có giả mạo thì chứng thư vẫn có hiệu lực và

10

người kiện về việc chứng thư giả mạo sẽ bị truy tố tội vu khống TPL.

Ba là, phát mại tài sản, trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của tòa án.

Đây là công tác thi hành án mà hiện nay ở nước ta đang do các Chấp hành viên thực

hiện.

Bốn là, thực hiện một số công việc nội bộ trong toà án: Bao gồm thông báo

khai mạc, bế mạc phiên tòa, gọi các đương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự

trong quá trình xét xử của tòa án. Khi toà án xét xử các vụ án, TPL bắt buộc phải có

mặt vào ngày giờ phiên toà xét xử để làm các nghi thức nêu trên. Hiện nay, các

công việc này trong các phiên tòa do Thư ký phiên tòa, cảnh sát tư pháp đảm nhiệm.

Về tổ chức, TPL là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản lý

hành nghề theo các quy định của pháp luật được hưởng thù lao khách hàng trả theo

biểu giá quy định. TPL không phải là công chức. Để được bổ nhiệm, TPL phải hội

đủ một số điều kiện về chuyên môn và đạo đức đảm bảo cho sự trung thực trong

thực hiện công tác và phải tuyên thệ trước toà án “Thi hành nhiệm vụ một cách

ngay thẳng và chính trực”. Cụ thể là:

- Phải là người lương thiện.

- Phải qua một kỳ thi chuyên nghiệp hoặc đã từng nắm giữ một số chức vụ

trong các cơ quan tư pháp, đảm bảo trình độ chuyên môn và đạo đức.

- Phải tuyên thệ trước toà án.

- Phải ký quỹ một số tiền để đảm bảo các khoản tiền phạt mà họ có thể bị toà

án bắt buộc phải nộp vi phạm do lỗi trong khi thừa hành nhiệm vụ được giao.

TPL không được từ chối thực hiện nhiệm vụ nếu không có lý do chính đáng.

Trong quá trình hoạt động, TPL chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những công chức như:

Chưởng lý, Biện lý, Thẩm phán, Lục sự. Hoạt động của TPL được tổ chức dưới

dạng văn phòng. Đây không chỉ là quy định pháp lý bắt buộc mà còn mang tính đạo

đức, lương tâm nghề nghiệp của TPL khi thực hiện các công việc được giao. Thêm

11

vào đó, các mức phí cho hoạt động của TPL cũng được quy định chi tiết, có ý nghĩa

quan trọng giúp cho người dân nào cũng có thể dễ dàng biết, tự mình yêu cầu TPL

thực hiện công việc cho mình một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả cao.

Về thù lao, TPL, thư ký TPL không hưởng lương từ ngân sách nhà nước mà

được hưởng tiền thù lao theo mức phí được Tổng trưởng Bộ Tư pháp quy định bằng

văn bản pháp luật. Họ cũng không được kiêm nhiệm chức vụ công nào được hưởng

lương từ nhà nước. TPL không có quyền đòi hỏi tiền nhiều hơn số tiền đã định

trong biểu giá hoặc đòi thêm bất cứ một phí tổn nào khác ngoài số tiền công đã quy

định. Nếu vi phạm, TPL có thể bị triệu hồi hoặc có thể bị khép vào khoản trừng

phạt khác. Việc thu phí của TPL được kiểm tra rất chặt chẽ bởi Sở Trước bạ.

Như vậy, dù chỉ mới manh nha xuất hiện trong nhà nước phong kiến, TPL đã

thực hiện nhiều công việc mang tính chất hành chính, sự vụ đạt hiệu quả cao, như là

tống đạt giấy tờ của các cơ quan nhà nước, thực hiện một số công việc phục vụ hoạt

động xét xử…

1.1.2. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1950

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hòa không chỉ là bước ngoặt lịch sử to lớn của dân tộc ta, mà còn là

dấu mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn xây dựng một nhà nước độc lập. Tuy nhiên,

do mới giành được độc lập nên Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã

ban hành Sắc lệnh ngày 10/10/1945, giữ tạm thời các luật lệ hiện hành ở 03 miền

Bắc, Trung và Nam bộ cho đến khi ban hành các bộ luật mới áp dụng cho toàn quốc

với điều kiện “những điều khoản trong các luật lệ cũ được tạm giữ lại do Sắc lệnh

này, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính

thể dân chủ cộng hòa”; trong đó có việc tạm giữ lại chế định TPL và tiếp tục hoạt

động với đầy đủ các chức năng theo quy định.

Đến ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa ký ban hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm

phán; theo đó, tại khoản 3 của Sắc lệnh này quy định Ủy ban hành chính cấp xã

kiêm cả việc tư pháp và Ban tư pháp cấp xã có quyền “thi hành những mệnh lệnh

12

của Tòa án cấp trên”. Sau đó, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 130/SL về việc ấn định thể thức thi hành phải ghi

trên các bản toàn sao hay trích sao bản án hoặc mệnh lệnh được ban hành ngày

19/7/1946, trong đó quy định: “Trong các xã, thị xã và khu phố, Chủ tịch, Phó Chủ

tịch và thư ký đều chịu trách nhiệm thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc bản án của

các Tòa án. Bản án ấy sẽ tùy từng việc, chỉ định một nhân viên để giao cho việc thi

hành lệnh, mệnh lệnh hoặc án, ở những nơi nào đã có TPL riêng thì đương sự có

quyền nhờ TPL riêng thi hành mệnh lệnh”. Nhiệm vụ quản lý tổ chức và hoạt động

của TPL được giao cho Ban Công lại theo quy định của Nghị định số 37 ngày

01/12/1945 về tổ chức Bộ Tư pháp.

Như vậy, những năm đầu của chính quyền cách mạng, tổ chức THADS ở

Việt Nam do hai lực lượng đảm nhiệm là TPL và Ban Tư pháp xã, phường. Các lực

lượng này trong quá trình thực thi nhiệm vụ được sử dụng quyền lực nhà nước và

được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Điều 1 Sắc lệnh số 130

ngày 19/7/1946 quy định: “Các bản toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh

do các phòng lục sự phát cho người đương sự để thi hành các án hoặc mệnh lệnh

của các Tòa án hộ, đều phải có thể tổ chức thi hành, ấn định như sau: Vậy, Chủ tịch

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa truyền cho các TPL theo yêu cầu của

đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và biện lý kiểm soát việc thi hành

án, các vị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu”. Tuy tồn

tại hai lực lượng thi hành án nhưng việc thi hành án dù cho TPL hay Ban Tư pháp

tiến hành đều thể hiện quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng

chế của nhà nước.

1.1.3. Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1975

Ở miền Bắc, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85/SL

về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng; trong đó, tại Điều 19 Sắc lệnh số 85/SL

quy định: “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp

hành các bản án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ mà chính Tòa

án huyện hay Tòa án trên đã tuyên. Việc phát mãi bất động sản và phân phối tiền

13

bán được cũng do Tòa án huyện phụ trách…”. Sắc lệnh số 85/SL đã bãi bỏ nhiệm

vụ của TPL và Ban Tư pháp xã; thay vào đó, thẩm phán huyện là người được giao

làm nhiệm vụ thi hành án dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án; tổ chức và hoạt

động TPL không còn được duy trì ở miền Bắc.

Ở miền Nam, chế định TPL vẫn tiếp tục được duy trì; tổ chức và hoạt động

của TPL được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng ngày 20/12/1972 do

chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành và Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày

04/02/1950 về ấn định pháp quy TPL do chính quyền Bảo Đại ban hành đã quy định

một cách khá chi tiết về tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của TPL. Đây là giai đoạn

mà các quy định của TPL đã khá hoàn thiện và đầy đủ nhất ở miền Nam nước ta.

Về tổ chức, TPL được tổ chức ở miền Nam có mô hình tương tự như thời

Pháp thuộc về phạm vi hoạt động, điều kiện tổ chức, bổ nhiệm, hình thức tổ chức và

hoạt động của TPL, cơ chế giám sát.

Theo quy định trên nhiệm vụ, quyền hạn của TPL gồm:

Một là, tống đạt các loại giấy tờ của Tòa án: Trong các vụ tranh chấp (vụ án

hình sự và các vụ việc khác), khi cần thông báo cho đương sự, những người có liên

quan về một số giấy tờ liên quan đến giải quyết vụ án thì Tòa án đều giao cho TPL

thực hiện, như: Giấy mời, giấy triệu tập bị đơn, nguyên đơn trong các vụ tranh

chấp; trát đòi trách nhiệm dân sự; trát đòi giám định viên và một số lệnh khác của

Tòa án liên quan đến việc giải quyết các vụ tranh tụng như sai áp bảo toàn (kê biên),

sai áp chỉ (áp dụng biện pháp để bảo đảm số tiền hoặc tài sản của con nợ đang cho

người thứ ba nắm giữ không tẩu tán hoặc trao cho người khác nhằm bảo đảm việc

thanh toán số nợ của chủ nợ sau này)... Các giấy tờ trên thường do Phòng Lục sự

của Tòa án lập và giao cho TPL tống đạt. TPL trực tiếp giao tận tay cho đương sự

và những người nhận được tống đạt hoặc đến nơi đương sự cư trú để lấy chữ ký xác

nhận việc tống đạt đã thực hiện rồi hoàn lại cho Tòa án để lưu hồ sơ và thực hiện

xét xử [16, tr.10, 11].

Hai là, trên cơ sở yêu cầu của Tòa án hoặc đề nghị của tổ chức và cá nhân,

TPL có thể tiến hành lập các vi bằng, chứng thực các hành vi, sưu tầm các sự kiện

14

thực tế hoặc thông báo, đôn đốc một vấn đề nào đó… làm căn cứ để giải quyết tranh

chấp sau này. TPL có thể ra thông báo các ý định hoặc hành vi đã thực hiện đối với

một đối tượng như thay mặt chủ nợ (khi được yêu cầu), thông báo với con nợ việc

chủ nợ sẽ bán tài sản hoặc vật đã thế chấp để thu hồi khoản nợ nếu đến ngày theo

thỏa thuận mà con nợ không trả được nợ; thực hiện một số việc theo yêu cầu của cá

nhân, pháp nhân về thực hiện một số chứng thư hay vi bằng như chứng thư cự tuyệt,

vi bằng công chứng về hiện trạng mức độ hư hại vật chất, hiện trạng xây dựng, lấn

chiếm đất đai, vi bằng chất vấn về việc hỏi đáp các đương sự và nhân chứng để làm

cơ sở cho các yêu cầu tố tụng hoặc hòa giải.

Ba là, về thẩm quyền của TPL trong việc thi hành các bản án, quyết định của

Tòa án được quy định tại Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày 04/02/1950 của Tổng

trưởng Bộ Tư pháp; theo đó TPL có thể trực tiếp thi hành các bản án dân sự đã có

hiệu lực pháp luật của Tòa án. Bên cạnh đó, TPL cũng có thể thi hành các văn bản,

quyết định hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước khác khi được yêu cầu

nhưng phải tuân thủ nghiêm các quy định về thi hành án, về trình tự, thủ tục thi

hành các quyết định hành chính. Trong khi thi hành các bản án dân sự của Tòa, TPL

được triệu dụng nhân viên công lực như cảnh sát hay quân đội để làm trợ tá cho

mình, tức là TPL được sử dụng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước khi cần thiết.

Điều này thể hiện sự kết hợp giữa sức mạnh của công quyền với sự mềm dẻo, linh

hoạt trong dân sự để hỗ trợ cho hoạt động thi hành án của TPL vốn phức tạp, nhạy

cảm.

Bốn là, thực hiện các công việc khác của Tòa án. Trong giai đoạn Tòa án mở

phiên tòa xét xử, theo quy định thì TPL phải có mặt để thực hiện một số công việc

như: Tuyên bố khai mạc, bế mạc hoặc tạm ngưng phiên tòa; truyền gọi các đương

sự, nhân chứng và những người liên quan đứng trước phiên tòa; thực hiện một số

lệnh khác của Tòa án để phục vụ cho hoạt động xét xử. Những công việc mà TPL

thực hiện tại phiên tòa trên gần giống với nhiệm vụ của Thư ký Tòa án hiện nay

hiện nay.

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1975, TPL ở miền Nam thực

15

hiện nhiều công việc tương tự như những công việc mà hiện nay chấp hành viên,

thư ký Tòa án đang thực hiện. Hoạt động của TPL đã có những đóng góp tích cực

đối với hoạt động tư pháp; là một cơ chế trợ giúp, hỗ trợ cho các cơ quan tư pháp

trong hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành

án, đảm bảo mọi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi

hành nghiêm minh, tình trạng án tồn đọng hầu như không xảy ra; hỗ trợ cho luật sư

biện hộ trong hoạt động tố tụng tại Tòa án; giúp người dân chủ động trong việc tạo

lập các chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi cần thiết.

1.1.4. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2015

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hệ thống pháp

luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức áp dụng thống

nhất trên toàn lãnh thổ; các quy định trước đây về TPL của chính quyền Việt Nam

Cộng hòa bị bãi bỏ hoàn toàn. Trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, chế định

TPL không được đề cập đến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của

nhà nước và cũng không còn tồn tại trong thực tiễn thi hành án ở Việt Nam; việc thi

hành các bản án, quyết định của Tòa án do cơ quan thi hành án các cấp thực hiện.

Từ năm 1986, nhà nước ta bắt đầu thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện; các quan

hệ kinh tế thị trường được hình thành và phát triển nhanh chóng, kéo theo hệ lụy là

xảy ra ngày càng nhiều các vụ việc tranh chấp phức tạp; khối lượng các công việc

của cơ quan tư pháp, thi hành án ngày càng nhiều và trở nên quá tải. Trong công tác

THADS, tình trạng án dân sự tồn đọng kéo dài, kinh phí nhà nước phục vụ cho hoạt

động của cơ quan THADS ngày càng cao; tình trạnh quá tải của chấp hành viên, đặc

biệt là ở các thành phố lớn vẫn còn phổ biến…

Xuất phát từ tình hình thực tiễn, yêu cầu quản lý nhà nước và nhận thức được

vai trò, giá trị và những đóng góp của TPL trong việc hỗ trợ cho hoạt động của Tòa

án, cơ quan THADS, người dân trong những những giai đoạn lịch sử trước đây và

trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của TPL ở một số quốc gia

trên thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra một số chủ trương, định hướng quan

trọng trong việc xem xét khôi phục lại chế định TPL ở nước ta. Cụ thể hóa chủ

16

trương đó, Đảng ta đã ban hành một loạt các văn bản như Nghị quyết Đại hội lần

thứ XI của Đảng đưa ra chủ trương tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa trong nhiều lĩnh

vực; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm

vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong giai đoạn tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW

ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã đưa ra những chủ trương

chung về xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 … Trong

đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã nêu lên chủ trương quan trọng: “Nghiên cứu thực

hiện và phát triển các dịch vụ từ phía nhà nước để tạo điều kiện cho các đương sự

chủ động thu thập chứng cứ, chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

mình… từng bước thực hiện xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để

giao cho các tổ chức không phải là nhà nước thực hiện một số công việc thi hành

án, nghiên cứu chế định TPL (Thừa hành viên); trước mắt tổ chức thí điểm ở một số

địa phương…”. Với việc ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW, Đảng ta đã đặt nền

móng, tạo tiền đề cho việc khôi phục lại, phát triển chế định TPL, làm cơ sở để triển

khai các bước tiếp theo của việc thí điểm tổ chức hoạt động TPL. Việc triển khai thí

điểm mô hình TPL được coi là bước đi quan trọng và cần thiết để vừa từng bước

thực hiện các nhiệm vụ cải cách tư pháp, vừa đảm bảo sự thận trọng để không làm

xáo trộn, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước vừa tạo khuôn khổ pháp lý cần

thiết cho việc tổ chức thực hiện chế định này.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Chỉ

đạo cải cách tư pháp Trung ương đã ban hành Kế hoạch số 05-KH/CCTP ngày

22/02/2006, trong đó xác định rõ nhiệm vụ của công tác xã hội hóa trong lĩnh vực

THADS là: “Nghiên cứu mô hình tổ chức TPL, trước mắt tổ chức thí điểm tại thành

phố Hồ Chí Minh”. Ngày 01/7/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số

21/2008/CT-TTg về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác

THADS, yêu cầu Bộ Tư pháp hoàn thành việc xây dựng Đề án TPL báo cáo Ban

Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương và Chính phủ để xem xét, thông qua; phối hợp

17

với Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện thí điểm

tại địa bàn thành phố, đồng thời theo dõi việc triển khai, kịp thời rút kinh nghiệm,

sơ kết, tổng kết, đề xuất phương án triển khai ở một số địa phương khác.

