VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THANH XUÂN
THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THANH XUÂN
THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
HÀ NỘI, NĂM 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, thông tin là hoàn toàn trung thực. Các tài liệu trích dẫn đều được
ghi rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác
giả.
Tác giả luận văn
ĐẶNG THANH XUÂN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 6
6. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 7
CHƯƠNG 1 ...................................................................................................... 8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU GOM, VẬN
CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT .............................................. 8
1.1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt ................................................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt ................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt ..................... 11
1.2. Khái niệm và vai trò của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt.................................................................................................. 14
1.3. Nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
......................................................................................................................... 21
1.3.1. Nhóm quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt .................. 21
1.3.2. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt ..................................................... 24
Tiểu kết Chương 1 ......................................................................................... 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU GOM,
VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN
THỰC THI TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH . 26
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt.................................................................................................. 26
2.1.1. Quy định trách nhiệm chung của tổ chức, cá nhân làm phát sinh rác
thải sinh hoạt ................................................................................................... 26
2.1.2. Quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt ............................ 29
2.1.3. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt .................................................... 30
2.1.4. Hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt .................................................................................................................. 33
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
sinh hoạt tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh........................... 35
2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ
Chí Minh .......................................................................................................... 36
2.2.2. Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn ............................................................. 38
Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 49
CHƯƠNG 3 .................................................................................................... 50
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THU GOM, VẬN
CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................................. 50
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt.................................................................................................. 50
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt.................................................................................................. 51
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
......................................................................................................................... 55
3.3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ
Chí Minh .......................................................................................................... 55
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh .......... 56
Tiểu kết Chương 3 ......................................................................................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 65
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trước đến nay, vùng nông thôn được cho là nơi có môi trường sống
trong lành, sạch sẽ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vùng
nông thôn đã và đang phát sinh 40.000 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày nhưng
tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt khoảng 50-60%, có nơi chỉ đạt khoảng 30%, còn
phần lớn rác thải được chôn lấp thủ công, xử lý không hợp vệ sinh, gây ô
nhiễm môi trường. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của
người dân và gây mất mỹ quan nghiêm trọng. Theo ước tính của Ngân hàng
thế giới, Việt Nam đang mất khoảng 69 triệu đô la Mỹ thu nhập từ ngành du
lịch do hệ thống xử lý vệ sinh kém, trong đó có xử lý chất thải rắn sinh hoạt –
hay còn gọi là rác thải sinh hoạt [38].
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn trong cả nước, mỗi ngày phát
sinh hơn 9.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt, được thu gom và chuyển về 03 nhà
máy xử lý tại huyện Bình Chánh, huyện Củ Chi. Mỗi năm, Thành phố chi
khoảng 2.000 tỷ đồng cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn
sinh hoạt [39]. Ngày 11/6/2017, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
ban hành Nghị quyết số 03/NQ-HĐND về công tác bảo vệ môi trường đô thị,
khu dân cư và quản lý chất thải trên địa bàn thành phố đến năm 2020, với chỉ
tiêu giảm tỷ lệ rác thải chôn lấp xuống 50% và giảm xuống còn 20% vào năm
2025. Đồng thời, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã ban hành
các chính sách và văn bản pháp lý hướng dẫn thống nhất thực hiện từ quy
định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tổ chức sắp xếp lại lực lượng
thu gom rác dân lập; chuẩn hóa các phương tiện thu gom, vận chuyển; hướng
dẫn giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và quản lý chất thải
rắn sinh hoạt trên địa bàn 24 quận, huyện.
1
Cũng giống như các quận/ huyện khác, Hóc Môn – một huyện ngoại
thành của Thành phố Hồ Chí Minh gồm 11 xã và 01 thị trấn cũng gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc đối với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
sinh hoạt nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh
các hoạt động sinh hoạt, thương mại – dịch vụ đang phát triển mạnh như hiện
nay. Với mong muốn đóng góp cho việc tháo gỡ những khó khăn về xử lý rác
thải sinh hoạt hiện nay tại huyện Hóc Môn, tác giả lựa chọn đề tài “Thu gom,
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu trong Luận văn
thạc sỹ của mình. Điều này sẽ góp phần nâng cao tiêu chí về môi trường trên
địa bàn huyện theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 –
2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1980/QĐ – TTg ngày 17/10/2016 của
Thủ tướng Chính phủ. “Tiêu chí 17.5 - Chất thải rắn trên địa bàn được thu
gom, xử lý theo quy định”, là một trong những tiêu chí cần phải đáp ứng để
công nhận xã nông thôn mới.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng luôn là một
trong những vấn đề cần được sự quan tâm đúng mức của xã hội. Vì lẽ đó, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Trước hết phải
kể đến các công trình nghiên cứu về hiện trạng, quy hoạch và công nghệ xử lý
rác thải sinh hoạt như:
Nguyễn Thanh Phong (2016) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả thi
xử lý rác thải sinh hoạt khu liên hợp Nam Bình Dương phục vụ cho phát triển
bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [26]. Công
trình đã đưa ra các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt gồm các công nghệ tái
chế, chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý chất thải công nghiệp, nước rỉ rác cho khu
2
liên hợp. Đồng thời xây dựng chương trình xử lý và giám sát chất lượng môi
trường cho khu liên hợp Nam Bình Dương.
Nguyễn Văn Phước (2016) “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rác thải
sinh hoạt và đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp với quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020”, Tạp chí Tài nguyên và môi
trường. Công trình đã thu thập các số liệu và chỉ ra hiện trạng thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Đồng thời, công trình cũng đưa ra các biện
pháp xử lý phù hợp với tỉnh Bình Dương [27].
Phan Thị Ngân (2019) Pháp luật về quản lý chất thải rắn qua thực tiễn
thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật –
Đại học Huế [24]. Công trình đã tập trung phân tích các quy định pháp luật về
quản lý chất thải rắn: Quy định về phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải
rắn; quy định về xử lý chất thải rắn; đồng thời, đánh giá thực tiễn thực hiện
pháp luật quản lý chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng để làm nền tảng cho
việc đề xuất các giải pháp. Tuy nhiên, công trình có phạm vi nghiên cứu khá
rộng, chất thải rắn bao gồm chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn thông thường,
chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn sinh hoạt.
Đậu Hồng Cảnh (2019) Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua thực
tiễn tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật – Đại học
Huế [18]. Công trình đã tập trung phân tích các quy định pháp luật về xử lý
rác thải sinh hoạt, bao gồm: Quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân làm
phát sinh rác thải sinh hoạt, quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh
hoạt, quy định về xử lý rác thải sinh hoạt, hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Công trình tập trung đánh giá thực tiễn
áp dụng quy định về xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Quảng Trị để làm cơ sở
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý rác
3
thải sinh hoạt, qua đó, kiến nghị cách thức xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
tỉnh Quảng Trị.
Ngoài các công trình kể trên, còn có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến vấn đề rác thải có thể kể đến như:
Nguyễn Văn Phương (2008) Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững,
Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội [28];
Lê Kim Nguyệt (2002) “Một cơ chế phù hợp cho xử lý chất thải nguy
hại ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5 [25]; Nguyễn Văn
Phương (2003) “Chất thải và quy định xử lý chất thải”, Tạp chí Luật học, số 4
[29]; Nguyễn Văn Phương (2006) “Một số vấn đề về khái niệm chất thải”,
Tạp chí Luật học, số 10 [30]; Lại Văn Hùng (2016) “Nguy cơ ô nhiễm về chất
thải nguy hại”, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 7 [20]; Trần Văn Nam (2018)
“Nhìn nhận về Chính sách về nhập khẩu phế liệu hiện nay”, Tạp chí Khoa học
nhân văn, số 5 [23]; Nguyễn Thị Mai (2019) “Xử lý rác thải sinh hoạt nguy
hại của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Thái Nguyên, số 1 [22]…
Những bài viết nêu trên dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh của
pháp luật xử lý chất thải nói chung, xử lý chất thải nguy hại nói riêng mà chưa
đi sâu nghiên cứu vấn đề về xử lý rác thải sinh hoạt thông thường. Qua đó, có
thể thấy rằng, đề tài “Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” chưa
từng được nghiên cứu trước đó. Thông qua Luận văn Thạc sỹ, tác giả mong
muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp
luật về vận chuyển, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu:
4
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực
trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên
cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải sinh
hoạt nhằm mục tiêu phát triển bền vững.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận chung pháp luật về thu gom, vận
chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt;
Thứ hai, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi
pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh để tìm ra những tồn tại của quy định pháp luật liên quan.
Trên cơ sở đó, đưa ra phương hướng cũng như các đề xuất giải pháp
hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại huyện Hóc
Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật về thu gom,
vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt; thực tiễn thực thi các quy định pháp
luật tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt theo pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành.
Tùy vào tiêu chí phân loại khác nhau mà rác thải sinh hoạt có thể được
phân loại thành rác thải sinh hoạt thông thường và rác thải sinh hoạt nguy hại.
5
Theo đó, xét về bản chất, rác thải sinh hoạt nguy hại trước hết cũng là một
loại rác thải sinh hoạt, vì thế, ngoài những quy định mang tính cá biệt áp dụng
riêng đối với rác thải sinh hoạt nguy hại, pháp luật về thu gom, vận chuyển,
xử lý rác thải sinh hoạt nguy hại cũng có những đặc điểm chung của pháp luật
về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói chung. Mặt khác, thực
tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại
huyện Hóc Môn nói riêng chủ yếu liên quan đến rác thải sinh hoạt thông
thường (được trình bày tại Chương 2 của Luận văn). Vì thế, trong phạm vi
Luận văn, tác giả tuy có đề cập đến các quy định của cả rác thải sinh hoạt
thông thường và rác thải sinh hoạt nguy hại nhưng chỉ đi sâu vào phân tích
các quy định liên quan đến rác thải sinh hoạt thông thường (rác thải sinh
hoạt).
Về thực tiễn: Thực tiễn thực thi pháp luật trên địa bàn huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra của Luận văn, tác giả sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể:
Phần lý luận chung về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt,
tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh.
Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá được tác giả sử dụng triệt
để trong việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và đánh giá thực tiễn áp dụng
chế định này.
Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
tại địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Về lý luận: Luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận chung của
pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt.
Về thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật
về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Đồng thời, luận văn còn là
tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành ở huyện Hóc Môn trong việc hoạch
định biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt, đáp ứng tiêu chí môi trường trong xây dựng xã nông thôn
mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết
cấu thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải sinh hoạt
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải sinh hoạt và thực tiễn thực thi tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ
Chí Minh
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU GOM,
VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
1.1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt
1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm về rác thải được
quy định rải rác và chưa thống nhất. Bởi vậy, để làm rõ khái niệm này chúng
ta tìm hiểu thông qua việc phân tích ngữ nghĩa của cụm từ “rác thải”. Theo Từ
điển Tiếng Việt do Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa
năm 2006 thì “rác thải” được hiểu với nghĩa như khái niệm “chất thải”, tức là
“rác và các vật bỏ đi sau một quá trình sử dụng nói chung”, ví dụ: Chất thải
công nghiệp, chất thải hạt nhân, xử lý chất thải”.
Như vậy, thực tế không có sự phân biệt rạch ròi giữa khái niệm chất
thải và khái niệm rác thải theo cách giải thích trong Từ điển Tiếng Việt. Bởi
vậy, trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu phân tích khái niệm rác thải trên cơ
sở nội hàm của khái niệm chất thải như cách hiểu đã nêu tại Điều 3 Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014 đó là “chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.
Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn
sử dụng được nữa, bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất
thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi
với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt và
sản xuất được gọi là rác thải; chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu
trong quá trình sản xuất được gọi là phế liệu; chất thải phát sinh sau quá trình
8
sử dụng nước được gọi là nước thải… Từ đó, chúng ta có thể thấy khái niệm
“chất thải” bao trùm lên khái niệm “rác thải”. Chất thải có thể là rác thải,
nước thải, khí thải… nhưng rác thải chỉ bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, ví dụ
như những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y
tế… mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi. Theo quan điểm của GS.TS.
Lê Văn Khoa, có thể chia rác thải thành ba nhóm:
- Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: Gồm các loại phế thải thủy tinh;
sành sứ, kim loại, giấy cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây
dựng…
- Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: Gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng,
rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.
- Chất thải nguy hại: Là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường
và con người như pin, bình ắc quy, hóa chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải
y tế, rác thải điện tử…
Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về rác thải như sau:
“Rác thải là tổng hợp tất cả các loại chất thải rắn được thải ra từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác của con người”.
Với sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa và bản chất của hai khái niệm “rác
thải” và “chất thải”, trong phạm vi luận văn tác giả sẽ tập trung phân tích việc
thi hành pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải dưới góc độ nghiên
cứu các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh
hoạt. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hoạt động khác nhau
được phân loại theo nhiều cách:
9
- Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra
rác thải đường phố, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác
thải hộ gia đình...
- Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể
phân ra rác thải hữu cơ, rác thải vô cơ, kim loại, phi kim,
- Theo mức độ nguy hại, rác thải được phân thành:
+ Rác thải nguy hại: Bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc
hại, rác thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, rác thải phóng
xạ, ...
+ Rác thải không nguy hại: Là những rác thải không chứa các chất và
các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp.
+ Rác thải y tế nguy hại: Là những rác thải có nguồn gốc từ các hoạt
động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường
và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm
và các mô bị cắt bỏ, …
Nghị định số 38/2015/NĐ – CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về
quản lý chất thải và phế liệu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
Điều của các Nghị định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường)
quy định: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải)
được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động
khác [Khoản 1 Điều 3]. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là
chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [Khoản 3
Điều 3]. Các chất nảy sinh xung quanh, gần gũi với người dân chính là chất
10
thải rắn sinh hoạt. Có thể thấy, rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một
bộ phận của chất thải rắn.
Như vậy, rác thải sinh hoạt là toàn bộ các loại vật chất ở thể rắn được
con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm
hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng,
...). Trong đó quan trọng nhất là các loại rác thải sinh ra từ các hoạt động
sản xuất và các hoạt động sống.
1.1.2. Khái niệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
Theo Từ điển Tiếng Việt, xử lý được hiểu là việc “tổ chức và điều
khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Trong cuộc sống hàng
ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên
liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển đồng thời
cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải.
Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm
công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng
trực tiếp trở lại đời sống của con người, làm cho môi trường bị ô nhiễm, con
người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị biến thành bãi rác,
làm mất cảnh quan tại các khu đô thị.
Trong lĩnh vực xử lý rác thải, những hoạt động tổ chức và điều khiển
của các cơ quan nhà nước cũng như việc tổ chức xử lý rác thải của các tổ
chức, cá nhân có liên quan, nhằm giảm bớt những tác động xấu của rác thải
đối với môi trường và sức khỏe con người được hiểu là hoạt động xử lý rác
thải. Đây là tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm kiểm soát quá trình phát
sinh, vận chuyển, xử lý rác thải và những ảnh hưởng, tác động của rác thải
đến môi trường.
11
Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các
biện pháp xử lý rác thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây
dựng hệ thống cống ngầm thoát nước, quy định những nơi chôn rác sinh hoạt,
những quy chế, phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và xử lý rác. Chính
vì vậy, những khu dân cư tập trung và cả đến tận thôn xóm vùng nông thôn
của các nước này đều có một cảnh quan đô thị, làng xóm sạch đẹp, văn minh,
con người khoẻ mạnh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, đặc biệt là vấn đề vứt
rác và thu gom rác. Từ những kết quả thu gom phế liệu, rác thải, con người
nhận thấy họ có thể tái chế các nguyên liệu phế thải thành các sản phẩm tiêu
dùng mới vừa tiết kiệm bãi rác vừa tăng sản phẩm xã hội. Từ cách thức thu
gom, phân loại rác thải đã đem lại nhiều kết quả cho cuộc sống của con người
như: Môi trường sống không bị ô nhiễm, giảm diện tích chôn rác, đem lại
nguồn lợi kinh tế, thu nhập cho lao động xử lý rác.
Trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước, công tác xử lý rác thải sinh
hoạt được các nhà xử lý quan tâm tập trung chủ yếu vào công tác thu gom và
xử lý các loại rác thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của con người. Chính
vì vậy, mô hình thu gom, vận chuyển xử lý khi đó cũng mới chỉ hình thành ở
mức độ đơn giản. Đơn vị chịu trách nhiệm xử lý, thu gom, vận chuyển và xử
lý rác thải sinh hoạt được giao cho Phòng Xử lý đô thị trực thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh, với đơn vị chịu trách nhiệm vệ sinh đường phố là các công
nhân quét dọn và thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân
khu vực đô thị. Rác thải sau đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định.
Trong giai đoạn tiếp theo, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước, các ngành kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu tiên phát triển.
Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du lịch,
dịch vụ theo đó cũng phát triển mạnh là nguyên nhân phát sinh lượng rác thải
12
ngày càng nhiều. Đi kèm với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức
tạp, sự nguy hại về tính chất. Công tác xử lý rác thải sinh hoạt không còn đơn
thuần là xử lý rác thải sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề xử lý rác thải công
nghiệp, xây dựng, y tế, nông nghiệp... Quá trình phát triển đòi hỏi công tác xử
lý rác thải sinh hoạt phát triển tương ứng về cơ chế, chính sách, pháp luật và
các nguồn lực.
Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt ra, công tác xử lý rác thải
sinh hoạt được điều chỉnh bằng một hệ thống các chính sách, văn bản quy
phạm pháp luật quy định khá chi tiết. Song song với đó, hệ thống tổ chức xử
lý rác thải sinh hoạt bắt đầu hình thành và phát triển với các nguyên tắc tương
đối cụ thể; căn cứ theo chức năng xử lý và nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành
liên quan có trách nhiệm xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh của ngành.
Cho đến nay, hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt không chỉ tập trung vào
công tác thu gom và tập kết rác thải sinh hoạt đô thị đến nơi đổ thải theo quy
định. Công tác xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay đã mở rộng hơn, bao gồm từ
hoạt động thu gom, vận chuyển, và xử lý rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh, đảm
bảo các Quy chuẩn Việt Nam và Tiêu chuẩn Việt Nam đặt ra; không những
đối với rác thải sinh hoạt sinh hoạt đô thị, nông thôn mà còn đối với rác thải
sinh hoạt công nghiệp, rác thải sinh hoạt từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,
chăn nuôi và rác thải sinh hoạt y tế.
Trước đây thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải được gộp chung là
hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt và được quy định trong Nghị định
59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý rác thải sinh hoạt quy định, theo đó,
hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt bao gồm các hoạt động quy hoạch xử lý,
đầu tư xây dựng cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt, các hoạt động phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt
13
nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức
khoẻ con người.
Hiện nay, hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được quy định
tại Nghị định 38/2015/NĐ – CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý
chất thải và phế liệu như sau: Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở
chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý có thể kèm theo hoạt động thu gom,
lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại
điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển [Khoản 11 Điều 3]. Xử lý chất thải là
quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm
giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu
tố có hại trong chất thải [Khoản 16 Điều 3].
1.2. Khái niệm và vai trò của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt
Thực tế đã chứng minh, pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các
quan hệ xã hội, luôn có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội.
Sự tác động và ảnh hưởng đó thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, tùy thuộc vào
từng loại đối tượng và từng quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật.
Với khái niệm về rác thải sinh hoạt, khái niệm về hoạt động thu gom, hoạt
động vận chuyển và hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt đã được làm rõ. Do đó,
pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt có thể được hiểu là
một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể
phát sinh rác thải sinh hoạt và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các
hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nhằm bảo vệ,
tái tạo môi trường và nâng cao sức khỏe cộng đồng.
Vai trò nổi bật của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt được thể hiện như sau:
14
Thứ nhất, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
bảo vệ môi trường sống của người dân
Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà phải
được thực hiện bởi mỗi cá nhân. Tuy nhiên, con người chỉ có thể làm được
điều đó khi có nhận thức đúng đắn về bảo vệ môi trường. Vì thế, trong bảo vệ
môi trường, trình độ nhận thức của cộng đồng là yếu tố giữ vai trò quan trọng,
quyết định không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động này.
Pháp luật xử lý rác thải sinh hoạt thông qua các định hướng xử sự và
chế tài của mình đã góp phần làm thay đổi và nâng cao nhận thức của cộng
đồng, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường ở nước ta. Hướng các chủ thể xử
sự đúng theo quy định của pháp luật trong các hoạt động phân loại, giảm
thiểu, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Xác định mục tiêu cho
các hoạt động liên quan đến xử lý rác thải sinh hoạt thông thường của các chủ
thể là vì môi trường, vì con người và bên cạnh đó là vì lợi ích của chính họ.
Thứ hai, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt góp
phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt được quy định sẽ dần góp phần
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân để đảm bảo cho họ được
hưởng quyền sống trong môi trường không ô nhiễm.
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người.
Nếu môi trường sống bị hủy hoại thì loài người có nguy cơ bị hủy diệt. Cuộc
sống của con người luôn gắn bó mật thiết với môi trường: Môi trường tạo
không gian sinh sống cho con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần
thiết cho sự sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng, hấp
thụ và trung hòa các rác thải ra từ quá trình sinh sống và sản xuất của con
người. Tuy vậy, quá trình hoạt động của con người đã vi phạm nghiêm trọng
15
các yếu tố cân bằng của tự nhiên một cách liên tục và ngày càng lớn, đã và
đang làm cho thế giới ngày càng biến đổi. Thực trạng môi trường ô nhiễm do
nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức
không đúng đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường sẽ là vấn đề sống còn đối với mỗi con người, mỗi gia đình,
mỗi cộng đồng dân cư; là việc phải làm thường xuyên, liên tục và là trách
nhiệm của mọi công dân.
Môi trường đang bị ô nhiễm: Các nguồn nước bị suy giảm nhanh, thậm
chí có nơi bị cạn kiệt, đất đai bị xói mòn, thoái hóa, không khí cả ở đô thị và
nông thôn đều bị ô nhiễm nặng, rừng bị tàn phá, rác thải, rác thải không được
xử lý đúng qui trình, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng.
Trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của con người, con
người phải tiến hành các hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất đáp ứng
nhu cầu của bản thân. Quá trình này diễn ra liên tục không ngừng và ngày
càng mở rộng nhằm đảm bảo cho con người không chỉ tồn tại mà còn phát
triển. Trong quá trình đó, con người khai thác và tạo ra những sản phẩm vật
chất từ tự nhiên, đồng thời thải vào tự nhiên những rác thải của quá trình sản
xuất và sinh hoạt. Chính việc khai thác và sử dụng không hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên trong hoạt động kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, y tế và
sinh hoạt của con người đã tạo ra các yếu tố làm hủy hoại chính môi trường.
Cũng như hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt của con người, hoạt động
kinh tế công nghiệp là hoạt động gây ô nhiễm môi trường nặng nề nhất (trên
70% chất gây ô nhiễm mà môi trường đang phải hứng chịu từ các hoạt động
sinh tồn của con người tạo ra là từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp). Phần lớn
lượng khí thải công nghiệp được thải trực tiếp vào môi trường tự nhiên mà
không qua xử lý hoặc xử lý không triệt để, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự
16
sống của các loài sinh vật nói chung, trong đó có con người. Dân số tăng
nhanh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp buộc con người phải sử
dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động. Việc sử dụng rộng
rãi, thường xuyên các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, các loại thuốc
kích thích, tăng trưởng đã góp phần gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả nghiêm
trọng và phổ biến về ô nhiễm môi trường từ sản xuất nông nghiệp là ô nhiễm
nguồn nước và đất canh tác. Như vậy, thực trạng môi trường ô nhiễm do
nhiều nguyên nhân: Do hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt của con
người, từ các hoạt động kinh tế công nghiệp, từ hoạt động sản xuất nông
nghiệp, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức không đúng
đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Để bảo vệ môi trường, Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 của
Ban chấp hành trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng
cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được ban hành. Nghị quyết
nêu rõ quan điểm: Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ
bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương
châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là
chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn
thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu
hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
đến sức khoẻ cộng đồng.
Nghị quyết 24-NQ/TW cũng đưa ra một số giải pháp chủ yếu để thực
hiện công tác chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường
như: Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận
thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết
kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến
17
bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường; Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với
biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; Đổi mới, hoàn thiện
cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hoá nguồn lực cho ứng
phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; và coi
trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường. Để những giải pháp nêu trên được thực hiện
hiệu quả trên thực tế, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác tổ chức từ
các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước (Bộ Chính trị, Ban Kinh tế Trung
ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn
thể nhân dân…) và công tác thực hiện từ người dân.
Để nhấn mạnh hơn vai trò của việc bảo vệ môi trường và ghi nhận con
người có quyền sống trong môi trường trong lành, các nhà lập pháp đã bổ
sung quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến
pháp 2013. Đây là lần đầu tiên quyền được sống trong môi trường trong lành
được quy định trong Hiến pháp 2013 với nội dung: “Mọi người có quyền
được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”
[Điều 43]. Sự ghi nhận này có ý nghĩa và tác động to lớn đến quá trình hoàn
thiện pháp luật môi trường. Nội dung quan trọng nhất của quyền này là quyền
được sống trong môi trường không bị ô nhiễm với chất lượng phù hợp với
cuộc sống con người – quyền này không chỉ giới hạn trong phạm vi nơi ở mà
còn trong cả những hoạt động khác của cuộc sống con người. Như vậy, bảo
đảm quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm của người dân là
trách nhiệm của Nhà nước, của mọi tổ chức và cá nhân.
Là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường, pháp luật về thu gom,
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt cần phải xác định vai trò của mình trong
18
công cuộc bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của con
người. Pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt phải thực sự
là công cụ phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ các hoạt động có liên quan đến
thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt; quy định các quy tắc xử sự mà
các chủ thể phải thực hiện khi tiến hành những hoạt động có liên quan đến
phát thải rác thải vào môi trường với các chế tài cần thiết đảm bảo cho việc
thực hiện; quy định cụ thể thiết chế thực thi thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt bằng pháp luật, trong đó chức năng nhiệm vụ của các cơ quan
nhà nước về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt được xác lập.
Thứ ba, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt dần
dần góp phần nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân để
đảm bảo cho họ được quyền sống trong môi trường không ô nhiễm
Chiến lược quốc gia về thu gom, vận chuyển, xử lý tổng hợp rác thải
sinh hoạt xác định công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam sẽ được
phát triển theo hướng giảm thiểu tối đa lượng rác thải chôn lấp và tăng cường
tỷ lệ tái chế, tái sử dụng. Quan điểm đặt ra là sử dụng công nghệ xử lý rác thải
phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trong đó, ưu tiên áp dụng
công nghệ tái chế, tái sử dụng rác thải sinh hoạt, hạn chế chôn lấp nhằm xử lý
triệt để ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả sử dụng đất.
Đối với rác thải sinh hoạt, tùy điều kiện cụ thể mà các địa phương có
thể áp dụng các công nghệ như chôn lấp hợp vệ sinh, chế biến phân compost,
tái chế hoặc đốt. Đối với rác thải sinh hoạt công nghiệp và y tế, cần tập trung
kết hợp nhiều quy trình công nghệ khác nhau như các công nghệ phụ trợ xử lý
rác thải sinh hoạt (phân loại và xử lý cơ học, xử lý hóa - lý), công nghệ khử
khuẩn xử lý rác thải sinh hoạt y tế bị nhiễm khuẩn,... Chính phủ cũng đã có
chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, nguyên vật liệu phục
19
vụ cho các dự án đầu tư cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt, miễn giảm thuế thu
nhập cho các doanh nghiệp theo quy định, đồng thời ưu tiên lựa chọn các
công nghệ hoàn chỉnh trong nước có khả năng xử lý triệt để rác thải sinh hoạt
và có hiệu quả cao về kinh tế, kỹ thuật. Đặc biệt, ưu tiên sử dụng các công
nghệ xử lý rác thải sinh hoạt khó phân hủy. Ngày 25/05/2011, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 798/QĐ-TTg phê duyệt chương trình
đầu tư xử lý rác thải sinh hoạt giai đoạn 2011 - 2020 dành cho các dự án đầu
tư xây dựng khu liên hợp, cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt tại các địa phương
trên cả nước do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước thực hiện với
các mụcc tiêu cụ thể đặt ra đối với công tác thu gom, xử lý, tái chế và tái sử
dụng rác thải sinh hoạt sinh hoạt đô thị, nông thôn, rác thải sinh hoạt. Đây
cũng là cơ sở để Việt Nam từng bước cải thiện năng lực thu gom, vận chuyển
và xử lý rác thải sinh hoạt ở các địa phương.
Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường nói chung và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng đã được ban hành cả ở
cấp Trung ương và địa phương. Các quy định được điều chỉnh đối với các vấn
đề như xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại; quy định về tái chế; nhập
khẩu phế liệu; cơ sở hạ tầng xử lý rác thải; quy hoạch xử lý rác thải sinh hoạt,
quy hoạch các công trình xử lý rác thải sinh hoạt; phí và lệ phí xử lý rác thải
sinh hoạt, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật và các Quy chuẩn
Việt Nam, Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
Hiện nay, rác thải sinh hoạt được thải ra với khối lượng lớn. Trong khi
đó, tình trạng thải rác thải sinh hoạt trong nông nghiệp rất khó quản lý, do
nguồn phát sinh chủ yếu từ người nông dân, với nhận thức còn thấp, tập quán
sản xuất còn tùy tiện. Các quy định về quản lý đã được đề cập tương đối cụ
thể và nghiêm ngặt tại các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải và
20
Luật Bảo vệ môi trường 2014. Các quy định về công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật về bảo vệ môi trường cũng được thể hiện trong Luật Bảo vệ
môi trường 2014 [Điều 143], theo đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện
có trách nhiệm truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về
bảo vệ môi trường. Như vậy, nền tảng pháp lý về quản lý chất thải đã có. Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi
trường xây dựng Thông tư liên lịch hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và
xử lý rác thải sinh hoạt sau sử dụng nhằm tăng cường công tác quản lý trong
lĩnh vực này.
1.3. Nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt
Nhu cầu về môi trường xanh – sạch – đẹp ngày càng cao hơn khi trình độ
kinh tế - xã hội, dân trí phát triển ngày một cao. Những năm gần đây, thu nhập
của người dân đã có những thay đổi theo hướng tích cực, tuy nhiên, môi trường
sống cũng đang xuống cấp nặng nề. Vì thế, phải có các quy định về thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt bởi nó là một trong những yếu tố quan trọng
nhằm chống/ hạn chế ô nhiễm môi trường.
1.3.1. Nhóm quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
Thứ nhất, về hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt: Thu gom rác thải
sinh hoạt gồm hai nhóm hoạt động: i) Hoạt động thu gom của người sản sinh
rác thải và ii) Giai đoạn trung gian để tập trung rác thải đến địa điểm vận
chuyển, xử lý rác thải. Đây là giai đoạn tương đối quan trọng trong toàn bộ
quá trình quản lý rác thải.
Việc thu gom rác thải là trách nhiệm của người sản sinh chất thải. Với
các khu vực công cộng như: Khu dân cư, đô thị, trường học… thì việc thu
gom rác thải sinh hoạt được thực hiện thông qua việc bố trí các thiết bị thu
21
gom – thùng rác - để tiếp nhận rác thải, từ đó sẽ được vận chuyển đến địa
điểm xử lý rác thải. Nếu chủ thể phát sinh rác thải chưa phân loại thì chủ thể
thu gom phải phân loại tại nguồn và lưu giữ trong túi/ thùng phân biệt được,
không được để lẫn các loại rác thải với nhau.