Tiếp đó, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số

24/2008/QH12 về việc thi hành Luật THADS, khẳng định: “Để triển khai thực hiện

chủ trương xã hội hóa một số công việc có liên quan đến THADS, giao Chính phủ

quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định TPL (Thừa hành viên) tại một số

địa phương. Việc thí điểm này được thực hiện từ ngày Luật này có hiệu lực đến

ngày 01/7/2012. Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo

Quốc hội xem xét, quyết định”.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội, ngày 24/7/2009, Chính phủ đã

ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, đồng thời, ngày 19/02/2009, Thủ tướng

Chính phủ ban hành Quyết định số 224/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Thực hiện thí

điểm chế định TPL tại thành phố Hồ Chí Minh”. Có thể nói rằng, năm 2009 là cột

mốc quan trọng, đánh dấu việc khôi phục lại chính thức chế định TPL ở Việt Nam.

Qua thời gian thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, để có cơ sở

đánh giá toàn diện hơn về hoạt động TPL, làm cơ sở để Quốc hội, Chính phủ xem

xét, đưa ra chủ trương, chính sách phù hợp về phát triển chế định TPL trong thời

gian tới, ngày 18/10/2013 của Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP

về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; theo

đó đã mở rộng phạm vi thí điểm chế định TPL ra một số tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương; sửa đổi một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cho phù

hợp với việc mở rộng phạm vi thí điểm; sửa đổi, bổ sung một số quy định về tổ

chức và hoạt động của TPL cho thống nhất, phù hợp với các văn bản pháp luật hiện

hành và tình hình triển khai trên thực tiễn.

Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, tính đến ngày 30/9/2015, chế định

TPL đã được tổ chức thí điểm tại 13 địa phương trên cả nước với 53 Văn phòng

TPL được thành lập, có 134 TPL, 295 Thư ký nghiệp vụ đang hành nghề tại các

Văn phòng. Về hoạt động, các Văn phòng TPL đã tống đạt được gần 940 ngàn văn

18

bản của Tòa án và cơ quan THADS, lập gần 43 ngàn vi bằng, xác minh điều kiện thi

hành án 885 việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, đạt tổng doanh thu là

gần 136 tỷ đồng. Hoạt động tống đạt của TPL đã giúp giảm tải công việc của tòa án

và các cơ quan THADS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét

xử và tổ chức thi hành án. Hoạt động lập vi bằng của TPL đã tạo thêm một công cụ

pháp lý để người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các

giao dịch dân sự, kinh tế và trong quá trình tố tụng. Đồng thời, vi bằng do TPL lập

cũng góp phần bổ sung nguồn chứng cứ, giúp các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của mình, hạn chế tranh chấp giữa các bên liên quan, tạo cơ sở để cơ

quan tài phán xem xét, giải quyết vụ việc một cách khách quan, đúng pháp

luật. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của TPL đã giúp người dân có thêm

công cụ hỗ trợ tích cực để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá

trình tổ chức thi hành án, góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS. Trong bối

cảnh chưa thể thay thế các cơ quan THADS thì đây là hoạt động bổ trợ tích cực cho

hoạt động của cơ quan THADS. Hoạt động trực tiếp tổ chức thi hành án của TPL đã

tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với mong muốn, niềm tin

của mình khi yêu cầu THADS; góp phần giảm tải cho cơ quan THADS, từ đó nâng

cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động này.

1.1.5. Giai đoạn từ năm 2016 đến nay

Từ kết quả triển khai thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số

24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội, Chính phủ đã tổ

chức tổng kết, kiến nghị Quốc hội cho phép TPL được hoạt động chính thức theo

quy định hiện hành của Chính phủ cho đến khi Quốc hội ban hành Luật TPL.

Ngày 26/11/2015, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 về

việc thực hiện chế định TPL, Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày

01/01/2016. Nghị quyết đã ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm

chế định TPL theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13

của Quốc hội; chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định TPL trong phạm vi

cả nước, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016; giao Chính phủ căn cứ tình hình thực tế

19

ở địa phương, tổ chức thực hiện chế định TPL trong phạm vi hành nghề theo quy

định hiện hành, có sự sửa đổi, bổ sung cần thiết để khắc phục những tồn tại, hạn chế

trong hoạt động TPL và chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo nghề TPL. Các tổ chức

TPL được thành lập theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số

36/2012/QH13 của Quốc hội tiếp tục hoạt động theo quy định của Nghị quyết này

cho đến khi Quốc hội ban hành Luật TPL. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến hết

năm 2017 đã phê duyệt Đề án thành lập Văn phòng TPL của 22 tỉnh, thành phố (TP

Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Bắc Ninh, Bình Thuận,

Đà Nẵng, Long An, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bình Phước, Cà Mau, Kiên Giang,

Khánh Hoà, Hải Dương, Gia Lai, Phú Yên, An Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Đắk

Lắk).

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số

135/2013/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực hiện chế

định TPL ở nước ta. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện, các Nghị định trên

đã phát sinh nhiều hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu

phát triển của TPL trong tình hình hiện nay nên ngày 08/01/2020 Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL thay thế các

Nghị định trên. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ra đời thể hiện rõ quan điểm, chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển chế định TPL ở

nước ta trong thời gian tới.

1.2. Khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn, đặc điểm, vai trò của Thừa phát lại

1.2.1. Khái niệm về Thừa phát lại

Theo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh (Nxb Trường Thi in lần thứ 3,

Sài Gòn, 1957) thì TPL là “người thuộc lại ở Toà án sơ cấp hay Toà án địa phương,

giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của tòa, hay là thu hồi

một tài sản v..v...”, tiếng Pháp gọi chung là Huisser. Tại Anh và một số nước Châu

Âu, Hoa Kỳ thì TPL được gọi chung là Bailiff - là một người có quyền năng pháp lý

để thực hiện một số công việc trong nội bộ Tòa án, thu hồi nợ theo quyết định hoặc

bản án của Tòa án. Tuy nhiên, tùy theo nội dung công việc được giao thực hiện,

20

chức danh TPL được phân chia ra nhiều ngạch khác nhau như: TPL đăng đường

(Hussier audiencier) chuyên phục vụ tại phiên tòa; Thừa phát trạng (expoloit

d’Hussier) chuyên tống đạt giấy tờ hoặc lập vi bằng; TPL ủy cử (Hussier commis)

là TPL được tạm thời cử ra để đảm nhiệm chức trách của TPL ở những địa phương

chưa có TPL [18, tr.14-15].

Theo Từ điển luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (NXB Tư

pháp, 2006), TPL là viên chức chuyên việc tống đạt giấy tờ và thi hành phán quyết

của Tòa án hay thu một sản vật.

Khái niệm chính thức về TPL được quy định quy định cụ thể tại Điều 2a của

Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt

động của TPL thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, được bổ sung bởi

Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung

tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; theo đó thì TPL là người

có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc

theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đến Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã sửa đổi lại

nội dung khái niệm về TPL rõ hơn; cụ thể: TPL là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà

nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện THADS, tổ

chức THADS theo quy định pháp luật. Đồng thời quy định tại Điều 6 Nghị định số

08/2020/NĐ-CP thì tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL: Là công dân Việt Nam không quá 65

tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất

đạo đức tốt; có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; có thời

gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có

bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; tốt nghiệp khóa đào

tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề

TPL; đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề TPL. Bộ trưởng Bộ Tư pháp là

người có thẩm quyền bổ nhiệm TPL trên cơ sở đề nghị của Sở Tư pháp các tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương.

So sánh với các quy định về TPL trước năm 1975, thì tiêu chuẩn bổ nhiệm

TPL được quy định chung là: “Để đảm bảo cho sự trung thực của TPL trong việc

21

lập các chứng thư, các TPL phải hội đủ một số điều kiện và tôn trọng một số quy tắc

làm việc, cụ thể là: Phải là người lương thiện; phải qua một kỳ thi chuyên nghiệp

hoặc đã nắm giữ một số chức vụ tư pháp, đảm bảo đủ trình độ chuyên môn và đạo

đức; phải tuyên thệ trước Tòa án; phải ký quỹ một số tiền để đảm bảo các khoản

tiền phạt mà họ có thể bị Tòa án bắt buộc phải nộp khi vi phạm lỗi trong khi thừa

hành nhiệm vụ” [16, tr.18-19]; hay theo quy định của Pháp về tiêu chuẩn TPL: TPL

phải từng là Thư ký trưởng tập sự trong hai năm, phải trúng tuyển một kỳ thi

chuyên nghiệp do Tổng trưởng Bộ Tư pháp ấn định chương trình và điều kiện thi.

Đối với những người từng là cựu Thẩm phán, Luật sư hoặc người có bằng cử nhân

luật thì được xem xét bổ nhiệm thẳng vào chức vụ TPL mà không phải thi [16,

tr.26-27], từ đó có thể thấy rằng điều kiện để được bổ nhiệm TPL theo pháp luật

Việt Nam hiện hành có tính chất tương tự như quy định trước đây và pháp luật Pháp

nhưng đã mở rộng hơn, đồng thời không bắt buộc phải từng là Thư ký TPL.

Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng có thể đưa ra khái

niệm chung nhất về TPL như sau: TPL là một chức danh bổ trợ tư pháp, là người

có đủ các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công

việc theo quy định của pháp luật, gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, lập vi bằng,

xác minh điều kiện thi hành án và thi hành phán quyết của Tòa án.

1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại

Theo quy định hiện hành, TPL có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 32 Nghị định số

08/2020/NĐ-CP, TPL thực hiện việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu theo quy định

pháp luật, bao gồm: Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ

quan THADS; giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh

vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

Thứ hai, lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Khoản 2

Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP). Theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL có quyền lập vi bằng ghi nhận các sự kiện, hành vi

có thật theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi toàn quốc, trừ các

22

trường hợp theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP (là các trường

hợp không được lập vi bằng: 1. Các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 4 của

Nghị định số 08/2020/NĐ-CP; vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng

bao gồm: Xâm phạm mục tiêu về an ninh, quốc phòng; làm lộ bí mật nhà nước, phát

tán tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước; vi phạm quy định ra, vào, đi lại

trong khu vực cấm, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn của công trình an ninh, quốc

phòng và khu quân sự; vi phạm quy định về bảo vệ bí mật, bảo vệ công trình an

ninh, quốc phòng và khu quân sự; vi phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật

gia đình theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Dân sự; trái đạo đức xã hội; xác nhận

nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định thuộc phạm

vi hoạt động công chứng, chứng thực; xác nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái

đạo đức xã hội của bảng dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài

hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; xác nhận chữ ký, bản sao đúng với bản

chính; ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng, quyền sở hữu đất đai, tài

sản không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu theo quy định của

pháp luật, ghi nhận sự kiện, hành vi để thực hiện các giao dịch trái pháp luật của

người yêu cầu lập vi bằng; ghi nhận sự kiện, hành vi của cán bộ, công chức, viên

chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ

quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan,

đơn vị thuộc Công an nhân dân đang thi hành công vụ; ghi nhận sự kiện, hành vi

không do TPL trực tiếp chứng kiến; các trường hợp khác theo quy định của pháp

luật .

Thứ ba, xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật (Khoản 3 Điều 3 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP). TPL có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc

đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi văn

phòng TPL đặt trụ sở; khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, TPL có

quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi văn phòng TPL đặt trụ sở (Điều 43 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP).

23

Thứ tư, trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của

đương sự. TPL được quyền tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với:

các bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận,

huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; bản án, quyết định sơ thẩm đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở;

bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt

trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án

nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối

với bản án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp

tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án

nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. TPL

không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng cơ quan

THADS chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 của

Luật THADS.

Bên cạnh đó, theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL không

còn được áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành

án theo quy định tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 của Luật THADS. Đây là một bước

lùi trong việc thực hiện chế định TPL; quy định trên có thể gây khó khăn cho hoạt

động của TPL trong thời gian tới do tâm lý của người dân, tổ chức cho rằng TPL sẽ

không thực hiện đến nơi, đến chốn, thực hiện “nửa vời”, không hiệu quả; các Văn

phòng TPL sẽ tìm cách né tránh, thậm chí là từ chối việc thi hành án đối với các vụ

việc phức tạp, khó có khả năng thi hành.

1.2.3. Đặc điểm của Thừa phát lại

Do quy định pháp luật về TPL ở mỗi quốc gia khác nhau mà phạm vi hoạt

động của TPL cũng khác nhau. Tuy nhiên, xuất phát từ địa vị pháp lý, các nhiệm vụ

và quyền hạn của TPL theo quy định pháp luật hiện hành thì TPL có một số đặc

điểm cơ bản sau:

Một là, TPL là một nghề nửa Nhà nước, nửa tư nhân, liên quan đến ngành tư

24

pháp. Theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL là người có đủ các tiêu chuẩn do

Nhà nước quy định, nhưng không phải là: Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ

luật Dân sự; người đã được bổ nhiệm công chứng viên, được cấp chứng chỉ hành

nghề luật sư, đấu giá, quản tài viên, được cấp thẻ thẩm định viên về giá mà chưa

miễn nhiệm công chứng viên, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, đấu giá, quản tài

viên, thẻ thẩm định viên về giá; người đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ

quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan,

đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị

thuộc Công an nhân dân; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị

kết án về tội phạm do vô ý, tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà chưa được xóa án

tích; người đã bị kết án về tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian

lận, gian dối, xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất

nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được

xóa án tích; cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công

nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, sĩ

quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân bị bãi

nhiệm, bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức, buộc thôi việc, tước danh hiệu

hoặc đưa ra khỏi ngành; người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh

sách luật sư của Đoàn luật sư do vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy tắc đạo đức

nghề nghiệp luật sư; người bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tước

quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ

ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó; người bị xử phạt

vi phạm hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên, thẻ

thẩm định viên về giá, chứng chỉ hành nghề đấu giá, chứng chỉ hành nghề quản tài

viên mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi

phạm hành chính đó; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc. TPL là người được Nhà nước bổ

nhiệm và trao quyền để thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan nhà nước (như Tòa án,

25

Viện Kiểm sát hoặc Cơ quan THADS, các cấp ở địa phương); Văn phòng TPL do

Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập và được Sở Tư

pháp cấp Giấy đăng ký hoạt động; hoạt động của Văn phòng TPL chịu sự kiểm tra,

thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Sở Tư pháp, Viện

Kiểm sát nhân dân.

Bên cạnh đó, Văn phòng TPL là tổ chức hành nghề của TPL, được thành lập

và hoạt động theo quy định pháp luật; Văn phòng TPL do 01 Thừa phát lại thành

lập được tổ chức theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng TPL do 02 Thừa

phát lại trở lên thành lập được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh; được tự do

hoạt động theo quy định pháp luật; tự chủ về tài chính.

Hai là, TPL là một trong các chức danh bổ trợ tư pháp giống tên gọi của một

số chức danh tư pháp khác như: Thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, công chứng

viên… Mặc dù TPL không phải là công chức làm việc trong cơ quan tư pháp, không

phải người đại diện cho nhà nước nhưng là người phải có đầy đủ các tiêu chuẩn

theo quy định và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm theo một trình tự, thủ tục;

được Nhà nước trao quyền để nhân danh một số cơ quan nhà nước khi thực hiện các

công việc thay cho cơ quan nhà nước như việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu (bao

gồm: Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS;

giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của

cơ quan có thẩm quyền nước ngoài); xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ

chức thi hành án theo quy định pháp luật về tố tụng, thi hành án.

Bên cạnh đó, với chức năng lập vi bằng, TPL đã góp phần rất quan trọng

trong việc bổ sung nguồn chứng cứ cho các cơ quan và người tiến hành tố tụng

trong quá trình tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng công tác xét xử của cơ quan tư

pháp.

Ba là, hoạt động của TPL vừa mang tính chất hành chính, tố tụng, vừa mang

tính chất pháp lý. Đặc điểm này xuất phát từ các nhiệm vụ mà TPL mà pháp luật

quy định; đó là việc thực hiện các công việc thay cho cơ quan nhà nước, xác minh

điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án. Là một chức danh tư pháp và

26

các hoạt động tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án hay vi bằng được lập bởi

TPL luôn chứa đựng các sự kiện được sử dụng làm chứng cứ trong hầu hết các quan

hệ pháp lý hoặc làm chứng cứ trong các hoạt động xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, để

đảm bảo hoạt động tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án hay vi bằng có giá trị

pháp lý thì TPL phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Bốn là, hoạt động của TPL mang tính chất nghề nghiệp tự do. Thừa phát lại

là người hành nghề tự do, không phải là công chức, không hưởng lương từ ngân

sách nhà nước, hoạt động không theo chế độ công vụ nhưng khi thực hiện một số

công việc lại có quyền như những cán bộ, công chức. Theo quy định của pháp luật,

TPL thực hiện công việc của mình theo yêu cầu của khách hàng và không bị giới

hạn về thời gian, địa điểm trong hoạt động và được hưởng thù lao từ khách hàng.

Năm là, TPL hoạt động theo những nguyên tắc về quy chế hoạt động, đạo

đức nghề nghiệp mà pháp luật quy định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền.

1.2.4. Vai trò của Thừa phát lại

TPL giữ vai trò là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về

tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án và tổ

chức thi hành án. Vai trò của TPL đối với hoạt động tư pháp, đời sống xã hội thể

hiện thông qua các mối quan hệ của TPL với một chức danh tư pháp, cơ quan tư

pháp và với người dân, tổ chức trong việc thực hiện các nhiệm vụ của TPL theo quy

định của pháp luật, cụ thể như sau:

Một là, đối với Tòa án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, trong hoạt động xét xử,

hiện nay ở cấp tỉnh và cấp huyện, các vụ án thụ lý giải quyết hàng năm rất lớn và có

xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp, tạo áp lực rất lớn

cho các cơ quan Tòa án trong điều kiện phải tinh giản biên chế, kinh phí hoạt động

còn hạn chế. Việc TPL ra đời đã hỗ trợ cho Thư ký Tòa án trong việc thực hiện hoạt

động tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Bên cạnh đó, vai trò của TPL với Tòa án còn

được thể hiện thông qua việc sử dụng các vi bằng do các TPL lập như là chứng cứ.

Chứng cứ có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền, lợi ích

27

hợp pháp của các đương sự trong các vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 6,

khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì các đương sự có quyền và

nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn

cứ và hợp pháp và khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ cung cấp

chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên,

trên thực tế để các đương sự thực hiện được việc tự thu thập và xác lập chứng cứ là

rất khó khăn. Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành chưa quy định một cơ chế thật sự

hữu hiệu giúp cho các đương sự có thể thu thập được các chứng cứ một cách hiệu

quả để Tòa án sử dụng để làm cơ sở giải quyết các vụ án. Do đó, việc xác lập chứng

cứ chứng minh thông qua hoạt động lập vi bằng của TPL đã góp phần hỗ trợ Tòa

án, thẩm phán trong hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án, bảo vệ được các quyền,

lợi ích hợp pháp của các đương sự theo quy định pháp luật. Khoản 3 Điều 36 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP quy định Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét

khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ

để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp

luật.

Hai là, đối với Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên, TPL hỗ trợ Viện

kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu trong

việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp theo quy định của Luật

Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa TPL với Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là quan hệ

giữa một bên chịu sự kiểm sát và bên kiểm sát. Theo quy định tại Điều 73 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP thì hoạt động tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án,

Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS, hoạt động xác minh điều kiện thi hành án

và tổ chức thi hành án của TPL chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân theo

quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, pháp luật tố tụng, pháp luật

THADS.

Ba là, đối với Chấp hành viên, cơ quan THADS:

Thứ nhất, TPL hỗ trợ Chấp hành viên của các cơ quan THADS trong việc

28

tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu. Trong những năm gần đây, số lượng vụ việc mà

các cơ quan THADS thụ lý, giải quyết ngày càng tăng, gây áp lực rất lớn với cơ

quan nhà nước. Theo quy định của Luật Thi hành án, trong mỗi vụ việc THADS

Chấp hành viên phải tống đạt nhiều loại văn bản, giấy tờ các loại như: Giấy báo,

giấy mời, thông báo, quyết định …, trong trường hợp cưỡng chế THADS thì mỗi vụ

việc phải tiến hành tống đạt khoảng 15 loại văn bản, giấy tờ, tài liệu khác nhau. Để

góp phần giải quyết tình trạng quá tải cho Chấp hành viên, giúp các cơ quan

THADS nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, Văn phòng TPL được quyền thỏa

thuận để tống đạt văn bản Cơ quan THADS các cấp trên địa bàn tỉnh. Với lượng

việc ngày càng tăng, tính chất ngày càng phức tạp. Việc TPL hỗ trợ Chấp hành viên

trong việc tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đã giúp Chấp hành viên tập

trung vào công tác chuyên môn, góp phần hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, Hoạt động TPL với các quy định pháp luật cụ thể về xác minh điều

kiện thi hành án sẽ giúp người dân có đủ bằng chứng chứng minh điều kiện thi hành

án của người phải thi hành án, góp phần hỗ trợ, giảm tải hoạt động của cơ quan

THADS, đồng thời giúp hoạt động THADS đạt hiệu quả hơn. Theo quy định tại

Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL có quyền xác minh điều kiện thi

hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan THADS trên địa

bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Khi thực hiện việc xác minh điều kiện

thi hành án, TPL có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt

trụ sở. Các kết quả xác minh điều kiện thi hành án do TPL thực hiện được các

đương sự sử dụng để yêu cầu Chấp hành viên hoặc TPL thi hành án bản án của Tòa.

Theo quy định pháp luật hiện hành thì đương sự có quyền yêu cầu Văn phòng TPL

xác minh điều kiện THADS trong trường hợp vụ việc đó đang được cơ quan

THADS trực tiếp thụ lý và tổ chức thi hành.

Thứ ba, việc trực tiếp thi hành các bản án, quyết định của Tòa án được pháp

luật giao cho cơ quan THADS trước khi có TPL. Khi áp lực các vụ việc thi hành án

ngày càng tăng trong điều kiện tinh giản biên chế hành chính, việc tổ chức hệ thống

TPL và giao cho lực lượng này được trực tiếp thi hành án sẽ giúp cho Chấp hành

29

viên giảm tải công việc thi hành án, góp phần giải quyết tình trạng án tồn đọng kéo

dài ở một số địa phương, địa bàn. TPL, Chấp hành viên phải phối hợp với nhau

trong việc cung cấp thông tin, thông báo, xác minh điều kiện thi hành án và thanh

toán tiền thi hành án. TPL, Chấp hành viên có thể chấp nhận đề nghị bảo lưu kết

quả trước đó của đương sự để làm căn cứ tiếp tục tổ chức thi hành án.

Bốn là, đối với hoạt động tư pháp nói chung và liên quan, hoạt động TPL đã

bước đầu hỗ trợ tích cực cho các hoạt động tư pháp được nhanh hơn, hiệu quả hơn,

góp phần giảm tải công việc, chi phí của các cơ quan tư pháp, trước hết là của Tòa

án và cơ quan THADS. Đối với các cơ quan THADS, việc thực hiện các công việc

về tống đạt văn bản thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, trực tiếp tổ chức thi

hành án của TPL đã nâng cao ý thức trách nhiệm của các cơ quan THADS, tạo cơ

chế vừa phối hợp, hỗ trợ vừa cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực thi hành án, bước

đầu góp phần hạn chế một số hoạt động tiêu cực trong thi hành án.

1.2.5. Phân biệt Thừa phát lại với chấp hành viên

Theo quy định pháp luật hiện hành thì TPL và cơ quan Thi hành án dân sự

hiện nay có điểm giống nhau là cùng có chức năng thực hiện việc xác minh điều

kiện thi hành án và tổ chức thi hành án khi có yêu cầu của đương sự đối với các bản

án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án nhân dân. Khi tổ chức thi hành án

TPL có quyền như Chấp hành viên quy định tại Điều 20 của Luật thi hành án Dân

sự, trừ quy định tại khoản 9, khoản 10 Điều 20 của Luật thi hành án Dân sự và thẩm

quyền xử phạt vi phạm hành chính; khi thực hiện nhiệm vụ TPL hay Chấp hành

viên đều phải thực hiện đúng trình tự, thủ tục, tuân thủ các quy định của pháp luật

về thi hành án, và đều chịu sự kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân theo quy định

của Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và quy định pháp luật liên quan.

Tuy nhiên, nếu như cơ quan Thi hành án dân sự là cơ quan nhà nước, mọi

hoạt động đều được ngân sách nhà nước cấp, thì TPL không phải là cơ quan nhà

nước, mọi chi phí cho hoạt động đều phải tự lo.

1.3. Pháp luật về Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay

30

1.3.1. Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại

Thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội, ngày 24/7/2009, Chính phủ đã

ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, đồng thời, ngày 19/02/2009, Thủ tướng

Chính phủ ban hành Quyết định số 224/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Thực hiện thí

điểm chế định TPL tại thành phố Hồ Chí Minh”.

Qua thời gian thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, để có cơ sở

đánh giá toàn diện hơn về hoạt động TPL, làm cơ sở để Quốc hội, Chính phủ xem

xét, đưa ra chủ trương, chính sách phù hợp về phát triển chế định TPL trong thời

gian tới, ngày 18/10/2013 của Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP

về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; theo

đó đã mở rộng phạm vi thí điểm chế định TPL ra một số tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương; sửa đổi một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP cho phù

hợp với việc mở rộng phạm vi thí điểm; sửa đổi, bổ sung một số quy định về tổ

chức và hoạt động của TPL cho thống nhất, phù hợp với các văn bản pháp luật hiện

hành và tình hình triển khai trên thực tiễn.

Từ kết quả triển khai thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số

24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội; ngày 26/11/2015,

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 chấm dứt việc thí điểm và

cho thực hiện chế định TPL trong phạm vi cả nước, kể từ ngày 01 tháng 01 năm

2016.

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số

135/2013/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức thực hiện chế

định TPL ở nước ta. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện, các Nghị định trên

đã phát sinh nhiều hạn chế, bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu

phát triển của TPL trong tình hình hiện nay nên ngày 08/01/2020 Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL thay thế các

Nghị định trên. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ra đời thể hiện rõ quan điểm, chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc phát triển chế định TPL ở

nước ta trong thời gian tới.

31

1.3.2. Pháp luật về Thừa phát lại theo quy định hiện hành

Tổ chức và hoạt động của TPL hiện nay được điều chỉnh bởi Nghị định số

08/2020/NĐ-CP; theo đó Nghị định này quy định về TPL, tổ chức hành nghề của

TPL; thẩm quyền, phạm vi, thủ tục thực hiện công việc của TPL; kiểm sát hoạt

động của TPL; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp và quản lý nhà nước về TPL.

So với Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và Nghị định số

135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của

Nghị định số 61/2009/NĐ-CP thì Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có một số quy định

mới về Thừa phát lại như sau:

Thứ nhất, quy định mới về tập sự và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề TPL,

Điều 8 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định người có Chứng chỉ tốt nghiệp đào

tạo nghề hoặc giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề hoặc quyết định

công nhận tương đương đào tạo nghề TPL ở nước ngoài đăng ký tập sự hành nghề

TPL Sở Tư pháp nơi Văn phòng TPL nhận tập sự đặt trụ sở. Thời gian đào tạo là 06

tháng, bồi dưỡng là 03 tháng. Người đã hoàn thành tập sự tham dự kiểm tra kết quả

tập sự do Bộ Tư pháp tổ chức.

Thứ hai, nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL, so với quy định tại Điều 10

Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Điều 6 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định nhiều

điểm mới về tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL. Theo đó, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP giới

hạn độ tuổi bổ nhiệm TPL là “không quá 65 tuổi”; giảm tiêu chuẩn về thời gian

công tác pháp luật từ 05 năm xuống còn 03 năm, và quy định cụ thể: “thời gian

công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt

nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật”. Đồng thời, không còn quy

định về bổ nhiệm TPL đối với người đã từng là Thẩm phấn, Kiểm sát viên, Luật sư;

Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên. Ngoài ra,

thay vì tiêu chuẩn “có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề Thừa phát

lại” theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP, Nghị định 08/2020/NĐ-CP quy định tiêu

chuẩn“tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn

thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại” và “đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự

32

hành nghề”. Như vậy, so với quy định hiện hành, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP

nâng cao hơn tiêu chuẩn của TPL.

Thứ ba, quy định mới về trường hợp không được bổ nhiệm, bao gồm:

- Người bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong

nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật Dân sự.

- Người đã được bổ nhiệm công chứng viên, được cấp chứng chỉ hành nghề

luật sư, đấu giá, quản tài viên, được cấp thẻ thẩm định viên về giá mà chưa miễn

nhiệm công chứng viên, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, đấu giá, quản tài viên,

thẻ thẩm định viên về giá.

- Người đang là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên

nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND, sĩ

quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc CAND.

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án về tội phạm

do vô ý, tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà chưa được xóa án tích; người đã bị kết

án về tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm

phạm an ninh quốc gia, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được xóa án tích.

- Người quy định tại khoản 3 Điều này bị bãi nhiệm, bị xử lý kỷ luật bằng

hình thức cách chức, buộc thôi việc, tước danh hiệu hoặc đưa ra khỏi ngành.

- Người bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư của

Đoàn luật sư do vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật

sư; người bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng chứng

chỉ hành nghề luật sư mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành xong

quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó.

- Người bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức tước quyền sử dụng

thẻ công chứng viên, thẻ thẩm định viên về giá, chứng chỉ hành nghề đấu giá, chứng

chỉ hành nghề quản tài viên mà chưa hết thời hạn 03 năm, kể từ ngày chấp hành

xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính đó.

- Người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai

33

nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung trường hợp bị miễn nhiệm, so với quy định hiện

hành tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Khoản 2 Điều 13 Nghị

định số 08/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số trường hợp TPL bị miễn nhiệm,

bao gồm: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của

Bộ luật Dân sự; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở

cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; không đăng ký và hành nghề TPL

trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm; không hành nghề TPL liên tục từ

02 năm trở lên (quy định hiện nay là “Không hành nghề Thừa phát lại kể từ ngày

được bổ nhiệm từ 6 tháng trở lên, trừ trường hợp có lý do chính đáng”); hết thời hạn

tạm đình chỉ hành nghề TPL tối đa mà lý do tạm đình chỉ vẫn còn; v phạm nghiêm

trọng Quy tắc đạo đức nghề nghiệp TPL; bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ

hai trong hành nghề Thừa phát lại mà còn tiếp tục vi phạm (quy định hiện nay là

“Đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ 2 trong hoạt động hành nghề TPL

mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý vi phạm bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến

lần thứ 2 mà còn tiếp tục vi phạm”); đang là TPL mà kiêm nhiệm hành nghề công

chứng, luật sư, thẩm định giá, đấu giá tài sản, quản lý, thanh lý tài sản.

Thứ năm, quy định mới về bổ nhiệm lại, theo đó, Điều 14 quy định: Người

được miễn nhiệm theo nguyện vọng được xem xét bổ nhiệm lại khi có đề nghị.

Người bị miễn nhiệm chỉ được xem xét bổ nhiệm lại khi đáp ứng đủ tiêu chuẩn và

lý do miễn nhiệm không còn; trừ trường hợp bị miễn nhiệm do đã bị kết án về tội

phạm do vô ý, tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà chưa được xóa án tích, đã bị kết

án về tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm

phạm an ninh quốc gia, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm

đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, kể cả trường hợp đã được xóa án tích thì không được

bổ nhiệm lại TPL.

Người bị miễn nhiệm do không đăng ký và hành nghề trong thời hạn 01 năm,

kể từ ngày được bổ nhiệm hoặc do không hành nghề liên tục từ 02 năm trở lên chỉ

được đề nghị bổ nhiệm lại sau thời hạn 01 năm, kể từ ngày Quyết định miễn nhiệm

34

có hiệu lực.

Thứ sáu, quy định mới về đăng ký hành nghề thừa phát lại, khoản 4 Điều 12

Nghị định số 61/2009/NĐ-CP quy định Bộ Tư pháp cấp thẻ Thừa phát lại. Tuy

nhiên, Điều 15 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định Văn phòng TPL nộp hồ sơ

đăng ký hành nghề và cấp Thẻ cho TPL đến Sở Tư pháp nơi Văn phòng đặt trụ sở.

Sở Tư pháp ghi tên người được đăng ký hành nghề vào Danh sách TPL hành nghề

tại địa phương và cấp Thẻ Thừa phát lại.

Kết luận chương 1

TPL là một chức danh bổ trợ tư pháp đã có từ rất lâu, là người có đủ các tiêu

chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định

của pháp luật, gồm tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; lập vi bằng; xác minh đều kiện

thi hành án và thi hành phán quyết của Tòa án; hoạt động của TPL vừa mang tính

chất hành chính, tính pháp lý và tính nghề nghiệp tự do. Tổ chức và hoạt động của

TPL chịu sử quản lý, giám sát của Nhà nước. Chủ thể quản lý nhà nước đối với TPL

là các cơ quan nhà nước, gồm Chính phủ, Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và

Sở Tư pháp. Pháp luật về TPL ngày càng được hoàn thiện nhằm tao ra khuân khổ

pháp lý để phát triển chế định TPL ở Việt Nam theo chủ trương của Đảng, Nhà

35

nước đối với chế định này.