Cùng với hoạt động thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn có
vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải. Thực hiện tốt giai
đoạn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt đúng với từng loại rác thải. Điều này sẽ góp phần hạn chế
mức độ ảnh hưởng của rác thải đến môi trường, nâng cao hiệu quả việc xử lý
rác thải sinh hoạt.
Để hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt mang lại hiệu quả, cần có
những quy định để điểu chỉnh hoạt động này, có thể bao gồm các nhóm quy
định sau đây:
Nhóm quy định về trách nhiệm của chủ nguồn thải trong việc thu gom,
phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn: Thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt
tại nguồn có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải.
Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thu gom,
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt đúng với từng loại rác thải. Điều này sẽ
góp phần hạn chế mức độ ảnh hưởng của rác thải đến môi trường, nâng cao
hiệu quả việc xử lý rác thải sinh hoạt.
Phải thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo hướng dẫn của
tổ chức thu gom, vận chuyển; phải ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển
rác thải sinh hoạt và thanh toán đầy đủ phí dịch vụ theo quy định tại hợp đồng
đã ký kết.
Nhóm quy định về trách nhiệm của chủ thể thu gom rác thải sinh hoạt:
Phải thu gom rác thải sinh hoạt theo yêu cầu/ quy định của cơ quan nhà nước
22
có thẩm quyền, không thu gom chung các loại rác thải sinh hoạt thông thường
với rác thải nguy hại với nhau. Bên cạnh đó, chủ thể thu gom rác thải sinh
hoạt cũng phải có trách nhiệm đảm bảo thường xuyên yêu cầu về mặt nhân
lực và phương tiện nhằm thu gom toàn bộ rác thải sinh hoạt tại các địa điểm
được quy định, đặt các thùng rác đúng nơi quy định.
Thứ hai, về hoạt động vận chuyển rác thải sinh hoạt: Vận chuyển rác
thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý rác thải. Từ nơi
phát sinh, rác thải qua thu gom đến được nơi xử lý phải qua hoạt động vận
chuyển. Hoạt động này nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm đáng kể sự tồn
đọng rác thải tại nơi thu gom.
Với hoạt động vận chuyển rác thải sinh hoạt, chủ thể vận chuyển đóng
vai trò quyết định đến sự hiệu quả của giai đoạn này. Vì thế, cần thiết phải có
các quy định về trách nhiệm của chủ thể này.
Quy định về trách nhiệm của chủ thể vận chuyển bao gồm các nội
dung: Chủ thể vận chuyển phải vận chuyển rác thải sinh hoạt theo nhóm đã
được phân loại và thu gom tại nguồn, trong các thiết bị chuyên dụng, đảm bảo
không rơi vãi, phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển. Việc vận chuyển
rác thải trong đô thị, khu dân cư chỉ được thực hiện theo đúng các tuyến
đường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân luồng. Phải vận chuyển
rác thải sinh hoạt nguy hại phải được vận chuyển theo tuyến đường riêng biệt
và đảm bảo an toàn tuyệt đối. Trong suốt quá trình vận chuyển, các phương
tiện này sẽ không được dừng/ đỗ (trừ trường hợp thực sự cần thiết).
Việc vận chuyển cần phải được quy định khung giờ cụ thể để đảm bảo
an toàn cho con người và môi trường. Ngoài ra, chủ thể vận chuyển rác thải
sinh hoạt cũng phải đảm bảo điều kiện về phương tiện vận chuyển như: Thiết
23
kế đạt tiêu chuẩn chất lượng; thùng chứa rác kín, không bay mùi; phù hợp với
tuyến đường vận chuyển…
1.3.2. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt
Xử lý rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng luôn là một trong
những bài toán khó để tìm lời giải đối với các nhà nghiên cứu, bởi đây là giai
đoạn đảm bảo cho rác thải sinh hoạt không gây ảnh hưởng đến môi trường và
sức khỏe của con người. Rác thải sau khi được thu gom, phân loại mà không có
khả năng tái sử dụng/ tái chế sẽ được xử lý. Chính vì thế, hoạt động xử lý chất
thải có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, nhằm mục đích giảm
khối lượng và độ độc hại của rác thải sinh hoạt đối với môi trường sống của
người dân.
Cũng giống như hoạt động thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt,
pháp luật cũng cần có quy định về trách nhiệm của chủ thể thực hiện hoạt động
xử lý rác thải sinh hoạt. Những chủ thể này phải có trách nhiệm lựa chọn công
nghệ và chu trình xử lý đối với từng loại rác thải sinh hoạt đã được phân loại sao
cho phù hợp và mang lại hiệu quả tối đa cho quá trình xử lý rác thải sinh hoạt.
Bên cạnh đó, nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
xả thải, bên cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và cơ quan quản
lý nhà nước: Hợp đồng dịch vụ và chi phí dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
sinh hoạt. Những nội dung này sẽ được tác giả phân tích làm rõ tại Chương 2.
sinh hoạt còn bao hàm cả hình thức pháp lý phát sinh mối quan hệ giữa chủ nguồn
24
Tiểu kết Chương 1
Trong phạm vi Chương 1 của Luận văn, tác giả đã trình bày những vấn
đề lý luận chung về pháp luật thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt.
Các vấn đề cơ bản đã đề cập như sau:
Thứ nhất, bản chất của hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
sinh hoạt là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và những chủ thể
liên quan nhằm thực hiện công tác xử lý rác thải sinh hoạt hiệu quả và đáp
ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về môi trường sống không ô nhiễm.
Thứ hai, với tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nhanh
chóng như hiện nay, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Trong đó, vai
trò bảo vệ môi trường sống và nâng cao ý thức cộng đồng là nổi bật nhất.
Thứ ba, nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt được quy định trong một số văn bản pháp luật Việt Nam như Luật Bảo
vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành. Phần chương 2 sau sẽ phân
tích cụ thể nội dung thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển,
xử lý rác thải sinh hoạt.
25
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU GOM, VẬN
CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN THỰC
THI TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt
Trong hệ thống pháp luật về môi trường Việt Nam nói chung và pháp luật
về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nói riêng, các quy định về hoạt động thu
gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt được điều chỉnh chủ yếu thông qua các
văn bản: Luật Bảo vệ môi trường 2014 [13], Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày
24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu [7]; Nghị định số
40/2019/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi
trường [8]; Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại [3]; Thông tư 08/2017/TT-BXD
ngày 16/05/2017 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng;
Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết thi hành một số Điều của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP
ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các
Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường …
2.1.1. Quy định trách nhiệm chung của tổ chức, cá nhân làm phát sinh rác
thải sinh hoạt
Trong cuộc sống hàng ngày, các chủ thể phát thải vào môi trường các
chất thải khác nhau, trong đó có rác thải sinh hoạt. Để quản lý các chủ thể
này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xây dựng và ban hành văn bản quy
26
phạm pháp luật quy định về trách nhiệm áp dụng cho các chủ thể khi phát
chất thải vào môi trường.
Theo quy định tại Điều 95 Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Chủ cơ sở
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phát
sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm phân loại chất thải rắn thông
thường tại nguồn để thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng
và xử lý”. Như vậy, theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, chủ
nguồn thải có thể hiểu là các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động làm
phát sinh rác thải sinh hoạt. Trong quá trình phát thải đó, chủ nguồn thải có
nghĩa vụ phân loại rác thải sinh hoạt thông thường tại nguồn theo quy định.
Trường hợp rác thải sinh hoạt là chất thải nguy hại, chủ nguồn thải chất
thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn
kỹ thuật môi trường; trường hợp chủ nguồn thải chất thải nguy hại không có
khả năng xử lý chất thải nguy hại đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường phải
chuyển giao cho cơ sở có giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Ngoài ra, chất
thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo
đảm không tác động xấu đến con người và môi trường [Điều 91, Luật Bảo vệ
môi trường 2014]. Thông qua quy định này, có thể thấy: Ngoài việc phải tuân
thủ những quy định chung về rác thải sinh hoạt thông thông thường, chủ
nguồn thải rác thải nguy hại còn phải tuân thủ những điều kiện/ tiêu chuẩn
khác – liên quan đến quản lý chất thải nguy hại. Trong phạm vi giới hạn của
Luận văn này, tác giả chỉ đi sâu phân tích các quy định liên quan đến rác thải
sinh hoạt thông thường (gọi là rác thải sinh hoạt).
Để cụ thể hóa những quy định nêu trên, khoản 19 Điều 3 Nghị định
38/2018/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế
liệu quy định: “Chủ nguồn thải là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành
27
cơ sở phát sinh chất thải”. Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của
Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu đưa ra nguyên tắc chung về quản lý
chất thải, trong đó, trách nhiệm phân loại chất thải được quy định tại khoản 2
Điều 4 như sau: “Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại
nguồn nhằm mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và
thu hồi năng lượng”.
Ngoài ra, Điều 16 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của
Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị
định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi
trường cũng quy định chủ nguồn thải có trách nhiệm: Thực hiện việc phân
loại, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt theo quy định tại Điều 15 Nghị định này;
Nộp phí vệ sinh cho thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy
định; Ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý; thanh toán toàn bộ
chi phí theo hợp đồng dịch vụ; chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt (trừ hộ gia
đình, cá nhân) chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt cho các đối tượng sau: (i)
Cơ sở tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý và xử lý có chức năng phù hợp; (ii) Chủ
thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đáp ứng quy định tại Điều 18
Nghị định này.
Trường hợp chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt tự tái sử dụng, sơ chế, tái
chế, xử lý, đồng xử lý, thu hồi năng lượng thì phải đáp ứng các yêu cầu: (i)
Phải phù hợp với quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường,
kế hoạch bảo vệ môi trường được xác nhận hoặc giấy tờ tương đương; (ii)
Thực hiện bằng công nghệ, công trình bảo vệ môi trường, thiết bị sản xuất sẵn
có trong khuôn viên cơ sở phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và phải đáp ứng
các yêu cầu bảo vệ môi trường (trừ chất thải rắn sinh hoạt thuộc nhóm hữu cơ
dễ phân hủy phát sinh từ các phương tiện thăm dò, khai thác dầu khí ngoài
28
khơi).
Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có các quy định về trách nhiệm của chủ
nguồn thải rác thải sinh hoạt, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam nói chung (kể cả
Bộ luật Hình sự 2015 [12] và Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của
Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số
100/2015/QH13) [14] và pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải
sinh hoạt nói riêng (bao gồm Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016
của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường) [10] chưa có bất kỳ văn bản nào quy định về chế tài khi chủ
nguồn thải không phân loại rác thải sinh hoạt theo đúng quy định, tất cả đều
phụ thuộc vào ý thức của chủ nguồn thải trong quá trình quản lý rác thải.
Chính sự thiếu vắng các quy định về chế tài này đã phần nào làm cho quy
định về trách nhiệm của chủ nguồn thải nêu trên không khả thi và không hiệu
quả khi áp dụng trên thực tế.
2.1.2. Quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
Khoản 22 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của
Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu xác định: “Chủ thu gom, vận
chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ thu gom,
vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định”.
Tại khoản 11 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của
Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Vận chuyển chất thải là
quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo
hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và
sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển”. Như vậy, trong giai
đoạn vận chuyển, rác thải có thể được lưu trữ tạm thời trước khi được đưa đi
để xử lý, tiêu hủy. Chủ lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt là các tổ chức, cá nhân
29
được phép thực hiện việc lưu giữ chất thải thông thường. Việc lưu giữ chất
thải tuy chỉ trong một thời gian ngắn nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Lưu
giữ chất thải sẽ tập trung được khối lượng lớn chất thải với những điều kiện
nhất định cho đến khu được vận chuyển đến nơi xử lý. Việc pháp luật môi
trường quy định về những quy định đối với chủ lưu giữ chất thải là cần thiết.
Theo quy định của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của
Chính phủ về quản lý chất thải rắn (Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành
vào ngày 15/02/2020 và được thay thế bởi Nghị định 98/2019/NĐ-CP ngày
27/12/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định
thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật) thì thời gian lưu giữ đối với chất thải rắn
thông thường không quá 2 ngày [Điều 24]. Tuy nhiên, Nghị định
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế
liệu lại không quy định thời gian lưu giữ đối với loại chất thải này. Nghị định
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 chỉ dừng lại ở việc quy định lưu giữ rác
thải sinh hoạt sau khi được phân loại được lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết
bị lưu chứa phù hợp [Khoản 2, Điều 15]. Đến nay, chưa có văn bản nào quy
định về thời hạn lưu trữ này kể từ khi Nghị định 59/2007/NĐ-CP hết hiệu lực
thi hành. Điều này có thể dẫn đến sự lúng túng cho chủ thể áp dụng pháp luật
đối với thời gian lưu trữ rác thải sinh hoạt – kể cả Nghị định 98/2019/NĐ-CP
ngày 27/12/2019.
2.1.3. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt
Khoản 23 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của
Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Chủ xử lý chất thải là tổ
chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử lý chất thải”. Bên cạnh đó,
Điều 21 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 và khoản 8 Điều 3 Nghị
định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 cũng quy định điều kiện để cơ sở được
30
xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm: Có báo cáo đánh giá tác động môi
trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với dự án đầu tư cơ sở xử
lý chất thải; Có hệ thống, thiết bị xử lý (kể cả sơ chế, tái chế, đồng xử lý, thu
hồi năng lượng), khu vực lưu giữ tạm thời phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và
quy trình quản lý theo quy định; Có các công trình bảo vệ môi trường tại cơ
sở xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy
định; Có chương trình quản lý và giám sát môi trường; Cơ sở xử lý chất thải
rắn sinh hoạt phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận hoàn thành công
trình bảo vệ môi trường theo quy định; Địa điểm của cơ sở xử lý chất thải rắn
sinh hoạt phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch tỉnh…
Cũng theo quy định của pháp luật môi trường tại Nghị định
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015, việc lựa chọn chủ đầu tư xử lý chất thải
rắn sinh hoạt phải tuân theo quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng và đấu
thầu; còn việc lựa chọn chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt để quản lý, vận hành
cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà
nước theo quy định của pháp luật về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích.
Trường hợp cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư ngoài ngân sách,
thì chủ đầu tư trực tiếp quản lý, vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt
do mình đầu tư hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác làm chủ xử lý chất thải rắn
sinh hoạt theo quy định của pháp luật.
Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 cũng quy định cụ thể
trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt là phải xây dựng
phương án cải tạo, phục hồi môi trường khi đóng bãi chôn lấp chất thải rắn
sinh hoạt trình cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp sử dụng nguồn kinh phí
hỗ trợ từ Trung ương, chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải trình
phương án cho Bộ Tài nguyên và môi trường xem xét, tổng hợp. Ngay sau khi
31
đóng bãi chôn lấp, chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải tiến hành
cải tạo, phục hồi môi trường và cảnh quan…; tổ chức giám sát môi trường
định kỳ, theo dõi diễn biến môi trường tại bãi chôn lấp ít nhất 5 năm kể từ
ngày đóng bãi chôn lấp…
Về trách nhiệm lập, thẩm định, phê duyệt giá dịch vụ xử lý chất thải rắn
sinh hoạt, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 quy định: Đối với
cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư từ ngân sách nhà nước trên địa
bàn một tỉnh/ thành phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố giao các sở
chuyên ngành lập phương án giá gửi Sở Tài chính chủ trì tổ chức thẩm định,
trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố phê duyệt. Đối với cơ sở xử lý chất
thải rắn sinh hoạt được đầu tư từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước,
chủ đầu tư lập và trình phương án giá, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các
cơ quan liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố phê
duyệt. Đối với các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt liên vùng, liên tỉnh, chủ
đầu tư lập phương án giá gửi Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với bộ, ngành liên
quan thẩm định.