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA THỪA PHÁT LẠI TẠI TỈNH ĐỒNG NAI

2.1. Tổng quan về tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh nằm trong khu vực miền Đông Nam Bộ của Việt Nam,

vùng đất nối liền giữa Nam Bộ, cực nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên, có vị trí

quan trọng, là cửa ngõ phía đông thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế

lớn của cả phía Nam, có nhiều tuyến giao thông huyết mạch đi qua như quốc lộ 1A,

quốc lộ 51 và tuyến đường sắt Thống Nhất… kết nối Nam Trung Bộ, Nam Tây

Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ. Tỉnh Đồng Nai được xem là “bản lề chiến

lược” giữa bốn vùng kinh tế của các tỉnh phía Nam. Nó không chỉ có vai trò trọng

yếu trong phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết hợp an ninh,

quốc phòng và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam. Tỉnh Đồng Nai là

địa bàn có nhiều thành phần dân tộc sinh sống, trong đó có nhiều dân tọc thiểu số.

Theo số liệu thống kê, đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 30 dân tộc

sinh sống qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau với dân số khoảng trên 3,2 triệu

người.

Từ năm 2015 đến năm 2017, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân

mỗi năm tăng 8,03%. Năm 2018, kinh tế tỉnh Đồng Nai tiếp tục tăng trưởng cao

(GRDP) đạt 8,1%, GRDP bình quân đầu người đạt 4.226 USD. Cơ cấu kinh tế đang

chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của các ngành dịch vụ có chất lượng cao,

giá trị gia tăng lớn, có lợi thế cạnh tranh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9%,

trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,16%; giá trị sản xuất nông,

lâm, thủy sản tăng 3,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ đạt 162,5

ngàn tỷ đồng.

Công nghiệp ở Đồng Nai phát triển mạnh (đến ngày 31/12/2018, tỉnh Đồng

36

Nai có 32 khu công nghiệp đã được thành lập; huy động vốn đầu tư phát triển toàn

xã hội đạt 90.000 tỷ đồng; thu hút đầu tư trong nước đạt trên 27.800 tỷ đồng, đạt

278,5% kế họach năm; đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt trên 1.800 triệu USD...

Các lĩnh vực văn hóa xã hội, chính sách, an sinh xã hội tiếp tục được triển

khai đồng bộ, năm 2018 giải quyết việc làm cho trên 87.000 lượt người; tỷ lệ đóng

bảo hiểm y tế đạt trên 84,5%; giảm 0,2% tỷ lệ hộ nghèo, giảm 0,11% tỷ lệ hộ cận

nghèo. Vấn đề quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và giáo dục, đào tạo thực hiện các chính sách

đối với người có công, giảm nghèo được quan tâm; tích cực xây dựng Đảng, hệ

thống chính trị chính quyền vững mạnh.

Cùng với sử phát triển về kinh tế, Đồng Nai cũng là địa phương có tình trạng

vi phạm pháp luật diễn ra nhiều, phức tạp; theo số liệu thống kê của ngành Tòa án,

giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019, Tòa án cấp tỉnh và cấp huyện đã thụ lý

85.645 vụ, giải quyết được 82.596 vụ, đạt tỉ lệ 96.4%; trong đó riêng án dân sự, hôn

nhân, kinh doanh, phá sản, hành chính và lao động đã thụ lý 72.075 vụ, đã giải

quyết 69.109 vụ. Số vụ việc vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh có xu hướng ngày

càng tăng đã gây áp lực rất lớn đối với ngành Tòa án tỉnh Đồng Nai.

2.2. Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại tỉnh Đồng Nai

từ khi thí điểm đến nay

2.2.1. Xây dụng và hoàn thiện pháp luật về Thừa phát lại

Để phát huy những kết quả đạt được, đưa TPL đến gần với người dân, đóng

vai trò là công cụ hữu ích, hỗ trợ người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và quá trình tố tụng tư pháp; để đáp ứng

yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 107/2015/QH13; Quyết

định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế

hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định

TPL.

Căn cứ Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và Nghị định số

37

135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của

Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, UBND tỉnh Đồng Nai

đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để chỉ đạo, quán triệt và tổ chức triển khai thực

hiện nghiêm nhằm hình thành và phát triển các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh.

Tuy nhiên, đến nay tỉnh Đồng Nai vẫn chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật

nào liên quan đến tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh. Qua quá trình tổ

chức thực hiện, đòi hỏi tỉnh Đồng Nai cần ban hành các văn bản quy phạm pháp

luật nhằm cụ thể hóa các chủ trương, chính sách mang tính chất hỗ trợ, thúc đầy

phát triển TPL như: Quy định về chính sách khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của các

Văn phòng TPL; quy chế, quy định phối hợp trong quản lý nhà nước đối với tổ chức

và hoạt động của Văn phòng TPL …

2.2.2. Về tổ chức Thừa phát lại

Với quyết tâm đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động Bổ trợ Tư pháp, tỉnh

Đồng Nai đã chỉ đạo, đưa ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm phát triển mạnh tổ

chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có tổng số

34 TPL được Bộ Tư pháp bổ nhiệm, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã miễn nhiệm 05

TPL theo yêu cầu, nguyện vọng; có 05 Văn phòng TPL hoạt động ổn định từ năm

2014 thuộc địa bàn thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh, huyện Long

Thành, huyện Trảng Bom và huyện Nhơn Trạch; có 13 TPL đang hành nghề tại 05

Văn phòng TPL. Trong tổng số 05 Văn phòng TPL thì có 03 Văn phòng có từ trên

02 TPL đăng ký hoạt động, 02 Văn phòng có 01 TPL đăng ký hoạt động [34], [35],

[36], [37], [38].

Về nguồn nhân lực, tổng số nhân lực đang làm việc tại 05 Văn phòng TPL

65 người, trong đó có 13 TPL; 39 Thư ký nghiệp vụ và 13 nhân viên hành chính, kế

toán, bảo vệ..; trung bình 01 Văn phòng TPL có 2.6 TPL, 7.8 Thư ký nghiệp vụ và

2.6 nhân viên hành chính; trong đó, Văn phòng TPL số nhân sự cao nhất với 02

TPL, 24 thư ký nghiệp vụ và 05 nhân viên hành chính; Văn phòng có nhân sự ít

nhất với 02 TPL, 02 thư ký nghiệp vụ và 02 nhân viên hành chính. Đội ngũ TPL

đang hành nghề là những người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý,

38

trong đó phần lớn đã từng là Luật sư, Thẩm phán, Chấp hành viên… Nhìn chung, số

lượng TPL nói riêng, nhân sự phục vụ hoạt động của Văn phòng TPL đã đáp ứng

được nhu cầu thực tế; đội ngũ TPL là những người có tâm huyết, trách nhiệm và

tích cực đi tham gia hoạt động TPL từ khi thực hiện thí điểm, chấp nhận khó khăn,

thách thức để thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước. Bên

cạnh TPL, còn có đội ngũ Thư ký nghiệp vụ đa số là người có chuyên môn là cử

nhân Luật giúp các TPL trong việc tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh và tổ

chức thi hành án. Đội ngũ TPL, Thư ký nghiệp vụ đang ngày càng được kiện toàn,

nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, tích cực tham gia các lớp tập huấn, bồi

dưỡng nghiệp vụ do Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và Cục Thi hành án tổ chức, phục vụ

tốt nhu cầu dịch vụ pháp lý cho người dân [34], [35], [36], [37], [38].

Qua 05 năm hoạt động các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã

khẳng định sự cần thiết của chế định TPL, khẳng định nhu cầu của xã hội đối với

hoạt động TPL thông qua số lượng việc do TPL thực hiện cũng như doanh thu mà

hoạt động này đạt được hàng năm. Hoạt động của các Văn phòng TPL như lập vi

bằng để củng cố chứng cứ, tạo niềm tin trong giao dịch dân sự và làm cơ sở để bảo

vệ quyền lợi của cá nhân trong giải quyết tranh chấp tại Tòa án đã được người dân

đón nhận tích cực. Các hoạt động tống đạt văn bản, xác minh điều kiện thi hành án

và tổ chức thi hành án đã hỗ trợ cho cơ quan Thi hành án, Tòa án, làm giảm áp lực

công việc, nâng cao hiệu quả hoạt động cho các cơ quan tư pháp.

2.2.3. Về hoạt động của Thừa phát lại

Theo quy định, TPL được thực hiện các công việc: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài

liệu theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan THADS, giấy tờ, hồ

sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có

thẩm quyền nước ngoài; lập vi bằng; xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ

chức thi hành án. Kết quả cụ thể trong 04 lĩnh vực hoạt động của TPL như sau:

2.2.3.1. Hoạt động tống đạt văn bản của Tòa án, Viện Kiểm sát và cơ quan thi

hành án dân sự

Theo quy định pháp luật hiện hành, TPL thực hiện việc tống đạt giấy tờ, hồ

39

sơ, tài liệu theo quy định pháp luật, bao gồm: Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Tòa án,

Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan THADS; giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến

tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. So

với Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Nghị định số 135/2013/NĐ-CP thì Nghị định

trên mở rộng hơn phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của TPL, theo đó TPL có quyền

tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Viện Kiểm sát nhân dân.

Từ năm 2015 đến năm 2019, các Văn phòng TPL đã tống đạt được 151.221

giấy tờ, hồ sơ, tài liệu (Tòa án: 55.112 giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; cơ quan THADS:

9.370 giấy tờ, hồ sơ, tài liệu), doanh thu là 42.599.617.000đồng (xem Bảng 2.1).

Trong đó, 01 Văn phòng tại thành phố Biên Hòa đã tống đạt được 71.902 giấy tờ,

hồ sơ, tài liệu, thu 5.984.600.000 đồng (chiếm 48% số lượng giấy tờ, hồ sơ, tài liệu

tống đạt của cả tỉnh; 44% số tiền thu được); 04 Văn phòng còn lại tống đạt được

79.319 giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, thu được 7.621.796.000 đồng [34], [35], [36], [37],

[38]. Số liệu về tống đạt văn bản của các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng

Nai kể từ năm 2015 - 2019 cho thấy doanh thu từ tống đạt chiếm tỉ trọng lớn (56%)

trong các hoạt động của TPL.

Riêng đối với việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của Viện Kiểm sát nhân

dân và giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân

sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì đây là công việc mới được bổ sung

cho TPL theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP và mới chỉ thực hiện

bước đầu từ ngày 24/02/2020 (ngày Nghị định số 08/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi

hành), các Văn phòng TPL đang tiến hành thủ tục ký kết hợp đồng với cơ quan

Viện kiểm sát, cơ quan có thẩm quyền nước ngoài để thực hiện việc giấy tờ, hồ sơ,

tài liệu theo quy định.

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả hoạt động của Thừa phát lại từ năm 2015 - 2019

Đơn vị tính doanh thu: 1000 đồng

Tống đạt Lập vi bằng Thi hành án Xác minh điều kiện thi hành án Năm

Doanh thu Doanh thu Số lượng Doanh thu Số lượng Doanh thu

40

Số lượng 55.112 4.990.869 Số lượng 9.370 778.050 24 67.714 17 316.600 2015

2016 2017 2018 2019 Tổng 26.699 13.347 13.249 42.814 151.221 2.465.669 1.232.835 1.167.583 3.749.440 13.606.396 1.214 607 7.102 709 19.002 1.171.200 585.600 5.695.340 562.750 8.792.940 9.000 3 4.500 2 6.000 1 0 0 30 87.214 63.203 12 31.602 6 17.536 1 5 2.005 41 430.946

Từ kết quả thực hiện tống đạt cả về số lượng cũng như doanh thu trong thời

gian qua cho thấy trung bình mỗi năm các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh thực

hiện tống đạt 30.244 giấy tờ, hồ sơ, tài liệu các loại, doanh thu trung bình

8.519.923.400 đồng; trong đó, năm 2015 và năm 2019 có số lượng giấy tờ, hồ sơ,

tài liệu tống đạt cao nhất lần lượt là 55.112 giấy tờ, hồ sơ, tài liệu và 42.814 giấy tờ,

hồ sơ, tài liệu. Hoạt động tống đạt là hoạt chính và mang lại nguồn thu chính cho

các Văn phòng TPL (chiếm 56%, xem Biểu đồ 2.2). Từ kết quả hoạt động đã cho

thấy nhu cầu, năng lực cũng như những nỗ lực, tích cực của các Văn phòng TPL và

sự tin tưởng, hỗ trợ của Tòa án và cơ quan THADS cho hoạt động này của TPL.

Qua kết quả thực hiện cho thấy, hoạt động tống đạt của TPL đã giảm tải công

việc của Tòa án, cơ quan thi hành án; giúp các cơ quan này có thời gian tập trung

vào công tác xét xử, quản lý nhà nước về thi hành án, góp phần nâng cao chất

lượng, hiệu quả công tác xét xử và thi hành án; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

các bên khi tham gia tố tụng, góp phần làm tăng số lượng vụ việc được Tòa án, cơ

quan thi hành án giải quyết đúng thời hạn quy định, những hạn chế của việc gửi văn

bản tố tụng qua đường bưu chính cơ bản đã được khắc phục. Bên cạnh đó, với cơ

quan THADS, việc tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của TPL còn giúp bảo đảm

quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình tổ chức thi hành án, giảm khiếu

nại, tố cáo trong hoạt động THADS.

41

Biểu đồ 2.2: Tỉ trọng doanh thu giữa các loại hoạt động của TPL

Đến nay tại tỉnh Đồng Nai cũng đã xuất hiện thêm nhu cầu từ phía người

dân, doanh nghiệp trong việc tống đạt các văn bản, thông báo liên quan đến giao

dịch, hợp đồng dân sự (thông báo đòi tiền; thông báo việc chấm dứt cho thuê đất,

thuê nhà, tài sản; thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng; ghi nhận các thỏa

thuận hợp tác …).

Về kinh phí tống đạt, theo quy định hiện hành mặc dù kinh phí cho hoạt động

tống đạt văn bản của Tòa án, Viện kiểm sát và một số trường hợp tống đạt văn bản

của cơ quan THADS do TPL thực hiện vẫn do ngân sách nhà nước phải chi trả.

Theo quy định pháp luật hiện hành thì kinh phí tống đạt của Tòa án, Viện kiểm sát

do ngân sách nhà nước chi trả, còn trong hoạt động THADS, do người phải thi hành

án chịu, trừ trường hợp ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án

chịu; đồng thời, các bên đương sự phải nộp án phí, lệ phí Tòa án (trong xét xử) và

phí thi hành án, chi phí cưỡng chế (trong thi hành án).

Tuy nhiên, việc giao TPL tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu đã góp phần

giảm tải công việc để tập trung vào chuyên môn, đảm bảo cho hoạt động tư pháp,

trước hết là hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát hoạt động hiệu quả, đúng pháp

luật. Xét ở góc độ tài chính, nếu xem xét một cách toàn diện, lâu dài thì việc Tòa án,

42

Viện Kiểm sát, cơ quan THADS giao giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho TPL tống đạt còn

hiệu quả hơn nhiều so với tổng số kinh phí mà nhà nước đầu tư, chi trả cho hoạt

động tống đạt do cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan THADS thực hiện.

2.2.3.2. Hoạt động lập vi bằng

Theo theo kết, tổng hợp kết quả hoạt động của TPL từ khi thực hiện thí điểm

trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến nay, lập vi bằng là hoạt động mang lại hiệu quả cao

tại các Văn phòng TPL, là hoạt động được người dân ủng hộ, đón nhận nhanh và

tích cực nhất. Từ năm 2015 đến năm 2019, các Văn phòng TPL đã lập và đăng ký

tại Sở Tư pháp 19.002 vi bằng, thu 8.792.940.000 đồng (xem Bảng 2.1). Trong đó,

01 Văn phòng TPL tại thành phố Biên Hòa đã lập được 7.208 vi bằng, thu được

7.283.830.000 đồng (chiếm 38% về số lượng vi bằng của cả tỉnh; 83% về tiền); 04

Văn phòng còn lại đã lập 11.794 vi bằng, thu được 1.509.110.000 đồng[34], [35],

[36], [37], [38]. Doanh thu từ việc lập vi bằng cũng chiếm tỉ trọng khá cao trong

tổng doanh thu các hoạt động của Văn phòng TPL, chỉ sau hoạt động tống đạt, cụ

thể, trong giai doạn từ 2015 đến 2019, tỉ trọng doanh thu từ việc lập vi bằng chiếm

42% tổng doanh thu các hoạt động của Văn phòng TPL (xem Biểu đồ 2.2).

Nội dung của vi bằng lập trên nhiều lĩnh vực như: Ghi nhận các hành vi thực

hiện giao dịch, thỏa thuận; ghi nhận, mô tả hiện trạng bất động sản; ghi nhận hành

vi, thời điểm diễn ra các giao dịch dân sự; ghi nhận việc xảy ra các sự kiện liên

quan đến động sản, bất động sản; ghi nhận hành vi giao tiền, tài sản, giấy tờ, hồ sơ,

tài liệu ... Sự đa dạng về nội dung lập vi bằng, số lượng vi bằng được lập và đăng ký

theo quy định pháp luật trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua cho thấy sự cần

thiết, nhu cầu chính đáng của cá nhân, tổ chức trong việc xác lập, tạo lập các chứng

cứ thông qua hình thức lập vi bằng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình là rất lớn;

phục vụ hiệu quả cho các hoạt động sản xuất. kinh doanh, thương mại, dân sự của tổ

chức, cá nhân trong xã hội; TPL đã đáp ứng tốt nhu cầu trên và ngày càng được

người dân, tổ chức biết đến, tin tưởng và sử dụng phổ biến, hiệu quả.

Việc lập vi bằng của TPL đã góp phần bổ sung nguồn chứng cứ, giúp các

bên đương sự chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh; cơ

43

quan tài phán có đầy đủ chứng cứ để xem xét, giải quyết vụ việc một khách quan,

đúng pháp luật; đồng thời cũng góp phần hạn chế phát sinh các tranh chấp giữa các

bên liên quan trong đời sống xã hội.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 2, Điều 36 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP

thì vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do TPL trực tiếp chứng kiến,

lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định pháp luật; vi bằng

không thay thế văn bản công chứng, văn bản chứng thực, văn bản hành chính khác.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng đã quy định cụ thể các trường hợp không được lập vi

bằng (Điều 37 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP). Đối chiếu với các quy định của

pháp luật công chứng, chứng thực thì có thể thấy, việc TPL lập vi bằng không làm

ảnh hưởng, chồng chéo với hoạt động công chứng, chứng thực theo quy định của

Luật Công chứng năm 2014; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của

Chính phủ về chứng thực và các văn bản pháp luật liên quan. Ngược việc lập vi

bằng có thể giúp lấp đầy khoảng trống pháp lý trong việc xác lập tính hợp pháp đối

với các giao dịch, thỏa thuận, ghi nhận các sự kiện mà chưa được pháp luật quy

định.

Có thể thấy, trong số bốn chức năng của TPL được thực hiện theo quy định

của phát luật hiện nay thì chức năng lập vi bằng đang là xu thế được người dân, tổ

chức, cơ quan trên địa bàn tỉnh đón nhận mạnh mẽ nhất; việc lập vi bằng mang lại

hiệu quả tốt, đã đáp ứng được nhu cầu rất lớn, phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh

vực khác nhau của người dân, tổ chức trên địa bàn tỉnh và đã dần trở thành một nhu

cầu trong các hoạt động dân sự, kinh doanh, thương mại.

2.2.3.3. Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án

Theo quy định hiện hành, TPL có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà

vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh

nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án,

TPL có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Hoạt

động xác minh điều kiện THADS về bản chất của xác minh điều kiện thi hành án

chính là tìm kiếm thông tin liên quan đến điều kiện tài sản của đương sự. Khi khách

44

hàng yêu cầu sẽ TPL tiến hành xác minh các điều kiện thi hành án theo quy định

pháp luật. Bởi trong THADS, về nguyên tắc, người được thi hành án phải cung cấp

cho cơ quan THADS các thông tin về điều kiện tài sản của người phải thi hành án.

Trong quá trình thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của

khách hàng, TPL có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải cung cấp đầy

đủ, chính xác các thông tin tương tự thẩm quyền của Chấp hành viên.

Từ năm 2015 đến năm 2019, các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

đã thực hiện xác minh điều kiện thi hành án 30 vụ, doanh thu là 87.214.000 đồng,

trong đó các Văn phòng tại thành phố Biên Hòa đã xác minh 28 vụ việc, thu

78.857.000 đồng (chiếm 93% vụ việc, 90% doanh thu của các Văn phòng trên địa

bàn tỉnh, xem Bảng 2.1); các Văn phòng còn lại đã tiến hành xác minh 02 vụ việc,

doanh thu 8.357.000 đồng [34], [35], [36], [37], [38].

Số liệu kết quả về xác minh điều kiện thi hành án cho thấy, trung bình mỗi

năm các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh chỉ tiến hành xác minh thi hành án 06 vụ

việc; tỉ trọng doanh thu từ hoạt động xác minh điều kiện thi hành án trong các hoạt

động của TPL cũng rất thấp, chỉ 0.2% (xem Biểu đồ 2.2); trong đó, năm có số

lượng vụ việc xác minh cao nhất là năm 2015 với 24 vụ việc và có năm thậm chí

không có vụ việc nào (năm 2019). Kết quả thực hiện từ năm 2015 đến nay có chiều

hướng đi xuống do yêu cầu của người dân đối với TPL trong lĩnh vực này chưa

nhiều; việc xác minh điều kiện thi hành án của TPL vẫn còn gặp nhiều khó khăn

chung của công tác THADS và còn có khó khăn riêng đối với TPL như: Trong phối

hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; quy định pháp luật chưa rõ, chưa đồng

bộ, chưa đủ cơ sở để đảm bảo TPL thực hiện hiệu quả công việc này …

Theo quy định tại Điều 7 Luật THADS năm 2008, được sửa đổi, bổ sung tại

khoản 4 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS năm 2014,

người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh,

cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; thông tin

xác minh điều kiện thi hành án chỉ được sử dụng cho mục đích thi hành bản án,

quyết định có hiệu lực pháp luật và được bảo quản theo chế độ mật theo quy định

45

của pháp luật. Mặc dù vẫn còn những hạn chế nhất định nhưng việc thực hiện xác

minh điều kiện thi hành án của TPL cũng đã góp phần hỗ trợ người dân chủ động

trong việc thu thập thông tin, yêu cầu thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ

chức thi hành các bản án, quyết định của cơ quan Thi hành án nhanh chóng, hiệu

quả hơn.

Qua kết quả THADS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua cho thấy, với

điều kiện kinh tế, xã hội, cơ chế quản lý, vấn đề công khai tài sản chưa được hoàn

thiện, minh bạch, sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan để người được

thi hành án có thể tự thực hiện xác minh là chưa hiệu quả và gây khó khăn rất lớn

cho người được thi hành án và cả Chấp hành viên. Với sự ra đời các Văn phòng

TPL, trong đó có chức năng xác minh điều kiện thi hành án, về lâu dài, bên cạnh lựa

chọn Chấp hành viên, người dân có thêm công cụ quan trọng để hỗ trợ tích cực cho

việc tổ chức xác minh điều kiện thi hành án, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình,

góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác THADS, giúp cho việc tổ chức thi

hành các bản án, quyết định của Tòa án được nghiêm chỉnh theo đúng quy định tại

Điều 106 Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Thi hành án

dân sự và các văn bản pháp luật liên quan; đồng thời đây cũng là hoạt động bổ trợ

cho hoạt động thi hành án của cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

2.2.3.4. Hoạt động tổ chức thi hành án

Theo quy định tại Điều 51 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, TPL được quyền tổ

chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sơ thẩm

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc

tỉnh và tương đương; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa

án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; bản án, quyết định phúc thẩm

của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở đối với bản án, quyết

định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện; bản án,

quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định sơ

thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL

đặt trụ sở; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với

46

bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án

nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 57, 58 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP,

trường hợp phải áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

theo quy định của Luật THADS thì TPL chấm dứt thi hành án và phải thông báo

cho Chi cục THADS hoặc Cục THADS đã ra quyết định thi hành án về việc chấm

dứt thi hành án; thanh lý hợp đồng dịch vụ về thi hành án và chuyển toàn bộ hồ sơ

thi hành án sang cơ quan THADS có thẩm quyền tổ chức thi hành án theo quy định

của Luật THADS. Tức là TPL không được áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện

pháp cưỡng chế thi hành án như quy định pháp luật trước đây.

Từ năm 2015 đến năm 2019, các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

đã trực tiếp tổ chức thi hành án 41 vụ việc, thu được 430.946.000 đồng (xem Bảng

2.1); trong đó, 01 Văn phòng TPL tại thành phố Biên Hòa đã trực tiếp tổ chức thi

hành được 29 vụ việc, thu được 396.260.000 đồng (chiếm 71% về vụ việc; 92%

doanh thu của tất cả các Văn phòng trong tỉnh Đồng Nai); các Văn phòng TPL còn

lại đã thi hành 12 vụ việc, thu được 34.686.000 đồng; doanh thu từ hoạt động tổ

chức thi hành án cũng chiếm tỉ trọng nhỏ (1.8%) trong tổng doanh thu của các Văn

phòng TPL trên địa bàn tỉnh [34], [35], [36], [37], [38].

Số liệu về trực tiếp tổ chức thi hành án tại tỉnh Đồng Nai cho thấy, trung bình

mỗi năm, các Văn phòng TPL đã trực tiếp tổ chức thi hành được 41 vụ việc, trong

đó, năm 2015 có số lượng vụ việc được thi hành án cao nhất là 17 vụ việc và năm

2011 có số vụ việc thấp nhất là 01 vụ việc. Trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm

2018 số vụ việc TPL tổ chức thi hành án không nhiều, có chiều hướng giảm (từ 17

vụ xuống còn 01 vụ), nguyên nhân chính là xuất phát từ quy định pháp luật, từ khả

năng tổ chức thực hiện của các Văn phòng TPL và sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ

quan liên quan. Tuy nhiên, đến năm 2019, số vụ việc TPL tổ chức thi hành án có xu

hường tăng lên nhưng còn thấp (05 vụ).

Theo thống kê của cơ quan THADS tỉnh Đồng Nai, trong giai đoạn từ năm

2015 đến năm 2019, đã thụ lý 91.843 vụ việc, thi hành xong được 85.539 vụ việc,

47

trung bình hàng mỗi năm thụ lý 18.368 vụ; các vụ việc tồn đọng nhưng còn điều

kiện thi hành là 113.760 vụ việc; trong khi tổng biên chế của ngành chỉ có 190

người, trong đó có 91 Chấp hành viên, còn lại là các thẩm tra viên, thư ký thi hành

án, công chức khác [17]. Hàng năm trung bình mỗi Chấp hành viên phải thực hiện

trên 194 vụ việc, dẫn đến tình trạng quá tải tại nhiều cơ quan THADS kể cả cấp tỉnh

và cấp huyện, án tồn đọng qua nhiều năm. Với sự ra đời của TPL, người dân có

quyền lựa chọn dịch vụ thi hành án tốt nhất, kịp thời đáp ứng nhu cầu chính đáng

của người dân; các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành một cách chính

xác, nhanh chóng, đúng quy định pháp luật. Hiện nay, TPL chia sẻ trách nhiệm với

hệ thống cơ quan THADS, gánh một phần trách nhiệm về tổ chức thi hành án; giảm

tải cho cơ quan THADS, đồng thời góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của các

cơ quan THADS, tạo cơ chế vừa phối hợp, hỗ trợ vừa tạo ra sự cạnh tranh một cách

lành mạnh; từ đó sẽ nâng cao hiệu quả công tác THADS, bảo đảm thực hiện yêu

cầu, nguyên tắc có tính hiến định đã được quy định trong Điều 106 Hiến pháp năm

2013, đó là mọi bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án phải được tôn trọng và

nghiêm chỉnh chấp hành.

Bên cạnh đó, khi phân tích kết quả của hoạt động thi hành án của TPL cho

thấy, trong các vụ việc chấm dứt thi hành án do người phải thi hành án đã thực hiện

xong các nghĩa vụ thi hành án, TPL đã thực hiện tốt hơn việc giải thích, thuyết phục

để người phải thi hành án tự nguyện thi hành, hạn chế được việc phải áp dụng biện

pháp, huy động lực lượng để thực hiện cưỡng chế thi hành án. Do đó, mặc dù số

lượng vụ việc trực tiếp thi hành án xong còn khá khiêm tốn, nhưng kết quả hoạt

động này thời gian vừa qua phần nào cho thấy được khả năng của các Văn phòng

TPL trong việc trực tiếp tổ chức thi hành án và việc giao cho các Văn phòng TPL tổ

chức thi hành án là có cơ sở, phù hợp với nhu cầu của người dân và tình hình thực

tiễn hiện nay.

2.2.4. Quản lý nhà nước về Thừa phát lại

2.2.3.1. Ban hành chính sách, pháp luật về Thừa phát lại

Căn cứ Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ

48

chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, Nghị

định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung tên

gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP; Quyết định số 510/QĐ-TTg

ngày 25/3/2013 Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Tiếp tục thực hiện

thí điểm chế định TPL”, ngày 24/6/2013 Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết

định số 1531/QĐ-BTP về việc chọn 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực

hiện mở rộng thực hiện thí điểm chế định TPL trong đó có tỉnh Đồng Nai. Sau đó,

trên cơ sở Đề án của tỉnh Đồng Nai, ngày 12/9/2013, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp đã ban

hành Quyết định số 2278/QĐ-BTP phê duyệt Đề án thí điểm chế định TPL trên địa

bàn tỉnh Đồng Nai. Theo đó, tỉnh Đồng Nai được quy hoạch thành lập từ 04 đến 05

Văn phòng TPL. Sau đó, UBND tỉnh Đồng Nai cũng đã ban hành Quyết định

4078/QĐ-UBND ngày 12/12/2013 Quy định tiêu chí và cách thức thẩm định Hồ sơ

đề nghị thành lập Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để làm cơ sở xem xét,

thành lập các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh.

Để phát huy những kết quả đạt được, đưa TPL đến gần với người dân, đóng

vai trò là công cụ hữu ích, hỗ trợ người dân tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

mình trong thực hiện các giao dịch dân sự và quá trình tố tụng tư pháp; để đáp ứng

yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 107/2015/QH13; Quyết

định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Kế

hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định

TPL, với quyết tâm đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động Bổ trợ Tư pháp, tỉnh

Đồng Nai đã chỉ đạo, đưa ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm phát triển mạnh tổ

chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh.

Mặc dù Trung ương và Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Ban Chỉ đạo

đã ban hành một số Văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, văn bản chỉ đạo các sở,

ban, ngành tại địa phương nâng cao trách nhiệm, phối hợp triển khai thực hiện,

hướng dẫn trong tổ chức và hoạt động TPL; Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai đã tích cực

phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Cục THADS và các cơ

quan liên quan để trao đổi thông tin, hướng dẫn giải quyết những khó khăn, vướng

49

mắc, kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót, hỗ trợ các hoạt động của các Văn phòng

TPL trên địa bàn tỉnh và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tiễn

ban hành các văn bản pháp luật về TPL cũng còn một số hạn chế, bất cập sau:

Một là, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP nhưng

pháp luật hiện hành chưa tạo cho TPL một địa vị pháp lý rõ ràng, cần có. Việc ban

hành văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL vẫn còn chưa thống nhất,

vướng mắc, bất cập; các quy định pháp luật trong một số lĩnh vực liên quan đến

hoạt động TPL vẫn chưa đồng bộ, thống nhất.

Hai là, hiện nay văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt

động của TPL có hiệu lực pháp lý chưa cao. Hiện nay, văn bản pháp lý cao nhất quy

định về tổ chức và hoạt động của TPL mới chỉ dừng lại ở Nghị định của Chính phủ

nên trong quá trình áp dụng pháp luật khó tránh khỏi mâu thuẫn, xung đột về nội

dung giữa Nghị định với các văn bản liên quan các ngành khác, đồng thời văn bản

hướng dẫn là Thông tư, Thông tư liên tịch, Công văn… nên hiệu lực pháp lý không

cao, làm hạn chế hiệu lực hoạt động của TPL.

Ba là, ở địa phương, mặc dù Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã kịp

thời ban hành một số Văn bản pháp luật, chỉ thị, văn bản chỉ đạo các sở, ban, ngành

tại địa phương nhằm nâng cao trách nhiệm, phối hợp triển khai thực hiện, hướng

dẫn trong tổ chức và hoạt động TPL trên địa bàn tỉnh nhưng vẫn chưa đáp ứng được

như cầu, quan hệ xã hội phát sinh cần điều chỉnh, nhất là các quy định pháp luật liên

quan đến quan hệ phối hợp giữa các cơ quan liên quan với TPL.

2.2.3.2. Hướng dẫn nghiệp vụ, bồi dưỡng, đào tạo Thừa phát lại

Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tổ chức

cho các TPL tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về TPL do Bộ Tư pháp đã tổ

chức. Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai cũng đã chủ động tổ chức tập

huấn, tọa đàm, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật về TPL cho các cán bộ,

công chức, viên chức thuộc các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh cấp huyện;

thường xuyên hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho TPL, nhất là trình tự, thủ

tục tống đạt văn bản, lập vi bằng.

50

Ngoài ra, nhiều ấn phẩm, tài liệu giới thiệu, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ

biến về Thừa phát đã được biên soạn và phát hành cấp phát cho TPL, Thư ký và

một số cơ quan tư pháp tham khảo.

Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được trong thời gian qua thì hoạt động

TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn là hoạt động mới, pháp luật về TPL nói chung

và tình Đồng Nai nói riêng chưa đầy đủ, hoàn thiện nên việc tổ chức các lớp tập

huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về hoạt động của TPL còn khá khiêm tốn, việc bồi

dưỡng chưa thường xuyên, chưa đảm bảo về yêu cầu nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ

dẫn đến trong quá trình tác nghiệp, nhiều TPL và thư ký nghiệp vụ còn lúng túng,

không kịp thời đưa ra phương án giải quyết; mặt khác, do đội ngũ TPL cũng thường

có sự thay đổi, thư ký thực hiện việc tống đạt thường biến động mạnh nên công tác

bồi dưỡng về nghiệp vụ và quản lý nhân sự còn gặp nhiều khó khăn.

2.2.3.3. Bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại; cấp, thu hồi thẻ Thừa phát lại;

cho phép thành lập, giải thể Văn phòng Thừa phát lại

Một là, Sở Tư pháp đã tiến hành thẩm định, đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ

nhiệm được 34 TPL thuộc tỉnh, miễn nhiệm 05 TPL theo yêu cầu, nguyện vọng,

chiếm tỉ lệ 5% tổng số TPL đã được bổ nhiệm.

Hai là, Sở Tư pháp đã tiến hành thẩm định, tham mưu UBND tỉnh thành lập

được 05 Văn phòng TPL. Trên cơ sở các quy định do Ủy ban nhân dân các tỉnh

Đồng Nai ban hành về tiêu chí và việc thẩm định hồ sơ thành lập, đăng ký hoạt

động Văn phòng; sau đó, Sở Tư pháp đã thẩm định, cấp Giấy đăng ký hoạt động

cho 05 Văn phòng TPL và hoạt động ổn định từ năm 2014 đến nay. Các Văn phòng

TPL được đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc tốt, hoạt động ngày càng

chuyên nghiệp, bài bản. Điều đó thể hiện mong muốn, sự quyết tâm, tích cực ủng hộ

của người dân, các tổ chức và những người làm nghề TPL đối với chủ trương của

Đảng, Nghị quyết của Quốc hội đối với việc phát triển chế định này trên địa bàn

tỉnh Đồng Nai.

2.2.3.4. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại,

tố cáo, tranh chấp về tổ chức và hoạt động Thừa phát lại

51

Hoạt động kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp nhằm

bảo vệ quyền lợi của hợp pháp của cá nhân, tổ chức là một trong những nhiệm vụ

quan trọng trong quản lý nhà nước. Trước đây, theo quy định tại Điều 68 Nghị định

số 135/2013/NĐ-CP và hiện này là theo Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, Sở Tư pháp

giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về TPL tại địa phương, có

các nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành kiểm tra, thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo

về TPL theo quy định của pháp luật. TPL có hành vi vi phạm thì tùy theo tính chất,

mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm

hình sự, bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định pháp luật.

Từ năm 2015 đến năm 2019, Sở Tư pháp đã tiến hành kiểm tra về tình hình

tổ chức và hoạt động của tất cả 05 Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Qua

kiểm tra phát hiện một số hạn chế về điều kiện hoạt động; không chấp hành đúng

quy định về việc thay đổi địa điểm hoạt động; không ký kết hợp đồng dịch vụ khi

thực hiện lập vi bằng; lập vi bằng khi TPL không trực tiếp chứng kiến sự kiện, hành

vi; lập vi bằng ghi nhận việc mua bán đất; lưu trữ hồ sơ chưa đảm bảo …Bên cạnh

đó, Sở Tư pháp và cơ quan có thẩm quyền cũng thường xuyên theo dõi, giám sát

hoạt động của TPL qua đó đã phát hiện các hạn chế, sai sót và kiến nghị cơ quan,

người có thẩm quyền chấn chỉnh, yêu cầu khắc phục kịp thời theo quy định pháp

luật. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra tổ chức và hoạt động của Văn phòng

TPL chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể nên thực hiện cũng còn khó khăn, hạn chế

và Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia

đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị

định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ cũng không quy định về

các hành vi vi phạm hành chính trong tổ chức và hoạt động của TPL nên chưa có

chế tài để xử lý sai phạm theo quy định.

2.2.3.5. Về giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Từ năm 2015 đến năm 2019, Sở Tư pháp chỉ tiếp nhận 01 đơn tố cáo liên

quan đến hoạt động nghiệp vụ lập vi bằng của TPL, cụ thể là việc lập vi bằng mua

52

bán đất vi phạm pháp luật. Qua xác minh, thu thập hồ sơ tài liệu liên quan thể hiện

TPL đã lập vi bằng ghi nhận việc các bên giao tiền. Tuy nhiên, trong vi bằng có nội

dung thể hiện mục đích là để mua bán đất không phù hợp quy định pháp luật về đất

đai, công chứng, chứng thực và đã được người có thẩm quyền giải quyết, chấn

chỉnh, khắc phục những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của TPL theo quy định.

2.3. Nhận xét, đánh giá về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại tại

tỉnh Đồng Nai từ khi thí điểm đến nay

2.3.1. Kết quả đạt được

Mặc dù vẫn còn một số tồn tại, hạn chế song kết quả về tổ chức và hoạt động

của TPL trong thời gian qua đã khẳng định Nghị quyết số 36/2012/QH13 đã được

Chính phủ, các Bộ, ngành và tỉnh Đồng Nai thực hiện nghiêm túc và bước đầu

mang lại những tín hiệu tích cực. Chủ trương của Đảng về thí điểm và đưa TPL

hoạt động chính thức ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng đã được thể

chế hóa, kiểm nghiệm trên thực tế, đã và đang từng bước đi vào cuộc sống, được

người dân, xã hội đón nhận. Thông qua đó đã cho thấy, việc thí điểm, cho hoạt động

chính thức và phát triển TPL là một hướng đi đúng về cải cách tư pháp, phù hợp với

thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội và hoạt động tư pháp của nước ta nói chung, tỉnh

Đồng Nai nói riêng cũng như xu thế hội nhập quốc tế. Đây là một nội dung, giải

pháp quan trọng về cải cách tư pháp đề ra tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ

Chính trị đã được tỉnh Đồng Nai triển khai thực hiện thành công bước đầu.

53

Biểu đồ 2.3: Tình hình hoạt động của Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chế định TPL đã tạo cơ chế thúc đẩy tính chủ động, tích cực của công dân,

tổ chức trong các quan hệ dân sự. Trong đó, việc lập vi bằng của TPL đã được

người dân trên địa bàn tỉnh đón nhận hết sức tích cực vì đã tạo thêm một công cụ

pháp lý hữu hiệu để người dân, tổ chức tự bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của

mình khi tham gia vào các giao dịch dân sự, kinh tế và trong quá trình tố tụng. Bên

cạnh đó, sự hiện diện của TPL bên cạnh các cơ quan THADS của Nhà nước đã

tạo điều kiện để người dân trên địa bàn tỉnh có thêm lựa chọn phù hợp với năng lực,

điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, tổ chức khi yêu cầu THADS. Kết quả khảo sát

của tác giả về hoạt động của TPL cho thấy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, đa số người

dân khi được hỏi ý kiến đều cho rằng sẵn sàng sử dụng dịch vụ TPL, thể hiện:

Trong tổng số 477 phiếu trả lời, có đến 65,4% (312/477 phiếu) cho rằng sẵn sàng sử

dụng dịch vụ của Văn phòng TPL. Trong tổng số 477 ý kiến cho rằng sẵn sàng sử

dụng dịch vụ TPL với lý do chất lượng phục vụ chiếm 60,1% (287/477 phiếu); 21%

ý kiến cho rằng sẵn sàng sử dụng dịch vụ TPL vì có thể chủ động thỏa thuận cách

thức, giá cả, thời gian, lựa chọn đơn vị thực hiện; 18,9% ý kiến cho rằng sẵn sàng

sử dụng dịch vụ TPL vì có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với hoạt động tư pháp, việc thí điểm, thực hiện chính thức chế định TPL

không cản trở mà còn hỗ trợ, giúp cho hoạt động tư pháp của tỉnh Đồng Nai đúng

pháp luật, hiệu quả hơn; góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ

trợ tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân tỉnh Đồng Nai đã

đề ra. Thông qua thực hiện chế định TPL trên địa bàn tỉnh thời gian qua, ý thức,

trách nhiệm, sự đóng góp nguồn lực của người dân, xã hội đối với hoạt động bổ trợ

tư pháp nói chung ngày càng được nâng cao; giảm tải bớt công việc cơ quan nhà

nước, bớt đi gánh nặng ngân sách, góp phần tinh giản biên chế đội ngũ cán bộ, công

chức theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW.

Việc tổ chức triển khai thực hiện chính thức chế định TPL trên địa bàn tỉnh

Đồng Nai thời gian qua đã giúp nhận diện rõ hơn bản chất, tính đặc thù của TPL và

làm rõ, khẳng định tính khả thi của chế định này; đồng thời, đưa ra được phương án

54

thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước ta, đặc

biệt là trong lĩnh vực THADS, giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là trong lĩnh

vực THADS.

Bên cạnh đó, hoạt động của TPL cũng đã bước đầu góp phần bảo đảm môi

trường pháp lý lành mạnh; bảo vệ quyền, lợi ích của các bên khi tham gia các quan

hệ dân sự, kinh tế, góp phần tạo môi trường ổn định, từ đó thúc đẩy kinh tế - xã hội

phát triển. Xét về mặt hiệu quả tác động đến xã hội, hoạt động của TPL, nhất là hoạt

động lập vi bằng là công cụ để người dân, doanh nghiệp có thể tự bảo vệ mình trong

quá trình tham gia các giao dịch dân sự, xác lập chứng cứ để bảo vệ mình trong quá

trình hòa giải, thương lượng, giải quyết tranh chấp hoặc xét xử; góp phần gia tăng

giá trị pháp lý, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Việc thực hiện TPL tạo ra một loại dịch vụ pháp lý mới trong xã hội và là

bước đầu tiên trong việc thực hiện xã hội hóa hoạt động THADS, từng bước khẳng

định vị trí, vai trò của TPL trong đời sống xã hội và trong hoạt động bổ trợ tư pháp.

Ngoài ra, với vai trò là một hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý

các Văn phòng TPL đã góp phần giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cho người

dân trên địa bàn tỉnh và bổ sung nguồn thu cho ngân sách cho tỉnh Đồng Nai.

2.3.2. Hạn chế, vướng mắc, bất cập

- Về thể chế, mặc dù Chính phủ đã quan tâm, nỗ lực trong việc xây dựng và

hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của TPL nhưng nhìn tổng thể, thể chế

này chưa tương xứng và đồng bộ với thể chế về hoạt động tố tụng, thi hành án, kiểm

sát nên còn nhiều vấn đề khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong quá trình tổ chức,

phối hợp thực hiện.

- Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL

do Trung ương ban hành vẫn còn vướng mắc, bất cập, chưa thống nhất, chưa kịp

thời, ví dụ như:

.+ Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định những trường hợp được cấp lại

thẻ TPL gồm trường hợp bị mất, bị hỏng nhưng đối với các trường hợp do sai sót thì

không có quy định được cấp lại nên khi xảy ra sai sót thì không có quy định thủ tục

để thực hiện.

55

+ Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-

CP thì Văn phòng TPL do 01 TPL thành lập được tổ chức theo loại hình doanh

nghiệp tư nhân; Văn phòng TPL do 02 TPL trở lên thành lập được tổ chức theo loại

hình công ty hợp danh và người đại diện theo pháp luật của Văn phòng TPL là

Trưởng Văn phòng TPL. Việc quy định người đại diện theo pháp luật của Văn

phòng TPL là Trưởng Văn phòng TPL chỉ phù hợp với loại hình Văn phòng TPL do

một TPL thành lập còn đối với trường hợp Văn phòng TPL do 02 TPL trở lên thành

lập (thuộc loại hình công ty hợp danh) là chưa phù hợp vì theo quy định tại Điều

179 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì loại hình Công ty Hợp danh có thể có nhiều

hơn một người đại diện theo pháp luật; các thành viên hợp danh đều có quyền đại

diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công

ty.

+ Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định về hồ sơ, thủ tục chuyển đổi loại

hình hoạt động từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty hợp danh và ngược lại; tuy

nhiên, đối với trường hợp chuyển từ loại hình công ty hợp danh sang doanh nghiệp

tư nhân thì không quy định trong hồ sơ phải có các tài liệu thể hiện sự đồng ý của

các thành viên hợp danh là chưa phù hợp vì về mặt pháp lý thì các thành viên hợp

danh đều có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh

doanh hằng ngày của công ty.

+ Văn phòng TPL được thành lập, tổ chức theo loại hình doanh nghiệp tư

nhân, công ty hợp danh, theo quy định tại Khoản 5 Điều 7 Nghị định số

08/2020/NĐ-CP thì Văn phòng TPL không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện,

cơ sở, địa điểm giao dịch ngoài trụ sở của Văn phòng TPL. Trong giai đoạn thí

điểm việc quy định như trên là cần thiết; tuy nhiên, sau khi đã cho phép hoạt động

chính thức, việc quy định như trên đã vô tình hạn chế năng lực, khả năng đối trường

hợp các Văn phòng TPL thực sự có khả năng, nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động

để phục vụ người dân và tổ chức, nhất là những nơi chưa thành lập Văn phòng TPL.

+ Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, trong đó

đã quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TPL, những việc TPL

không được làm…hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh cũng đạt được nhiều kết quả

56

tích cực nhưng vẫn xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật nhưng Nghị định số

110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP không

có quy định về các chế tài để xử lý vi phạm hành chính đối với hoạt động TPL nên

việc thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý nhà nước đối với TPL chưa thực

sự hiệu quả.

+ Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ban hành và có hiệu lực từ ngày 24/02/2020

nhưng có nhiều quy định liên quan về điều kiện thành lập, hoạt động; chi phí hoạt

động TPL; Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của TPL ... chưa có văn bản quy định chi

tiết, hướng dẫn thi hành nên gây khó khăn cho việc thực hiện hoặc không thể thực

hiện được.

+ Theo quy định của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì TPL không còn được

áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo

quy định tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 của Luật THADS. Đây là một bước lùi trong

việc thực hiện chế định TPL; quy định trên có thể gây khó khăn cho hoạt động của

TPL trong thời gian tới do tâm lý của người dân, tổ chức cho rằng TPL sẽ không

thực hiện đến nơi, đến chốn, thực hiện “nửa vời”, không hiệu quả; các Văn phòng

TPL sẽ tìm cách né tránh, thậm chí là từ chối việc thi hành án đối với các vụ việc

phức tạp, khó có khả năng thi hành.

- Về công tác tổ chức thực hiện, mặc dù tỉnh Đồng Nai đã thực hiện tốt công

tác quán triệt, chỉ đạo tổ chức thực hiện phát triển chế định TPL, đẩy mạnh truyền

thông, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TPL nhưng còn nhiều cơ quan, tổ chức,

người dân chưa hiểu rõ chức năng của các Văn phòng TPL, hiểu sai giá trị pháp lý

đối với dịch vụ mà Văn phòng TPL cung cấp, đặc biệt là giá trị pháp lý của vi bằng

nên còn e ngại, thiếu sự phối hợp đối với các Văn phòng TPL.

- Hoạt động TPL còn gặp nhiều khó khăn về cơ chế tài chính, mặc dù tỉnh

Đồng Nai đã quan tâm nhưng sự hỗ trợ và tạo điều kiện. Tuy nhiên, các chính sách

hỗ trợ và tạo điều kiện mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ về thể chế và tuyên truyền,

vận động, chưa có những hỗ trợ cụ thể, thiết thực về vật chất cho hoạt động của các

Văn phòng TPL để khuyến khích, tạo động lực phát triển như: Hỗ trợ về cơ sở vật

chất, tài chính ...

57

- Hiệu quả hoạt động của các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh chưa cao.

Theo thống kê, khảo sát, nghiên cứu các báo cáo tài chính hàng năm của các Văn

phòng TPL trên địa bàn tỉnh cho thấy doanh thu trung bình của các Văn phòng TPL

hàng năm chưa cao (916.700.000 đồng/năm trong giai đoạn từ năm 2015 đến 2019);

lợi nhuận sau thuế còn thấp.

- Các VP TPL trên địa bàn tỉnh hoạt động không đồng đều về doanh thu, các

hoạt động của TPL, chủ yếu tập trung tại VP TPL tại Biên Hòa, các Văn phòng

khác hoạt động cầm chừng và có hiện tượng thực hiện các dịch vụ ngoài phạm vi

hoạt động của TPL hoặc chưa được pháp luật quy định cụ thể như tư vấn, hỗ trợ

pháp luật không chính thức ... nhằm tăng doanh thu, duy trì hoạt động của các Van

phòng TPL.