Như vậy, trách nhiệm của chủ xử lý chất thải sinh hoạt là xử lý chất
thải rắn sinh hoạt theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015. Xây dựng phương án giá dịch vụ xử lý
chất thải rắn sinh hoạt gửi Sở Tài chính thẩm định và trình Ủy ban nhân dân
tỉnh phê duyệt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số
38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 (đối với cơ sở xử lý chất thải rắn được đầu
tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước); chỉ tiếp nhận chất thải rắn sinh
hoạt với các đơn vị thu gom, vận chuyển đáp ứng các yêu cầu theo Điều 8 của
Quy định này; định kỳ hàng năm báo cáo Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và
Môi trường, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố về tình hình tiếp nhận xử
32
lý chất thải rắn sinh hoạt từ các đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh
hoạt (kỳ báo cáo tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 của năm
báo cáo). Thời hạn chậm nhất trước ngày 15 tháng 01 của năm tiếp theo; hoặc
báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Từ những quy định nêu trên, có thể thấy: Để một cơ sở được xử lý rác
thải sinh hoạt được chọn để xử lý rác thải sinh hoạt thì phải đáp ứng rất nhiều
điều kiện theo quy định pháp luật. Quy định này cũng có mặt tích cực là sẽ
giúp cho chủ thể xã hội lựa chọn được những cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt
đạt tiêu chuẩn chất lượng với chi phí hợp lý. Tuy nhiên, với khối lượng rác
thải sinh hoạt ngày càng gia tăng nhanh chóng như hiện nay, cùng với đó là số
lượng cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn còn hạn chế và thời gian để lựa
chọn cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn rất dài, điều này dẫn đến sự ứ
đọng rác thải sinh hoạt do không xử lý kịp - và một trong những nguyên nhân
phổ biến dẫn đến tình trạng nêu trên là thiếu cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt
tiêu chuẩn.
2.1.4. Hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh
hoạt
Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt là hợp
đồng được ký kết giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ để thực
hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Chủ thể sử dụng
dịch vụ thường là chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt - có thể là bất kỳ cá nhân,
tổ chức nào có hoạt động phát thải sinh hoạt ra môi trường sống. Chủ thể
cung cấp dịch vụ thường là cá nhân/ cơ quan/ tổ chức đáp ứng điều kiện về
cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo quy định.
Nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng: Việc thu gom, vận chuyển và
xử lý rác thải sinh hoạt phải được thực hiện thông qua hợp đồng dịch vụ. Hợp
33
đồng dịch vụ xử lý chất thải sinh hoạt chỉ được ký kết khi cơ sở xử lý rác thải
sinh hoạt đã được xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy
định. Các bên ký kết hợp đồng phải có đủ kinh phí, năng lực để thực hiện các
trách nhiệm theo thỏa thuận tại hợp đồng. Các bên ký kết hợp đồng có trách
nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng trong việc
thanh tra, kiểm tra hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt
theo thỏa thuận tại hợp đồng và tuân thủ quy định pháp luật hiện hành.
Theo tính chất nội dung công việc, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày
24/04/2015 chia hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh
hoạt có các loại sau: (i) Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất
thải rắn sinh hoạt (ii) Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn
sinh hoạt; (iii) Hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Bộ Xây dựng
hướng dẫn mẫu hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt [Điều 24]. Như vậy, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 chỉ
phân loại hợp đồng dịch vụ và giao thẩm quyền hướng dẫn các mẫu hợp đồng
này cho Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, tại Thông tư số 08/2017/TT-BXD ngày
16/05/2017 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng (văn
bản hướng dẫn Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất
thải và phế liệu) lại không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn về nội dung
hoặc các điều khoản cơ bản của các loại hợp đồng nêu trên. Tại Nghị định
40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều
của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi
trường cũng không có bất kỳ quy định nào về vấn đề này. Điều này đã dẫn
đến sự khó khăn cho các chủ thể áp dụng pháp luật trong quá trình đàm phán,
soạn thảo và giao kết hợp đồng dịch vụ liên quan đến việc thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên thực tế.
34
Về chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (rác thải
sinh hoạt), Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 quy định như sau:
1. Chi phí thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt phát
sinh từ các cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được bù đắp thông qua ngân
sách địa phương.
2. Chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt là cơ sở để xác định giá dịch vụ
và là căn cứ để ký hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Chi phí xử
lý chất thải rắn sinh hoạt được tính đúng, tính đủ cho một đơn vị khối lượng
chất thải rắn sinh hoạt để thực hiện xử lý bao gồm:
a) Chi phí vận hành, duy trì;
b) Chi phí khấu hao, máy móc, nhà xưởng, công trình được đầu tư cho
xử lý chất thải rắn sinh hoạt (bao gồm nước rỉ rác và khí thải nếu có) đạt tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định;
c) Các chi phí, thuế và phí khác theo quy định của pháp luật.
3. Nguồn thu để chi trả cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
rắn sinh hoạt bao gồm phí vệ sinh và các nguồn thu khác theo quy định của
pháp luật [Điều 25].
Nhìn chung, quy định nêu trên cũng tương đối rõ ràng khi đề cập đến
các chi phí làm căn cứ tính chi phí xử lý rác thải. Tuy nhiên, để đảm bảo quy
định này được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế, đòi hỏi các cơ quan
có thẩm quyền phải xây dựng và công bố các loại chi phí cụ thể làm cơ sở
tính chi phí xử lý rác thải được để cập ở trên trong từng thời kỳ cụ thể. Tránh
trường hợp chủ thể quyền áp dụng các mức chi phí bất hợp lý trong quá trình
tính chi phí xử lý rác thải.
2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác
35
thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh
Hóc Môn là một huyện ngoại thành, nằm vị trí hướng Tây Bắc Thành
phố Hồ Chí Minh, diện tích tự nhiên là 10.917,2ha, gồm 11 xã và 01 thị trấn,
với 87 ấp – khu phố, 1.449 tổ nhân dân – tổ dân phố, có 148.007 hộ dân với
542.243 nhân khẩu [1]. Phía Bắc Hóc Môn giáp huyện Củ Chi; phía Nam giáp
Quận 12; phía Đông giáp thành phố Thuận An của tỉnh Bình Dương, ranh
giới là sông Sài Gòn; và phía Tây giáp huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, huyện
Bình Chánh và quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh. Với vị trí cửa ngõ của
Thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ,
hương lộ khá hoàn chỉnh. Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông
đường thủy, những điều này đã tạo cho huyện một vị trí thuận lợi để phát triển
công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư, đồng thời
là vành đai cung cấp thực phẩm cho Thành phố.
Triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (giai đoạn 2016 –
2020), huyện Hóc Môn đã thực hiện các công trình, chương trình trọng điểm,
tập trung thực hiện nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí điểm cơ
chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, 07 chương trình
đột phá, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU ngày
19/10/2018 của Thành ủy về thực hiện Cuộc vận động “Người dân thành phố
Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch vì thành phố sạch và giảm
ngập nước”. Qua đó, kinh tế huyện tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch đúng hướng, văn hóa xã hội có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, đời
sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên rõ rệt, vệ sinh môi
36
trường, mỹ quan đô thị được cải thiện. Theo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 –
2020 [1], một số chỉ tiêu đạt được về phát triển kinh tế và về quản lý môi
trường như sau:
Về phát triển kinh tế: Kinh tế huyện tăng trưởng ổn định, bình quân đạt
15,71%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết; cơ cấu chuyển dịch đúng hướng
“thương mại – dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp”.
Thu nhập bình quân đầu người hiện đạt 63,732 triệu đồng/người/năm. Huyện
có khoảng 10.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, 23
hợp tác xã và 21 tổ hợp tác hoạt động ổn định.
Chỉ đạo thực hiện Đề án nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 tại 10 xã và Đề án xây dựng huyện nông
thôn mới giúp bộ mặt nông thôn của huyện đã đổi mới với cơ sở vật chất
khang trang hơn; hạ tầng giao thông nông thôn được bê tông, nhựa hóa; các
tuyến đường liên xã, liên ấp được nâng cấp mở rộng tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân đi lại, làm ăn, sinh sống; đồng thời từng bước tạo cảnh quan,
môi trường sống xanh – sạch – đẹp và môi trường đầu tư cho các doanh
nghiệp. Cơ sở văn hóa, thể dục – thể thao, trường học, chợ… được đầu tư xây
mới, nâng cấp, mở rộng; thu nhập của người dân được cải thiện, đời sống vật
chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững. Đến nay, đã có 04 xã được thành phố công nhận xã đạt
chuẩn nông thôn mới giai đoạn nâng cao.
Về quản lý môi trường: Tình hình ô nhiễm môi trường cơ bản được
kiểm soát; thực hiện kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi
trường theo quy định. Chỉ đạo triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị
thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU 19/10/2018 của Thành ủy và Nghị quyết số
37
10-NQ/HU ngày 03/5/2019 của Huyện ủy về thực hiện cuộc vận động “Người
dân huyện Hóc Môn không xả rác ra đường và kênh rạch vì Thành phố sạch
và giảm ngập nước”; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và được sự đồng thuận
cao của Nhân dân trong việc triển khai thực hiện; duy trì thực hiện vệ sinh
môi trường trên các tuyến đường, sông kênh rạch, các vị trí, khu vực thường
xuyên tồn đọng rác cơ bản được vệ sinh sạch sẽ.
2.2.2. Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển,
xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn
Một là, triển khai thực hiện các quy định về phân loại chất thải rắn sinh
hoạt
Với mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố phát
triển kinh tế bền vững và thân thiện với môi trường, Ủy ban nhân dân Thành
phố đã ban hành Quyết định số 44/2018/QĐ-UBND ngày 14/11/2018 ban
hành quy định về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh [16]. Kế hoạch số 1826/KH-UBND ngày 08/4/2019
của Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn về triển khai thực hiện phân loại chất
thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn huyện Hóc Môn. Theo đó, Thành phố
Hồ Chí Minh nói chung và huyện Hóc Môn nói riêng tập trung vào các mục
tiêu: Nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, từng bước
hình thành thói quen phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tăng cường
tái chế, tái sử dụng; Tỷ lệ hộ gia đình và ngoài hộ gia đình (các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, cơ quan, trường học, bệnh viện...) thực hiện phân loại chất
thải rắn sinh hoạt tại nguồn đạt từ 50% trở lên.
Cùng với việc mở rộng đô thị về không gian, sự gia tăng dân số và tốc
độ đô thị hóa ngày càng nhanh dẫn đến sức ép về việc phát sinh rác thải lên
môi trường của huyện Hóc Môn ngày càng lớn. Xác định việc xử lý rác thải
38
sinh hoạt là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác bảo vệ môi
trường, gìn giữ môi trường xanh - sạch - đẹp.
Để xây dựng môi trường sống xanh, sạch ở từng địa bàn dân cư, huyện
Hóc Môn đã chủ động triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 19
tháng 10 năm 2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Cuộc vận
động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh
rạch, vì Thành phố sạch và giảm ngập nước” và Nghị quyết số 10-NQ/HU
ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện. Sau hơn 06
tháng thực hiện, Nhân dân huyện Hóc Môn từng bước có sự chuyển biến và
nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường. Cụ thể, người dân đã thực
hiện tốt việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tích cực tham gia
cùng các lực lượng chức năng xử lý các địa điểm thường xuyên tồn đọng rác
gây ô nhiễm môi trường. Cũng thông qua cuộc vận động nêu trên, đã có
98,88% hộ dân tham gia đăng ký chuyển giao rác thải sinh hoạt cho các tổ
chức có chức năng thu gom.
Hai là, triển khai thực hiện công tác tổ chức, sắp xếp hoạt động thu
gom rác dân lập
Công văn số 129/UBND-ĐT ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức, sắp xếp hoạt động thu gom rác
dân lập trên địa bàn quận, huyện trong năm 2018. Trong đó: Giao Ủy ban
nhân dân các quận, huyện tổ chức, sắp xếp hoạt động của lực lượng thu gom
rác dân lập trong năm 2018; Giao Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện
các quy định, phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; Tuyên
truyền, vận động lực lượng thu gom rác dân lập tham gia và thành lập Hợp tác
xã; Đề xuất chính sách hỗ trợ, khuyến khích chuyển đổi Tổ thu gom rác, các
đường dây thu gom rác chuyển đổi sang mô hình hoạt động là Hợp tác xã.
39
Công văn số 1083/UBND ngày 29/3/2018 của Ủy ban nhân dân huyện
Hóc Môn về việc tổ chức, sắp xếp hoạt động thu gom rác dân lập trên địa bàn
huyện với nội dung: Khẩn trương xây dựng kế hoạch, lộ trình chuyển đổi các
Tổ thu gom rác dân lập sang hoạt động có tổ chức là Hợp tác xã hoặc doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân.
Theo Công văn số 3919/STNMT-CTR ngày 22/3/2019 của Sở Tài
nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh về rà soát, tăng cường tổ
chức sắp xếp lực lượng thu gom rác dân lập trên địa bàn quận, huyện. Về kết
quả triển khai: Đã có 08 quận, huyện hoàn thành chỉ tiêu vận động lực lượng
thu gom rác dân lập tham gia vào mô hình Hợp tác xã hoặc Doanh nghiệp có
tư cách pháp nhân (gồm: Quận 9, Thủ Đức, Bình Thạnh, Bình Chánh, Hóc
Môn, Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ).
Ba là, triển khai thực hiện các văn bản của cơ quan cấp trên liên quan
đến giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
Ngày 22/10/2018, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND quy định về giá tối đa đối với dịch vụ thu
gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và
giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước [15]. Văn bản quy định về đơn giá thu gom, vận chuyển và xử lý rác
thải sinh hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Điều 2: Mức giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải
rắn sinh hoạt sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý
chất thải rắn sinh hoạt sử dụng ngân sách nhà nước (Giá này đã tách thuế giá
trị gia tăng đầu vào và chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng đầu ra)
1. Giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh
hoạt sử dụng nguồn ngân sách nhà nước
40
a) Giá tối đa đối với dịch vụ thu gom tại nguồn như sau:
- Đối với thu gom tại nguồn bằng phương pháp thủ công: 364.000
đồng/tấn, tương đương 364 đồng/kg.
- Đối với thu gom tại nguồn bằng phương tiện cơ giới: 166.000
đồng/tấn, tương đương 166 đồng/kg.
b) Giá tối đa đối với dịch vụ vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là
247.000 đồng/tấn, tương đương 247 đồng/kg.
2. Giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng ngân sách
nhà nước là 475.000 đồng/tấn, tương đương 475 đồng/kg.
Điều 3: Lộ trình thực hiện
Đơn vị
Lộ trình
tính
Nội dung
Năm
Năm
Năm
Năm
2018-
2020
2021
2022
2019
trở đi
1. Giá tối đa đối với dịch vụ
thu gom, vận chuyển chất thải
rắn sinh hoạt sử dụng nguồn
ngân sách nhà nước
a) Giá tối đa đối với dịch vụ
thu gom tại nguồn
Thu gom thủ công
Đồng/kg
364
364
364
364
41
Thu gom cơ giới
Đồng/kg
166
166
166
166
b) Giá tối đa đối với dịch vụ
Đồng/kg
40
133,5
227
247
vận chuyển chất thải rắn sinh
hoạt
2. Giá tối đa dịch vụ xử lý
Đồng/kg
---
---
---
475
chất thải rắn sinh hoạt sử dụng
ngân sách nhà nước
Ủy ban nhân dân quận huyện căn cứ vào mức giá tối đa nêu trên và
hướng dẫn của các Sở ngành liên quan để xây dựng mức giá chi tiết áp dụng
cho các đối tượng trên địa bàn quản lý. Trong quá trình thực hiện, khi có sự
thay đổi các cấu phần của đơn gía chi tiết (tiền lương, định mức giá nhiên liệu
và các yếu tố khác trong xây dựng đơn giá), Ủy ban nhân dân các quận, huyện
chủ động điều chỉnh giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải
rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước áp dụng trên địa bàn
quản lý cho phù hợp.
Với quy định này, chi phí vận chuyển, xử lý rác thải được điều chỉnh
tăng định kỳ mỗi năm. Đồng thời, mỗi quận, huyện sẽ có mỗi mức giá khác
nhau trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt, nhưng
không được vượt quá mức giá tối đa quy định tại Quyết định số 38/2018/QĐ-
UBND ngày 22/10/2018.
Hợp đồng cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt (Phụ lục 1)
được ký giữa Bên thuê dịch vụ (Ủy ban nhân dân xã) và Bên cung cấp dịch vụ
(Công ty trách nhiệm hữu hạn). Theo đó: Nội dung công việc là Bên thuê dịch
vụ thuê Bên cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và
vận chuyển toàn bộ khối lượng phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm trung chuyên
42
theo đúng quy định; Giá trị hợp đồng 14.500.000 đồng/tháng (đối với 1 ấp) và
50.000.000 đồng/tháng (đối với 3 ấp); Phương thức thanh toán: Bên thuê dịch
vụ ủy quyền cho Bên cung cấp dịch vụ thực hiện thu phí dịch vụ tại hộ dân
trên địa bàn thu gom theo giá được Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn ban
hành, với tổng số tiền thu tương ứng với tổng giá trị hợp đồng.
Như vậy, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt
theo Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND ngày 22/10/2018 được tính trên đơn
vị đồng/kg [15]. Trong khi đó, việc triển khai trên thực tế tại các địa phương
với đơn vị tính theo quy định này là rất khó thực thi. Bởi vì, không thể đo
lường cụ thể khối lượng rác thải sinh hoạt được thải ra hàng ngày trên địa
bàn. Theo tác giả, với mức giá dịch vụ tính theo địa bàn xả thải và đơn vị
đồng/tháng mà địa phương tại huyện Hóc Môn triển khai được xem là giải
pháp khả thi.
Bốn là, triển khai quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Quyết định số 12/2019/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của Ủy ban nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, quy định cụ thể việc
quản lý cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt bao gồm: Phân loại, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt; Quản lý cung ứng
dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt từ các cá nhân, hộ gia
đình, chủ nguồn thải, nơi công cộng đến các điểm hẹn hoặc trạm trung
chuyển; Quản lý cung ứng dịch vụ vận chuyển, trung chuyển chất thải rắn
sinh hoạt từ điểm hẹn, trạm trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng
hoặc bãi chôn lấp cuối cùng; Quản lý cung ứng dịch vụ xử lý chất thải rắn
sinh hoạt; Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt.
43
Kế hoạch số 2228/KH-UBND ngày 06/5/2019 của Ủy ban nhân dân
huyện Hóc Môn về thực hiện công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện
Hóc Môn. Đối với hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt: Thứ nhất, tăng cường kiểm tra, giám sát các đơn vị hoạt động sản xuất,
kinh doanh dịch vụ, các chợ dân sinh và các khu nhà cho người lao động thuê
để ở, buộc các đơn vị phải đăng ký thu gom rác sinh hoạt và nộp phí đúng quy
định; Thứ hai, vận động hộ dân đăng ký và chuyển giao rác sinh hoạt trên địa
bàn 12 xã – thị trấn đạt 100% tổng số hộ dân; Thứ ba, tiếp tục triển khai công
tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; Thứ tư, thực hiện giám sát,
kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển rác sinh
hoạt, đảm bảo 100% các đơn vị thực hiện theo quy định.
Theo khoản 11 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất
thải và phế liệu quy định: “Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất
thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu
giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm
tập kết hoặc trạm trung chuyển”. Đây là hoạt động có vai trò quan trọng trong
hoạt động xử lý rác thải. Từ nơi phát thải, rác thải qua thu gom đến được nơi
xử lý hoặc tái chế phải qua hoạt động vận chuyển. Hoạt động này nếu được
thực hiện tốt sẽ làm giảm đáng kể sự ứ đọng rác thải tại nơi thu gom.
Rác thải sinh hoạt thông thường phải được vận chuyển theo nhóm đã
được phân loại tại nguồn, trong thiết bị chuyên dụng phù hợp, bảo đảm không
rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển. Hoạt động vận chuyển rác
thải trong đô thị, khu dân cư chỉ được thực hiện theo những tuyến đường được
cơ quan có thẩm quyền phân luồng giao thông quy định. Trường hợp vận
chuyển rác thải nguy hại thì phải vận chuyển theo tuyến đường riêng để đảm
bảo an toàn một cách tuyệt đối cho những người xung quanh.
44
Như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Hóc Môn cũng đã ban
hành quy định về việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Theo đó,
chủ thể thực hiện hoạt động này phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, cụ
thể: Chủ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt thông thường chỉ được phép
hoạt động khi các phương tiện, thiết bị, máy chuyên dụng đảm bảo các yêu
cầu kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng
cấp phép lưu hành. Chủ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt thông thường
căn cứ kế hoạch thực hiện dịch vụ được cơ quan cấp huyện giao, thông báo
lịch trình dịch vụ (thời gian, tần suất, phương thức thu gom rác thải sinh hoạt)
cho các đối tượng phục vụ, vùng phục vụ và đồng thời thông báo Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi phục vụ để thống nhất theo dõi xử lý hoạt động vệ sinh
trên địa bàn do mình phụ trách.
Theo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ
huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 [1] và Báo cáo số
6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài nguyên – môi trường, Ủy
ban nhân dân huyện Hóc Môn về kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện năm 2019 [2] thì:
Tại huyện Hóc Môn lắp đặt được 37 thùng rác công cộng, thành lập 08
tổ tự quản về môi trường, chuyển đổi lực lượng thu gom rác dân lập sang tổ
chức có tư cách pháp nhân; vận động 90.848/91.881 hộ dân tham gia đăng ký
chuyển giao rác sinh hoạt (đạt tỷ lệ 98,88%); 8.562/91.881 hộ dân thực hiện
phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn (tỷ lệ 9,31%).
Trên địa bàn huyện có 3 Hợp tác xã và 19 Công ty làm dịch vụ thu gom
rác, đảm nhận việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt từ các chủ nguồn
thải đến các trạm trung chuyển trên địa bàn. Nhằm chuẩn hóa, chuyển đổi
mẫu phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện góp phần
45
nâng cao chất lượng thu gom, hạn chế tối đa việc rơi vãi rác thải, nước rỉ rác
trong quá trình thu gom, vận chuyển rác sinh hoạt và đảm bảo mỹ quan đô thị
trên địa bàn huyện, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Kế hoạch số
914/KH-UBND ngày 01 tháng 03 năm 2019 về việc chuẩn hóa, chuyển đổi
mẫu phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện.
Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân các
xã - thị trấn đã yêu cầu các đơn vị thu gom rác trên địa bàn thực hiện chuyển
đổi phương tiện thu gom rác không đảm bảo tiêu chuẩn sang các phương tiện
vận chuyển đạt chuẩn. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn huyện có tổng
số 86 xe cần chuyển đổi, trong đó đã có 07 phương tiện chuyển đổi sang
phương tiện đạt chuẩn bao gồm 5 xe ép và 02 xe tải chuyên dùng, 05 hồ sơ đã
hoàn tất thủ tục vay và chờ nhận xe. Số phương tiện còn lại đang tiếp tục làm
hồ sơ chuyển đổi trong thời gian tới. Bên cạnh đó, còn có 1 bãi chôn lấp rác
thuộc xã Đông Thạnh hoạt động từ năm 1991 đến năm 2002 và nhiều trạm
trung chuyển.
Hàng năm, huyện bố trí 12 điểm tiếp nhận chất thải nguy hại hộ gia
đình tại các xã - thị trấn; Chương trình tiếp nhận chất thải nguy hại trong thời
gian qua đã huy động được sự tham gia của lực lượng Ban nhân dân ấp - Ban
Điều hành khu phố, hội viên, đoàn viên thanh niên và nhân dân các xã - thị
trấn tham gia; chỉ đạo Uỷ ban nhân dân huyện ký hợp đồng với đơn vị có
chức năng tiến hành thu gom, xử lý lượng chất thải nguy hại theo quy định. Từ
năm 2016 đến tháng 6/2018, đã thu gom được 279kg chất thải nguy hại hộ gia
đình bao gồm: Bóng đèn huỳnh quang thải, pin thải, chai lọ đựng hóa chất thải.
Huyện Hóc Môn đã yêu cầu cá nhân có hoạt động phát thải rác thải
sinh hoạt và các chủ thể kinh doanh trên địa bàn huyện có trách nhiệm thực
hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ở nơi công cộng;
46
đổ rác thải đúng thời gian và nơi quy định. Thông báo ngay cho cơ quan có
thẩm quyền khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải
sinh hoạt.
Cũng theo Báo cáo số 6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài
nguyên – môi trường huyện Hóc Môn, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
hàng ngày trên địa bàn huyện ước khoảng 535 tấn/ngày. Rác thải sinh hoạt
được tập trung về 03 trạm trung chuyển rác tại xã Bà Điểm, xã Xuân Thới
Thượng, xã Tân Thới Nhì và được công ty TNHH MTV dịch vụ công ích Hóc
Môn thực hiện vận chuyển đi xử lý theo quy định. Chất thải rắn nguy hại phát
sinh trên địa bàn chủ yếu từ các cơ sở sản xuất, hầu hết các cơ sở này đều thuê
đơn vị có chức năng để thu gom và xử lý theo đúng quy định của pháp luật về
chất thải nguy hại. Có 155/155 doanh nghiệp phát sinh chất thải nguy hại từ
600kg/năm trở lên đăng ký sổ chủ nguồn thải (tỷ lệ 100%), các đơn vị có
lượng chất thải dưới 600kg/năm thì bố trí nơi lưu giữ chất thải ở khu vực
riêng biệt, định kỳ thuê đơn vị chức năng đến thu gom xử lý theo quy định.
Tuy nhiên, vì thiếu hụt cơ sở xử lý rác thải nên đã gây ô nhiễm môi
trường, nhất là thời điểm nắng nóng kéo dài - lượng rác thải sinh hoạt thu
gom ngày càng nhiều nhưng không được xử lý bao nhiêu. Với tình trạng các
bãi rác ngày càng quá tải như hiện nay, các cơ quan chức năng ở Hóc Môn
cần tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động thu gom, xử lý rác, đặc biệt là
công tác vận hành phải đúng quy trình và phải có biện pháp xử lý vệ sinh
nhằm tránh tình trạng người dân bức xúc vì ô nhiễm môi trường từ các bãi rác
hiện nay. Một trong những yếu tố hết sức quan trọng để mang đến sự hiệu quả
khi xử lý chất thải là công nghệ xử lý – Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay vẫn chưa thể trang bị được công nghệ xử lý chất thải tiên
47
tiến. Điều này tất yếu dẫn đến sự thiếu hiệu quả và tốn kém trong công tác xử
lý rác thải sinh hoạt.
Nhìn chung, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt
trên địa bàn huyện Hóc Môn còn nhiều hạn chế; việc quy hoạch và quản lý
rác thải sinh hoạt tại địa bàn chưa được chú trọng; hiện trạng quản lý, xử lý
rác thải kém hiệu quả đã đặt ra nhiều thách thức đối với các cơ quan có thẩm
quyền.
Về nguyên nhân khách quan: Huyện Hóc Môn có tốc độ đô thị hóa
nhanh, số dân nhập cư đông - bình quân mỗi năm tăng 19.300 người, hoạt
động sản xuất, kinh doanh trên các lĩnh vực ngày càng phát triển dẫn đến
nguồn phát sinh chất thải trong quá trình sản xuất kinh doanh, sinh hoạt của
người dân ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó, Hóc Môn là huyện ngoại thành, tuy nhiên trên thực tế,
ngoài Thị trấn Hóc Môn và 6/11 xã đô thị hóa trên địa bàn huyện đã phát sinh
nhiều khu dân cư đô thị, nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, nhiều
tuyến đường chưa có hệ thống thoát nước, cơ sở vật chất phát triển chưa theo
kịp với nhu cầu của nhân dân. Điều này đã tạo áp lực rất lớn đối với công tác
quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vệ sinh môi trường.
Về nguyên nhân chủ quan: Cũng xuất phát từ quá trình đô thị hóa, số
khu dân cư tăng nhanh, nhiều quy định về xử lý rác thải sinh hoạt chưa được
nhân dân chấp hành tốt; một số cấp ủy, chính quyền còn chủ quan trong lãnh
đạo, chỉ đạo, thiếu kiếm tra, giám sát và chưa kiên quyết chỉ đạo cũng như xử
lý chưa kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; một vài
tổ chức chính trị - xã hội chậm đổi mới phương thức cũng như nội dung tuyên
truyền, vận động; trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác bảo vệ môi
trường còn thiếu, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận dân cư còn thấp,
48
vẫn còn tình trạng đổ chất thải, vứt rác ra đường, kênh, rạch hoặc phát sinh
các điểm tập trung rác thải tự phát gây ô nhiễm môi trường, gây nghẽn dòng
chảy, gây ngập nước, làm mất mỹ quan đô thị.
Ngoài ra, các phòng, ban ngành, đoàn thể và Ban chỉ đạo Chương trình
xây dựng nông thôn mới ở huyện và ở các xã hoạt động chưa đồng bộ, chưa
phát huy hết vai trò thành viên phụ trách từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực
về môi trường để đáp ứng tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở địa phương.
Tiểu kết Chương 2
Trong phạm vi Chương 2 của Luận văn, tác giả đã phân tích và đánh
giá thực trạng pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Qua
đó, đưa ra tình hình thực thi pháp luật về vấn đề này tại huyện Hóc Môn,
Thành phố Hồ Chí Minh. Một số kết luận có thể được rút ra từ Chương này
như sau:
Thứ nhất, các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
còn nhiều hạn chế, quy định rải rác và đôi lúc chồng chéo/ mâu thuẫn dẫn đến
những khó khăn nhất định cho chủ thể áp dụng pháp luật.
Thứ hai, ý thức của người dân về bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
Hóc Môn đang dần được hình thành và nâng cao. Mặc dù vậy, sự hạn chế về
trang thiết bị để vận chuyển, công nghệ để xử lý rác thải sinh hoạt đang từng
ngày ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác
thải sinh hoạt.
49
CHƯƠNG 3
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THU GOM, VẬN
CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải sinh hoạt
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một
vấn đề sống còn của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh
hoạt của người dân ngày càng được nâng cao thì lượng chất thải sinh hoạt
cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và
sức khoẻ con người. Vì vậy, để góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề
xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt như sau:
Thứ nhất, cần xác định pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt là một
bộ phận của pháp luật về quản lý chất thải trong hệ thống các quy định pháp
luật bảo vệ môi trường. Ngoài ra, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp
luật liên quan đến quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt, như quy định cụ thể như
thế nào là đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các phương tiện, thiết bị thu gom, về
vận chuyển chất thải. Thêm vào đó, Nhà nước nên tạo điều kiện và có những
chính sách khuyến khích đối với cơ sở sử dụng công nghệ sạch, tiên tiến bảo
vệ môi trường như: Giảm thuế, miễn thuế, khen thưởng, vinh danh các cơ sở
và quảng bá công khai trên cổng thông tin đại chúng. Có như vậy, một phần
sẽ tạo động lực cho các cơ sở có ý thức trong việc bảo vệ môi trường nói
chung và thải chất thải nguy hại ra ngoài môi trường nói riêng
50
Thứ hai, đề cao tính hiệu quả của quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm
soát các hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt; nâng cao chất lượng quản lý
chất thải thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Học hỏi và vận
dụng phương pháp quản lý chất thải của các nước trên thế giới phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam; Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ
trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy
định về xử lý chất thải nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo
nguyên tắc chủ thế gây thiệt hại cho môi trường phải chịu trách nhiệm pháp lý
đặt ra theo quy định của pháp luật; Cần đẩy mạnh công tác thu gom, lưu giữ,
vận chuyển và xử lý chất thải theo quy định của pháp luật để bảo vệ môi
trường
Thứ ba, coi trọng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ gây tác động xấu
đến môi trường từ các hành vi phát thải rác thải sinh hoạt. Đồng thời, đề cao
các biện pháp chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt
Thứ nhất, hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý chất thải đặc
biệt là quản lý chất thải sinh hoạt
Khi mà ý thức của người dân chưa cao thì vấn đề quản lý chất thải
được quy định trong các văn bản pháp luật là một biện pháp hữu hiệu giúp các
cơ quan nhà nước có thể kiểm soát chất thải một cách chặt chẽ và quy củ hơn.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải sinh hoạt sẽ
giải quyết được vấn đề thiếu cơ chế áp dụng các hành vi vi phạm pháp luật về
quản lý chất thải sinh hoạt hiện hành. Đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống
51
pháp luật nói chung và góp phần từng bước xây dựng thành công nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cần điều chỉnh và xem xét định nghĩa về chất thải nói chung được quy
định tại khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014. Tại định nghĩa này
chỉ nêu nguồn phát sinh (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác)
chứ chưa quy định khi nào một vật chất bị coi là chất thải mà một vật chất có
là chất thải hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu. Chủ sở
hữu của vật chất đó coi nó là chất thải khi không có giá trị sử dụng. Điều này
phù hợp với quy định của pháp luật dân sự về quan hệ sở hữu đối với tài sản.
chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt đối với tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình. Nhưng khi chủ sở hữu một tài sản mà tài sản đó lại là
một dạng vật chất có nguy cơ gây ảnh hưởng cho môi trường và sức khỏe con
người nhưng chủ sở hữu lại không cho đó là chất thải thì vấn đề này khó giải
quyết.
Điều này gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Vì quan hệ sở hữu đối với
tài sản là quyền bất khả xâm phạm. Chủ sở hữu chất thải thường không có ý
thức tự giác thực hiện các quy định pháp luật về quản lý chất thải bởi chủ yếu
vì lý do kinh tế mà chủ sở hữu không chủ động xử lý, tiêu hủy chất thải theo
đúng quy định của pháp luật. Một vật chất trên thực tế đã không còn giá trị sử
dụng và ảnh hưởng đến môi trường nhưng vì lý do kinh tế mà chủ sở hữu
không thừa nhận và xác định đó là chất thải vì vấn đề này pháp luật xử lý như
thế nào. Do vậy, khi pháp luật quy định việc xác định một vật chất là chất thải
hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ sở hữu là chưa hợp lý.
Từ các phân tích trên có thể thấy đây là thiếu sót không nhỏ của pháp
luật vì thế cần thiết phải quy định thêm một số chủ thể khác có thẩm quyền
xác định một vật chất là chất thải khi có đầy đủ cơ sở chứng mình vật chất đó
52
ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khoẻ con người - đó là các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đưa ra quyết định buộc chủ thể đó phải loại bỏ và tiêu hủy vật
chất đó như chất thải.
Như vậy, khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 cần sửa đổi
như sau: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh dịch vụ,
sinh hoạt hay các hoạt động khác được chủ sở hữu và cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác định.
Thứ hai, cần tăng nặng hình thức xử lý hành chính đối với hành vi vi
phạm
Trách nhiệm hành chính được quy định trong Nghị định 155/2016/ NĐ-
CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử phạt hành chính cao nhất là đối
với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất thải là 2 tỷ đồng [10]. Đây là
mức phạt thấp và chưa có mối liên hệ so với chi phí để khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường do hành vi vi phạm gây ra. Vì vậy, điều cần thiết đối với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền là nên đưa ra những hình thức xử lý vi phạm
hành chính ở mức cao hơn, để vừa có tính răn đe vừa để tránh vi phạm; bên
cạnh đó có thể áp dụng cho những hành vi vi phạm với mức độ nghiêm trọng
chế tài hình sự. Có như vậy thì quá trình quản lý chất thải mới có thể cân bằng
được số lượng phát thải hiện nay. Cụ thể cần xác định mức xử phạt hành
chính dựa nhiều yếu tố khác nhau trong đó phải tương xứng với chi phí xử lý
ô nhiễm môi trường do hành vi gây ra.
Thứ ba, đầu tư, áp dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong hoạt động
thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt
53
Từ thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sinh hoạt tác giả
thấy rằng muốn thực hiện tốt quá trình này cần quan tâm đến việc đổi mới
công nghệ, phương tiện kỹ thuật. Bởi nếu thay đổi theo hướng hiện đại hóa
công nghệ, kỹ thuật sẽ đáp ứng được nhu cầu đạt ra trong giai đoạn hiện nay ở
nước ta. Tuy nhiên, để thay đổi một cách đồng bộ về công nghệ, kỹ thuật hiện
đại chưa cao. Do vậy, để nâng cao công tác thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu
huỷ chất thải sinh hoạt cần thực hiện các công việc như:
Một là, cần cải tiến, nâng cấp các phương tiện hiện có để tăng năng
xuất, hiệu quả cho các thiết bị để đáp ứng nhu cầu về quản lý chất thải hiện
nay;
Hai là, cần sự quan tâm của các cấp có thẩm quyền trong đầu tư nghiên
cứu để trong tương lai cần tự sản xuất các thiết bị hiện đại trong các giai đoạn
của quá trình quản lý chất thải nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng;
Ba là, cần tăng nguồn chi ngân sách nhà nước cho việc đầu tư xây dựng
các khu tập trung chất thải chuyên dụng, cũng như đầu tư xây dựng các khu
xử lý chất thải tập trung, hiện đại, đủ tiêu chuẩn.
Thứ tư, đối với chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt: Cần quy định một
cách cụ thể hơn các nghĩa vụ mà chủ thể này phải thực hiện. Bên cạnh đó, có
chế độ khen thưởng kịp thời khi họ phát hiện ra các hành vi vi phạm. Cụ thể:
Thành lập đội giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về quản lý rác thải
sinh hoạt tại quận/ huyện, tuy nhiên với giải pháp này lại cần có thù lao trả
cho thành viên đội giám sát. Vấn đề này cần được thương lượng trực tiếp
thông qua hoạt động của tổ chức này với chủ trương kết hợp hài hòa lợi ích
của xã hội – bảo vệ môi trường và lợi ích cá nhân.
Thứ năm, đối với chủ thể phân loại, thu gom, vận chuyển rác thải sinh
hoạt: Ngoài việc quy định các nghĩa vụ chặt chẽ hơn; khi quy định nghĩa vụ
54
cũng phải xét đến khía cạnh sự thiếu thống nhất của các phương tiện để họ
thực hiện nhiệm vụ của mình…
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu gom,
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành
phố Hồ Chí Minh
3.3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu gom,
vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố
Hồ Chí Minh
Phát triển kinh tế, xã hội là con đường phát triển tất yếu của mỗi quốc
gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trên con đường
đó, sự phát triển mạnh mẽ, liên tục về kinh tế phải được thực hiện đồng thời
với sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Nhu cầu đó đòi hỏi, phát
triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường (phát triển bền vững). Phát
triển bền vững là một tiến trình phát triển đòi hỏi sự tiến hành đồng thời của
ba yếu tố: Kinh tế, xã hội và môi trường.
Ủng hộ quan điểm phát triển bền vững, thực hiện chủ trương của Đảng
và Nhà nướcvề bảo vệ môi trường, để có thể triển khai thực thi hiệu quả các
quy định của pháp luật môi trường về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có huyện Hóc Môn, Ủy ban nhân dân thành
phố Hồ Chí Minh cần phải tuân thủ triệt để các định hướng sau đây:
Thứ nhất, cần tích cực tổ chức triển khai các quy định của pháp luật
môi trường nói chung và pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt nói riêng trên
địa bàn tỉnh để tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, khu dân
cư… có điều kiện thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế.
55
Thứ hai, hướng tới bảo vệ môi trường bền vững, trước hết phải đẩy
mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền để cho người dân thấy được bảo vệ môi
trường xanh sạch đẹp là bảo vệ cho chính mình. Vì vậy, cần tổ chức triển khai
nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường nói
chung và pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt nói riêng để tất cả người dân
đều nắm được các quy định của pháp luật, từ đó có ý thức tuân thủ pháp luật
một cách triệt để. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm
các biện pháp đã quy định trong việc xử lý rác thải tại địa phương. Bãi rác
thải của huyện phải được đưa đi xử lý đúng quy trình ở bãi rác thải tập trung
theo quy định. Ngoài ra, thông qua tuyên truyền phải nâng cao ý thức của
người dân trong việc phân loại rác thải từ nguồn (tại gia đình), góp phần làm
giảm áp lực cho các bãi rác.
Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng và ban hành các quy định pháp luật cụ thể
về việc quản lý rác thải sinh hoạt từ công tác thu gom, phân loại, vận chuyển
đến xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của Nhà
nước nói chung và địa bàn huyện nói riêng trên cơ sở phù hợp với điều kiện
kinh tế, xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước cũng như thu hút nguồn
vốn đầu tư từ các tổ chức/ cá nhân/ nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các
nhà máy xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu về mặt khoa học/
công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo hiệu quả trong công tác thu
gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện.
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
3.3.2.1. Giải pháp về cơ chế, chính sách
56
- Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy định thống
nhất thời gian thu gom rác, quy định vị trí bỏ thải rác ngoài giờ thu gom rác
thống nhất trong hợp đồng thu gom rác; đối với các hộ kinh doanh có vị trí
mặt tiền đường thì yêu cầu trang bị dụng cụ lưu chứa, đảm bảo không rơi vãi
rác ra vỉa hè đường phố; đối tượng buôn bán hàng rong thì tuyên truyền vận
động tự trang bị dụng cụ phù hợp đảm bảo vệ sinh hè phố. Bên cạnh đó, cần
điều chỉnh về đơn vị tính trong các quy định về giá tối đa đối với dịch vụ thu
gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
- Đối với Sở Tài nguyên môi trường: Cần xây dựng quy định về trang
thiết bị kỹ thuật đối với các phương tiện vận chuyển cũng như xây dựng kế
hoạch từng bước xã hội hóa bằng đấu thầu.
- Đối với Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn thì cần xem xét, ghi vốn
cho các đơn vị dịch vụ công ích quận huyện về đầu tư đổi mới phương tiện
thu gom vận chuyển.
- Quy định chế tài và đẩy mạnh trong công tác chế tài đối với các hành
vi phạm về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt bởi chính sách răn
đe mạnh mẽ của pháp luật là yếu tố quyết định đến việc để rác đúng nơi quy
định cũng như phân loại rác thải, xử lý rác. Mặt khác, chế tài này cần phải dựa
trên cơ sở ý kiến của nhân dân như trong các cuộc sinh hoạt ở tổ dân phố,
những cá nhân/ gia đình vi phạm về để rác không đúng nơi quy định hoặc vứt/
đốt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường… thì cần đưa ra phê bình, kiểm điểm
và xử phạt (trường hợp cần thiết) để người dân nâng cao ý thức và trách
nhiệm trong việc thực hiện các quy định liên quan đến rác thải sinh hoạt. Bên
cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cũng cần tăng cường công tác thanh/ kiểm
tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
57
- Xây dựng quy chế phối hợp giữa Sở Tài nguyên và môi trường với Ủy
ban nhân dân huyện và các Sở ngành có liên quan để tăng cường công tác
giám sát, xử phạt các hành vi xả chất thải không đúng quy định, nhằm nâng
cao ý thức người dân về giữ gìn chất lượng vệ sinh khu vực công cộng.
- Thành lập cơ quan quản lý môi trường để hỗ trợ nhau trong việc nắm
bắt tình hình môi trường chung của các xã và theo dõi sát sao, hướng dẫn
công nhân thu gom, nâng cao hiệu quả quản lý. Thêm vào đó, tổ chức tập
huấn cho đội thu gom rác thải sinh hoạt về kĩ thuật thu gom, phân loại rác, có
trách nhiệm trong công việc của mình và chịu sự quản lý của cán bộ quản lý
môi trường của các thôn. Ngoài ra, tổ chức tập huấn cho cán bộ môi trường để
nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng quản lý.
- Hiện công nghệ xử lý chất thải hiện nay chủ yếu là chôn lấp; rác chưa
được phân loại tại nguồn; kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển xử lý
chất thải sinh hoạt chủ yếu dựa vào ngân sách tại các địa phương. Trong khi
đó, mức thu phí vệ sinh hiện nay còn rất thấp nên chỉ bù đắp một phần chi phí
thu gom, vận chuyển… Chính vì vậy công tác quản lý chất thải rắn đang gặp
không ít những khó khăn.
Do đó, cần tăng ngân sách cho hoạt động tuyên truyền và bảo vệ môi
trường, phải có quỹ môi trường để chi trả cho các hoạt động khuyến khích và
giải quyết sự cố môi trường ngay tại địa phương.
3.3.2.2. Biện pháp tuyên truyền giáo dục
Nhận thức của người dân về vấn đề quản lý rác thải sinh hoạt, và các
tác động đến môi trường, sức khỏe của con người do ô nhiễm rác thải sinh
hoạt tuy có cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp. Bởi vậy, việc nâng cao hiểu
biết và ý thức cộng đồng với lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và công
tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng là việc làm hết sức
58
cần thiết. Để nâng cao nhận thức của người dân có thể thông qua một số biện
pháp sau:
- Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những tác hại do rác thải sinh
hoạt gây ra cho môi trường và sức khỏe con người thông qua hệ thống thông
tin của thôn như: Báo, đài, tivi, áp phích tại địa phương…
- Phổ biến cho người dân thế nào là rác thải sinh hoạt hữu cơ, thế nào là
rác thải sinh hoạt vô cơ, tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về việc phân
loại rác thải sinh hoạt thông qua các tổ chức chính trị - xã hội: Hội người cao
tuổi, hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ, trường học, phát tờ rơi
phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình…
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường về vấn đề
bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường, phát động các phong trào như: Trồng cây
xanh, khơi thông cống rãnh, thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa
về đề tài môi trường một cách sinh động nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi
tìm hiểu về môi trường để hình thành thói quen tốt cho học sinh về ý thức bảo
vệ môi trường như dùng các phần mềm dạy học về môi trường…
- Tổ chức các hoạt động, chương trình, phong trào làm vệ sinh môi
trường: Ngày môi trường thế giới, giữ gìn đường phố xanh - sạch đẹp, tháng
thanh niên hành động vì môi trường…
- Đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào việc đánh giá gia đình văn hóa.
Những gia đình có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường sẽ được
tuyên dương và những gia đình thiếu ý thức cũng sẽ bị nêu tên trên loa phát
thanh hàng ngày.
3.3.2.3. Biện pháp công nghệ
59
Theo xu thế phát triển kinh tế như hiện nay thì trong thời gian tới thành
phần và tính chất rác thải sinh hoạt sinh hoạt sẽ phức tạp hơn trước rất nhiều,
đó là sự gia tăng về khối lượng cũng như thành phần rác thải sinh hoạt do đó
cần có những biện pháp xử lý thích hợp.
- Đối với rác thải sinh hoạt hữu cơ như: Thực phẩm thừa, lá cây, phế
thải nông nghiệp… sử dụng biện pháp làm phân ủ - là biện pháp được áp
dụng phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và mang lại hiệu quả cao
trong xử lý rác thải sinh hoạt. Có thể kết hợp phương pháp này với việc ủ
phân chuồng, bùn thải biogas cũng như tận dụng được nguồn rác làm phân
bón ruộng hoặc bón cho cây trồng lâu năm, giúp tiết kiệm được chi phí trong
sản xuất. Có thể sản xuất khí sinh học tại hộ gia đình vào những vụ thu hoạch,
tận dụng phế thải đồng ruộng, chất thải chăn nuôi và một phần chất thải sinh
hoạt. Xây dựng nhà máy xử lý rác làm phân vi sinh chung cho cả huyện sử
dụng vào sản xuất nông nghiệp phục vụ nhân dân trong huyện như vậy sẽ tận
dụng được triệt để nguồn rác thải sinh hoạt hữu cơ.
- Đối với rác thải sinh hoạt không tái chế được như: Gạch ngói/ đất
đá… biện pháp xử lý thích hợp là chôn lấp. Biện pháp này sẽ giúp xóa bỏ
những bãi rác lộ thiên đang tồn tại trên địa bàn huyện. Công nghệ và kỹ thuật
là phương tiện không thể thiếu trong quá trình kiểm tra, xử lý chất thải nói
chung, rác thải sinh hoạt nói riêng. Việc xử lý, tiêu hủy rác thải sinh hoạt có
triệt để hay không phụ thuộc rất lớn vào công nghệ kỹ thuật - công nghệ xử lý
chất thải của nước ta hiện nay vẫn còn lạc hậu so với thế giới. Vì vậy, để nâng
cao hiệu quả của công tác xử lý, tiêu hủy rác thải sinh hoạt cần thực hiện giải
pháp sau:
Từng bước hiện đại hóa công nghệ - kỹ thuật, lựa chọn những công
nghệ phù hợp với điều kiện cũng như tài chính của nước ta; cải thiện, đổi mới
60
các thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải; Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng
các chỉ tiêu, tiêu chuẩn nhất định trong việc lựa chọn công nghệ. Đồng thời,
nhà nước cũng nên khuyến khích việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công
nghệ mới có thể giảm thiểu số lượng rác thải sinh hoạt phải loại bỏ như:
Nguyên liệu và năng lượng sử dụng, thay đổi công thức sản xuất… để giảm
thiểu chất thải rắn sinh hoạt ngay tại nguồn; áp dụng công nghệ sạch; áp dụng
công nghệ có thể tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải.
Hiện nay, Việt Nam chủ yếu vẫn nhập khẩu công nghệ kỹ thuật của
nước ngoài. Trong thời gian tới, chúng ta cần nghiên cứu/ học hỏi và hướng
đến việc tự sản xuất các thiết bị vận chuyển, thu gom, xử lý, tiêu hủy chất thải
để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả đối với công tác thu gom, vận chuyển, xử lý
rác thải sinh hoạt.
3.3.2.4. Nâng cao chất lượng các dụng cụ đựng chất thải rắn đối với hộ
gia đình
Việc phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình được coi là một nhiệm vụ
quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn, có tính chất quyết định đến
hiệu quả của toàn bộ quá trình xử lý sau đó. Việc phân loại chất thải rắn tại
nguồn có ý nghĩa quan trọng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm
diện tích chôn lấp, tạo nguồn tài nguyên phát triển sản xuất. Để phù hợp về
kinh tế cho hộ gia đình và địa phương trên địa bàn huyện Hóc Môn cần thực
hiện:
Thứ nhất, dùng hai dụng cụ chứa chất thải khác nhau của các hộ dân để
phân biệt các thùng chứa rác thải sinh hoạt vô cơ và hữu cơ. Đối với những hộ
chưa sử dụng dụng cụ đựng rác thải sinh hoạt thì tận dụng các nguyên liệu
thân thiện với môi trường như: Mây, tre để tạo ra các dụng cụ đựng rác thải
sinh hoạt, sau đó sơn các dụng cụ để phân biệt thùng chứa vô cơ và hữu cơ.
61
Thứ hai, yêu cầu hộ gia đình tại các xã, phường phải tham gia các buổi
tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường nói chung và đặc biệt là vấn
đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng. Ngoài ra, các đơn
vị phụ trách tuyên truyền cần xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho
cộng đồng bằng nhiều hình thức như:
- Tài liệu tuyên truyền khuyến cáo quảng đại dân chúng. Các áp phích,
tờ rơi, thùng, túi đựng các loại rác thải sinh hoạt được trình bày, trang trí tùy
thuộc vào đối tượng được tuyên truyền khuyến cáo và nhất là phải sử dụng
màu sắc và hình ảnh dễ hấp dẫn, dễ hiểu.
- Tạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt,
đẹp, hấp dẫn để phân biệt các loại rác được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh
dây truyền rất dễ hiểu, dễ làm theo, từ phân loại rác thải sinh hoạt giấy, thủy
tinh, kim loại, chất dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải sinh hoạt hữu cơ,
hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo còn được thể hiện bằng các áp phích
tuyên truyền phong phú, hấp dẫn.
62
Tiểu kết Chương 3
Trong Chương 3, tác giả đã làm rõ các định hướng hoàn thiện pháp luật
về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói chung và định hướng
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn
huyện Hóc Môn trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và
của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó, tác giả đã đưa ra các kiến nghị về vấn đề này, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa
bàn huyện Hóc Môn về quản lý chất thải và rác thải sinh hoạt; Thứ hai, hoàn
thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc quản lý rác
thải sinh hoạt, bao gồm quy định quyền và nghĩa vụ đối với chủ nguồn thải và
chủ thể phân loại, thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt. Ngoài ra, tác giả
cũng đã đề xuất các giải pháp về việc tuyên truyền, nâng cao ý thức của người
dân nhằm giảm thiểu nguy cơ gây hại cho môi trường từ chính nguồn thải và
một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn.
63
KẾT LUẬN
Song song với phát triển kinh tế luôn đi kèm với các vấn đề môi trường
được đặt ra. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, Hóc
Môn đang là một trong những huyện có tỉ lệ thu hút vốn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài rất lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về mặt kinh tế
- xã hội, tình trạng ô nhiễm môi trường do các chất thải phát sinh từ hoạt động
sản xuất - kinh doanh, sinh hoạt, quá trình đô thị hóa… gây ra cũng ngày một
gia tăng.
Trước tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều bãi rác không được cấp
phép, cách thức xử lý rác thải sinh hoạt không phù hợp với quy định pháp
luật, sự thiếu hụt về khoa học - công nghệ để xử lý triệt để các loại rác thải
sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện đang là một vấn đề nan giải trong cộng
đồng dân cư, cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét một cách nghiêm
túc và giải quyết triệt để để bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của người
dân cũng như đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của huyện.
Thông qua việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải
pháp cụ thể nêu trên, tác giả hi vọng luận văn có thể góp phần nâng cao hiệu
quả trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng và
quản lý chất thải nói chung trên địa bàn huyện Hóc Môn trong thời gian tới.
Điều này, nếu được áp dụng tốt sẽ góp phần nâng cao tiêu chí môi trường của
các Xã trên địa bàn Huyện, đáp ứng điều kiện xây dựng nông thôn mới tại địa
phương.
64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ
huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020;
2. Báo cáo số 6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài nguyên
– môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn về kết quả thực
hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
trên địa bàn huyện năm 2019;
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015) Thông tư số 36/2015/TT-
BTNMT về quản lý chất thải nguy hại, ban hành ngày 30/6/2015, Hà
Nội.
4. Chính phủ (2019) Nghị định 98/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số Điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, ban hành
ngày ngày 27/12/2019, Hà Nội.
5. Chính phủ (2015) Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ban hành ngày
14/2/2015, Hà Nội.
6. Chính phủ (2007) Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải
rắn, ban hành ngày 09/04/2007, Hà Nội.
7. Chính phủ (2015) Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải
và phế liệu, ban hành ngày 24/4/2015, Hà Nội.
65
8. Chính phủ (2019) Nghị định số 40/2019/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung
một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành
Luật bảo vệ môi trường, ban hành ngày 13/5/2019, Hà Nội.
9. Chính phủ (2017) Nghị định số 36/2017/NĐ-CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và môi
trường, ban hành ngày 04/4/2017, Hà Nội.
10. Chính phủ (2016) Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ban
hành ngày 18/11/2016, Hà Nội.
11. Chính phủ (2015) Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất
lượng và bảo trì công trình xây dựng, ban hành ngày 12/05/2015,
Hà Nội.
12. Quốc hội (2015) Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
13. Quốc hội (2014) Luật số 55/2014/QH13 Luật Bảo vệ môi trường
2014, ban hành ngày 23/06/2014, Hà Nội.
14. Quốc hội (2017) Luật số 12/2017/QH14 Luật sửa, đổi bổ sung một
số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13), ban hành ngày
20/6/2017, Hà Nội.
15. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Quyết định số
38/2018/QĐ-UBND ban hành quy định về giá tối đa đối với dịch vụ
thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân
sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử
dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, ban hành ngày 22/10/2018,
Thành phố Hồ Chí Minh.
66
16. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Quyết định số
44/2018/QĐ-UBND ban hành quy định về phân loại chất thải rắn
sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành
ngày 14/11/2018, Thành phố Hồ Chí Minh.
B. SÁCH, BÀI BÁO, ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
17. Phạm Ngọc Bách (2014) “Lò đốt rác thải sinh hoạt thân thiện môi
trường”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ tài nguyên và môi
trường, số 15.
18. Đậu Hồng Cảnh (2019) Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua
thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học
Luật – Đại học Huế.
19. Bùi Đức Hiển (2018) “Mấy vấn đề lý luận về quản lý chất thải rắn
thông thường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài nguyên – Môi
trường, số 10.
20. Lại Văn Hùng (2016) “Nguy cơ ô nhiễm về chất thải nguy hại”,
Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 7.
21. Lan Hương (2010) “Mô hình nông dân tham gia xử lý rác thải sinh
hoạt”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ tài nguyên và môi
trường, số 16(102).
22. Nguyễn Thị Mai (2019) “Xử lý rác thải sinh hoạt nguy hại của Việt
Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Thái Nguyên, số 1.
23. Trần Văn Nam (2018) “Nhìn nhận về Chính sách về nhập khẩu phế
liệu hiện nay”, Tạp chí Khoa học nhân văn, số 5.
67
24. Phan Thị Ngân (2019) Pháp luật về quản lý chất thải rắn qua thực
tiễn thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Đại học Luật – Đại học Huế.
25. Lê Kim Nguyệt (2002) “Một cơ chế phù hợp cho xử lý chất thải
nguy hại ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5.
26. Nguyễn Thanh Phong (2016) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả
thi xử lý rác thải sinh hoạt khu liên hợp Nam Bình Dương phục vụ
cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
27. Nguyễn Văn Phước (2016) “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rác
thải sinh hoạt và đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp với quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020”, Tạp chí
Tài nguyên và môi trường.
28. Nguyễn Văn Phương (2008) Bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
29. Nguyễn Văn Phương (2003) “Chất thải và quy định xử lý chất
thải”, Tạp chí Luật học, số 4.
30. Nguyễn Văn Phương (2006) “Một số vấn đề về khái niệm chất
thải”, Tạp chí Luật học, số 10.
31. Phạm Sơn Tùng (2014) “Tổng quan về xử lý chất thải rắn phát sinh
từ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt ở Việt Nam”, Tạp chí Công
thương, số 17.
32. Lê Mạnh Tuyến (2016) “Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt thành
công tại Nhật Bản và Singapore”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, số 22.
68
33. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2013) Sổ tay hướng dẫn thu
gom và xử lý rác hộ gia đình, ban hành ngày 20/05/2013, Hà Nội.
34. Huỳnh Thị Vang (2017) “Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải
rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh”,
Tạp chí Công thương, số 6.
C. TÀI LIỆU INTERNET
35. Việt Đức (2020) “Rác thải sinh hoạt là gì? Quy trình xử lý rác thải
sinh hoạt”,
(13/03/2020).
36. Thanh Mai (2019) “Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn
sinh hoạt trên địa bàn TPHCM”,
osts/Post.aspx?List=5eb16142%2Df62d%2D4d6e%2Da0c3%2D94b 5fbf93d65&ID=63322&Web=47b63c10%2D8ed8%2D4592%2D97 d8%2D1f436710fa9b>, (13/03/2020). 37. Thu Ngọc (2019) “Huyện Hóc Môn: Chủ động xây dựng môi trường sống xanh, sạch ở từng địa bàn dân cư”, dung-moi-truong-song-xanh-sach-o-tung-dia-ban-dan-cu- 1491860073>, (13/03/2020). 38. Lê Phương (2018) “Rác thải nông thôn, bài toán chưa có lời giải hữu hiệu”, hoi.aspx?ItemID=37428>, (10/02/2020). 39. Nguyễn Quỳnh (2019) “Thành phố Hồ Chí Minh đồng loạt thực thi giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt”, 69 phap-quan-ly-chat-thai-ran-sinh-hoat-295918.html>, (10/02/2020). 40. Westerntech (2019) “Có thể bạn chưa biết: Hướng dẫn phân loại rác thải”, huong-dan-phan-loai-rac-thai.htm>, (10/02/2020) 70 PHỤ LỤC 1 HỢP ĐỒNG CUNG CẤP DỊCH VỤ THU GOM CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT [Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM] Phần 1: CÁC CĂN CỨ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG Căn cứ Bộ luật Dân sự của Quốc hội số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; Căn cứ Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 22/10/2018 của Ủy ban nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định về giá đối với dịch vụ thu gom,
vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và giá
tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà
nước; Căn cứ Quyết định số 12/2019/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của Ủy ban nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Căn cứ Công văn số 811/LCQ-STNMT-STC-STP-CT ngày 29/01/2019 của
Liên cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Cục
Thuế Thành phố về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ-
UBND ngày 22/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban
hành quy định về giá đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt
sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải
rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Phần 2: CÁC BÊN KÝ HỢP ĐỒNG Theo nhu cầu của hai bên, hôm nay, ngày 02 tháng 12 năm 2019, tại Ủy ban
nhân dân xã Nhị Bình, chúng tôi gồm: Bên A (Bên thuê dịch vụ): - Ông: Lê Hoàng An - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã - Tên đơn vị: Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình - Địa chỉ trụ sở: 171 ấp 4, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM - Điện thoại: 028.37120271 71 - MST: 0301472133 Bên B (Bên cung cấp dịch vụ): - Ông/bà: Trần Công Bình - Chức vụ: Giám đốc - Tên đơn vị: Công ty TNHH thu gom rác Bình An - Địa chỉ trụ sở: 81/3X Phạm Thị Giây, tổ 104 ấp Tam Đông 1, xã Thới Tam
Thôn, huyện Hóc Môn, TPHCM - Điện thoại: 083.9711711 Phần 3: NỘI DUNG HỢP ĐỒNG Bên A và Bên B cùng thống nhất ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ thu gom
chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Theo đó, bên A thuê bên B thực hiện các
công việc của hợp đồng này với các nội dung cơ bản như sau: Điều 1: Giải thích từ ngữ: 1. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người (chất thải rắn sinh hoạt không bao
gồm chất thải rắn nguy hại quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT
ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy
hại và không bao gồm chất thải rắn công nghiệp thông thường). Sau đây viết
tắt là CTRSH. 2. Chất thải rắn cồng kềnh là chất thải rắn có kích thước lớn như vật dụng từ
gia đình (tủ, giường, nệm, bàn, ghế salon, tranh…), gốc cây, thân cây và
nhánh cây. Chất thải rắn cồng kềnh được quản lý như CTRSH. 3. Chất thải rắn công nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc danh mục chất thải nguy hại
hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới
ngưỡng chất thải nguy hại. 4. Chất thải rắn xây dựng là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát,
thi công xây dựng công trình (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa,
cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ). 5. Chủ thu gom CTRSH tại nguồn: là các tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ
thu gom CTRSH từ cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các điểm hẹn 72 hoặc các trạm trung chuyển. 6. Nguồn thải: là nơi phát sinh chất thải ngoài hộ gia đình cần được thu gom
và xử lý. 7. Thu gom CTRSH tại nguồn: là quá trình thu gom và chuyên chở chất thải
rắn sinh hoạt tại các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các điểm hẹn
hoặc các trạm trung chuyển. 8. Chủ vận chuyển CTRSH: là tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ vận chuyển
CTRSH từ các điểm hẹn đến các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn, trạm
trung chuyển đến Khu xử lý chất thải tập trung bằng phương tiện vận chuyển
chất thải rắn sinh hoạt. 9. Vận chuyển CTRSH: là quá trình chuyên chở CTRSH từ các điểm hẹn đến
các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn, trạm trung chuyển đến Khu xử lý
chất thải tập trung bằng phương tiện vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt. 10. Phương tiện thu gom CTRSH: là các loại phương tiện chuyên dụng thu
gom, vận chuyển CTRSH của cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các
điểm hẹn hoặc các trạm trung chuyển. 11. Phương tiện vận chuyển CTRSH: là các phương tiện chuyên dụng vận
chuyển CTRSH từ các điểm hẹn đến các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn,
trạm trung chuyển đến Khu xử lý chất thải tập trung. 12. Điểm hẹn: là điểm tập kết tạm thời các loại phương tiện thu gom CTRSH
tại nguồn để chuyển chất thải sang phương tiện cơ giới vận chuyển CTRSH.
Điểm hẹn cũng được xem là điểm tập kết tạm thời các loại phương tiện vớt để
chuyển chất thải rắn, rong cỏ, lục bình trên sông, kênh, rạch sang phương tiện
cơ giới vận chuyển chất thải rắn, rong cỏ, lục bình. 13. Cung ứng dịch vụ CTRSH: là thực hiện các dịch vụ liên quan đến CTRSH
giữa chủ thu gom, chủ vận chuyển và hộ gia đình, chủ nguồn thải theo sự
quản lý của cơ quan nhà nước liên quan. 14. Nước rỉ rác: là nước thải phát sinh từ độ ẩm của chất thải rắn do quá trình
phân hủy sinh học cả chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học và lượng
nước từ bên ngoài xâm nhập vào CTRSH trong quá trình lưu chứa vận chuyển
(nếu có). Điều 2: Công việc hợp đồng: 73 1. Nội dung công việc: Bên A thuê Bên B thực hiện cung ứng dịch vụ thu gom CTRSH tại nguồn và
vận chuyển toàn bộ khối lượng CTRSH phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm
trung chuyển theo đúng các quy định hiện hành. Cụ thể như sau: a. Thu gom rác sinh hoạt tại địa điểm: tại hộ dân trên địa bàn ấp 1, ấp 3 và ấp
4 xã Nhị Bình. b. Thời gian thực hiện thu gom trong khoảng từ 4 giờ đến 17 giờ. c. Tần suất lấy rác: Đối với tuyến đường Bùi Công Trừng, tần suất thu gom
tối thiểu là 01 ngày/lần; đối với các tuyến đường, hẻm còn lại, tần suất thu
gom tối thiểu là 1 – 2 ngày/lần. d. Khối lượng rác phát sinh (kg/ngày): theo thực tế. e. Phương tiện thu gom: theo đúng quy định hiện hành. g. Đối với chất thải rắn cồng kềnh: Bên B thỏa thuận trực tiếp với cá nhân, hộ
gia đình, chủ nguồn thải theo cơ chế giá dịch vụ nếu chủ nguồn thải có phát
sinh và nhu cầu xử lý. 2. Yêu cầu công việc: a. Toàn bộ CTRSH (trừ chất thải rắn cồng kềnh) của Bên A phải được thu
gom và vận chuyển hết đến nơi quy định. b. Sử dụng phương tiện thu gom tại nguồn theo đúng quy định hiện hành. c. CTRSH sau khi được thu gom sẽ vận chuyển toàn bộ khối lượng CTRSH
phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm trung chuyển theo đúng các quy định hiện
hành. 3. Chất lượng công việc: Đảm bảo không làm rơi CTRSH, nước rỉ rác trong quá trình thu gom tại
nguồn. Điều 3: Giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán: 1. Giá trị hợp đồng/tháng: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) 2. Phương thức thanh toán: - Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình thanh toán cho Công ty TNHH thu gom rác
Bình An qua hình thức ủy quyền cho Công ty TNHH thu gom rác Bình An 74 thực hiện thu phí dịch vụ tại hộ dân trên địa bàn thu gom theo giá được Ủy
ban nhân dân huyện Hóc Môn ban hành). Tổng số tiền thu tương ứng với tổng
giá trị hợp đồng. Thời gian thu, từ ngày 25 đến ngày 30 của tháng cung ứng
dịch vụ. - Công ty TNHH thu gom rác Bình An sẽ trích lại cho Ủy ban nhân dân xã
2% trên tổng số phí thu được và chịu trách nhiệm nộp các khoản phí, thuế về
các cơ quan chức năng theo quy định. Thời gian trích phí về Ủy ban nhân dân
xã từ ngày 01 đến ngày 10 hàng tháng. Phương thức thanh toán: tiền mặt. Khi có Quyết định mới về công tác thu phí, hai bên sẽ cùng trao đổi để đôi
bên thống nhất chung và lập phụ lục hợp đồng. Điều 4: Thời gian thực hiện hợp đồng: Hợp đồng cung cấp dịch vụ có giá trị trong 12 tháng kể từ ngày ký. Điều 5: Điều chỉnh hợp đồng: Trong một số trường hợp sau đây có thể xem xét điều chỉnh hợp đồng: 1. Điều chỉnh mức phí thu gom theo các quy định của thành phố. 2. Thay đổi thời gian giao nhận CTRSH. 3. Thay đổi tần suất thu gom CTRSH. 4. Thay đổi phương tiện thu gom CTRSH. 5. Thay đổi số hộ đăng ký thu gom rác. 6. Các nội dung khác tùy vào nhu cầu của 02 bên. Hai bên phải báo trước cho nhau để cùng bàn bạc thỏa thuận ký lại hợp đồng
hoặc bổ sung phụ lục hợp đồng. Sau 07 ngày phải giải quyết xong hợp đồng
đã điều chỉnh. Việc thu gom rác vẫn được thực hiện trong thời gian điều chỉnh
hợp đồng. Điều 6: Trách nhiệm của 02 bên: 1. Trách nhiệm của Bên A: Tổ chức tuyên truyền vận động người dân đăng ký đổ rác theo quy định. Thông báo các vấn đề phát sinh có liên quan đến hoạt động thu gom rác trên
địa bàn, phối hợp với Công ty TNHH thu gom rác Bình An để giải quyết kịp
thời. 75 Xử lý các trường hợp vứt rác bừa bãi làm mất vệ sinh gây ô nhiễm môi
trường, mất mỹ quan đô thị. Yêu cầu cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải thực hiện các nội dung: - Thực hiện phân loại, lưu giữ CTRSH theo đúng quy định. - Sử dụng dụng cụ chứa phù hợp với công nghệ thu gom, vận chuyển đã thống
nhất với Bên B. - Giao rác đúng thời gian và đặt tại vị trí thỏa thuận. - Thanh toán theo đúng như thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng này. - Không trộn lẫn chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường
và chất thải rắn xây dựng với CTRSH. 2. Trách nhiệm của Bên B: - Chịu trách nhiệm với nhà nước về toàn bộ quá trình lưu thông trên đường và
đổ chất thải đúng nơi quy định. - Đến nhận CTRSH do bên A giao theo đúng thời gian thỏa thuận. - Nhận khoản kinh phí dịch vụ theo Điều 2 hợp đồng đã ký. - Đảm bảo thu gom toàn bộ CTRSH và thực hiện đúng theo quy định về cung
ứng dịch vụ vệ sinh môi trường trong lĩnh vực thu gom CTRSH tại nguồn của
thành phố. - Đảm bảo sử dụng phương tiện thu gom tại nguồn và tần suất thu gom như đã
thỏa thuận với Bên A. - Thông báo rộng rãi về thời gian, phương thức, tần suất thu gom chất thải rắn
sinh hoạt theo quy định cho tất cả các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đã
ký hợp đồng cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được
biết. - Bảo đảm đủ yêu cầu về nhân lực, phương tiện, thiết bị chuyên dụng để vận
chuyển toàn bộ CTRSH phát sinh trên địa bàn phụ trách. - Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã tuyên truyền vận động hộ gia đình, chủ
nguồn thải về trách nhiệm quản lý chất thải rắn và nghĩa vụ nộp tiền giá dịch
vụ. - Chịu trách nhiệm về tình trạng rơi vãi CTRSH, gây phát tán bụi, mùi hoặc rò 76 rỉ nước rỉ rác gây ảnh hưởng xấu đến môi trường trong quá trình thu gom, vận
chuyển đến các điểm hẹn, trạm trung chuyển. - Đào tạo nghiệp vụ, trang bị bảo hộ lao động cho công nhân thu gom CTRSH - Phối hượp Ủy ban nhân dân xã thực hiện tổng vệ sinh môi trường theo yêu
cầu, kế hoạch của Ủy ban nhân dân xã. - Tham gia các cuộc họp tiếp xúc cử tri trên địa bàn thu gom rác và chịu trách
nhiệm giải trình trước cử tri về việc phản ánh của người dân trong quá trình
thu gom rác. - Phối hợp Ủy ban nhân dân xã thu gom, xử lý đối với các khu vực có phát
sinh CTRSH không đúng nơi quy định, tồn lưu nhiều ngày gây ô nhiễm môi
trường hoặc mất mỹ quan đô thị (bao gồm cả chất thải rắn cồng kềnh và
CTRSH có trộn lẫn chất thải rắn xây dựng). - Nhắc nhở đối với các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải không chuyển
giao CTRSH đúng thời gian và phương thức quy định. Trong trường hợp cá
nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải vi phạm hơn 03 lần/tháng thì Công ty phản
ánh đến Ủy ban nhân dân xã bằng văn bản để xử lý vi phạm hợp đồng. - Định kỳ 6 tháng/lần, gửi báo cáo thống kê danh sách số lượng, phân loại các
hộ gia đình, chủ nguồn thải và danh sách thông tin người thu gom, số lượng,
loại phương tiện thu gom, địa bàn thu gom theo mẫu do Sở Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn cho Ủy ban nhân dân xã để quản lý. Lập danh sách hộ
đăng ký tham gia đổ rác mới chuyển về Ủy ban nhân dân xã từ ngày 10 đến
ngày 15 hàng tháng. - Cung cấp danh sách công nhân thu gom rác trên từng địa bàn, khu vực phụ
trách (tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ). Trường hợp thay đổi công nhân thu
gom phải gửi danh sách thay đổi trước 03 ngày khi thực hiện. - Thực hiện Báo cáo tình hình công tác thu gom CTRSH tại nguồn định kỳ
hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã hoặc cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền. Biểu mẫu báo cáo quản lý CTRSH do Sở
Tài nguyên và Môi trường quy định. - Được quyền từ chối tiếp nhận chất thải và thông báo cho Ủy ban nhân dân
xã biết trong trường hợp các cá nhân, hộ gia đình và chủ nguồn thải không
giao chất thải rắn đúng thời gian và phương thức quy định liên tiếp 3
lần/tháng. 77 - Phương tiện thu gom phải đảm các điều kiện về vệ sinh môi trường, trang bị
Logo và thiết bị định vị trên mỗi xe thu gom rác để phục vụ công tác quản lý
và tiếp nhận kịp thời các thông tin phản ánh của người dân về việc thu gom. - Trang bị loa, chuông hoặc hình thức thông báo khác khi đến lấy CTRSH tại
hộ dân. Điều 7: Xử phạt vi phạm hợp đồng: Các hành vi vi phạm hợp đồng được xử lý theo Bộ luật Dân sự năm 2015,
Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh môi trường và các văn bản khác có
liên quan. Khi phát sinh tranh chấp, các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận các nội dung.
Trường hợp có nội dung tranh chấp không tự giải quyết được thì thống nhất
nộp đơn đến tòa để được giải quyết. Các chi phí về kiểm tra, xác minh và án
phí Tòa án do bên có lỗi chịu. Hợp đồng này được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản và có giá trị như
nhau./. ĐẠI DIỆN BÊN A ĐẠI DIỆN BÊN B (Đã ký tên và đóng dấu) (Đã ký tên và đóng dấu) 78 PHỤ LỤC 2 DANH MỤC THÀNH PHẦN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT [Nguồn: Ban hành kèm theo Kế hoạch số 600/KH-UBND ngày 02/5/2019 của
UBND xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM] 1 Xác mía, cùi bắp 2 Thức ăn thừa các loại thực phẩm hết hạn sử dụng 3 Các phần thải bỏ từ việc chuẩn bị thức ăn 4 Các loại rau, củ, quả hư hỏng 5 Phân gia cầm, gia súc nuôi Làm nguyên liệu cho
sản xuất phân compost,
tái sử dụng năng lượng
(biogas) 6 Cỏ, lá cây, hoa các loại, các loại vỏ hạt 7 Rơm, cỏ 8 Bã cà phê, trà và túi trà 9 Xác động vật 1 Nhóm giấy: tạp chí, giấy báo các loại; hộp giấy, bìa thư,
sách; tập, hộp, dĩa, ly giấy và carton. 2 Tái sử dụng, tái chế Nhóm nhựa: các vật liệu bằng nhựa (chai, lọ, khay đựng
thức ăn, can, thùng, đĩa CD, DVD, nắp chai nhựa và các
vật liệu làm bằng nhựa trên sản phẩm có ký hiệu PE, PP,
PVC, PET. 3 Nhóm kim loại: sắt, nhôm, thép, đồng, vỏ bao bì kim
loại (lon bia, nước ngọt, lon đồ hộp). 4 Nhóm cao su: vỏ xe, dép, săm lốp… 5 Nhóm nilon: túi nhựa mỏng các loại… 6 Nhóm thủy tinh: vỏ chai bia, nước ngọt, chai đựng thực
phẩm, kính… 79 Bóng đèn huỳnh quang đã qua sử dụng 1 Bình xịt côn trùng, vỏ bình gas mini 2 3 Chai, lọ bao bì đựng sơn, dầu nhớt đựng hóa chất, đã
qua sử dụng. Tái chế, đốt, hóa rắn và
chôn lắp an toàn Dầu nhớt thải 4 Pin thải các loại 5 Ắc quy thải 6 Thiết bị điện tử gia dụng thải bỏ 7 Nhiệt kế thải bỏ. 8 80 Bùn, đất 1 2 Các vật liệu làm bằng tre: rổ tre, sọt tre, thúng tre, ống
tre, cây tre Đầu thuốc lá 3 Giấy bạc 4 Dây da các loại, dây điện 5 Hạt hút ẩm 6 Thùng mouse, hộp xốp 7 Giấy ăn đã sử dụng 8 Lông động vật 9 10 Quần áo cũ, giày dép cũ và vải, sợi thải, khăn cũ 11 Sản phẩm từ cao su (găng tay, ủng, dây thung, bao cao
su…) 12 Đốt, chôn lấp hợp vệ
sinh Sành, sứ, gốm các loại: chén, tô, dĩa, ly sứ, bình chưng
bông… Tả, băng vệ sinh 13 Tóc, cát 14 Trấu thải, tro than 15 16 Bao bì đựng các loại thực phẩm và hàng tiêu dùng (vỏ
bánh, vỏ kẹo…) 17 Vỏ dừa, vỏ sầu riêng 18 Xương động vật, vỏ sò, ốc, nghêu, trứng, cua, ghẹ, vỏ trái dừa 19 Nilon 20 Dao, lưỡi lam, kéo 21 Chất thải rắn còn lại có kích thước trên 0,5m và/hoặc
khối lượng trên 10kg: tủ, bàn, ghế sofa, niệm cũ… 811. Danh mục chất thải rắn hữu cơ:
TT
Tên chất thải
Phương pháp xử lý
2. Danh mục chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế
TT
Tên chất thải
Phương pháp xử lý
3. Nhóm chất thải nguy hại: là các chất thải có chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.
TT
Tên chất thải
Phương pháp xử lý
4. Danh mục chất thải rắn còn lại:
TT
Tên chất thải
Phương pháp xử lý