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc, bất cập

2.3.3.1. Về nguyên nhân khách quan

Một là, cơ sở lý luận, pháp lý, chính sách phát triển chế định TPL mới được

chính thức đi vào hoạt động trở lại nên vẫn đang trong quá trình tiếp tục nghiên cứu,

xây dựng, hoàn thiện, vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên thể chế về TPL chưa hoàn

thiện, chưa thể ban hành đạo luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, đồng bộ với các bộ

luật, các luật có liên quan để điều chỉnh về vấn đề này. Hiện nay, cơ sở pháp lý cao

nhất cho việc thí điểm là Nghị quyết của Quốc hội với những quy định mang tính

chất chủ trương, còn tổ chức và hoạt động của TPL chỉ được quy định tại Nghị định

của Chính phủ; nhiều quy định pháp luật trong các lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là

pháp luật về tố tụng, tòa án, kiểm sát, tài chính... chưa đồng bộ, thống nhất, còn

thiếu, thậm chí còn là rào cản cho hoạt động của TPL.

Hai là, hiện nay, mặc dù TPL đã hoạt động chính thức do địa bàn rộng, điều

kiện kinh tế - xã hội, văn hóa khác nhau, có nơi không thuận lợi, nhu cầu sử dụng

dịch vụ của người dân không nhiều; hiểu biết của nhân dân về TPL có sự khác biệt

lớn giữa các địa phương, theo kết quả khảo sát ngẫu nhiên người dân, tổ chức trên

địa bàn tỉnh thì tỉ lệ người biết về thí điểm TPL trung bình chỉ là 37,5%, (cao nhất là

trên địa bàn thành phố Biên Hóa với tỉ lệ 55%, ở Nhơn Trạch chỉ đạt tỉ lệ 20%.

Bên cạnh đó, do đặc điểm dân cư tỉnh Đồng Nai, có nhiều dân tộc cùng sinh

58

sống (31 dân tộc), trong đó có nhiều dân tộc thiểu số; trong khi người bản địa sinh

sống ở Đồng Nai không nhiều, đa số là người từ miền bắc và miền trung di cư vào

Đồng Nai sinh sống, làm việc qua nhiều giai đoạn lịch sử. Về mặt tâm lý chung của

người miền bắc, miền trung, khi có vấn đề liên quan đến pháp lý thì thường chỉ đến

cơ quan nhà nước để yêu cầu hỗ trợ, can thiệp, giải quyết; còn tâm lý e ngại, chưa tin

tưởng, sử dụng các dịch vụ pháp lý do tư nhân thực hiện nói chung và TPL nói riêng

nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của TPL.

Ba là, chi phí liên quan đến hoạt động của TPL đã được quy định; trong đó,

chi phí tổ chức thi hành án thì thực hiện theo quy định của Luật THADS; việc áp

dụng như với cơ quan thi hành án là không phù hợp vì phần lớn chi phí hoạt động

do nhà nước đầu tư, chi trả, trong khi các Văn phòng TPL phải tự đầu tư, trang trải

chi phí hoạt động nên ảnh hưởng đến lợi nhuận của Văn phòng TPL, gây khó khăn

về tài chính cho hoạt động của các Văn phòng TPL.

Bốn là, mặc dù nhà nước có chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động của

TPL trong thời gian thí điểm; đến nay đã hết thời gian thí điểm, Văn phòng TPL

phải chấp hành các chính sách thuế theo quy định hiện hành; trong khi doanh thu,

lợi nhuận từ hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh còn thấp, chưa thu hút, tạo được

động lực để đầu tư phát triển hoạt động TPL.

Năm là, trong giai đoạn thí điểm và thời gian bắt đầu thực hiện chính thức,

các công việc mà TPL thực hiện có tính chất tố tụng, thủ tục chặt chẽ và trong một

số trường hợp phải sử dụng biện pháp cưỡng chế, đặc biệt là việc thực hiện chức

năng thi hành án nhưng việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan để thực

hiện chưa kịp thời nên việc thực hiện gặp nhiều khó khăn.

2.3.3.2. Về nguyên nhân chủ quan

Một là, mặc dù đã từng tồn tại ở Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói

riêng nhưng có khoảng thời gian dài chế định TPL không tồn tại, phát triển nên nó

trở nên khá mới mẻ với người dân, tổ chức. Nhận thức của một số cơ quan, cán bộ,

công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, đơn vị nước về chế định

TPL vẫn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu cần thiết để có thể thực hiện một chủ

trương lớn của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, như: Chưa hiểu đúng và đầy

59

đủ về chế định TPL, cũng như vị trí, vai trò, nhiệm vụ, sự cần thiết của chế định này

trong xã hội; thiếu sự quyết tâm trong việc tổ chức thực hiện; chỉ xem TPL, Văn

phòng TPL đơn giản là người, tổ chức hành nghề pháp lý tự do, vì mục đích lợi

nhuận, từ đó thiếu sự quan tâm, phối hợp, hỗ trợ, hợp tác.

Hai là, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã được quan tâm nhưng

hình thức, nội dung và phương pháp tuyên truyền chưa thực sự phù hợp với từng

loại đối tượng nên hiệu quả chưa cao.

Ba là, trong triển khai thực hiện thiếu sự quyết tâm; xem TPL, Văn phòng

TPL chỉ là người, tổ chức hành nghề tự do, vì lợi nhuận, từ đó thiếu sự phối hợp, hỗ

trợ, hợp tác; công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành, cơ quan nhà nước Trung

ương đóng trên địa bàn tỉnh, các địa phương thuộc tỉnh, cơ quan, đơn vị liên quan

còn có lúc chưa thực sự kịp thời, đầy đủ; một số địa phương chưa thực sự quan tâm,

quyết liệt trong triển khai, thực hiện; nhiều trường hợp Tòa án, cơ quan THADS

chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình trong việc phối hợp, hỗ trợ các Văn phòng

TPL; công tác tham mưu triển khai, hướng dẫn thực hiện vẫn còn hạn chế.

Bốn là, với tính chất nghề mới được hoạt động chính thức nên đội ngũ TPL,

Thư ký nghiệp vụ tuy đảm bảo về số lượng nhưng còn hạn chế về kỹ năng, nghiệp

vụ và kinh nghiệm hành nghề, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức và

hiệu quả hoạt động. Đặc biệt là những nghiệp vụ chuyên sâu có liên quan đến hoạt

động tố tụng, xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án. Một

số Văn phòng còn hạn chế về cơ sở vật chất như trụ sở, nhân lực và trang thiết bị,

phương tiện phục vụ hoạt động; chưa chủ động tiếp cận người dân, các tổ chức trên

địa bàn tỉnh để quảng bá về TPL.

Năm là, về năng lực tài chính, tổ chức, điều hành hoạt động, hầu hết các Văn

phòng TPL thành lập có năng lực tài chính còn yếu; chưa có khả năng huy động

được các nguồn kinh phí tài trợ bên ngoài để đầu tư mở rộng quy mô hoạt động;

công tác tổ chức các hoạt động của TPL còn đơn giản, chưa chuyên nghiệp, chưa

thu hút được sự quan tâm của tổ chức, người dân tham gia, sử dụng các dịch vụ

pháp lý của Văn phòng TPL.

60

Bên cạnh đó, việc thanh toán kinh phí cho hoạt động của TPL (tống đạt, xác

minh điều kiện thi hành án) còn chậm, chưa kịp thời đã ảnh hưởng không nhỏ đến

các hoạt động chung của các Văn phòng TPL.

Kết luận chương 2

Tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian

qua đã dần đi vào nề nếp, bước đầu đã đạt được một số kết quả tích cực, thể hiện sự

cần thiết, khẳng định vị trí, vai trò ngày càng cao của TPL trong đời sống xã hội.

Với các hoạt động tống đạt văn bản theo yêu cầu của Tòa án, Viện Kiểm sát và cơ

quan THADS, việc lập vi bằng, tiến hành xác minh các điều kiện thi hành án và trực

tiếp tổ chức thi hành các bản án của Tòa, TPL đã tạo cơ chế tăng cường tính chủ

động, tích cực của công dân, tổ chức trong việc tham gia các quan hệ dân sự; việc

lập vi bằng đã tạo thêm công cụ pháp lý quan trọng để người dân, tổ chức có thể

chủ động tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân

sự, kinh tế và trong quá trình tố tụng, giúp cho hoạt động của các cơ quan tư pháp

đúng pháp luật và ngày càng hiệu quả hơn. Công tác quản lý nhà nước đối với TPL

trên địa bàn tỉnh cũng ngày càng được chú trọng, nâng cao, từ việc tổ chức triển

khai thực hiện đến hướng dẫn nghiệp vụ; bổ nhiệm, thành lập Văn phòng TPL;

thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức và hoạt động của TPL…

Tuy nhiên, TPL là chế định mới nên hoạt động của TPL vẫn còn nhiều khó khăn,

hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Vì vậy, cần có

những giải pháp cụ thể, khả thi nhằm tạo động lực thúc đầy, khuyến khích TPL phát

triển mạnh hơn trong thời gian tới để phục vụ cho nhu cầu pháp lý ngày càng đa

dạng của người dân và xã hội hóa một phần công việc do Tòa án, cơ quan THADS,

Viện kiểm sát đang thực hiện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với

61

TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Chương 3

QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG

CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, TỔ

CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

3.1. Quan điểm phát triển, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại

3.1.1. Phát triển Thừa phát lại gắn với yêu cầu và nhiệm vụ về cải cách tư

pháp, cải cách hành chính ở nước ta

Việc thực hiện thí điểm và thực hiện chính thức chế định TPL ở Việt Nam là

một bước tiến quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta. Tuy nhiên, chế

định TPL cũng chỉ đang trong giai đầu bước đầu thực hiện nên còn nhiều vấn đề cần

tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Do đó, trong thời gian tới việc hoàn thiện pháp luật,

thực hiện chế định TPL ở Việt Nam cần tiếp tục gắn với chiến lược, yêu cầu và nhiệm

vụ về cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết số 49-

NQ/TW, Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Ban Chấp hành Trung ương

về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết

số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ

thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

3.1.2. Bảo đảm sự bình đẳng giữa cơ quan thi hành án dân sự với Thừa phát

lại

Quá trình thực hiện chế định TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thời gian qua

cũng đã cung cấp nhiều dữ kiện quan trọng, bổ sung thêm các căn cứ mang tính

khoa học và thực tiễn rất có giá trị để làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong xã hội hóa

hoạt động bổ trợ tư pháp, nhất là trong lĩnh vực THADS, góp phần đưa ra các giải

pháp nhằm thực hiện tốt chủ trương của Đảng về xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư

pháp, góp phần thực hiện thành công chủ trương về tinh giản bộ máy, biên chế, cơ

62

cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW, Nghị

quyết số 39-NQ/TW.

Bên cạnh đó, việc triển khai thực hiện chế định TPL đã có tác động tích cực

đối với việc phát triển kinh kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và công tác tư pháp.

Trong đó, qua hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của TPL giúp người dân có

thêm một công cụ pháp lý để hỗ trợ tích cực cho việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp

pháp của mình trong thi hành án, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác

THADS ở các cấp; trong thời gian chưa thay thế các cơ quan THADS thì đây là

hoạt động bổ trợ tích cực cho hoạt động của cơ quan THADS cấp tỉnh, cấp huyện.

Mặt khác, với việc TPL trực tiếp tổ chức thi hành án đã tạo điều kiện để người dân,

tổ chức trên địa bàn tỉnh có thêm sự lựa chọn phù hợp với nhu cầu, khả năng, mong

muốn, niềm tin khi yêu cầu THADS; góp phần giảm tải công việc cho các cơ quan

THADS trên địa bàn tỉnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước

đối với hoạt động này.

Với hệ thống cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh có bề dày lịch sử lâu đời, cơ

sở vật chất được nhà nước đầu tư đầy đủ đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ được

giao; về lâu dài, để phát huy những kết quả đã đạt được theo đúng chủ trương xã hội

hóa công tác THADS, nhất thiết phải bảo đảm sự bình đẳng giữa cơ quan THADS

với TPL, trước mắt cần thực hiện các nội dung sau:

Một là, cần có cơ chế để TPL tiếp cận người có nhu cầu tổ chức thi hành án,

từ đó nâng cao số lượng việc thi hành án của TPL như: Ghi rõ trong bản án, quyết

định của Tòa án nội dung bản án, quyết định này có thể được thi hành án tại cơ

quan THADS hoặc Văn phòng TPL có thẩm quyền; quy định việc TPL được quyền

nhận bản án, quyết định từ Tòa án để tự tiếp xúc, giới thiệu chức năng thi hành án

của mình đến cá nhân, tổ chức có nhu cầu tổ chức thi hành án.

Hai là, nghiên cứu, xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử về Thi hành

án để tập trung thông tin liên quan đến hoạt động này như các bản án, quyết định,

tài sản thi hành án...; qua đó giúp cho chính các Cơ quan THADS và Văn phòng

TPL có thể dễ dàng, tự do tiếp cận, khai thác nguồn thông tin để phục vụ hoạt động

63

chuyên môn.

3.1.3. Bảo đảm sự phát triển của Thừa phát lại bền vững, hiệu quả

TPL là chế định mới, mặc dù đã được hoạt động chính thức và bước đầu đã

đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, về lâu dài hoạt động của TPL trên địa

bàn tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chưa cao. Để đạt được mục tiêu, chủ

trương về xã hội hóa hoạt động THADS đòi hỏi trong thời gian tới khi xây dựng,

hoàn thiện pháp luật về TPL cần có chính sách phù hợp để tiếp tục duy trì và phát

triển các Văn phòng TPL đã được thành lập, mở rộng quy mô, thành lập thêm các

Văn phòng TPL mới.

Bên cạnh chủ trương, chính sách tổng thể về tổ chức và hoạt động của TPL

do Trung ương ban hành, tỉnh Đồng Nai phải dựa trên tình hình thực tế tại địa

phương để có các chủ trương, chính sách, quy định cụ thể nhằm khuyến khích, hỗ

trợ hoạt động của TPL; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đảm bảo TPL hoạt

động hiệu quả, bền vững nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu về cải cách tư pháp, cải

cách hành chính; đáp ứng nhu cầu được nhu cầu của người dân, tổ chức trên địa bàn

tỉnh.

3.1.4. Phát triển Thừa phát lại gắn với yêu cầu hội nhập quốc tế

Chế định TPL đã hình thành từ lâu và phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên

thế giới; ở Việt Nam chế định TPL mặc dù đã xuất hiện từ thời pháp thuộc, tuy

nhiên đã có thời gian không được thực hiện và mới được hoạt động chính thức trở

lại nên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, cần tiếp tục nghiên cứu, học hỏi thông qua

hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp.

Bên cạnh đó, có nhiều vấn để tư pháp hiện nay không đơn thuần chỉ trong

phạm vi quốc gia mà liên quan đến nhiều quốc gia trên thế giới, để thực hiện được

đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia như vấn để tương trợ tư pháp quốc tế

… Tuy nhiên, việc hội nhập quốc tế phải đảm bảo thực hiện trên cơ sở nguyên tắc,

định hướng của Chỉ thị số 39-CT/TW của Ban Bí thư về hợp tác quốc tế trong lĩnh

vực pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, chủ trương, chính sách của

64

Đảng.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả về tổ

chức và hoạt động của Thừa phát lại

Với kết quả về tổ chức và hoạt động của TPL trên địa bàn tỉnh và những tác

động đối với kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Nai nói trên trong thời gian qua đã khẳng

định việc thí điểm, triển khai thực hiện chính thức chế định TPL là một chủ trương

đúng đắn, phù hợp với bối cảnh cải cách tư pháp, cải cách hành chính của cả nước

nói hcung và tỉnh Đồng Nai nói riêng. Để tiếp tục thúc đẩy phát triển hoạt động

TPL và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TPL trong thời

gian tới cần thực hiện một số nhóm giải pháp sau:

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại

3.2.1.1. Đối với các cơ quan ở Trung ương

Một là, tiếp tục nghiên cứu, đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị định số

08/2020/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung các quy định về người đại diện theo pháp luật của

Văn phòng TPL; việc cấp lại thẻ TPL trong trường hợp có sai sót; thủ tục chuyển

đổi loại hình hoạt động từ công ty hợp danh sang doanh nghiệp tư nhân; mở chi

nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch ngoài trụ sở của Văn phòng

TPL.

Hai là, các bộ, ngành Trung ương kịp thời ban hành các văn bản quy phạm

pháp luật để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP,

nhất là các quy định pháp luật liên quan đến kinh phí hoạt động của TPL, Quy tắc

đạo đức nghề nghiệp TPL, quy định về thủ tục thực hiện tống đạt, xác minh điều

kiện thi hành án ...

Ba là, tiếp tục nghiên cứu, từng bước cho phép TPL mở rộng thêm phạm vi

hoạt động liên quan đến: Thu hồi nợ; bán đấu giá; tư vấn pháp lý; tống đạt các văn

bản, hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của các cơ quan hành chính, tổ chức khác….

Bốn là, bổ sung những quy định liên quan đến hoạt động TPL vào các văn

bản quy phạm pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Tổ

chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tố tụng dân sự,

Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án dân sự...

65

Năm là, cùng với một số ngành được chủ trương xã hội hóa, các Văn phòng

TPL chưa được hưởng các chính sách ưu đãi về xã hội hóa nhưng các Văn phòng

TPL chỉ được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian thí điểm. Thực tế

cho thấy, mặc dù đã đạt được những thành công nhất định, nhưng về tài chính, các

Văn phòng TPL vẫn gặp rất nhiều khó khăn, cần có chính sách ưu đãi phù hợp để

khuyến khích, tạo động lực phát triển hoạt động của TPL trong thời gian tới.

Sáu là, Chính phủ sớm sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế một số quy định, văn

bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tiễn, đảm bảo tính thống

nhất giữa các văn bản pháp luật có liên quan đến TPL, cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi

Nghị định số 67/2015/NĐ-CP hoặc ban hành mới Nghị định về xử phạt vi phạm

hành chính trong lĩnh vực Tư pháp theo hướng bổ sung các chế tài để xử lý vi phạm

hành chính đối với hoạt động TPL, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra,

quản lý nhà nước đối với TPL.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP theo hướng bổ sung thêm

quy định về cấp lại thẻ TPL đối với các trường hợp do sai sót.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP theo hướng quy định Văn

phòng TPL do 02 TPL trở lên thành lập (thuộc loại hình công ty hợp danh) có thể

có nhiều người đại diện theo pháp luật.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP theo hướng bổ sung thêm

quy định khi chuyển từ loại hình công ty hợp danh sang doanh nghiệp tư nhân thì

trong hồ sơ phải có các tài liệu thể hiện sự đồng ý của các thành viên hợp danh.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP theo hướng cho phép các

Văn phòng TPL được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở, địa điểm giao dịch

ngoài trụ sở của Văn phòng TPL.

- Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 08/2020/NĐ-CP theo hướng tạo cơ chế để

các Văn phòng TPL có biện pháp bảo đảm thi hành án.

Bảy là, hiện nay chế định TPL đã được chính thức thực hiện trên cả nước,

việc xây dựng Luật TPL là một nhiệm vụ cần thiết, cấp thiết và tối quan trọng cần

được triển khai. Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh và hướng dẫn

66

về tổ chức và hoạt động của TPL còn khá sơ sài, chỉ bao gồm: 01 Nghị quyết của

Quốc hội, 01 Nghị định của Chính phủ. Trong khi đó, các hoạt động của TPL ngày

càng phát triển mạnh mẽ và phổ rộng ở nhiều địa phương, có liên quan đến nhiều

ngành, lĩnh vực và đới sống xã hội. Do đó, trong quá trình triển khai hoạt động đã

gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Để giải quyết những bất cập này, đòi hỏi một

hành lang pháp lý cao hơn, có tính chất nền tảng hơn. Luật về TPL cần được nghiên

cứu xây dựng theo hướng cụ thể hóa tất cả các vấn đề về tổ chức và hoạt động của

TPL, bao gồm cả những quy phạm pháp luật có liên quan; cụ thể hoá tinh thần và

nội dung của Hiến pháp, định hướng cải cách tư pháp, cải cách thủ tục hành chính;

đảm bảo sự phù hợp của chế định TPL với các quy định của các đạo luật lớn trong

lĩnh vực tư pháp, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho các hoạt động của TPL.

Trong giai đoạn này, khi chưa ban hành Luật TPL, để đảm bảo cơ sở pháp lý

và không làm gián đoạn hoạt động của TPL, để đảm bảo công tác quản lý nhà nước

và hoạt động của TPL, Quốc hội cần ban hành thêm các Nghị quyết để quy định về

mặt nguyên tắc hơn về địa vị pháp lý và các chức năng, nhiệm vụ của TPL, mối

quan hệ của TPL, văn phòng TPL với các cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện

nhiệm vụ được giao; quy định về mặt nguyên tắc đối với chế độ tài chính và các

chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động TPL; quy định về quản lý nhà nước,

kiểm sát đối với hoạt động TPL để tạo sự thống nhất trong các cơ quan nhà nước

(Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đối với hoạt

động TPL.

3.2.1.2. Đối với tỉnh Đồng Nai

Việc thực hiện chế định trên địa bàn tỉnh cũng đang ở giai đoạn đầu, số

lượng Văn phòng TPL chưa nhiều, doanh thu thấp, hoạt động của TPL trên địa bàn

tỉnh còn gặp nhiều khó khăn cần sự hỗ trợ, tạo điều kiện của địa phương. Để tạo

điều kiện, nâng cao hiệu quả phát triển của TPL trên địa bàn tỉnh, Hội đồng nhân

dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi về tài chính,

cơ sở vật chất, điều kiện hoạt động …để hỗ trợ, tạo động lực phát triển hoạt động

của TPL.

67

3.2.2. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về Thừa phát lại

Để tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả chế định TPL trên địa bàn tỉnh thì

UBND tỉnh cần để xuất kiến, nghị Bộ Tư pháp một số nội dung sau:

Một là, tích cực tham mưu Chính phủ trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện

chế định TPL trên phạm vi cả nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng; phối hợp

với các bộ, ngành Trung ương trong việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy

phạm pháp luật liên quan đến TPL, chỉ đạo các cơ quan ngành dọc đóng tại địa

phương trong việc phối hợp thực hiện chế định TPL theo quy định.

Hai là, tiếp tục thực hiện việc đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ cho TPL sát với

yêu cầu công việc. Đồng thời phải thường xuyên nghiên cứu, tổng kết tình hình

thực hiện chế định TPL để bổ sung, hoàn thiện chương đào tạo, bồi dưỡng. Nội

dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải gắn lý luận với thực tiễn, kiến thức cơ

bản về TPL, kiến thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng thực hiện nghiệp vụ

và phối hợp với các cơ quan có liên quan.

Đối với tỉnh Đồng Nai cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, Tỉnh ủy, UBND tỉnh cần quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sát

sao; kịp thời xem xét, chỉ đạo, giải quyết nhứng khó khăn, vướng mắc trong việc tổ

chức thực hiện chế định TPL trên địa bàn tỉnh.

Hai là, Sở Tư pháp cần tích cực, chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND

tỉnh trong việc lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện chế định TPL trên địa bàn tỉnh;

thường xuyên hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho TPL đã được bổ nhiệm và đang

hành nghề, đội ngũ thư ký nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng, giúp các

TPL bổ sung kiến thức pháp luật cũng như trao đổi, thảo luận, nêu lên những khó

khăn, vướng mắc trong thực tiễn tổ chức và hoạt động và đề xuất, kiến nghị những

giải pháp.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biên, giáo dục pháp luật về

TPL: TPL là chế định mới nên việc triển khai thực hiện còn gặp rất nhiều khó khăn.

Để người dân, tổ chức, doanh nghiệp hiểu biết hơn về pháp luật, đồng thuận, ủng

hộ, tin tưởng và sử dụng dịch vụ TPL thì tuyên truyền, phổ biến văn bản pháp luật

68

và hoạt động của TPL cần phải xúc tích và thực sự dễ hiểu. Đồng thời, phải lựa

chọn hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chủ chương, chính sách của

Đảng và Nhà nước, phổ biến về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò và ý nghĩa

của TPL đến người dân, doanh nghiệp, chính quyền các cấp và các tổ chức có liên

quan, đưa TPL đến gần hơn với đời sống kinh tế - xã hội.

Bốn là, sớm ban hành Quy chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành, cơ quan

liên quan trên địa bàn tỉnh trong tổ chức riển khai thực hiện chế định TPL trên địa

bàn tỉnh nhất là các cơ quan như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan THADS, Sở Tư

pháp, UBND cấp huyện, cấp xã ....

Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, theo dõi, nắm bắt tình hình

hoạt động của các Văn phòng TPL trên địa bàn tỉnh để kịp thời phát hiện sai phạm,

chỉ đạo, chấn chỉnh, khắc phục sai sót, hạn chế, xử lý nghiêm; đồng thời tháo gỡ

khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các Văn phòng TPL.

3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại

Một là, hoạt động của TPL là hoạt động pháp lý, mang tính chuyên môn cao,

phức tạp, lại mới mới được thực hiện chính thức, các TPL chưa có nhiều kinh

nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ về hoạt động TPL còn hạn chế; do đó, các TPL phải

thường xuyên học tập, tích cực tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để

nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền

hạn của mình.

Hai là, do mới trải qua một thời gian ngắn thực hiện thí điểm và mới trong

giai đoạn đầu thực hiện chính thức chế định TPL, các Văn phòng TPL cũng mới

hoạt động nên chưa được đông đảo người dân, tổ chức biết đến nên các Văn phòng

TPL cần không ngừng nỗ lực quảng bá hình ảnh, đề cao tính chuyên nghiệp trong

hoạt động, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, tổ chức để đưa hoạt động TPL

đến gần với người dân, tổ chức.

Ba là, do các Văn phòng TPL cũng mới hoạt động, năng lực tài chính, việc

đầu tư cơ sở, vật chất, trang thiết bị và các điều kiện khác cho hoạt động của TPL

cũng còn hạn chế nên các Văn phòng TPL cần chủ động nâng cao năng lực tài

69

chính, đầu tư trang thiết bị để phục vụ tốt nhu cầu của người dân khi sử dụng các

dịch vụ của TPL.

Bốn là, thành lập tổ chức hội nghề nghiệp TPL theo quy định pháp luật và

hướng dẫn của Bộ Tư pháp nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần

phát triển chế định TPL.

Kết luận chương 3

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, phát triển chế định TPL, nâng cao hiệu

lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với TPL trên địa bàn tỉnh Đồng Nai,

nhất là khi chế định TPL đã được triển khai thực hiện chính thức thì cần phải có

những giải pháp toàn diện và lâu dài, trong đó cần chú ý đến việc xây dựng, hoàn

thiện hệ thống pháp luật về TPL ở cả Trung ương và tỉnh Đồng Nai, bảo đảm sự

bình đẳng giữa cơ quan THADS với TPL, có định hướng phát triển lâu dài, nâng

cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về TPL trên địa bàn tỉnh.

Việc thực hiện các giải pháp này phải đồng bộ, thống nhất từ nhận thức đến

việc triển khai thực hiện; bên cạnh đó, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, sự

thống nhất chỉ đạo, hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương, các sở, ban, ngành ở

tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; kịp thời tháo gỡ những khó khăn,

70

vướng mắc trong quá trình thực hiện.

KẾT LUẬN

TPL được xem là một chức danh bổ trợ tư pháp, đã có từ rất lâu, là người có

đủ các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để thay mặt Nhà nước

làm các công việc theo quy định của pháp luật, hoạt động của TPL mang tính chất

nghề nghiệp pháp lý đặc thù, vừa mang tính chất hành chính, pháp lý lại vừa có tính

chất nghề nghiệp tự do. Chủ thể quản lý nhà nước đối với TPL gồm Chính phủ, Bộ

Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp.

Qua thời gian ngắn triển khai thực hiện, tổ chức và hoạt động của TPL trên

địa bàn tỉnh Đồng Nai bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực, ngày càng

nhiều người dân, tổ chức biết đến. Đối với hoạt động tư pháp, chế định TPL đã hỗ

trợ, giúp cho hoạt động của các cơ quan tư pháp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đảm

bảo đúng pháp luật, hiệu quả hơn; góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Nhà

nước trong việc xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp theo nội dung Nghị quyết số

49-NQ/TW; giảm tải công việc, giảm nhân lực, thời gian, chi phí; giúp cho các hoạt

động của các cơ quan tư pháp và THADS được nhanh hơn, hiệu quả hơn; hạn chế

tình trạng quá tải công việc cho Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan THADS. Đối với

kinh tế - xã hội, hoạt động của TPL đã góp phần bảo đảm môi trường pháp lý lành

mạnh, góp phần gia tăng giá trị pháp lý, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo môi

trường ổn định thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Tuy nhiên, do TPL là chế định

mới nên các nội dung quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của TPL hiện

nay chưa toàn diện, đồng bộ, thống nhất, vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc nhất

định so với thực tiễn. Trên cơ sở đó, Luận văn đề ra một số giải pháp trên nhiều mặt

nhằm góp phần vào quá trình hoàn thiện các quy định về tổ chức và hoạt động của

TPL, cũng như xây dựng Luật TPL trong thời gian tới, khẳng định sự thành công

trong việc thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW và mô hình tổ chức, hoạt động của TPL

71

trong tiến trình cải cách Tư pháp ở nước ta.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tư pháp (2015), Báo cáo khảo sát của Đoàn công tác liên ngành tìm

hiểu mô hình Thừa phát lại tại Cộng hòa Pháp.

2. Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo thực hiện thí điểm Thừa phát lại 2009-2012.

3. Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo thực hiện thí điểm Thừa phát lại năm 2013.

4. Bộ Tư pháp (2014), Báo cáo thực hiện thí điểm Thừa phát lại năm 2014.

5. Bộ Tư pháp (2015), Báo cáo thực hiện thí điểm Thừa phát lại năm 2015.

6. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ

Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong giai đoạn tới.

7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ

Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010,

định hướng đến năm 2020.

8. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính

trị về chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020.

9. Bộ Chính trị (2015), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ

Chính trị về tinh giản biên chế và tiếp tục cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức,

viên chức.

10. Trần Văn Bảy (2014), Tăng cường công tác quản lý Thừa phát lại tại

thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề, tr 71.

11. Chính phủ (2012), Báo cáo số 299/BC-CP ngày 23/10/2012 của Chính

phủ về tổng kết thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số

24/2008/NQ12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội.

12. Chính phủ (2015), Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính

phủ về Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại

theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội.

13. Chính phủ (2009), Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của

Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành

phố Hồ Chí Minh.

1

14. Chính phủ (2013), Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của

Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định

61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa

phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

15. Chính phủ (2020), Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ

chức và hoạt động của Thừa phát lại.

16. Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2006), Tổ chức Thừa phát lại, NXB Tư

pháp, Hà Nội.

17. Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (2019), Báo cáo tổng kết Nghị

quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm

2020.

18. Nguyễn Đức Chính (2014), Thừa phát lại - Ông là ai?- Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật, Số chuyên đề Chế định Thừa phát lại, tr 24-25.

19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của

Đảng Cộng sản Việt Nam.

20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của

Đảng Cộng sản Việt Nam.

21. Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1.200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, NXB TP.

Hồ Chí Minh.

22. Đặng Xuân Hải - Đào Phú Quảng (2008), Quản lý hành chính nhà nước

về giáo dục và đào tạo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

23. Vũ Hoài Nam (2013), Tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại ở Việt

Nam hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội.

24. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.

25. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

26. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015.

27. Quốc hội (2013), Luật Cán bộ, công chức năm 2008.

28. Quốc hội (2008, 2014), Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ

sung năm 2014.

2

29. Quốc hội (2008), Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của

Quốc hội về việc thi hành Luật Thi hành án dân sự.

30. Quốc hội (2012), Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của

Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại.

31. Quốc hội (2015), Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của

Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại.

32. Võ Kim Sơn (2004), Phân cấp quản lý nhà nước, lý luận và thực tiễn,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

33. Nguyễn Văn Sơn (2011), Chế định Thừa phát lại với quá trình thực hiện

công cuộc đổi mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề tháng 11, tr 15.

34. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (2015), Báo cáo về tổ chức và hoạt động

Thừa phát lại năm 2015.

35. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (2016), Báo cáo về tổ chức và hoạt động

Thừa phát lại năm 2016.

36. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (2017), Báo cáo về tổ chức và hoạt động

Thừa phát lại năm 2017.

37. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (2018), Báo cáo về tổ chức và hoạt động

Thừa phát lại năm 2018.

38. Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai (2019), Báo cáo về tổ chức và hoạt động

Thừa phát lại năm 2019.

39. Thủ tướng Chính phủ (2008), Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008

của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công

tác Thi hành án dân sự.

40. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày

19/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thực hiện thí điểm

chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh.

41. Tòa án nhân dân tối cao (2005), Thông báo số 03/TB-TANDTC ngày

14/8/2015 của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết việc tiếp tục thí điểm chế định

3

Thừa phát lại.

42. Tổng Cục Thi hành án dân sự Bộ Tư pháp (2010), Sổ tay Thừa phát lại,

NXB Thời đại, Hà Nội.

43. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2014), Chế định Thừa phát lại, NXB Tư

pháp (số chuyên đề Chế định Thừa phát lại), Hà Nội.

44. Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp (2014), Một số vấn đề về

chế định Thừa phát lại, NXB Tư pháp; Hà Nội.

45. Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2002), Báo cáo tổng thuật hội thảo

về xã hội hóa một số hoạt động thi hành án, Thông tin khoa học pháp lý (số 6).

46. Nguyễn Cửu Việt (chủ biên) (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt

4

Nam, NXB Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh.