VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THANH XUÂN

THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2020

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶNG THANH XUÂN

THU GOM, VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN HUYỆN

HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

HÀ NỘI, NĂM 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, thông tin là hoàn toàn trung thực. Các tài liệu trích dẫn đều được

ghi rõ nguồn gốc và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tác

giả.

Tác giả luận văn

ĐẶNG THANH XUÂN

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ............................................... 2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................. 5

5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 6

6. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 7

CHƯƠNG 1 ...................................................................................................... 8

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU GOM, VẬN

CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT .............................................. 8

1.1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt ................................................................................................................... 8

1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt ................................................................... 8

1.1.2. Khái niệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt ..................... 11

1.2. Khái niệm và vai trò của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt.................................................................................................. 14

1.3. Nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

......................................................................................................................... 21

1.3.1. Nhóm quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt .................. 21

1.3.2. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt ..................................................... 24

Tiểu kết Chương 1 ......................................................................................... 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU GOM,

VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN

THỰC THI TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH . 26

2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt.................................................................................................. 26

2.1.1. Quy định trách nhiệm chung của tổ chức, cá nhân làm phát sinh rác

thải sinh hoạt ................................................................................................... 26

2.1.2. Quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt ............................ 29

2.1.3. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt .................................................... 30

2.1.4. Hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt .................................................................................................................. 33

2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

sinh hoạt tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh........................... 35

2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ

Chí Minh .......................................................................................................... 36

2.2.2. Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn ............................................................. 38

Tiểu kết Chương 2 ......................................................................................... 49

CHƯƠNG 3 .................................................................................................... 50

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THU GOM, VẬN

CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................................. 50

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt.................................................................................................. 50

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt.................................................................................................. 51

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

......................................................................................................................... 55

3.3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ

Chí Minh .......................................................................................................... 55

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh .......... 56

Tiểu kết Chương 3 ......................................................................................... 63

KẾT LUẬN .................................................................................................... 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 65

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ trước đến nay, vùng nông thôn được cho là nơi có môi trường sống

trong lành, sạch sẽ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vùng

nông thôn đã và đang phát sinh 40.000 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày nhưng

tỷ lệ thu gom mới chỉ đạt khoảng 50-60%, có nơi chỉ đạt khoảng 30%, còn

phần lớn rác thải được chôn lấp thủ công, xử lý không hợp vệ sinh, gây ô

nhiễm môi trường. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của

người dân và gây mất mỹ quan nghiêm trọng. Theo ước tính của Ngân hàng

thế giới, Việt Nam đang mất khoảng 69 triệu đô la Mỹ thu nhập từ ngành du

lịch do hệ thống xử lý vệ sinh kém, trong đó có xử lý chất thải rắn sinh hoạt –

hay còn gọi là rác thải sinh hoạt [38].

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn trong cả nước, mỗi ngày phát

sinh hơn 9.000 tấn chất thải rắn sinh hoạt, được thu gom và chuyển về 03 nhà

máy xử lý tại huyện Bình Chánh, huyện Củ Chi. Mỗi năm, Thành phố chi

khoảng 2.000 tỷ đồng cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn

sinh hoạt [39]. Ngày 11/6/2017, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

ban hành Nghị quyết số 03/NQ-HĐND về công tác bảo vệ môi trường đô thị,

khu dân cư và quản lý chất thải trên địa bàn thành phố đến năm 2020, với chỉ

tiêu giảm tỷ lệ rác thải chôn lấp xuống 50% và giảm xuống còn 20% vào năm

2025. Đồng thời, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã ban hành

các chính sách và văn bản pháp lý hướng dẫn thống nhất thực hiện từ quy

định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tổ chức sắp xếp lại lực lượng

thu gom rác dân lập; chuẩn hóa các phương tiện thu gom, vận chuyển; hướng

dẫn giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và quản lý chất thải

rắn sinh hoạt trên địa bàn 24 quận, huyện.

1

Cũng giống như các quận/ huyện khác, Hóc Môn – một huyện ngoại

thành của Thành phố Hồ Chí Minh gồm 11 xã và 01 thị trấn cũng gặp nhiều

khó khăn, vướng mắc đối với hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải

sinh hoạt nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng, đặc biệt là trong bối cảnh

các hoạt động sinh hoạt, thương mại – dịch vụ đang phát triển mạnh như hiện

nay. Với mong muốn đóng góp cho việc tháo gỡ những khó khăn về xử lý rác

thải sinh hoạt hiện nay tại huyện Hóc Môn, tác giả lựa chọn đề tài “Thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu trong Luận văn

thạc sỹ của mình. Điều này sẽ góp phần nâng cao tiêu chí về môi trường trên

địa bàn huyện theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 –

2020 ban hành kèm theo Quyết định số 1980/QĐ – TTg ngày 17/10/2016 của

Thủ tướng Chính phủ. “Tiêu chí 17.5 - Chất thải rắn trên địa bàn được thu

gom, xử lý theo quy định”, là một trong những tiêu chí cần phải đáp ứng để

công nhận xã nông thôn mới.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng luôn là một

trong những vấn đề cần được sự quan tâm đúng mức của xã hội. Vì lẽ đó, đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Trước hết phải

kể đến các công trình nghiên cứu về hiện trạng, quy hoạch và công nghệ xử lý

rác thải sinh hoạt như:

Nguyễn Thanh Phong (2016) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả thi

xử lý rác thải sinh hoạt khu liên hợp Nam Bình Dương phục vụ cho phát triển

bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [26]. Công

trình đã đưa ra các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt gồm các công nghệ tái

chế, chôn lấp hợp vệ sinh, xử lý chất thải công nghiệp, nước rỉ rác cho khu

2

liên hợp. Đồng thời xây dựng chương trình xử lý và giám sát chất lượng môi

trường cho khu liên hợp Nam Bình Dương.

Nguyễn Văn Phước (2016) “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rác thải

sinh hoạt và đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp với quy hoạch phát triển

kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020”, Tạp chí Tài nguyên và môi

trường. Công trình đã thu thập các số liệu và chỉ ra hiện trạng thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Đồng thời, công trình cũng đưa ra các biện

pháp xử lý phù hợp với tỉnh Bình Dương [27].

Phan Thị Ngân (2019) Pháp luật về quản lý chất thải rắn qua thực tiễn

thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật –

Đại học Huế [24]. Công trình đã tập trung phân tích các quy định pháp luật về

quản lý chất thải rắn: Quy định về phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải

rắn; quy định về xử lý chất thải rắn; đồng thời, đánh giá thực tiễn thực hiện

pháp luật quản lý chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng để làm nền tảng cho

việc đề xuất các giải pháp. Tuy nhiên, công trình có phạm vi nghiên cứu khá

rộng, chất thải rắn bao gồm chất thải rắn nguy hại, chất thải rắn thông thường,

chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn sinh hoạt.

Đậu Hồng Cảnh (2019) Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua thực

tiễn tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật – Đại học

Huế [18]. Công trình đã tập trung phân tích các quy định pháp luật về xử lý

rác thải sinh hoạt, bao gồm: Quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân làm

phát sinh rác thải sinh hoạt, quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh

hoạt, quy định về xử lý rác thải sinh hoạt, hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Công trình tập trung đánh giá thực tiễn

áp dụng quy định về xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Quảng Trị để làm cơ sở

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về xử lý rác

3

thải sinh hoạt, qua đó, kiến nghị cách thức xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn

tỉnh Quảng Trị.

Ngoài các công trình kể trên, còn có một số công trình nghiên cứu liên

quan đến vấn đề rác thải có thể kể đến như:

Nguyễn Văn Phương (2008) Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững,

Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội [28];

Lê Kim Nguyệt (2002) “Một cơ chế phù hợp cho xử lý chất thải nguy

hại ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5 [25]; Nguyễn Văn

Phương (2003) “Chất thải và quy định xử lý chất thải”, Tạp chí Luật học, số 4

[29]; Nguyễn Văn Phương (2006) “Một số vấn đề về khái niệm chất thải”,

Tạp chí Luật học, số 10 [30]; Lại Văn Hùng (2016) “Nguy cơ ô nhiễm về chất

thải nguy hại”, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 7 [20]; Trần Văn Nam (2018)

“Nhìn nhận về Chính sách về nhập khẩu phế liệu hiện nay”, Tạp chí Khoa học

nhân văn, số 5 [23]; Nguyễn Thị Mai (2019) “Xử lý rác thải sinh hoạt nguy

hại của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Thái Nguyên, số 1 [22]…

Những bài viết nêu trên dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh của

pháp luật xử lý chất thải nói chung, xử lý chất thải nguy hại nói riêng mà chưa

đi sâu nghiên cứu vấn đề về xử lý rác thải sinh hoạt thông thường. Qua đó, có

thể thấy rằng, đề tài “Thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo pháp

luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” chưa

từng được nghiên cứu trước đó. Thông qua Luận văn Thạc sỹ, tác giả mong

muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp

luật về vận chuyển, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt.

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

a. Mục tiêu nghiên cứu:

4

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực

trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên

cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý rác thải sinh

hoạt nhằm mục tiêu phát triển bền vững.

b. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận chung pháp luật về thu gom, vận

chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt;

Thứ hai, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi

pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố

Hồ Chí Minh để tìm ra những tồn tại của quy định pháp luật liên quan.

Trên cơ sở đó, đưa ra phương hướng cũng như các đề xuất giải pháp

hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại huyện Hóc

Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật về thu gom,

vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt; thực tiễn thực thi các quy định pháp

luật tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

b. Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt theo pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành.

Tùy vào tiêu chí phân loại khác nhau mà rác thải sinh hoạt có thể được

phân loại thành rác thải sinh hoạt thông thường và rác thải sinh hoạt nguy hại.

5

Theo đó, xét về bản chất, rác thải sinh hoạt nguy hại trước hết cũng là một

loại rác thải sinh hoạt, vì thế, ngoài những quy định mang tính cá biệt áp dụng

riêng đối với rác thải sinh hoạt nguy hại, pháp luật về thu gom, vận chuyển,

xử lý rác thải sinh hoạt nguy hại cũng có những đặc điểm chung của pháp luật

về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói chung. Mặt khác, thực

tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại

huyện Hóc Môn nói riêng chủ yếu liên quan đến rác thải sinh hoạt thông

thường (được trình bày tại Chương 2 của Luận văn). Vì thế, trong phạm vi

Luận văn, tác giả tuy có đề cập đến các quy định của cả rác thải sinh hoạt

thông thường và rác thải sinh hoạt nguy hại nhưng chỉ đi sâu vào phân tích

các quy định liên quan đến rác thải sinh hoạt thông thường (rác thải sinh

hoạt).

Về thực tiễn: Thực tiễn thực thi pháp luật trên địa bàn huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến năm 2020.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đặt ra của Luận văn, tác giả sử dụng kết hợp

nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể:

Phần lý luận chung về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt,

tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh.

Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá được tác giả sử dụng triệt

để trong việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và đánh giá thực tiễn áp dụng

chế định này.

Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để đưa ra các giải

pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

tại địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

6

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về lý luận: Luận văn góp phần bổ sung vào hệ thống lý luận chung của

pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt.

Về thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện một số quy định pháp luật

về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Đồng thời, luận văn còn là

tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành ở huyện Hóc Môn trong việc hoạch

định biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt, đáp ứng tiêu chí môi trường trong xây dựng xã nông thôn

mới.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết

cấu thành ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thu gom, vận chuyển, xử

lý rác thải sinh hoạt

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử

lý rác thải sinh hoạt và thực tiễn thực thi tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ

Chí Minh

Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thi hành pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

7

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU GOM,

VẬN CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT

1.1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt

1.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt

Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, khái niệm về rác thải được

quy định rải rác và chưa thống nhất. Bởi vậy, để làm rõ khái niệm này chúng

ta tìm hiểu thông qua việc phân tích ngữ nghĩa của cụm từ “rác thải”. Theo Từ

điển Tiếng Việt do Trung tâm Từ điển học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa

năm 2006 thì “rác thải” được hiểu với nghĩa như khái niệm “chất thải”, tức là

“rác và các vật bỏ đi sau một quá trình sử dụng nói chung”, ví dụ: Chất thải

công nghiệp, chất thải hạt nhân, xử lý chất thải”.

Như vậy, thực tế không có sự phân biệt rạch ròi giữa khái niệm chất

thải và khái niệm rác thải theo cách giải thích trong Từ điển Tiếng Việt. Bởi

vậy, trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu phân tích khái niệm rác thải trên cơ

sở nội hàm của khái niệm chất thải như cách hiểu đã nêu tại Điều 3 Luật Bảo

vệ môi trường năm 2014 đó là “chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.

Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn

sử dụng được nữa, bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất

thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi

với những thuật ngữ khác nhau như: Chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt và

sản xuất được gọi là rác thải; chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu

trong quá trình sản xuất được gọi là phế liệu; chất thải phát sinh sau quá trình

8

sử dụng nước được gọi là nước thải… Từ đó, chúng ta có thể thấy khái niệm

“chất thải” bao trùm lên khái niệm “rác thải”. Chất thải có thể là rác thải,

nước thải, khí thải… nhưng rác thải chỉ bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, ví dụ

như những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y

tế… mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi. Theo quan điểm của GS.TS.

Lê Văn Khoa, có thể chia rác thải thành ba nhóm:

- Rác khô hay còn gọi là rác vô cơ: Gồm các loại phế thải thủy tinh;

sành sứ, kim loại, giấy cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi, vật liệu xây

dựng…

- Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: Gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng,

rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật.

- Chất thải nguy hại: Là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường

và con người như pin, bình ắc quy, hóa chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải

y tế, rác thải điện tử…

Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về rác thải như sau:

“Rác thải là tổng hợp tất cả các loại chất thải rắn được thải ra từ hoạt động sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác của con người”.

Với sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa và bản chất của hai khái niệm “rác

thải” và “chất thải”, trong phạm vi luận văn tác giả sẽ tập trung phân tích việc

thi hành pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải dưới góc độ nghiên

cứu các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh

hoạt. Ngoài ra, rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hoạt động khác nhau

được phân loại theo nhiều cách:

9

- Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà người ta phân ra

rác thải đường phố, rác thải vườn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác

thải hộ gia đình...

- Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể

phân ra rác thải hữu cơ, rác thải vô cơ, kim loại, phi kim,

- Theo mức độ nguy hại, rác thải được phân thành:

+ Rác thải nguy hại: Bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc

hại, rác thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, rác thải phóng

xạ, ...

+ Rác thải không nguy hại: Là những rác thải không chứa các chất và

các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp.

+ Rác thải y tế nguy hại: Là những rác thải có nguồn gốc từ các hoạt

động y tế, mà nó có đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến môi trường

và sức khỏe của cộng đồng bao gồm bông băng, gạt, kim tiêm, các bệnh phẩm

và các mô bị cắt bỏ, …

Nghị định số 38/2015/NĐ – CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về

quản lý chất thải và phế liệu (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số

40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số

Điều của các Nghị định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường)

quy định: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải)

được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động

khác [Khoản 1 Điều 3]. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là

chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người [Khoản 3

Điều 3]. Các chất nảy sinh xung quanh, gần gũi với người dân chính là chất

10

thải rắn sinh hoạt. Có thể thấy, rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một

bộ phận của chất thải rắn.

Như vậy, rác thải sinh hoạt là toàn bộ các loại vật chất ở thể rắn được

con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm

hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng,

...). Trong đó quan trọng nhất là các loại rác thải sinh ra từ các hoạt động

sản xuất và các hoạt động sống.

1.1.2. Khái niệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

Theo Từ điển Tiếng Việt, xử lý được hiểu là việc “tổ chức và điều

khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Trong cuộc sống hàng

ngày, con người không chỉ tiêu thụ và sử dụng một số lượng lớn các nguyên

liệu, sản phẩm từ thiên nhiên, từ sản xuất để tồn tại và phát triển đồng thời

cũng vứt, thải lại cho thiên nhiên và môi trường sống các phế thải, rác thải.

Nền kinh tế - xã hội càng phát triển, dân số tại các vùng đô thị, trung tâm

công nghiệp càng tăng nhanh thì phế thải và rác thải càng nhiều và ảnh hưởng

trực tiếp trở lại đời sống của con người, làm cho môi trường bị ô nhiễm, con

người mắc bệnh tật, giảm sức khoẻ cộng đồng, đất đai bị biến thành bãi rác,

làm mất cảnh quan tại các khu đô thị.

Trong lĩnh vực xử lý rác thải, những hoạt động tổ chức và điều khiển

của các cơ quan nhà nước cũng như việc tổ chức xử lý rác thải của các tổ

chức, cá nhân có liên quan, nhằm giảm bớt những tác động xấu của rác thải

đối với môi trường và sức khỏe con người được hiểu là hoạt động xử lý rác

thải. Đây là tổng hợp các biện pháp, cách thức nhằm kiểm soát quá trình phát

sinh, vận chuyển, xử lý rác thải và những ảnh hưởng, tác động của rác thải

đến môi trường.

11

Đã từ lâu, ở các nước phát triển, nhà nước và cộng đồng đã đưa ra các

biện pháp xử lý rác thải, đưa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây

dựng hệ thống cống ngầm thoát nước, quy định những nơi chôn rác sinh hoạt,

những quy chế, phương pháp thu gom, phân loại, tái chế và xử lý rác. Chính

vì vậy, những khu dân cư tập trung và cả đến tận thôn xóm vùng nông thôn

của các nước này đều có một cảnh quan đô thị, làng xóm sạch đẹp, văn minh,

con người khoẻ mạnh có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, đặc biệt là vấn đề vứt

rác và thu gom rác. Từ những kết quả thu gom phế liệu, rác thải, con người

nhận thấy họ có thể tái chế các nguyên liệu phế thải thành các sản phẩm tiêu

dùng mới vừa tiết kiệm bãi rác vừa tăng sản phẩm xã hội. Từ cách thức thu

gom, phân loại rác thải đã đem lại nhiều kết quả cho cuộc sống của con người

như: Môi trường sống không bị ô nhiễm, giảm diện tích chôn rác, đem lại

nguồn lợi kinh tế, thu nhập cho lao động xử lý rác.

Trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ trước, công tác xử lý rác thải sinh

hoạt được các nhà xử lý quan tâm tập trung chủ yếu vào công tác thu gom và

xử lý các loại rác thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của con người. Chính

vì vậy, mô hình thu gom, vận chuyển xử lý khi đó cũng mới chỉ hình thành ở

mức độ đơn giản. Đơn vị chịu trách nhiệm xử lý, thu gom, vận chuyển và xử

lý rác thải sinh hoạt được giao cho Phòng Xử lý đô thị trực thuộc Ủy ban

nhân dân tỉnh, với đơn vị chịu trách nhiệm vệ sinh đường phố là các công

nhân quét dọn và thu gom rác thải từ các hoạt động sinh hoạt của người dân

khu vực đô thị. Rác thải sau đó được tập kết và đổ thải tại nơi quy định.

Trong giai đoạn tiếp theo, cùng với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại

hóa đất nước, các ngành kinh tế bắt đầu được Nhà nước ưu tiên phát triển.

Các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi và các ngành du lịch,

dịch vụ theo đó cũng phát triển mạnh là nguyên nhân phát sinh lượng rác thải

12

ngày càng nhiều. Đi kèm với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức

tạp, sự nguy hại về tính chất. Công tác xử lý rác thải sinh hoạt không còn đơn

thuần là xử lý rác thải sinh hoạt mà còn bao gồm vấn đề xử lý rác thải công

nghiệp, xây dựng, y tế, nông nghiệp... Quá trình phát triển đòi hỏi công tác xử

lý rác thải sinh hoạt phát triển tương ứng về cơ chế, chính sách, pháp luật và

các nguồn lực.

Nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tế đặt ra, công tác xử lý rác thải

sinh hoạt được điều chỉnh bằng một hệ thống các chính sách, văn bản quy

phạm pháp luật quy định khá chi tiết. Song song với đó, hệ thống tổ chức xử

lý rác thải sinh hoạt bắt đầu hình thành và phát triển với các nguyên tắc tương

đối cụ thể; căn cứ theo chức năng xử lý và nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành

liên quan có trách nhiệm xử lý rác thải sinh hoạt phát sinh của ngành.

Cho đến nay, hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt không chỉ tập trung vào

công tác thu gom và tập kết rác thải sinh hoạt đô thị đến nơi đổ thải theo quy

định. Công tác xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay đã mở rộng hơn, bao gồm từ

hoạt động thu gom, vận chuyển, và xử lý rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh, đảm

bảo các Quy chuẩn Việt Nam và Tiêu chuẩn Việt Nam đặt ra; không những

đối với rác thải sinh hoạt sinh hoạt đô thị, nông thôn mà còn đối với rác thải

sinh hoạt công nghiệp, rác thải sinh hoạt từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,

chăn nuôi và rác thải sinh hoạt y tế.

Trước đây thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải được gộp chung là

hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt và được quy định trong Nghị định

59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về xử lý rác thải sinh hoạt quy định, theo đó,

hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt bao gồm các hoạt động quy hoạch xử lý,

đầu tư xây dựng cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt, các hoạt động phân loại, thu

gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt

13

nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức

khoẻ con người.

Hiện nay, hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được quy định

tại Nghị định 38/2015/NĐ – CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý

chất thải và phế liệu như sau: Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở

chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý có thể kèm theo hoạt động thu gom,

lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại

điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển [Khoản 11 Điều 3]. Xử lý chất thải là

quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm

giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu

tố có hại trong chất thải [Khoản 16 Điều 3].

1.2. Khái niệm và vai trò của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt

Thực tế đã chứng minh, pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các

quan hệ xã hội, luôn có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội.

Sự tác động và ảnh hưởng đó thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, tùy thuộc vào

từng loại đối tượng và từng quan hệ cụ thể cần có sự điều chỉnh của pháp luật.

Với khái niệm về rác thải sinh hoạt, khái niệm về hoạt động thu gom, hoạt

động vận chuyển và hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt đã được làm rõ. Do đó,

pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt có thể được hiểu là

một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể

phát sinh rác thải sinh hoạt và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các

hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nhằm bảo vệ,

tái tạo môi trường và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Vai trò nổi bật của pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt được thể hiện như sau:

14

Thứ nhất, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

bảo vệ môi trường sống của người dân

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà phải

được thực hiện bởi mỗi cá nhân. Tuy nhiên, con người chỉ có thể làm được

điều đó khi có nhận thức đúng đắn về bảo vệ môi trường. Vì thế, trong bảo vệ

môi trường, trình độ nhận thức của cộng đồng là yếu tố giữ vai trò quan trọng,

quyết định không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động này.

Pháp luật xử lý rác thải sinh hoạt thông qua các định hướng xử sự và

chế tài của mình đã góp phần làm thay đổi và nâng cao nhận thức của cộng

đồng, nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường ở nước ta. Hướng các chủ thể xử

sự đúng theo quy định của pháp luật trong các hoạt động phân loại, giảm

thiểu, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Xác định mục tiêu cho

các hoạt động liên quan đến xử lý rác thải sinh hoạt thông thường của các chủ

thể là vì môi trường, vì con người và bên cạnh đó là vì lợi ích của chính họ.

Thứ hai, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt góp

phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt được quy định sẽ dần góp phần

nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân để đảm bảo cho họ được

hưởng quyền sống trong môi trường không ô nhiễm.

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người.

Nếu môi trường sống bị hủy hoại thì loài người có nguy cơ bị hủy diệt. Cuộc

sống của con người luôn gắn bó mật thiết với môi trường: Môi trường tạo

không gian sinh sống cho con người, là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần

thiết cho sự sống và hoạt động sản xuất của con người, là nơi chứa đựng, hấp

thụ và trung hòa các rác thải ra từ quá trình sinh sống và sản xuất của con

người. Tuy vậy, quá trình hoạt động của con người đã vi phạm nghiêm trọng

15

các yếu tố cân bằng của tự nhiên một cách liên tục và ngày càng lớn, đã và

đang làm cho thế giới ngày càng biến đổi. Thực trạng môi trường ô nhiễm do

nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức

không đúng đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Bảo vệ môi trường sẽ là vấn đề sống còn đối với mỗi con người, mỗi gia đình,

mỗi cộng đồng dân cư; là việc phải làm thường xuyên, liên tục và là trách

nhiệm của mọi công dân.

Môi trường đang bị ô nhiễm: Các nguồn nước bị suy giảm nhanh, thậm

chí có nơi bị cạn kiệt, đất đai bị xói mòn, thoái hóa, không khí cả ở đô thị và

nông thôn đều bị ô nhiễm nặng, rừng bị tàn phá, rác thải, rác thải không được

xử lý đúng qui trình, đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng.

Trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của con người, con

người phải tiến hành các hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất đáp ứng

nhu cầu của bản thân. Quá trình này diễn ra liên tục không ngừng và ngày

càng mở rộng nhằm đảm bảo cho con người không chỉ tồn tại mà còn phát

triển. Trong quá trình đó, con người khai thác và tạo ra những sản phẩm vật

chất từ tự nhiên, đồng thời thải vào tự nhiên những rác thải của quá trình sản

xuất và sinh hoạt. Chính việc khai thác và sử dụng không hợp lý nguồn tài

nguyên thiên nhiên trong hoạt động kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, y tế và

sinh hoạt của con người đã tạo ra các yếu tố làm hủy hoại chính môi trường.

Cũng như hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt của con người, hoạt động

kinh tế công nghiệp là hoạt động gây ô nhiễm môi trường nặng nề nhất (trên

70% chất gây ô nhiễm mà môi trường đang phải hứng chịu từ các hoạt động

sinh tồn của con người tạo ra là từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp). Phần lớn

lượng khí thải công nghiệp được thải trực tiếp vào môi trường tự nhiên mà

không qua xử lý hoặc xử lý không triệt để, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự

16

sống của các loài sinh vật nói chung, trong đó có con người. Dân số tăng

nhanh, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp buộc con người phải sử

dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất lao động. Việc sử dụng rộng

rãi, thường xuyên các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu, các loại thuốc

kích thích, tăng trưởng đã góp phần gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả nghiêm

trọng và phổ biến về ô nhiễm môi trường từ sản xuất nông nghiệp là ô nhiễm

nguồn nước và đất canh tác. Như vậy, thực trạng môi trường ô nhiễm do

nhiều nguyên nhân: Do hoạt động sản xuất vật chất và sinh hoạt của con

người, từ các hoạt động kinh tế công nghiệp, từ hoạt động sản xuất nông

nghiệp, nhưng chủ yếu vẫn là do ý thức con người, do nhận thức không đúng

đắn và đầy đủ về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Để bảo vệ môi trường, Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 của

Ban chấp hành trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng

cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được ban hành. Nghị quyết

nêu rõ quan điểm: Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ

bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương

châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là

chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn

thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu

hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng

đến sức khoẻ cộng đồng.

Nghị quyết 24-NQ/TW cũng đưa ra một số giải pháp chủ yếu để thực

hiện công tác chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường

như: Tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận

thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết

kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường; Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến

17

bộ khoa học và công nghệ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài

nguyên và bảo vệ môi trường; Tăng cường quản lý nhà nước về ứng phó với

biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; Đổi mới, hoàn thiện

cơ chế, chính sách tài chính, tăng cường và đa dạng hoá nguồn lực cho ứng

phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; và coi

trọng hợp tác, hội nhập quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài

nguyên và bảo vệ môi trường. Để những giải pháp nêu trên được thực hiện

hiệu quả trên thực tế, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác tổ chức từ

các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước (Bộ Chính trị, Ban Kinh tế Trung

ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn

thể nhân dân…) và công tác thực hiện từ người dân.

Để nhấn mạnh hơn vai trò của việc bảo vệ môi trường và ghi nhận con

người có quyền sống trong môi trường trong lành, các nhà lập pháp đã bổ

sung quy định về quyền được sống trong môi trường trong lành vào Hiến

pháp 2013. Đây là lần đầu tiên quyền được sống trong môi trường trong lành

được quy định trong Hiến pháp 2013 với nội dung: “Mọi người có quyền

được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”

[Điều 43]. Sự ghi nhận này có ý nghĩa và tác động to lớn đến quá trình hoàn

thiện pháp luật môi trường. Nội dung quan trọng nhất của quyền này là quyền

được sống trong môi trường không bị ô nhiễm với chất lượng phù hợp với

cuộc sống con người – quyền này không chỉ giới hạn trong phạm vi nơi ở mà

còn trong cả những hoạt động khác của cuộc sống con người. Như vậy, bảo

đảm quyền được sống trong môi trường không bị ô nhiễm của người dân là

trách nhiệm của Nhà nước, của mọi tổ chức và cá nhân.

Là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trường, pháp luật về thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt cần phải xác định vai trò của mình trong

18

công cuộc bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của con

người. Pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt phải thực sự

là công cụ phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ các hoạt động có liên quan đến

thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt; quy định các quy tắc xử sự mà

các chủ thể phải thực hiện khi tiến hành những hoạt động có liên quan đến

phát thải rác thải vào môi trường với các chế tài cần thiết đảm bảo cho việc

thực hiện; quy định cụ thể thiết chế thực thi thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt bằng pháp luật, trong đó chức năng nhiệm vụ của các cơ quan

nhà nước về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt được xác lập.

Thứ ba, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt dần

dần góp phần nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường của người dân để

đảm bảo cho họ được quyền sống trong môi trường không ô nhiễm

Chiến lược quốc gia về thu gom, vận chuyển, xử lý tổng hợp rác thải

sinh hoạt xác định công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam sẽ được

phát triển theo hướng giảm thiểu tối đa lượng rác thải chôn lấp và tăng cường

tỷ lệ tái chế, tái sử dụng. Quan điểm đặt ra là sử dụng công nghệ xử lý rác thải

phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trong đó, ưu tiên áp dụng

công nghệ tái chế, tái sử dụng rác thải sinh hoạt, hạn chế chôn lấp nhằm xử lý

triệt để ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả sử dụng đất.

Đối với rác thải sinh hoạt, tùy điều kiện cụ thể mà các địa phương có

thể áp dụng các công nghệ như chôn lấp hợp vệ sinh, chế biến phân compost,

tái chế hoặc đốt. Đối với rác thải sinh hoạt công nghiệp và y tế, cần tập trung

kết hợp nhiều quy trình công nghệ khác nhau như các công nghệ phụ trợ xử lý

rác thải sinh hoạt (phân loại và xử lý cơ học, xử lý hóa - lý), công nghệ khử

khuẩn xử lý rác thải sinh hoạt y tế bị nhiễm khuẩn,... Chính phủ cũng đã có

chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, nguyên vật liệu phục

19

vụ cho các dự án đầu tư cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt, miễn giảm thuế thu

nhập cho các doanh nghiệp theo quy định, đồng thời ưu tiên lựa chọn các

công nghệ hoàn chỉnh trong nước có khả năng xử lý triệt để rác thải sinh hoạt

và có hiệu quả cao về kinh tế, kỹ thuật. Đặc biệt, ưu tiên sử dụng các công

nghệ xử lý rác thải sinh hoạt khó phân hủy. Ngày 25/05/2011, Thủ tướng

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 798/QĐ-TTg phê duyệt chương trình

đầu tư xử lý rác thải sinh hoạt giai đoạn 2011 - 2020 dành cho các dự án đầu

tư xây dựng khu liên hợp, cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt tại các địa phương

trên cả nước do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước thực hiện với

các mụcc tiêu cụ thể đặt ra đối với công tác thu gom, xử lý, tái chế và tái sử

dụng rác thải sinh hoạt sinh hoạt đô thị, nông thôn, rác thải sinh hoạt. Đây

cũng là cơ sở để Việt Nam từng bước cải thiện năng lực thu gom, vận chuyển

và xử lý rác thải sinh hoạt ở các địa phương.

Trong thời gian qua, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi

trường nói chung và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng đã được ban hành cả ở

cấp Trung ương và địa phương. Các quy định được điều chỉnh đối với các vấn

đề như xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải nguy hại; quy định về tái chế; nhập

khẩu phế liệu; cơ sở hạ tầng xử lý rác thải; quy hoạch xử lý rác thải sinh hoạt,

quy hoạch các công trình xử lý rác thải sinh hoạt; phí và lệ phí xử lý rác thải

sinh hoạt, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật và các Quy chuẩn

Việt Nam, Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.

Hiện nay, rác thải sinh hoạt được thải ra với khối lượng lớn. Trong khi

đó, tình trạng thải rác thải sinh hoạt trong nông nghiệp rất khó quản lý, do

nguồn phát sinh chủ yếu từ người nông dân, với nhận thức còn thấp, tập quán

sản xuất còn tùy tiện. Các quy định về quản lý đã được đề cập tương đối cụ

thể và nghiêm ngặt tại các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải và

20

Luật Bảo vệ môi trường 2014. Các quy định về công tác tuyên truyền, giáo

dục pháp luật về bảo vệ môi trường cũng được thể hiện trong Luật Bảo vệ

môi trường 2014 [Điều 143], theo đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện

có trách nhiệm truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về

bảo vệ môi trường. Như vậy, nền tảng pháp lý về quản lý chất thải đã có. Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi

trường xây dựng Thông tư liên lịch hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển và

xử lý rác thải sinh hoạt sau sử dụng nhằm tăng cường công tác quản lý trong

lĩnh vực này.

1.3. Nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt

Nhu cầu về môi trường xanh – sạch – đẹp ngày càng cao hơn khi trình độ

kinh tế - xã hội, dân trí phát triển ngày một cao. Những năm gần đây, thu nhập

của người dân đã có những thay đổi theo hướng tích cực, tuy nhiên, môi trường

sống cũng đang xuống cấp nặng nề. Vì thế, phải có các quy định về thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt bởi nó là một trong những yếu tố quan trọng

nhằm chống/ hạn chế ô nhiễm môi trường.

1.3.1. Nhóm quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt

Thứ nhất, về hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt: Thu gom rác thải

sinh hoạt gồm hai nhóm hoạt động: i) Hoạt động thu gom của người sản sinh

rác thải và ii) Giai đoạn trung gian để tập trung rác thải đến địa điểm vận

chuyển, xử lý rác thải. Đây là giai đoạn tương đối quan trọng trong toàn bộ

quá trình quản lý rác thải.

Việc thu gom rác thải là trách nhiệm của người sản sinh chất thải. Với

các khu vực công cộng như: Khu dân cư, đô thị, trường học… thì việc thu

gom rác thải sinh hoạt được thực hiện thông qua việc bố trí các thiết bị thu

21

gom – thùng rác - để tiếp nhận rác thải, từ đó sẽ được vận chuyển đến địa

điểm xử lý rác thải. Nếu chủ thể phát sinh rác thải chưa phân loại thì chủ thể

thu gom phải phân loại tại nguồn và lưu giữ trong túi/ thùng phân biệt được,

không được để lẫn các loại rác thải với nhau.

Cùng với hoạt động thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn có

vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải. Thực hiện tốt giai

đoạn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt đúng với từng loại rác thải. Điều này sẽ góp phần hạn chế

mức độ ảnh hưởng của rác thải đến môi trường, nâng cao hiệu quả việc xử lý

rác thải sinh hoạt.

Để hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt mang lại hiệu quả, cần có

những quy định để điểu chỉnh hoạt động này, có thể bao gồm các nhóm quy

định sau đây:

Nhóm quy định về trách nhiệm của chủ nguồn thải trong việc thu gom,

phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn: Thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt

tại nguồn có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải.

Thực hiện tốt giai đoạn này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt đúng với từng loại rác thải. Điều này sẽ

góp phần hạn chế mức độ ảnh hưởng của rác thải đến môi trường, nâng cao

hiệu quả việc xử lý rác thải sinh hoạt.

Phải thu gom, phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo hướng dẫn của

tổ chức thu gom, vận chuyển; phải ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển

rác thải sinh hoạt và thanh toán đầy đủ phí dịch vụ theo quy định tại hợp đồng

đã ký kết.

Nhóm quy định về trách nhiệm của chủ thể thu gom rác thải sinh hoạt:

Phải thu gom rác thải sinh hoạt theo yêu cầu/ quy định của cơ quan nhà nước

22

có thẩm quyền, không thu gom chung các loại rác thải sinh hoạt thông thường

với rác thải nguy hại với nhau. Bên cạnh đó, chủ thể thu gom rác thải sinh

hoạt cũng phải có trách nhiệm đảm bảo thường xuyên yêu cầu về mặt nhân

lực và phương tiện nhằm thu gom toàn bộ rác thải sinh hoạt tại các địa điểm

được quy định, đặt các thùng rác đúng nơi quy định.

Thứ hai, về hoạt động vận chuyển rác thải sinh hoạt: Vận chuyển rác

thải sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý rác thải. Từ nơi

phát sinh, rác thải qua thu gom đến được nơi xử lý phải qua hoạt động vận

chuyển. Hoạt động này nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm đáng kể sự tồn

đọng rác thải tại nơi thu gom.

Với hoạt động vận chuyển rác thải sinh hoạt, chủ thể vận chuyển đóng

vai trò quyết định đến sự hiệu quả của giai đoạn này. Vì thế, cần thiết phải có

các quy định về trách nhiệm của chủ thể này.

Quy định về trách nhiệm của chủ thể vận chuyển bao gồm các nội

dung: Chủ thể vận chuyển phải vận chuyển rác thải sinh hoạt theo nhóm đã

được phân loại và thu gom tại nguồn, trong các thiết bị chuyên dụng, đảm bảo

không rơi vãi, phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển. Việc vận chuyển

rác thải trong đô thị, khu dân cư chỉ được thực hiện theo đúng các tuyến

đường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân luồng. Phải vận chuyển

rác thải sinh hoạt nguy hại phải được vận chuyển theo tuyến đường riêng biệt

và đảm bảo an toàn tuyệt đối. Trong suốt quá trình vận chuyển, các phương

tiện này sẽ không được dừng/ đỗ (trừ trường hợp thực sự cần thiết).

Việc vận chuyển cần phải được quy định khung giờ cụ thể để đảm bảo

an toàn cho con người và môi trường. Ngoài ra, chủ thể vận chuyển rác thải

sinh hoạt cũng phải đảm bảo điều kiện về phương tiện vận chuyển như: Thiết

23

kế đạt tiêu chuẩn chất lượng; thùng chứa rác kín, không bay mùi; phù hợp với

tuyến đường vận chuyển…

1.3.2. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt

Xử lý rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng luôn là một trong

những bài toán khó để tìm lời giải đối với các nhà nghiên cứu, bởi đây là giai

đoạn đảm bảo cho rác thải sinh hoạt không gây ảnh hưởng đến môi trường và

sức khỏe của con người. Rác thải sau khi được thu gom, phân loại mà không có

khả năng tái sử dụng/ tái chế sẽ được xử lý. Chính vì thế, hoạt động xử lý chất

thải có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, nhằm mục đích giảm

khối lượng và độ độc hại của rác thải sinh hoạt đối với môi trường sống của

người dân.

Cũng giống như hoạt động thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt,

pháp luật cũng cần có quy định về trách nhiệm của chủ thể thực hiện hoạt động

xử lý rác thải sinh hoạt. Những chủ thể này phải có trách nhiệm lựa chọn công

nghệ và chu trình xử lý đối với từng loại rác thải sinh hoạt đã được phân loại sao

cho phù hợp và mang lại hiệu quả tối đa cho quá trình xử lý rác thải sinh hoạt.

Bên cạnh đó, nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải

xả thải, bên cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt và cơ quan quản

lý nhà nước: Hợp đồng dịch vụ và chi phí dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

sinh hoạt. Những nội dung này sẽ được tác giả phân tích làm rõ tại Chương 2.

sinh hoạt còn bao hàm cả hình thức pháp lý phát sinh mối quan hệ giữa chủ nguồn

24

Tiểu kết Chương 1

Trong phạm vi Chương 1 của Luận văn, tác giả đã trình bày những vấn

đề lý luận chung về pháp luật thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt.

Các vấn đề cơ bản đã đề cập như sau:

Thứ nhất, bản chất của hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

sinh hoạt là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và những chủ thể

liên quan nhằm thực hiện công tác xử lý rác thải sinh hoạt hiệu quả và đáp

ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về môi trường sống không ô nhiễm.

Thứ hai, với tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nhanh

chóng như hiện nay, pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Trong đó, vai

trò bảo vệ môi trường sống và nâng cao ý thức cộng đồng là nổi bật nhất.

Thứ ba, nội dung pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt được quy định trong một số văn bản pháp luật Việt Nam như Luật Bảo

vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành. Phần chương 2 sau sẽ phân

tích cụ thể nội dung thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển,

xử lý rác thải sinh hoạt.

25

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THU GOM, VẬN

CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN THỰC

THI TẠI HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt

Trong hệ thống pháp luật về môi trường Việt Nam nói chung và pháp luật

về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải nói riêng, các quy định về hoạt động thu

gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt được điều chỉnh chủ yếu thông qua các

văn bản: Luật Bảo vệ môi trường 2014 [13], Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày

24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu [7]; Nghị định số

40/2019/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi

trường [8]; Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại [3]; Thông tư 08/2017/TT-BXD

ngày 16/05/2017 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng;

Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ Tài nguyên và Môi

trường quy định chi tiết thi hành một số Điều của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP

ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các

Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường …

2.1.1. Quy định trách nhiệm chung của tổ chức, cá nhân làm phát sinh rác

thải sinh hoạt

Trong cuộc sống hàng ngày, các chủ thể phát thải vào môi trường các

chất thải khác nhau, trong đó có rác thải sinh hoạt. Để quản lý các chủ thể

này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xây dựng và ban hành văn bản quy

26

phạm pháp luật quy định về trách nhiệm áp dụng cho các chủ thể khi phát

chất thải vào môi trường.

Theo quy định tại Điều 95 Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Chủ cơ sở

sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phát

sinh chất thải rắn thông thường có trách nhiệm phân loại chất thải rắn thông

thường tại nguồn để thuận lợi cho việc tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng

và xử lý”. Như vậy, theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, chủ

nguồn thải có thể hiểu là các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động làm

phát sinh rác thải sinh hoạt. Trong quá trình phát thải đó, chủ nguồn thải có

nghĩa vụ phân loại rác thải sinh hoạt thông thường tại nguồn theo quy định.

Trường hợp rác thải sinh hoạt là chất thải nguy hại, chủ nguồn thải chất

thải nguy hại phải tổ chức phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý đạt quy chuẩn

kỹ thuật môi trường; trường hợp chủ nguồn thải chất thải nguy hại không có

khả năng xử lý chất thải nguy hại đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường phải

chuyển giao cho cơ sở có giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Ngoài ra, chất

thải nguy hại phải được lưu giữ trong phương tiện, thiết bị chuyên dụng bảo

đảm không tác động xấu đến con người và môi trường [Điều 91, Luật Bảo vệ

môi trường 2014]. Thông qua quy định này, có thể thấy: Ngoài việc phải tuân

thủ những quy định chung về rác thải sinh hoạt thông thông thường, chủ

nguồn thải rác thải nguy hại còn phải tuân thủ những điều kiện/ tiêu chuẩn

khác – liên quan đến quản lý chất thải nguy hại. Trong phạm vi giới hạn của

Luận văn này, tác giả chỉ đi sâu phân tích các quy định liên quan đến rác thải

sinh hoạt thông thường (gọi là rác thải sinh hoạt).

Để cụ thể hóa những quy định nêu trên, khoản 19 Điều 3 Nghị định

38/2018/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế

liệu quy định: “Chủ nguồn thải là các tổ chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành

27

cơ sở phát sinh chất thải”. Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của

Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu đưa ra nguyên tắc chung về quản lý

chất thải, trong đó, trách nhiệm phân loại chất thải được quy định tại khoản 2

Điều 4 như sau: “Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại

nguồn nhằm mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và

thu hồi năng lượng”.

Ngoài ra, Điều 16 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của

Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị

định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số

điều của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi

trường cũng quy định chủ nguồn thải có trách nhiệm: Thực hiện việc phân

loại, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt theo quy định tại Điều 15 Nghị định này;

Nộp phí vệ sinh cho thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy

định; Ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý; thanh toán toàn bộ

chi phí theo hợp đồng dịch vụ; chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt (trừ hộ gia

đình, cá nhân) chuyển giao chất thải rắn sinh hoạt cho các đối tượng sau: (i)

Cơ sở tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý và xử lý có chức năng phù hợp; (ii) Chủ

thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đáp ứng quy định tại Điều 18

Nghị định này.

Trường hợp chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt tự tái sử dụng, sơ chế, tái

chế, xử lý, đồng xử lý, thu hồi năng lượng thì phải đáp ứng các yêu cầu: (i)

Phải phù hợp với quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường,

kế hoạch bảo vệ môi trường được xác nhận hoặc giấy tờ tương đương; (ii)

Thực hiện bằng công nghệ, công trình bảo vệ môi trường, thiết bị sản xuất sẵn

có trong khuôn viên cơ sở phát sinh chất thải rắn sinh hoạt và phải đáp ứng

các yêu cầu bảo vệ môi trường (trừ chất thải rắn sinh hoạt thuộc nhóm hữu cơ

dễ phân hủy phát sinh từ các phương tiện thăm dò, khai thác dầu khí ngoài

28

khơi).

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có các quy định về trách nhiệm của chủ

nguồn thải rác thải sinh hoạt, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam nói chung (kể cả

Bộ luật Hình sự 2015 [12] và Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của

Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số

100/2015/QH13) [14] và pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải

sinh hoạt nói riêng (bao gồm Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016

của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ

môi trường) [10] chưa có bất kỳ văn bản nào quy định về chế tài khi chủ

nguồn thải không phân loại rác thải sinh hoạt theo đúng quy định, tất cả đều

phụ thuộc vào ý thức của chủ nguồn thải trong quá trình quản lý rác thải.

Chính sự thiếu vắng các quy định về chế tài này đã phần nào làm cho quy

định về trách nhiệm của chủ nguồn thải nêu trên không khả thi và không hiệu

quả khi áp dụng trên thực tế.

2.1.2. Quy định về thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt

Khoản 22 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của

Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu xác định: “Chủ thu gom, vận

chuyển chất thải rắn sinh hoạt là tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ thu gom,

vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo quy định”.

Tại khoản 11 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của

Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Vận chuyển chất thải là

quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo

hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và

sơ chế chất thải tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển”. Như vậy, trong giai

đoạn vận chuyển, rác thải có thể được lưu trữ tạm thời trước khi được đưa đi

để xử lý, tiêu hủy. Chủ lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt là các tổ chức, cá nhân

29

được phép thực hiện việc lưu giữ chất thải thông thường. Việc lưu giữ chất

thải tuy chỉ trong một thời gian ngắn nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Lưu

giữ chất thải sẽ tập trung được khối lượng lớn chất thải với những điều kiện

nhất định cho đến khu được vận chuyển đến nơi xử lý. Việc pháp luật môi

trường quy định về những quy định đối với chủ lưu giữ chất thải là cần thiết.

Theo quy định của Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của

Chính phủ về quản lý chất thải rắn (Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành

vào ngày 15/02/2020 và được thay thế bởi Nghị định 98/2019/NĐ-CP ngày

27/12/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều của các Nghị định

thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật) thì thời gian lưu giữ đối với chất thải rắn

thông thường không quá 2 ngày [Điều 24]. Tuy nhiên, Nghị định

38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế

liệu lại không quy định thời gian lưu giữ đối với loại chất thải này. Nghị định

38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 chỉ dừng lại ở việc quy định lưu giữ rác

thải sinh hoạt sau khi được phân loại được lưu giữ trong các bao bì hoặc thiết

bị lưu chứa phù hợp [Khoản 2, Điều 15]. Đến nay, chưa có văn bản nào quy

định về thời hạn lưu trữ này kể từ khi Nghị định 59/2007/NĐ-CP hết hiệu lực

thi hành. Điều này có thể dẫn đến sự lúng túng cho chủ thể áp dụng pháp luật

đối với thời gian lưu trữ rác thải sinh hoạt – kể cả Nghị định 98/2019/NĐ-CP

ngày 27/12/2019.

2.1.3. Quy định về xử lý rác thải sinh hoạt

Khoản 23 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của

Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Chủ xử lý chất thải là tổ

chức, cá nhân sở hữu hoặc điều hành cơ sở xử lý chất thải”. Bên cạnh đó,

Điều 21 Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 và khoản 8 Điều 3 Nghị

định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 cũng quy định điều kiện để cơ sở được

30

xử lý chất thải rắn sinh hoạt, bao gồm: Có báo cáo đánh giá tác động môi

trường được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với dự án đầu tư cơ sở xử

lý chất thải; Có hệ thống, thiết bị xử lý (kể cả sơ chế, tái chế, đồng xử lý, thu

hồi năng lượng), khu vực lưu giữ tạm thời phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và

quy trình quản lý theo quy định; Có các công trình bảo vệ môi trường tại cơ

sở xử lý chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy

định; Có chương trình quản lý và giám sát môi trường; Cơ sở xử lý chất thải

rắn sinh hoạt phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận hoàn thành công

trình bảo vệ môi trường theo quy định; Địa điểm của cơ sở xử lý chất thải rắn

sinh hoạt phải phù hợp với quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch tỉnh…

Cũng theo quy định của pháp luật môi trường tại Nghị định

38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015, việc lựa chọn chủ đầu tư xử lý chất thải

rắn sinh hoạt phải tuân theo quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng và đấu

thầu; còn việc lựa chọn chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt để quản lý, vận hành

cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà

nước theo quy định của pháp luật về cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích.

Trường hợp cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư ngoài ngân sách,

thì chủ đầu tư trực tiếp quản lý, vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt

do mình đầu tư hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác làm chủ xử lý chất thải rắn

sinh hoạt theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 cũng quy định cụ thể

trách nhiệm của chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt là phải xây dựng

phương án cải tạo, phục hồi môi trường khi đóng bãi chôn lấp chất thải rắn

sinh hoạt trình cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp sử dụng nguồn kinh phí

hỗ trợ từ Trung ương, chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải trình

phương án cho Bộ Tài nguyên và môi trường xem xét, tổng hợp. Ngay sau khi

31

đóng bãi chôn lấp, chủ đầu tư, chủ xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải tiến hành

cải tạo, phục hồi môi trường và cảnh quan…; tổ chức giám sát môi trường

định kỳ, theo dõi diễn biến môi trường tại bãi chôn lấp ít nhất 5 năm kể từ

ngày đóng bãi chôn lấp…

Về trách nhiệm lập, thẩm định, phê duyệt giá dịch vụ xử lý chất thải rắn

sinh hoạt, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 quy định: Đối với

cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt được đầu tư từ ngân sách nhà nước trên địa

bàn một tỉnh/ thành phố, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố giao các sở

chuyên ngành lập phương án giá gửi Sở Tài chính chủ trì tổ chức thẩm định,

trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố phê duyệt. Đối với cơ sở xử lý chất

thải rắn sinh hoạt được đầu tư từ các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước,

chủ đầu tư lập và trình phương án giá, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các

cơ quan liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh/ thành phố phê

duyệt. Đối với các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt liên vùng, liên tỉnh, chủ

đầu tư lập phương án giá gửi Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với bộ, ngành liên

quan thẩm định.

Như vậy, trách nhiệm của chủ xử lý chất thải sinh hoạt là xử lý chất

thải rắn sinh hoạt theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số

38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015. Xây dựng phương án giá dịch vụ xử lý

chất thải rắn sinh hoạt gửi Sở Tài chính thẩm định và trình Ủy ban nhân dân

tỉnh phê duyệt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 26 Nghị định số

38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 (đối với cơ sở xử lý chất thải rắn được đầu

tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước); chỉ tiếp nhận chất thải rắn sinh

hoạt với các đơn vị thu gom, vận chuyển đáp ứng các yêu cầu theo Điều 8 của

Quy định này; định kỳ hàng năm báo cáo Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và

Môi trường, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố về tình hình tiếp nhận xử

32

lý chất thải rắn sinh hoạt từ các đơn vị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh

hoạt (kỳ báo cáo tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 của năm

báo cáo). Thời hạn chậm nhất trước ngày 15 tháng 01 của năm tiếp theo; hoặc

báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Từ những quy định nêu trên, có thể thấy: Để một cơ sở được xử lý rác

thải sinh hoạt được chọn để xử lý rác thải sinh hoạt thì phải đáp ứng rất nhiều

điều kiện theo quy định pháp luật. Quy định này cũng có mặt tích cực là sẽ

giúp cho chủ thể xã hội lựa chọn được những cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt

đạt tiêu chuẩn chất lượng với chi phí hợp lý. Tuy nhiên, với khối lượng rác

thải sinh hoạt ngày càng gia tăng nhanh chóng như hiện nay, cùng với đó là số

lượng cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn còn hạn chế và thời gian để lựa

chọn cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn rất dài, điều này dẫn đến sự ứ

đọng rác thải sinh hoạt do không xử lý kịp - và một trong những nguyên nhân

phổ biến dẫn đến tình trạng nêu trên là thiếu cơ sở xử lý rác thải sinh hoạt đạt

tiêu chuẩn.

2.1.4. Hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh

hoạt

Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt là hợp

đồng được ký kết giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ để thực

hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Chủ thể sử dụng

dịch vụ thường là chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt - có thể là bất kỳ cá nhân,

tổ chức nào có hoạt động phát thải sinh hoạt ra môi trường sống. Chủ thể

cung cấp dịch vụ thường là cá nhân/ cơ quan/ tổ chức đáp ứng điều kiện về

cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt theo quy định.

Nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng: Việc thu gom, vận chuyển và

xử lý rác thải sinh hoạt phải được thực hiện thông qua hợp đồng dịch vụ. Hợp

33

đồng dịch vụ xử lý chất thải sinh hoạt chỉ được ký kết khi cơ sở xử lý rác thải

sinh hoạt đã được xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường theo quy

định. Các bên ký kết hợp đồng phải có đủ kinh phí, năng lực để thực hiện các

trách nhiệm theo thỏa thuận tại hợp đồng. Các bên ký kết hợp đồng có trách

nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng trong việc

thanh tra, kiểm tra hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt

theo thỏa thuận tại hợp đồng và tuân thủ quy định pháp luật hiện hành.

Theo tính chất nội dung công việc, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày

24/04/2015 chia hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh

hoạt có các loại sau: (i) Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất

thải rắn sinh hoạt (ii) Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn

sinh hoạt; (iii) Hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Bộ Xây dựng

hướng dẫn mẫu hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh

hoạt [Điều 24]. Như vậy, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 chỉ

phân loại hợp đồng dịch vụ và giao thẩm quyền hướng dẫn các mẫu hợp đồng

này cho Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, tại Thông tư số 08/2017/TT-BXD ngày

16/05/2017 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng (văn

bản hướng dẫn Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 về quản lý chất

thải và phế liệu) lại không có bất kỳ quy định nào hướng dẫn về nội dung

hoặc các điều khoản cơ bản của các loại hợp đồng nêu trên. Tại Nghị định

40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều

của các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi

trường cũng không có bất kỳ quy định nào về vấn đề này. Điều này đã dẫn

đến sự khó khăn cho các chủ thể áp dụng pháp luật trong quá trình đàm phán,

soạn thảo và giao kết hợp đồng dịch vụ liên quan đến việc thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên thực tế.

34

Về chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (rác thải

sinh hoạt), Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 quy định như sau:

1. Chi phí thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt phát

sinh từ các cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được bù đắp thông qua ngân

sách địa phương.

2. Chi phí xử lý chất thải rắn sinh hoạt là cơ sở để xác định giá dịch vụ

và là căn cứ để ký hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Chi phí xử

lý chất thải rắn sinh hoạt được tính đúng, tính đủ cho một đơn vị khối lượng

chất thải rắn sinh hoạt để thực hiện xử lý bao gồm:

a) Chi phí vận hành, duy trì;

b) Chi phí khấu hao, máy móc, nhà xưởng, công trình được đầu tư cho

xử lý chất thải rắn sinh hoạt (bao gồm nước rỉ rác và khí thải nếu có) đạt tiêu

chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định;

c) Các chi phí, thuế và phí khác theo quy định của pháp luật.

3. Nguồn thu để chi trả cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải

rắn sinh hoạt bao gồm phí vệ sinh và các nguồn thu khác theo quy định của

pháp luật [Điều 25].

Nhìn chung, quy định nêu trên cũng tương đối rõ ràng khi đề cập đến

các chi phí làm căn cứ tính chi phí xử lý rác thải. Tuy nhiên, để đảm bảo quy

định này được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế, đòi hỏi các cơ quan

có thẩm quyền phải xây dựng và công bố các loại chi phí cụ thể làm cơ sở

tính chi phí xử lý rác thải được để cập ở trên trong từng thời kỳ cụ thể. Tránh

trường hợp chủ thể quyền áp dụng các mức chi phí bất hợp lý trong quá trình

tính chi phí xử lý rác thải.

2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác

35

thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của huyện Hóc Môn, Thành phố

Hồ Chí Minh

Hóc Môn là một huyện ngoại thành, nằm vị trí hướng Tây Bắc Thành

phố Hồ Chí Minh, diện tích tự nhiên là 10.917,2ha, gồm 11 xã và 01 thị trấn,

với 87 ấp – khu phố, 1.449 tổ nhân dân – tổ dân phố, có 148.007 hộ dân với

542.243 nhân khẩu [1]. Phía Bắc Hóc Môn giáp huyện Củ Chi; phía Nam giáp

Quận 12; phía Đông giáp thành phố Thuận An của tỉnh Bình Dương, ranh

giới là sông Sài Gòn; và phía Tây giáp huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, huyện

Bình Chánh và quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh. Với vị trí cửa ngõ của

Thành phố, Hóc Môn có hệ thống đường quốc lộ, đường vành đai, tỉnh lộ,

hương lộ khá hoàn chỉnh. Sông, kênh rạch cũng là thế mạnh về giao thông

đường thủy, những điều này đã tạo cho huyện một vị trí thuận lợi để phát triển

công nghiệp và đô thị hóa, hỗ trợ cho nội thành giảm áp lực dân cư, đồng thời

là vành đai cung cấp thực phẩm cho Thành phố.

Triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm (giai đoạn 2016 –

2020), huyện Hóc Môn đã thực hiện các công trình, chương trình trọng điểm,

tập trung thực hiện nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội về thí điểm cơ

chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, 07 chương trình

đột phá, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU ngày

19/10/2018 của Thành ủy về thực hiện Cuộc vận động “Người dân thành phố

Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch vì thành phố sạch và giảm

ngập nước”. Qua đó, kinh tế huyện tiếp tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển

dịch đúng hướng, văn hóa xã hội có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, đời

sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên rõ rệt, vệ sinh môi

36

trường, mỹ quan đô thị được cải thiện. Theo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị

quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 –

2020 [1], một số chỉ tiêu đạt được về phát triển kinh tế và về quản lý môi

trường như sau:

Về phát triển kinh tế: Kinh tế huyện tăng trưởng ổn định, bình quân đạt

15,71%/năm, đạt chỉ tiêu Nghị quyết; cơ cấu chuyển dịch đúng hướng

“thương mại – dịch vụ, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp”.

Thu nhập bình quân đầu người hiện đạt 63,732 triệu đồng/người/năm. Huyện

có khoảng 10.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, 23

hợp tác xã và 21 tổ hợp tác hoạt động ổn định.

Chỉ đạo thực hiện Đề án nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng

nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 tại 10 xã và Đề án xây dựng huyện nông

thôn mới giúp bộ mặt nông thôn của huyện đã đổi mới với cơ sở vật chất

khang trang hơn; hạ tầng giao thông nông thôn được bê tông, nhựa hóa; các

tuyến đường liên xã, liên ấp được nâng cấp mở rộng tạo điều kiện thuận lợi

cho người dân đi lại, làm ăn, sinh sống; đồng thời từng bước tạo cảnh quan,

môi trường sống xanh – sạch – đẹp và môi trường đầu tư cho các doanh

nghiệp. Cơ sở văn hóa, thể dục – thể thao, trường học, chợ… được đầu tư xây

mới, nâng cấp, mở rộng; thu nhập của người dân được cải thiện, đời sống vật

chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên; an ninh chính trị, trật tự an toàn

xã hội được giữ vững. Đến nay, đã có 04 xã được thành phố công nhận xã đạt

chuẩn nông thôn mới giai đoạn nâng cao.

Về quản lý môi trường: Tình hình ô nhiễm môi trường cơ bản được

kiểm soát; thực hiện kiểm tra, xử lý các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi

trường theo quy định. Chỉ đạo triển khai sâu rộng trong hệ thống chính trị

thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU 19/10/2018 của Thành ủy và Nghị quyết số

37

10-NQ/HU ngày 03/5/2019 của Huyện ủy về thực hiện cuộc vận động “Người

dân huyện Hóc Môn không xả rác ra đường và kênh rạch vì Thành phố sạch

và giảm ngập nước”; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động và được sự đồng thuận

cao của Nhân dân trong việc triển khai thực hiện; duy trì thực hiện vệ sinh

môi trường trên các tuyến đường, sông kênh rạch, các vị trí, khu vực thường

xuyên tồn đọng rác cơ bản được vệ sinh sạch sẽ.

2.2.2. Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển,

xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn

Một là, triển khai thực hiện các quy định về phân loại chất thải rắn sinh

hoạt

Với mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành Thành phố phát

triển kinh tế bền vững và thân thiện với môi trường, Ủy ban nhân dân Thành

phố đã ban hành Quyết định số 44/2018/QĐ-UBND ngày 14/11/2018 ban

hành quy định về phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn

Thành phố Hồ Chí Minh [16]. Kế hoạch số 1826/KH-UBND ngày 08/4/2019

của Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn về triển khai thực hiện phân loại chất

thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn huyện Hóc Môn. Theo đó, Thành phố

Hồ Chí Minh nói chung và huyện Hóc Môn nói riêng tập trung vào các mục

tiêu: Nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường, từng bước

hình thành thói quen phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tăng cường

tái chế, tái sử dụng; Tỷ lệ hộ gia đình và ngoài hộ gia đình (các cơ sở sản

xuất, kinh doanh, cơ quan, trường học, bệnh viện...) thực hiện phân loại chất

thải rắn sinh hoạt tại nguồn đạt từ 50% trở lên.

Cùng với việc mở rộng đô thị về không gian, sự gia tăng dân số và tốc

độ đô thị hóa ngày càng nhanh dẫn đến sức ép về việc phát sinh rác thải lên

môi trường của huyện Hóc Môn ngày càng lớn. Xác định việc xử lý rác thải

38

sinh hoạt là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác bảo vệ môi

trường, gìn giữ môi trường xanh - sạch - đẹp.

Để xây dựng môi trường sống xanh, sạch ở từng địa bàn dân cư, huyện

Hóc Môn đã chủ động triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 19

tháng 10 năm 2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Cuộc vận

động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh

rạch, vì Thành phố sạch và giảm ngập nước” và Nghị quyết số 10-NQ/HU

ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện. Sau hơn 06

tháng thực hiện, Nhân dân huyện Hóc Môn từng bước có sự chuyển biến và

nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường. Cụ thể, người dân đã thực

hiện tốt việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tích cực tham gia

cùng các lực lượng chức năng xử lý các địa điểm thường xuyên tồn đọng rác

gây ô nhiễm môi trường. Cũng thông qua cuộc vận động nêu trên, đã có

98,88% hộ dân tham gia đăng ký chuyển giao rác thải sinh hoạt cho các tổ

chức có chức năng thu gom.

Hai là, triển khai thực hiện công tác tổ chức, sắp xếp hoạt động thu

gom rác dân lập

Công văn số 129/UBND-ĐT ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Ủy ban

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức, sắp xếp hoạt động thu gom rác

dân lập trên địa bàn quận, huyện trong năm 2018. Trong đó: Giao Ủy ban

nhân dân các quận, huyện tổ chức, sắp xếp hoạt động của lực lượng thu gom

rác dân lập trong năm 2018; Giao Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thiện

các quy định, phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; Tuyên

truyền, vận động lực lượng thu gom rác dân lập tham gia và thành lập Hợp tác

xã; Đề xuất chính sách hỗ trợ, khuyến khích chuyển đổi Tổ thu gom rác, các

đường dây thu gom rác chuyển đổi sang mô hình hoạt động là Hợp tác xã.

39

Công văn số 1083/UBND ngày 29/3/2018 của Ủy ban nhân dân huyện

Hóc Môn về việc tổ chức, sắp xếp hoạt động thu gom rác dân lập trên địa bàn

huyện với nội dung: Khẩn trương xây dựng kế hoạch, lộ trình chuyển đổi các

Tổ thu gom rác dân lập sang hoạt động có tổ chức là Hợp tác xã hoặc doanh

nghiệp có tư cách pháp nhân.

Theo Công văn số 3919/STNMT-CTR ngày 22/3/2019 của Sở Tài

nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh về rà soát, tăng cường tổ

chức sắp xếp lực lượng thu gom rác dân lập trên địa bàn quận, huyện. Về kết

quả triển khai: Đã có 08 quận, huyện hoàn thành chỉ tiêu vận động lực lượng

thu gom rác dân lập tham gia vào mô hình Hợp tác xã hoặc Doanh nghiệp có

tư cách pháp nhân (gồm: Quận 9, Thủ Đức, Bình Thạnh, Bình Chánh, Hóc

Môn, Nhà Bè, Củ Chi, Cần Giờ).

Ba là, triển khai thực hiện các văn bản của cơ quan cấp trên liên quan

đến giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt

Ngày 22/10/2018, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành

Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND quy định về giá tối đa đối với dịch vụ thu

gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và

giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách

nhà nước [15]. Văn bản quy định về đơn giá thu gom, vận chuyển và xử lý rác

thải sinh hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Điều 2: Mức giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải

rắn sinh hoạt sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý

chất thải rắn sinh hoạt sử dụng ngân sách nhà nước (Giá này đã tách thuế giá

trị gia tăng đầu vào và chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng đầu ra)

1. Giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh

hoạt sử dụng nguồn ngân sách nhà nước

40

a) Giá tối đa đối với dịch vụ thu gom tại nguồn như sau:

- Đối với thu gom tại nguồn bằng phương pháp thủ công: 364.000

đồng/tấn, tương đương 364 đồng/kg.

- Đối với thu gom tại nguồn bằng phương tiện cơ giới: 166.000

đồng/tấn, tương đương 166 đồng/kg.

b) Giá tối đa đối với dịch vụ vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt là

247.000 đồng/tấn, tương đương 247 đồng/kg.

2. Giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng ngân sách

nhà nước là 475.000 đồng/tấn, tương đương 475 đồng/kg.

Điều 3: Lộ trình thực hiện

Đơn vị

Lộ trình

tính

Nội dung

Năm

Năm

Năm

Năm

2018-

2020

2021

2022

2019

trở đi

1. Giá tối đa đối với dịch vụ

thu gom, vận chuyển chất thải

rắn sinh hoạt sử dụng nguồn

ngân sách nhà nước

a) Giá tối đa đối với dịch vụ

thu gom tại nguồn

Thu gom thủ công

Đồng/kg

364

364

364

364

41

Thu gom cơ giới

Đồng/kg

166

166

166

166

b) Giá tối đa đối với dịch vụ

Đồng/kg

40

133,5

227

247

vận chuyển chất thải rắn sinh

hoạt

2. Giá tối đa dịch vụ xử lý

Đồng/kg

---

---

---

475

chất thải rắn sinh hoạt sử dụng

ngân sách nhà nước

Ủy ban nhân dân quận huyện căn cứ vào mức giá tối đa nêu trên và

hướng dẫn của các Sở ngành liên quan để xây dựng mức giá chi tiết áp dụng

cho các đối tượng trên địa bàn quản lý. Trong quá trình thực hiện, khi có sự

thay đổi các cấu phần của đơn gía chi tiết (tiền lương, định mức giá nhiên liệu

và các yếu tố khác trong xây dựng đơn giá), Ủy ban nhân dân các quận, huyện

chủ động điều chỉnh giá cụ thể đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải

rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước áp dụng trên địa bàn

quản lý cho phù hợp.

Với quy định này, chi phí vận chuyển, xử lý rác thải được điều chỉnh

tăng định kỳ mỗi năm. Đồng thời, mỗi quận, huyện sẽ có mỗi mức giá khác

nhau trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt, nhưng

không được vượt quá mức giá tối đa quy định tại Quyết định số 38/2018/QĐ-

UBND ngày 22/10/2018.

Hợp đồng cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt (Phụ lục 1)

được ký giữa Bên thuê dịch vụ (Ủy ban nhân dân xã) và Bên cung cấp dịch vụ

(Công ty trách nhiệm hữu hạn). Theo đó: Nội dung công việc là Bên thuê dịch

vụ thuê Bên cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và

vận chuyển toàn bộ khối lượng phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm trung chuyên

42

theo đúng quy định; Giá trị hợp đồng 14.500.000 đồng/tháng (đối với 1 ấp) và

50.000.000 đồng/tháng (đối với 3 ấp); Phương thức thanh toán: Bên thuê dịch

vụ ủy quyền cho Bên cung cấp dịch vụ thực hiện thu phí dịch vụ tại hộ dân

trên địa bàn thu gom theo giá được Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn ban

hành, với tổng số tiền thu tương ứng với tổng giá trị hợp đồng.

Như vậy, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt

theo Quyết định số 38/2018/QĐ-UBND ngày 22/10/2018 được tính trên đơn

vị đồng/kg [15]. Trong khi đó, việc triển khai trên thực tế tại các địa phương

với đơn vị tính theo quy định này là rất khó thực thi. Bởi vì, không thể đo

lường cụ thể khối lượng rác thải sinh hoạt được thải ra hàng ngày trên địa

bàn. Theo tác giả, với mức giá dịch vụ tính theo địa bàn xả thải và đơn vị

đồng/tháng mà địa phương tại huyện Hóc Môn triển khai được xem là giải

pháp khả thi.

Bốn là, triển khai quy định về quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Quyết định số 12/2019/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của Ủy ban nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh

hoạt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, quy định cụ thể việc

quản lý cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh

hoạt bao gồm: Phân loại, lưu giữ chất thải rắn sinh hoạt; Quản lý cung ứng

dịch vụ thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt từ các cá nhân, hộ gia

đình, chủ nguồn thải, nơi công cộng đến các điểm hẹn hoặc trạm trung

chuyển; Quản lý cung ứng dịch vụ vận chuyển, trung chuyển chất thải rắn

sinh hoạt từ điểm hẹn, trạm trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng

hoặc bãi chôn lấp cuối cùng; Quản lý cung ứng dịch vụ xử lý chất thải rắn

sinh hoạt; Hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh

hoạt.

43

Kế hoạch số 2228/KH-UBND ngày 06/5/2019 của Ủy ban nhân dân

huyện Hóc Môn về thực hiện công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện

Hóc Môn. Đối với hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh

hoạt: Thứ nhất, tăng cường kiểm tra, giám sát các đơn vị hoạt động sản xuất,

kinh doanh dịch vụ, các chợ dân sinh và các khu nhà cho người lao động thuê

để ở, buộc các đơn vị phải đăng ký thu gom rác sinh hoạt và nộp phí đúng quy

định; Thứ hai, vận động hộ dân đăng ký và chuyển giao rác sinh hoạt trên địa

bàn 12 xã – thị trấn đạt 100% tổng số hộ dân; Thứ ba, tiếp tục triển khai công

tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; Thứ tư, thực hiện giám sát,

kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về thu gom, vận chuyển rác sinh

hoạt, đảm bảo 100% các đơn vị thực hiện theo quy định.

Theo khoản 11 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất

thải và phế liệu quy định: “Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất

thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu

giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải tại điểm

tập kết hoặc trạm trung chuyển”. Đây là hoạt động có vai trò quan trọng trong

hoạt động xử lý rác thải. Từ nơi phát thải, rác thải qua thu gom đến được nơi

xử lý hoặc tái chế phải qua hoạt động vận chuyển. Hoạt động này nếu được

thực hiện tốt sẽ làm giảm đáng kể sự ứ đọng rác thải tại nơi thu gom.

Rác thải sinh hoạt thông thường phải được vận chuyển theo nhóm đã

được phân loại tại nguồn, trong thiết bị chuyên dụng phù hợp, bảo đảm không

rơi vãi, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển. Hoạt động vận chuyển rác

thải trong đô thị, khu dân cư chỉ được thực hiện theo những tuyến đường được

cơ quan có thẩm quyền phân luồng giao thông quy định. Trường hợp vận

chuyển rác thải nguy hại thì phải vận chuyển theo tuyến đường riêng để đảm

bảo an toàn một cách tuyệt đối cho những người xung quanh.

44

Như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Hóc Môn cũng đã ban

hành quy định về việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Theo đó,

chủ thể thực hiện hoạt động này phải đáp ứng một số điều kiện nhất định, cụ

thể: Chủ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt thông thường chỉ được phép

hoạt động khi các phương tiện, thiết bị, máy chuyên dụng đảm bảo các yêu

cầu kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng

cấp phép lưu hành. Chủ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt thông thường

căn cứ kế hoạch thực hiện dịch vụ được cơ quan cấp huyện giao, thông báo

lịch trình dịch vụ (thời gian, tần suất, phương thức thu gom rác thải sinh hoạt)

cho các đối tượng phục vụ, vùng phục vụ và đồng thời thông báo Ủy ban

nhân dân cấp xã nơi phục vụ để thống nhất theo dõi xử lý hoạt động vệ sinh

trên địa bàn do mình phụ trách.

Theo Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ

huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 [1] và Báo cáo số

6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài nguyên – môi trường, Ủy

ban nhân dân huyện Hóc Môn về kết quả thực hiện công tác quản lý nhà nước

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện năm 2019 [2] thì:

Tại huyện Hóc Môn lắp đặt được 37 thùng rác công cộng, thành lập 08

tổ tự quản về môi trường, chuyển đổi lực lượng thu gom rác dân lập sang tổ

chức có tư cách pháp nhân; vận động 90.848/91.881 hộ dân tham gia đăng ký

chuyển giao rác sinh hoạt (đạt tỷ lệ 98,88%); 8.562/91.881 hộ dân thực hiện

phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn (tỷ lệ 9,31%).

Trên địa bàn huyện có 3 Hợp tác xã và 19 Công ty làm dịch vụ thu gom

rác, đảm nhận việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt từ các chủ nguồn

thải đến các trạm trung chuyển trên địa bàn. Nhằm chuẩn hóa, chuyển đổi

mẫu phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện góp phần

45

nâng cao chất lượng thu gom, hạn chế tối đa việc rơi vãi rác thải, nước rỉ rác

trong quá trình thu gom, vận chuyển rác sinh hoạt và đảm bảo mỹ quan đô thị

trên địa bàn huyện, Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Kế hoạch số

914/KH-UBND ngày 01 tháng 03 năm 2019 về việc chuẩn hóa, chuyển đổi

mẫu phương tiện thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện.

Thực hiện Kế hoạch của Ủy ban nhân dân huyện, Ủy ban nhân dân các

xã - thị trấn đã yêu cầu các đơn vị thu gom rác trên địa bàn thực hiện chuyển

đổi phương tiện thu gom rác không đảm bảo tiêu chuẩn sang các phương tiện

vận chuyển đạt chuẩn. Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn huyện có tổng

số 86 xe cần chuyển đổi, trong đó đã có 07 phương tiện chuyển đổi sang

phương tiện đạt chuẩn bao gồm 5 xe ép và 02 xe tải chuyên dùng, 05 hồ sơ đã

hoàn tất thủ tục vay và chờ nhận xe. Số phương tiện còn lại đang tiếp tục làm

hồ sơ chuyển đổi trong thời gian tới. Bên cạnh đó, còn có 1 bãi chôn lấp rác

thuộc xã Đông Thạnh hoạt động từ năm 1991 đến năm 2002 và nhiều trạm

trung chuyển.

Hàng năm, huyện bố trí 12 điểm tiếp nhận chất thải nguy hại hộ gia

đình tại các xã - thị trấn; Chương trình tiếp nhận chất thải nguy hại trong thời

gian qua đã huy động được sự tham gia của lực lượng Ban nhân dân ấp - Ban

Điều hành khu phố, hội viên, đoàn viên thanh niên và nhân dân các xã - thị

trấn tham gia; chỉ đạo Uỷ ban nhân dân huyện ký hợp đồng với đơn vị có

chức năng tiến hành thu gom, xử lý lượng chất thải nguy hại theo quy định. Từ

năm 2016 đến tháng 6/2018, đã thu gom được 279kg chất thải nguy hại hộ gia

đình bao gồm: Bóng đèn huỳnh quang thải, pin thải, chai lọ đựng hóa chất thải.

Huyện Hóc Môn đã yêu cầu cá nhân có hoạt động phát thải rác thải

sinh hoạt và các chủ thể kinh doanh trên địa bàn huyện có trách nhiệm thực

hiện các quy định về bảo vệ môi trường và giữ gìn vệ sinh ở nơi công cộng;

46

đổ rác thải đúng thời gian và nơi quy định. Thông báo ngay cho cơ quan có

thẩm quyền khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về xử lý rác thải

sinh hoạt.

Cũng theo Báo cáo số 6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài

nguyên – môi trường huyện Hóc Môn, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh

hàng ngày trên địa bàn huyện ước khoảng 535 tấn/ngày. Rác thải sinh hoạt

được tập trung về 03 trạm trung chuyển rác tại xã Bà Điểm, xã Xuân Thới

Thượng, xã Tân Thới Nhì và được công ty TNHH MTV dịch vụ công ích Hóc

Môn thực hiện vận chuyển đi xử lý theo quy định. Chất thải rắn nguy hại phát

sinh trên địa bàn chủ yếu từ các cơ sở sản xuất, hầu hết các cơ sở này đều thuê

đơn vị có chức năng để thu gom và xử lý theo đúng quy định của pháp luật về

chất thải nguy hại. Có 155/155 doanh nghiệp phát sinh chất thải nguy hại từ

600kg/năm trở lên đăng ký sổ chủ nguồn thải (tỷ lệ 100%), các đơn vị có

lượng chất thải dưới 600kg/năm thì bố trí nơi lưu giữ chất thải ở khu vực

riêng biệt, định kỳ thuê đơn vị chức năng đến thu gom xử lý theo quy định.

Tuy nhiên, vì thiếu hụt cơ sở xử lý rác thải nên đã gây ô nhiễm môi

trường, nhất là thời điểm nắng nóng kéo dài - lượng rác thải sinh hoạt thu

gom ngày càng nhiều nhưng không được xử lý bao nhiêu. Với tình trạng các

bãi rác ngày càng quá tải như hiện nay, các cơ quan chức năng ở Hóc Môn

cần tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động thu gom, xử lý rác, đặc biệt là

công tác vận hành phải đúng quy trình và phải có biện pháp xử lý vệ sinh

nhằm tránh tình trạng người dân bức xúc vì ô nhiễm môi trường từ các bãi rác

hiện nay. Một trong những yếu tố hết sức quan trọng để mang đến sự hiệu quả

khi xử lý chất thải là công nghệ xử lý – Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ

Chí Minh hiện nay vẫn chưa thể trang bị được công nghệ xử lý chất thải tiên

47

tiến. Điều này tất yếu dẫn đến sự thiếu hiệu quả và tốn kém trong công tác xử

lý rác thải sinh hoạt.

Nhìn chung, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt

trên địa bàn huyện Hóc Môn còn nhiều hạn chế; việc quy hoạch và quản lý

rác thải sinh hoạt tại địa bàn chưa được chú trọng; hiện trạng quản lý, xử lý

rác thải kém hiệu quả đã đặt ra nhiều thách thức đối với các cơ quan có thẩm

quyền.

Về nguyên nhân khách quan: Huyện Hóc Môn có tốc độ đô thị hóa

nhanh, số dân nhập cư đông - bình quân mỗi năm tăng 19.300 người, hoạt

động sản xuất, kinh doanh trên các lĩnh vực ngày càng phát triển dẫn đến

nguồn phát sinh chất thải trong quá trình sản xuất kinh doanh, sinh hoạt của

người dân ngày càng nhiều.

Bên cạnh đó, Hóc Môn là huyện ngoại thành, tuy nhiên trên thực tế,

ngoài Thị trấn Hóc Môn và 6/11 xã đô thị hóa trên địa bàn huyện đã phát sinh

nhiều khu dân cư đô thị, nhưng cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, nhiều

tuyến đường chưa có hệ thống thoát nước, cơ sở vật chất phát triển chưa theo

kịp với nhu cầu của nhân dân. Điều này đã tạo áp lực rất lớn đối với công tác

quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vệ sinh môi trường.

Về nguyên nhân chủ quan: Cũng xuất phát từ quá trình đô thị hóa, số

khu dân cư tăng nhanh, nhiều quy định về xử lý rác thải sinh hoạt chưa được

nhân dân chấp hành tốt; một số cấp ủy, chính quyền còn chủ quan trong lãnh

đạo, chỉ đạo, thiếu kiếm tra, giám sát và chưa kiên quyết chỉ đạo cũng như xử

lý chưa kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; một vài

tổ chức chính trị - xã hội chậm đổi mới phương thức cũng như nội dung tuyên

truyền, vận động; trang thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác bảo vệ môi

trường còn thiếu, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận dân cư còn thấp,

48

vẫn còn tình trạng đổ chất thải, vứt rác ra đường, kênh, rạch hoặc phát sinh

các điểm tập trung rác thải tự phát gây ô nhiễm môi trường, gây nghẽn dòng

chảy, gây ngập nước, làm mất mỹ quan đô thị.

Ngoài ra, các phòng, ban ngành, đoàn thể và Ban chỉ đạo Chương trình

xây dựng nông thôn mới ở huyện và ở các xã hoạt động chưa đồng bộ, chưa

phát huy hết vai trò thành viên phụ trách từng lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực

về môi trường để đáp ứng tiêu chí xây dựng nông thôn mới ở địa phương.

Tiểu kết Chương 2

Trong phạm vi Chương 2 của Luận văn, tác giả đã phân tích và đánh

giá thực trạng pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt. Qua

đó, đưa ra tình hình thực thi pháp luật về vấn đề này tại huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh. Một số kết luận có thể được rút ra từ Chương này

như sau:

Thứ nhất, các quy định về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

còn nhiều hạn chế, quy định rải rác và đôi lúc chồng chéo/ mâu thuẫn dẫn đến

những khó khăn nhất định cho chủ thể áp dụng pháp luật.

Thứ hai, ý thức của người dân về bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện

Hóc Môn đang dần được hình thành và nâng cao. Mặc dù vậy, sự hạn chế về

trang thiết bị để vận chuyển, công nghệ để xử lý rác thải sinh hoạt đang từng

ngày ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác

thải sinh hoạt.

49

CHƯƠNG 3

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG

CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THU GOM, VẬN

CHUYỂN, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử

lý rác thải sinh hoạt

Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một

vấn đề sống còn của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh

hoạt của người dân ngày càng được nâng cao thì lượng chất thải sinh hoạt

cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và

sức khoẻ con người. Vì vậy, để góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề

xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt như sau:

Thứ nhất, cần xác định pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt là một

bộ phận của pháp luật về quản lý chất thải trong hệ thống các quy định pháp

luật bảo vệ môi trường. Ngoài ra, tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp

luật liên quan đến quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt, như quy định cụ thể như

thế nào là đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của các phương tiện, thiết bị thu gom, về

vận chuyển chất thải. Thêm vào đó, Nhà nước nên tạo điều kiện và có những

chính sách khuyến khích đối với cơ sở sử dụng công nghệ sạch, tiên tiến bảo

vệ môi trường như: Giảm thuế, miễn thuế, khen thưởng, vinh danh các cơ sở

và quảng bá công khai trên cổng thông tin đại chúng. Có như vậy, một phần

sẽ tạo động lực cho các cơ sở có ý thức trong việc bảo vệ môi trường nói

chung và thải chất thải nguy hại ra ngoài môi trường nói riêng

50

Thứ hai, đề cao tính hiệu quả của quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm

soát các hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt; nâng cao chất lượng quản lý

chất thải thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Học hỏi và vận

dụng phương pháp quản lý chất thải của các nước trên thế giới phù hợp với

điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam; Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ

trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy

định về xử lý chất thải nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo

nguyên tắc chủ thế gây thiệt hại cho môi trường phải chịu trách nhiệm pháp lý

đặt ra theo quy định của pháp luật; Cần đẩy mạnh công tác thu gom, lưu giữ,

vận chuyển và xử lý chất thải theo quy định của pháp luật để bảo vệ môi

trường

Thứ ba, coi trọng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ gây tác động xấu

đến môi trường từ các hành vi phát thải rác thải sinh hoạt. Đồng thời, đề cao

các biện pháp chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt

Thứ nhất, hoàn thiện quy định của pháp luật về quản lý chất thải đặc

biệt là quản lý chất thải sinh hoạt

Khi mà ý thức của người dân chưa cao thì vấn đề quản lý chất thải

được quy định trong các văn bản pháp luật là một biện pháp hữu hiệu giúp các

cơ quan nhà nước có thể kiểm soát chất thải một cách chặt chẽ và quy củ hơn.

Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải sinh hoạt sẽ

giải quyết được vấn đề thiếu cơ chế áp dụng các hành vi vi phạm pháp luật về

quản lý chất thải sinh hoạt hiện hành. Đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống

51

pháp luật nói chung và góp phần từng bước xây dựng thành công nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cần điều chỉnh và xem xét định nghĩa về chất thải nói chung được quy

định tại khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014. Tại định nghĩa này

chỉ nêu nguồn phát sinh (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hoạt động khác)

chứ chưa quy định khi nào một vật chất bị coi là chất thải mà một vật chất có

là chất thải hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu. Chủ sở

hữu của vật chất đó coi nó là chất thải khi không có giá trị sử dụng. Điều này

phù hợp với quy định của pháp luật dân sự về quan hệ sở hữu đối với tài sản.

chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, và định đoạt đối với tài sản thuộc

quyền sở hữu của mình. Nhưng khi chủ sở hữu một tài sản mà tài sản đó lại là

một dạng vật chất có nguy cơ gây ảnh hưởng cho môi trường và sức khỏe con

người nhưng chủ sở hữu lại không cho đó là chất thải thì vấn đề này khó giải

quyết.

Điều này gây khó khăn cho cơ quan quản lý. Vì quan hệ sở hữu đối với

tài sản là quyền bất khả xâm phạm. Chủ sở hữu chất thải thường không có ý

thức tự giác thực hiện các quy định pháp luật về quản lý chất thải bởi chủ yếu

vì lý do kinh tế mà chủ sở hữu không chủ động xử lý, tiêu hủy chất thải theo

đúng quy định của pháp luật. Một vật chất trên thực tế đã không còn giá trị sử

dụng và ảnh hưởng đến môi trường nhưng vì lý do kinh tế mà chủ sở hữu

không thừa nhận và xác định đó là chất thải vì vấn đề này pháp luật xử lý như

thế nào. Do vậy, khi pháp luật quy định việc xác định một vật chất là chất thải

hay không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ sở hữu là chưa hợp lý.

Từ các phân tích trên có thể thấy đây là thiếu sót không nhỏ của pháp

luật vì thế cần thiết phải quy định thêm một số chủ thể khác có thẩm quyền

xác định một vật chất là chất thải khi có đầy đủ cơ sở chứng mình vật chất đó

52

ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khoẻ con người - đó là các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này cơ quan nhà nước có

thẩm quyền đưa ra quyết định buộc chủ thể đó phải loại bỏ và tiêu hủy vật

chất đó như chất thải.

Như vậy, khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 cần sửa đổi

như sau: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh dịch vụ,

sinh hoạt hay các hoạt động khác được chủ sở hữu và cơ quan nhà nước có

thẩm quyền xác định.

Thứ hai, cần tăng nặng hình thức xử lý hành chính đối với hành vi vi

phạm

Trách nhiệm hành chính được quy định trong Nghị định 155/2016/ NĐ-

CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử phạt hành chính cao nhất là đối

với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất thải là 2 tỷ đồng [10]. Đây là

mức phạt thấp và chưa có mối liên hệ so với chi phí để khắc phục tình trạng ô

nhiễm môi trường do hành vi vi phạm gây ra. Vì vậy, điều cần thiết đối với cơ

quan nhà nước có thẩm quyền là nên đưa ra những hình thức xử lý vi phạm

hành chính ở mức cao hơn, để vừa có tính răn đe vừa để tránh vi phạm; bên

cạnh đó có thể áp dụng cho những hành vi vi phạm với mức độ nghiêm trọng

chế tài hình sự. Có như vậy thì quá trình quản lý chất thải mới có thể cân bằng

được số lượng phát thải hiện nay. Cụ thể cần xác định mức xử phạt hành

chính dựa nhiều yếu tố khác nhau trong đó phải tương xứng với chi phí xử lý

ô nhiễm môi trường do hành vi gây ra.

Thứ ba, đầu tư, áp dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại trong hoạt động

thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt

53

Từ thực trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sinh hoạt tác giả

thấy rằng muốn thực hiện tốt quá trình này cần quan tâm đến việc đổi mới

công nghệ, phương tiện kỹ thuật. Bởi nếu thay đổi theo hướng hiện đại hóa

công nghệ, kỹ thuật sẽ đáp ứng được nhu cầu đạt ra trong giai đoạn hiện nay ở

nước ta. Tuy nhiên, để thay đổi một cách đồng bộ về công nghệ, kỹ thuật hiện

đại chưa cao. Do vậy, để nâng cao công tác thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu

huỷ chất thải sinh hoạt cần thực hiện các công việc như:

Một là, cần cải tiến, nâng cấp các phương tiện hiện có để tăng năng

xuất, hiệu quả cho các thiết bị để đáp ứng nhu cầu về quản lý chất thải hiện

nay;

Hai là, cần sự quan tâm của các cấp có thẩm quyền trong đầu tư nghiên

cứu để trong tương lai cần tự sản xuất các thiết bị hiện đại trong các giai đoạn

của quá trình quản lý chất thải nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng;

Ba là, cần tăng nguồn chi ngân sách nhà nước cho việc đầu tư xây dựng

các khu tập trung chất thải chuyên dụng, cũng như đầu tư xây dựng các khu

xử lý chất thải tập trung, hiện đại, đủ tiêu chuẩn.

Thứ tư, đối với chủ nguồn thải rác thải sinh hoạt: Cần quy định một

cách cụ thể hơn các nghĩa vụ mà chủ thể này phải thực hiện. Bên cạnh đó, có

chế độ khen thưởng kịp thời khi họ phát hiện ra các hành vi vi phạm. Cụ thể:

Thành lập đội giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về quản lý rác thải

sinh hoạt tại quận/ huyện, tuy nhiên với giải pháp này lại cần có thù lao trả

cho thành viên đội giám sát. Vấn đề này cần được thương lượng trực tiếp

thông qua hoạt động của tổ chức này với chủ trương kết hợp hài hòa lợi ích

của xã hội – bảo vệ môi trường và lợi ích cá nhân.

Thứ năm, đối với chủ thể phân loại, thu gom, vận chuyển rác thải sinh

hoạt: Ngoài việc quy định các nghĩa vụ chặt chẽ hơn; khi quy định nghĩa vụ

54

cũng phải xét đến khía cạnh sự thiếu thống nhất của các phương tiện để họ

thực hiện nhiệm vụ của mình…

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành

phố Hồ Chí Minh

3.3.1. Định hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu gom,

vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố

Hồ Chí Minh

Phát triển kinh tế, xã hội là con đường phát triển tất yếu của mỗi quốc

gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trên con đường

đó, sự phát triển mạnh mẽ, liên tục về kinh tế phải được thực hiện đồng thời

với sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Nhu cầu đó đòi hỏi, phát

triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường (phát triển bền vững). Phát

triển bền vững là một tiến trình phát triển đòi hỏi sự tiến hành đồng thời của

ba yếu tố: Kinh tế, xã hội và môi trường.

Ủng hộ quan điểm phát triển bền vững, thực hiện chủ trương của Đảng

và Nhà nướcvề bảo vệ môi trường, để có thể triển khai thực thi hiệu quả các

quy định của pháp luật môi trường về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có huyện Hóc Môn, Ủy ban nhân dân thành

phố Hồ Chí Minh cần phải tuân thủ triệt để các định hướng sau đây:

Thứ nhất, cần tích cực tổ chức triển khai các quy định của pháp luật

môi trường nói chung và pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt nói riêng trên

địa bàn tỉnh để tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, khu dân

cư… có điều kiện thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế.

55

Thứ hai, hướng tới bảo vệ môi trường bền vững, trước hết phải đẩy

mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền để cho người dân thấy được bảo vệ môi

trường xanh sạch đẹp là bảo vệ cho chính mình. Vì vậy, cần tổ chức triển khai

nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật môi trường nói

chung và pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt nói riêng để tất cả người dân

đều nắm được các quy định của pháp luật, từ đó có ý thức tuân thủ pháp luật

một cách triệt để. Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm

các biện pháp đã quy định trong việc xử lý rác thải tại địa phương. Bãi rác

thải của huyện phải được đưa đi xử lý đúng quy trình ở bãi rác thải tập trung

theo quy định. Ngoài ra, thông qua tuyên truyền phải nâng cao ý thức của

người dân trong việc phân loại rác thải từ nguồn (tại gia đình), góp phần làm

giảm áp lực cho các bãi rác.

Thứ ba, đẩy mạnh xây dựng và ban hành các quy định pháp luật cụ thể

về việc quản lý rác thải sinh hoạt từ công tác thu gom, phân loại, vận chuyển

đến xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của Nhà

nước nói chung và địa bàn huyện nói riêng trên cơ sở phù hợp với điều kiện

kinh tế, xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ tư, đầu tư kinh phí từ ngân sách nhà nước cũng như thu hút nguồn

vốn đầu tư từ các tổ chức/ cá nhân/ nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các

nhà máy xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu về mặt khoa học/

công nghệ theo tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo hiệu quả trong công tác thu

gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện.

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận chuyển, xử

lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh

3.3.2.1. Giải pháp về cơ chế, chính sách

56

- Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ban hành quy định thống

nhất thời gian thu gom rác, quy định vị trí bỏ thải rác ngoài giờ thu gom rác

thống nhất trong hợp đồng thu gom rác; đối với các hộ kinh doanh có vị trí

mặt tiền đường thì yêu cầu trang bị dụng cụ lưu chứa, đảm bảo không rơi vãi

rác ra vỉa hè đường phố; đối tượng buôn bán hàng rong thì tuyên truyền vận

động tự trang bị dụng cụ phù hợp đảm bảo vệ sinh hè phố. Bên cạnh đó, cần

điều chỉnh về đơn vị tính trong các quy định về giá tối đa đối với dịch vụ thu

gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

- Đối với Sở Tài nguyên môi trường: Cần xây dựng quy định về trang

thiết bị kỹ thuật đối với các phương tiện vận chuyển cũng như xây dựng kế

hoạch từng bước xã hội hóa bằng đấu thầu.

- Đối với Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn thì cần xem xét, ghi vốn

cho các đơn vị dịch vụ công ích quận huyện về đầu tư đổi mới phương tiện

thu gom vận chuyển.

- Quy định chế tài và đẩy mạnh trong công tác chế tài đối với các hành

vi phạm về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt bởi chính sách răn

đe mạnh mẽ của pháp luật là yếu tố quyết định đến việc để rác đúng nơi quy

định cũng như phân loại rác thải, xử lý rác. Mặt khác, chế tài này cần phải dựa

trên cơ sở ý kiến của nhân dân như trong các cuộc sinh hoạt ở tổ dân phố,

những cá nhân/ gia đình vi phạm về để rác không đúng nơi quy định hoặc vứt/

đốt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường… thì cần đưa ra phê bình, kiểm điểm

và xử phạt (trường hợp cần thiết) để người dân nâng cao ý thức và trách

nhiệm trong việc thực hiện các quy định liên quan đến rác thải sinh hoạt. Bên

cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền cũng cần tăng cường công tác thanh/ kiểm

tra và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.

57

- Xây dựng quy chế phối hợp giữa Sở Tài nguyên và môi trường với Ủy

ban nhân dân huyện và các Sở ngành có liên quan để tăng cường công tác

giám sát, xử phạt các hành vi xả chất thải không đúng quy định, nhằm nâng

cao ý thức người dân về giữ gìn chất lượng vệ sinh khu vực công cộng.

- Thành lập cơ quan quản lý môi trường để hỗ trợ nhau trong việc nắm

bắt tình hình môi trường chung của các xã và theo dõi sát sao, hướng dẫn

công nhân thu gom, nâng cao hiệu quả quản lý. Thêm vào đó, tổ chức tập

huấn cho đội thu gom rác thải sinh hoạt về kĩ thuật thu gom, phân loại rác, có

trách nhiệm trong công việc của mình và chịu sự quản lý của cán bộ quản lý

môi trường của các thôn. Ngoài ra, tổ chức tập huấn cho cán bộ môi trường để

nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng quản lý.

- Hiện công nghệ xử lý chất thải hiện nay chủ yếu là chôn lấp; rác chưa

được phân loại tại nguồn; kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển xử lý

chất thải sinh hoạt chủ yếu dựa vào ngân sách tại các địa phương. Trong khi

đó, mức thu phí vệ sinh hiện nay còn rất thấp nên chỉ bù đắp một phần chi phí

thu gom, vận chuyển… Chính vì vậy công tác quản lý chất thải rắn đang gặp

không ít những khó khăn.

Do đó, cần tăng ngân sách cho hoạt động tuyên truyền và bảo vệ môi

trường, phải có quỹ môi trường để chi trả cho các hoạt động khuyến khích và

giải quyết sự cố môi trường ngay tại địa phương.

3.3.2.2. Biện pháp tuyên truyền giáo dục

Nhận thức của người dân về vấn đề quản lý rác thải sinh hoạt, và các

tác động đến môi trường, sức khỏe của con người do ô nhiễm rác thải sinh

hoạt tuy có cải thiện nhưng vẫn còn ở mức thấp. Bởi vậy, việc nâng cao hiểu

biết và ý thức cộng đồng với lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và công

tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng là việc làm hết sức

58

cần thiết. Để nâng cao nhận thức của người dân có thể thông qua một số biện

pháp sau:

- Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến những tác hại do rác thải sinh

hoạt gây ra cho môi trường và sức khỏe con người thông qua hệ thống thông

tin của thôn như: Báo, đài, tivi, áp phích tại địa phương…

- Phổ biến cho người dân thế nào là rác thải sinh hoạt hữu cơ, thế nào là

rác thải sinh hoạt vô cơ, tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về việc phân

loại rác thải sinh hoạt thông qua các tổ chức chính trị - xã hội: Hội người cao

tuổi, hội cựu chiến binh, hội nông dân, hội phụ nữ, trường học, phát tờ rơi

phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình…

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong nhà trường về vấn đề

bảo vệ, giữ gìn vệ sinh môi trường, phát động các phong trào như: Trồng cây

xanh, khơi thông cống rãnh, thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa

về đề tài môi trường một cách sinh động nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi

tìm hiểu về môi trường để hình thành thói quen tốt cho học sinh về ý thức bảo

vệ môi trường như dùng các phần mềm dạy học về môi trường…

- Tổ chức các hoạt động, chương trình, phong trào làm vệ sinh môi

trường: Ngày môi trường thế giới, giữ gìn đường phố xanh - sạch đẹp, tháng

thanh niên hành động vì môi trường…

- Đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào việc đánh giá gia đình văn hóa.

Những gia đình có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường sẽ được

tuyên dương và những gia đình thiếu ý thức cũng sẽ bị nêu tên trên loa phát

thanh hàng ngày.

3.3.2.3. Biện pháp công nghệ

59

Theo xu thế phát triển kinh tế như hiện nay thì trong thời gian tới thành

phần và tính chất rác thải sinh hoạt sinh hoạt sẽ phức tạp hơn trước rất nhiều,

đó là sự gia tăng về khối lượng cũng như thành phần rác thải sinh hoạt do đó

cần có những biện pháp xử lý thích hợp.

- Đối với rác thải sinh hoạt hữu cơ như: Thực phẩm thừa, lá cây, phế

thải nông nghiệp… sử dụng biện pháp làm phân ủ - là biện pháp được áp

dụng phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và mang lại hiệu quả cao

trong xử lý rác thải sinh hoạt. Có thể kết hợp phương pháp này với việc ủ

phân chuồng, bùn thải biogas cũng như tận dụng được nguồn rác làm phân

bón ruộng hoặc bón cho cây trồng lâu năm, giúp tiết kiệm được chi phí trong

sản xuất. Có thể sản xuất khí sinh học tại hộ gia đình vào những vụ thu hoạch,

tận dụng phế thải đồng ruộng, chất thải chăn nuôi và một phần chất thải sinh

hoạt. Xây dựng nhà máy xử lý rác làm phân vi sinh chung cho cả huyện sử

dụng vào sản xuất nông nghiệp phục vụ nhân dân trong huyện như vậy sẽ tận

dụng được triệt để nguồn rác thải sinh hoạt hữu cơ.

- Đối với rác thải sinh hoạt không tái chế được như: Gạch ngói/ đất

đá… biện pháp xử lý thích hợp là chôn lấp. Biện pháp này sẽ giúp xóa bỏ

những bãi rác lộ thiên đang tồn tại trên địa bàn huyện. Công nghệ và kỹ thuật

là phương tiện không thể thiếu trong quá trình kiểm tra, xử lý chất thải nói

chung, rác thải sinh hoạt nói riêng. Việc xử lý, tiêu hủy rác thải sinh hoạt có

triệt để hay không phụ thuộc rất lớn vào công nghệ kỹ thuật - công nghệ xử lý

chất thải của nước ta hiện nay vẫn còn lạc hậu so với thế giới. Vì vậy, để nâng

cao hiệu quả của công tác xử lý, tiêu hủy rác thải sinh hoạt cần thực hiện giải

pháp sau:

Từng bước hiện đại hóa công nghệ - kỹ thuật, lựa chọn những công

nghệ phù hợp với điều kiện cũng như tài chính của nước ta; cải thiện, đổi mới

60

các thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải; Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng

các chỉ tiêu, tiêu chuẩn nhất định trong việc lựa chọn công nghệ. Đồng thời,

nhà nước cũng nên khuyến khích việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công

nghệ mới có thể giảm thiểu số lượng rác thải sinh hoạt phải loại bỏ như:

Nguyên liệu và năng lượng sử dụng, thay đổi công thức sản xuất… để giảm

thiểu chất thải rắn sinh hoạt ngay tại nguồn; áp dụng công nghệ sạch; áp dụng

công nghệ có thể tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải.

Hiện nay, Việt Nam chủ yếu vẫn nhập khẩu công nghệ kỹ thuật của

nước ngoài. Trong thời gian tới, chúng ta cần nghiên cứu/ học hỏi và hướng

đến việc tự sản xuất các thiết bị vận chuyển, thu gom, xử lý, tiêu hủy chất thải

để tiết kiệm và nâng cao hiệu quả đối với công tác thu gom, vận chuyển, xử lý

rác thải sinh hoạt.

3.3.2.4. Nâng cao chất lượng các dụng cụ đựng chất thải rắn đối với hộ

gia đình

Việc phân loại chất thải rắn tại hộ gia đình được coi là một nhiệm vụ

quan trọng trong công tác quản lý chất thải rắn, có tính chất quyết định đến

hiệu quả của toàn bộ quá trình xử lý sau đó. Việc phân loại chất thải rắn tại

nguồn có ý nghĩa quan trọng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm

diện tích chôn lấp, tạo nguồn tài nguyên phát triển sản xuất. Để phù hợp về

kinh tế cho hộ gia đình và địa phương trên địa bàn huyện Hóc Môn cần thực

hiện:

Thứ nhất, dùng hai dụng cụ chứa chất thải khác nhau của các hộ dân để

phân biệt các thùng chứa rác thải sinh hoạt vô cơ và hữu cơ. Đối với những hộ

chưa sử dụng dụng cụ đựng rác thải sinh hoạt thì tận dụng các nguyên liệu

thân thiện với môi trường như: Mây, tre để tạo ra các dụng cụ đựng rác thải

sinh hoạt, sau đó sơn các dụng cụ để phân biệt thùng chứa vô cơ và hữu cơ.

61

Thứ hai, yêu cầu hộ gia đình tại các xã, phường phải tham gia các buổi

tuyên truyền cho chương trình bảo vệ môi trường nói chung và đặc biệt là vấn

đề thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng. Ngoài ra, các đơn

vị phụ trách tuyên truyền cần xây dựng những tài liệu, tư liệu giảng bài cho

cộng đồng bằng nhiều hình thức như:

- Tài liệu tuyên truyền khuyến cáo quảng đại dân chúng. Các áp phích,

tờ rơi, thùng, túi đựng các loại rác thải sinh hoạt được trình bày, trang trí tùy

thuộc vào đối tượng được tuyên truyền khuyến cáo và nhất là phải sử dụng

màu sắc và hình ảnh dễ hấp dẫn, dễ hiểu.

- Tạo ra những thùng phân tách rác với những màu sắc, ký hiệu rõ rệt,

đẹp, hấp dẫn để phân biệt các loại rác được tách ra theo các sơ đồ, hình ảnh

dây truyền rất dễ hiểu, dễ làm theo, từ phân loại rác thải sinh hoạt giấy, thủy

tinh, kim loại, chất dẻo nhân tạo, vải và đặc biệt là rác thải sinh hoạt hữu cơ,

hoạt động tuyên truyền, khuyến cáo còn được thể hiện bằng các áp phích

tuyên truyền phong phú, hấp dẫn.

62

Tiểu kết Chương 3

Trong Chương 3, tác giả đã làm rõ các định hướng hoàn thiện pháp luật

về thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói chung và định hướng

nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn

huyện Hóc Môn trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và

của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó, tác giả đã đưa ra các kiến nghị về vấn đề này, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa

bàn huyện Hóc Môn về quản lý chất thải và rác thải sinh hoạt; Thứ hai, hoàn

thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc quản lý rác

thải sinh hoạt, bao gồm quy định quyền và nghĩa vụ đối với chủ nguồn thải và

chủ thể phân loại, thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt. Ngoài ra, tác giả

cũng đã đề xuất các giải pháp về việc tuyên truyền, nâng cao ý thức của người

dân nhằm giảm thiểu nguy cơ gây hại cho môi trường từ chính nguồn thải và

một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu gom, vận

chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Hóc Môn.

63

KẾT LUẬN

Song song với phát triển kinh tế luôn đi kèm với các vấn đề môi trường

được đặt ra. Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, Hóc

Môn đang là một trong những huyện có tỉ lệ thu hút vốn đầu tư trong nước

cũng như nước ngoài rất lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về mặt kinh tế

- xã hội, tình trạng ô nhiễm môi trường do các chất thải phát sinh từ hoạt động

sản xuất - kinh doanh, sinh hoạt, quá trình đô thị hóa… gây ra cũng ngày một

gia tăng.

Trước tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều bãi rác không được cấp

phép, cách thức xử lý rác thải sinh hoạt không phù hợp với quy định pháp

luật, sự thiếu hụt về khoa học - công nghệ để xử lý triệt để các loại rác thải

sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện đang là một vấn đề nan giải trong cộng

đồng dân cư, cần được các cơ quan có thẩm quyền xem xét một cách nghiêm

túc và giải quyết triệt để để bảo vệ môi trường, bảo vệ cuộc sống của người

dân cũng như đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của huyện.

Thông qua việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải

pháp cụ thể nêu trên, tác giả hi vọng luận văn có thể góp phần nâng cao hiệu

quả trong công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt nói riêng và

quản lý chất thải nói chung trên địa bàn huyện Hóc Môn trong thời gian tới.

Điều này, nếu được áp dụng tốt sẽ góp phần nâng cao tiêu chí môi trường của

các Xã trên địa bàn Huyện, đáp ứng điều kiện xây dựng nông thôn mới tại địa

phương.

64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1. Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ

huyện Hóc Môn lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 – 2020;

2. Báo cáo số 6227/BC-TNMT ngày 24/12/2019 của Phòng tài nguyên

– môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn về kết quả thực

hiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

trên địa bàn huyện năm 2019;

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015) Thông tư số 36/2015/TT-

BTNMT về quản lý chất thải nguy hại, ban hành ngày 30/6/2015, Hà

Nội.

4. Chính phủ (2019) Nghị định 98/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một

số Điều của các Nghị định thuộc lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, ban hành

ngày ngày 27/12/2019, Hà Nội.

5. Chính phủ (2015) Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi

hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ban hành ngày

14/2/2015, Hà Nội.

6. Chính phủ (2007) Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải

rắn, ban hành ngày 09/04/2007, Hà Nội.

7. Chính phủ (2015) Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải

và phế liệu, ban hành ngày 24/4/2015, Hà Nội.

65

8. Chính phủ (2019) Nghị định số 40/2019/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung

một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành

Luật bảo vệ môi trường, ban hành ngày 13/5/2019, Hà Nội.

9. Chính phủ (2017) Nghị định số 36/2017/NĐ-CP quy định chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và môi

trường, ban hành ngày 04/4/2017, Hà Nội.

10. Chính phủ (2016) Nghị định số 155/2016/NĐ-CP quy định về xử

phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ban

hành ngày 18/11/2016, Hà Nội.

11. Chính phủ (2015) Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất

lượng và bảo trì công trình xây dựng, ban hành ngày 12/05/2015,

Hà Nội.

12. Quốc hội (2015) Bộ luật Hình sự, Hà Nội.

13. Quốc hội (2014) Luật số 55/2014/QH13 Luật Bảo vệ môi trường

2014, ban hành ngày 23/06/2014, Hà Nội.

14. Quốc hội (2017) Luật số 12/2017/QH14 Luật sửa, đổi bổ sung một

số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13), ban hành ngày

20/6/2017, Hà Nội.

15. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Quyết định số

38/2018/QĐ-UBND ban hành quy định về giá tối đa đối với dịch vụ

thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân

sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử

dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, ban hành ngày 22/10/2018,

Thành phố Hồ Chí Minh.

66

16. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2018) Quyết định số

44/2018/QĐ-UBND ban hành quy định về phân loại chất thải rắn

sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành

ngày 14/11/2018, Thành phố Hồ Chí Minh.

B. SÁCH, BÀI BÁO, ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

17. Phạm Ngọc Bách (2014) “Lò đốt rác thải sinh hoạt thân thiện môi

trường”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ tài nguyên và môi

trường, số 15.

18. Đậu Hồng Cảnh (2019) Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua

thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học

Luật – Đại học Huế.

19. Bùi Đức Hiển (2018) “Mấy vấn đề lý luận về quản lý chất thải rắn

thông thường ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài nguyên – Môi

trường, số 10.

20. Lại Văn Hùng (2016) “Nguy cơ ô nhiễm về chất thải nguy hại”,

Tạp chí Kinh tế Việt Nam, số 7.

21. Lan Hương (2010) “Mô hình nông dân tham gia xử lý rác thải sinh

hoạt”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, Bộ tài nguyên và môi

trường, số 16(102).

22. Nguyễn Thị Mai (2019) “Xử lý rác thải sinh hoạt nguy hại của Việt

Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Thái Nguyên, số 1.

23. Trần Văn Nam (2018) “Nhìn nhận về Chính sách về nhập khẩu phế

liệu hiện nay”, Tạp chí Khoa học nhân văn, số 5.

67

24. Phan Thị Ngân (2019) Pháp luật về quản lý chất thải rắn qua thực

tiễn thực hiện tại Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sỹ Luật học,

Đại học Luật – Đại học Huế.

25. Lê Kim Nguyệt (2002) “Một cơ chế phù hợp cho xử lý chất thải

nguy hại ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5.

26. Nguyễn Thanh Phong (2016) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khả

thi xử lý rác thải sinh hoạt khu liên hợp Nam Bình Dương phục vụ

cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội.

27. Nguyễn Văn Phước (2016) “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rác

thải sinh hoạt và đề xuất các giải pháp xử lý phù hợp với quy hoạch

phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020”, Tạp chí

Tài nguyên và môi trường.

28. Nguyễn Văn Phương (2008) Bảo vệ môi trường và phát triển bền

vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

29. Nguyễn Văn Phương (2003) “Chất thải và quy định xử lý chất

thải”, Tạp chí Luật học, số 4.

30. Nguyễn Văn Phương (2006) “Một số vấn đề về khái niệm chất

thải”, Tạp chí Luật học, số 10.

31. Phạm Sơn Tùng (2014) “Tổng quan về xử lý chất thải rắn phát sinh

từ sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt ở Việt Nam”, Tạp chí Công

thương, số 17.

32. Lê Mạnh Tuyến (2016) “Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt thành

công tại Nhật Bản và Singapore”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, số 22.

68

33. Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội (2013) Sổ tay hướng dẫn thu

gom và xử lý rác hộ gia đình, ban hành ngày 20/05/2013, Hà Nội.

34. Huỳnh Thị Vang (2017) “Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải

rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh”,

Tạp chí Công thương, số 6.

C. TÀI LIỆU INTERNET

35. Việt Đức (2020) “Rác thải sinh hoạt là gì? Quy trình xử lý rác thải

sinh hoạt”, ,

(13/03/2020).

36. Thanh Mai (2019) “Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn

sinh hoạt trên địa bàn TPHCM”,

osts/Post.aspx?List=5eb16142%2Df62d%2D4d6e%2Da0c3%2D94b

5fbf93d65&ID=63322&Web=47b63c10%2D8ed8%2D4592%2D97

d8%2D1f436710fa9b>, (13/03/2020).

37. Thu Ngọc (2019) “Huyện Hóc Môn: Chủ động xây dựng môi

trường sống xanh, sạch ở từng địa bàn dân cư”,

dung-moi-truong-song-xanh-sach-o-tung-dia-ban-dan-cu-

1491860073>, (13/03/2020).

38. Lê Phương (2018) “Rác thải nông thôn, bài toán chưa có lời giải

hữu hiệu”,

hoi.aspx?ItemID=37428>, (10/02/2020).

39. Nguyễn Quỳnh (2019) “Thành phố Hồ Chí Minh đồng loạt thực thi

giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt”,

69

phap-quan-ly-chat-thai-ran-sinh-hoat-295918.html>, (10/02/2020).

40. Westerntech (2019) “Có thể bạn chưa biết: Hướng dẫn phân loại

rác thải”,

huong-dan-phan-loai-rac-thai.htm>, (10/02/2020)

70

PHỤ LỤC 1

HỢP ĐỒNG CUNG CẤP DỊCH VỤ THU GOM

CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

[Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM]

Phần 1: CÁC CĂN CỨ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG

Căn cứ Bộ luật Dân sự của Quốc hội số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015;

Căn cứ Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 22/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định về giá đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 12/2019/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh;

Căn cứ Công văn số 811/LCQ-STNMT-STC-STP-CT ngày 29/01/2019 của Liên cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Cục Thuế Thành phố về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 38/2018/QĐ- UBND ngày 22/10/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định về giá đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và giá tối đa dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Phần 2: CÁC BÊN KÝ HỢP ĐỒNG

Theo nhu cầu của hai bên, hôm nay, ngày 02 tháng 12 năm 2019, tại Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình, chúng tôi gồm:

Bên A (Bên thuê dịch vụ):

- Ông: Lê Hoàng An

- Chức vụ: Phó chủ tịch UBND xã

- Tên đơn vị: Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình

- Địa chỉ trụ sở: 171 ấp 4, xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM

- Điện thoại: 028.37120271

71

- MST: 0301472133

Bên B (Bên cung cấp dịch vụ):

- Ông/bà: Trần Công Bình

- Chức vụ: Giám đốc

- Tên đơn vị: Công ty TNHH thu gom rác Bình An

- Địa chỉ trụ sở: 81/3X Phạm Thị Giây, tổ 104 ấp Tam Đông 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TPHCM

- Điện thoại: 083.9711711

Phần 3: NỘI DUNG HỢP ĐỒNG

Bên A và Bên B cùng thống nhất ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn. Theo đó, bên A thuê bên B thực hiện các công việc của hợp đồng này với các nội dung cơ bản như sau:

Điều 1: Giải thích từ ngữ:

1. Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người (chất thải rắn sinh hoạt không bao gồm chất thải rắn nguy hại quy định tại Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại và không bao gồm chất thải rắn công nghiệp thông thường). Sau đây viết tắt là CTRSH.

2. Chất thải rắn cồng kềnh là chất thải rắn có kích thước lớn như vật dụng từ gia đình (tủ, giường, nệm, bàn, ghế salon, tranh…), gốc cây, thân cây và nhánh cây. Chất thải rắn cồng kềnh được quản lý như CTRSH.

3. Chất thải rắn công nghiệp thông thường là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại.

4. Chất thải rắn xây dựng là chất thải rắn phát sinh trong quá trình khảo sát, thi công xây dựng công trình (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ).

5. Chủ thu gom CTRSH tại nguồn: là các tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ thu gom CTRSH từ cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các điểm hẹn

72

hoặc các trạm trung chuyển.

6. Nguồn thải: là nơi phát sinh chất thải ngoài hộ gia đình cần được thu gom và xử lý.

7. Thu gom CTRSH tại nguồn: là quá trình thu gom và chuyên chở chất thải rắn sinh hoạt tại các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các điểm hẹn hoặc các trạm trung chuyển.

8. Chủ vận chuyển CTRSH: là tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ vận chuyển CTRSH từ các điểm hẹn đến các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn, trạm trung chuyển đến Khu xử lý chất thải tập trung bằng phương tiện vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt.

9. Vận chuyển CTRSH: là quá trình chuyên chở CTRSH từ các điểm hẹn đến các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn, trạm trung chuyển đến Khu xử lý chất thải tập trung bằng phương tiện vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt.

10. Phương tiện thu gom CTRSH: là các loại phương tiện chuyên dụng thu gom, vận chuyển CTRSH của cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đến các điểm hẹn hoặc các trạm trung chuyển.

11. Phương tiện vận chuyển CTRSH: là các phương tiện chuyên dụng vận chuyển CTRSH từ các điểm hẹn đến các trạm trung chuyển; từ các điểm hẹn, trạm trung chuyển đến Khu xử lý chất thải tập trung.

12. Điểm hẹn: là điểm tập kết tạm thời các loại phương tiện thu gom CTRSH tại nguồn để chuyển chất thải sang phương tiện cơ giới vận chuyển CTRSH. Điểm hẹn cũng được xem là điểm tập kết tạm thời các loại phương tiện vớt để chuyển chất thải rắn, rong cỏ, lục bình trên sông, kênh, rạch sang phương tiện cơ giới vận chuyển chất thải rắn, rong cỏ, lục bình.

13. Cung ứng dịch vụ CTRSH: là thực hiện các dịch vụ liên quan đến CTRSH giữa chủ thu gom, chủ vận chuyển và hộ gia đình, chủ nguồn thải theo sự quản lý của cơ quan nhà nước liên quan.

14. Nước rỉ rác: là nước thải phát sinh từ độ ẩm của chất thải rắn do quá trình phân hủy sinh học cả chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học và lượng nước từ bên ngoài xâm nhập vào CTRSH trong quá trình lưu chứa vận chuyển (nếu có).

Điều 2: Công việc hợp đồng:

73

1. Nội dung công việc:

Bên A thuê Bên B thực hiện cung ứng dịch vụ thu gom CTRSH tại nguồn và vận chuyển toàn bộ khối lượng CTRSH phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm trung chuyển theo đúng các quy định hiện hành. Cụ thể như sau:

a. Thu gom rác sinh hoạt tại địa điểm: tại hộ dân trên địa bàn ấp 1, ấp 3 và ấp 4 xã Nhị Bình.

b. Thời gian thực hiện thu gom trong khoảng từ 4 giờ đến 17 giờ.

c. Tần suất lấy rác: Đối với tuyến đường Bùi Công Trừng, tần suất thu gom tối thiểu là 01 ngày/lần; đối với các tuyến đường, hẻm còn lại, tần suất thu gom tối thiểu là 1 – 2 ngày/lần.

d. Khối lượng rác phát sinh (kg/ngày): theo thực tế.

e. Phương tiện thu gom: theo đúng quy định hiện hành.

g. Đối với chất thải rắn cồng kềnh: Bên B thỏa thuận trực tiếp với cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải theo cơ chế giá dịch vụ nếu chủ nguồn thải có phát sinh và nhu cầu xử lý.

2. Yêu cầu công việc:

a. Toàn bộ CTRSH (trừ chất thải rắn cồng kềnh) của Bên A phải được thu gom và vận chuyển hết đến nơi quy định.

b. Sử dụng phương tiện thu gom tại nguồn theo đúng quy định hiện hành.

c. CTRSH sau khi được thu gom sẽ vận chuyển toàn bộ khối lượng CTRSH phát sinh về điểm hẹn hoặc trạm trung chuyển theo đúng các quy định hiện hành.

3. Chất lượng công việc:

Đảm bảo không làm rơi CTRSH, nước rỉ rác trong quá trình thu gom tại nguồn.

Điều 3: Giá trị hợp đồng và phương thức thanh toán:

1. Giá trị hợp đồng/tháng: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

2. Phương thức thanh toán:

- Ủy ban nhân dân xã Nhị Bình thanh toán cho Công ty TNHH thu gom rác Bình An qua hình thức ủy quyền cho Công ty TNHH thu gom rác Bình An

74

thực hiện thu phí dịch vụ tại hộ dân trên địa bàn thu gom theo giá được Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn ban hành). Tổng số tiền thu tương ứng với tổng giá trị hợp đồng. Thời gian thu, từ ngày 25 đến ngày 30 của tháng cung ứng dịch vụ.

- Công ty TNHH thu gom rác Bình An sẽ trích lại cho Ủy ban nhân dân xã 2% trên tổng số phí thu được và chịu trách nhiệm nộp các khoản phí, thuế về các cơ quan chức năng theo quy định. Thời gian trích phí về Ủy ban nhân dân xã từ ngày 01 đến ngày 10 hàng tháng. Phương thức thanh toán: tiền mặt.

Khi có Quyết định mới về công tác thu phí, hai bên sẽ cùng trao đổi để đôi bên thống nhất chung và lập phụ lục hợp đồng.

Điều 4: Thời gian thực hiện hợp đồng:

Hợp đồng cung cấp dịch vụ có giá trị trong 12 tháng kể từ ngày ký.

Điều 5: Điều chỉnh hợp đồng:

Trong một số trường hợp sau đây có thể xem xét điều chỉnh hợp đồng:

1. Điều chỉnh mức phí thu gom theo các quy định của thành phố.

2. Thay đổi thời gian giao nhận CTRSH.

3. Thay đổi tần suất thu gom CTRSH.

4. Thay đổi phương tiện thu gom CTRSH.

5. Thay đổi số hộ đăng ký thu gom rác.

6. Các nội dung khác tùy vào nhu cầu của 02 bên.

Hai bên phải báo trước cho nhau để cùng bàn bạc thỏa thuận ký lại hợp đồng hoặc bổ sung phụ lục hợp đồng. Sau 07 ngày phải giải quyết xong hợp đồng đã điều chỉnh. Việc thu gom rác vẫn được thực hiện trong thời gian điều chỉnh hợp đồng.

Điều 6: Trách nhiệm của 02 bên:

1. Trách nhiệm của Bên A:

Tổ chức tuyên truyền vận động người dân đăng ký đổ rác theo quy định.

Thông báo các vấn đề phát sinh có liên quan đến hoạt động thu gom rác trên địa bàn, phối hợp với Công ty TNHH thu gom rác Bình An để giải quyết kịp thời.

75

Xử lý các trường hợp vứt rác bừa bãi làm mất vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị.

Yêu cầu cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải thực hiện các nội dung:

- Thực hiện phân loại, lưu giữ CTRSH theo đúng quy định.

- Sử dụng dụng cụ chứa phù hợp với công nghệ thu gom, vận chuyển đã thống nhất với Bên B.

- Giao rác đúng thời gian và đặt tại vị trí thỏa thuận.

- Thanh toán theo đúng như thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng này.

- Không trộn lẫn chất thải nguy hại, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải rắn xây dựng với CTRSH.

2. Trách nhiệm của Bên B:

- Chịu trách nhiệm với nhà nước về toàn bộ quá trình lưu thông trên đường và đổ chất thải đúng nơi quy định.

- Đến nhận CTRSH do bên A giao theo đúng thời gian thỏa thuận.

- Nhận khoản kinh phí dịch vụ theo Điều 2 hợp đồng đã ký.

- Đảm bảo thu gom toàn bộ CTRSH và thực hiện đúng theo quy định về cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường trong lĩnh vực thu gom CTRSH tại nguồn của thành phố.

- Đảm bảo sử dụng phương tiện thu gom tại nguồn và tần suất thu gom như đã thỏa thuận với Bên A.

- Thông báo rộng rãi về thời gian, phương thức, tần suất thu gom chất thải rắn sinh hoạt theo quy định cho tất cả các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải đã ký hợp đồng cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được biết.

- Bảo đảm đủ yêu cầu về nhân lực, phương tiện, thiết bị chuyên dụng để vận chuyển toàn bộ CTRSH phát sinh trên địa bàn phụ trách.

- Phối hợp với Ủy ban nhân dân xã tuyên truyền vận động hộ gia đình, chủ nguồn thải về trách nhiệm quản lý chất thải rắn và nghĩa vụ nộp tiền giá dịch vụ.

- Chịu trách nhiệm về tình trạng rơi vãi CTRSH, gây phát tán bụi, mùi hoặc rò

76

rỉ nước rỉ rác gây ảnh hưởng xấu đến môi trường trong quá trình thu gom, vận chuyển đến các điểm hẹn, trạm trung chuyển.

- Đào tạo nghiệp vụ, trang bị bảo hộ lao động cho công nhân thu gom CTRSH

- Phối hượp Ủy ban nhân dân xã thực hiện tổng vệ sinh môi trường theo yêu cầu, kế hoạch của Ủy ban nhân dân xã.

- Tham gia các cuộc họp tiếp xúc cử tri trên địa bàn thu gom rác và chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri về việc phản ánh của người dân trong quá trình thu gom rác.

- Phối hợp Ủy ban nhân dân xã thu gom, xử lý đối với các khu vực có phát sinh CTRSH không đúng nơi quy định, tồn lưu nhiều ngày gây ô nhiễm môi trường hoặc mất mỹ quan đô thị (bao gồm cả chất thải rắn cồng kềnh và CTRSH có trộn lẫn chất thải rắn xây dựng).

- Nhắc nhở đối với các cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải không chuyển giao CTRSH đúng thời gian và phương thức quy định. Trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình, chủ nguồn thải vi phạm hơn 03 lần/tháng thì Công ty phản ánh đến Ủy ban nhân dân xã bằng văn bản để xử lý vi phạm hợp đồng.

- Định kỳ 6 tháng/lần, gửi báo cáo thống kê danh sách số lượng, phân loại các hộ gia đình, chủ nguồn thải và danh sách thông tin người thu gom, số lượng, loại phương tiện thu gom, địa bàn thu gom theo mẫu do Sở Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn cho Ủy ban nhân dân xã để quản lý. Lập danh sách hộ đăng ký tham gia đổ rác mới chuyển về Ủy ban nhân dân xã từ ngày 10 đến ngày 15 hàng tháng.

- Cung cấp danh sách công nhân thu gom rác trên từng địa bàn, khu vực phụ trách (tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ). Trường hợp thay đổi công nhân thu gom phải gửi danh sách thay đổi trước 03 ngày khi thực hiện.

- Thực hiện Báo cáo tình hình công tác thu gom CTRSH tại nguồn định kỳ hàng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân xã hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Biểu mẫu báo cáo quản lý CTRSH do Sở Tài nguyên và Môi trường quy định.

- Được quyền từ chối tiếp nhận chất thải và thông báo cho Ủy ban nhân dân xã biết trong trường hợp các cá nhân, hộ gia đình và chủ nguồn thải không giao chất thải rắn đúng thời gian và phương thức quy định liên tiếp 3 lần/tháng.

77

- Phương tiện thu gom phải đảm các điều kiện về vệ sinh môi trường, trang bị Logo và thiết bị định vị trên mỗi xe thu gom rác để phục vụ công tác quản lý và tiếp nhận kịp thời các thông tin phản ánh của người dân về việc thu gom.

- Trang bị loa, chuông hoặc hình thức thông báo khác khi đến lấy CTRSH tại hộ dân.

Điều 7: Xử phạt vi phạm hợp đồng:

Các hành vi vi phạm hợp đồng được xử lý theo Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh môi trường và các văn bản khác có liên quan.

Khi phát sinh tranh chấp, các bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận các nội dung. Trường hợp có nội dung tranh chấp không tự giải quyết được thì thống nhất nộp đơn đến tòa để được giải quyết. Các chi phí về kiểm tra, xác minh và án phí Tòa án do bên có lỗi chịu.

Hợp đồng này được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản và có giá trị như nhau./.

ĐẠI DIỆN BÊN A ĐẠI DIỆN BÊN B

(Đã ký tên và đóng dấu) (Đã ký tên và đóng dấu)

78

PHỤ LỤC 2

DANH MỤC THÀNH PHẦN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT

[Nguồn: Ban hành kèm theo Kế hoạch số 600/KH-UBND ngày 02/5/2019 của UBND xã Nhị Bình, huyện Hóc Môn, TPHCM]

1. Danh mục chất thải rắn hữu cơ:

TT

Tên chất thải

Phương pháp xử lý

1

Xác mía, cùi bắp

2

Thức ăn thừa các loại thực phẩm hết hạn sử dụng

3

Các phần thải bỏ từ việc chuẩn bị thức ăn

4

Các loại rau, củ, quả hư hỏng

5

Phân gia cầm, gia súc nuôi

Làm nguyên liệu cho sản xuất phân compost, tái sử dụng năng lượng (biogas)

6

Cỏ, lá cây, hoa các loại, các loại vỏ hạt

7

Rơm, cỏ

8

Bã cà phê, trà và túi trà

9

Xác động vật

2. Danh mục chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế

TT

Tên chất thải

Phương pháp xử lý

1

Nhóm giấy: tạp chí, giấy báo các loại; hộp giấy, bìa thư, sách; tập, hộp, dĩa, ly giấy và carton.

2

Tái sử dụng, tái chế

Nhóm nhựa: các vật liệu bằng nhựa (chai, lọ, khay đựng thức ăn, can, thùng, đĩa CD, DVD, nắp chai nhựa và các vật liệu làm bằng nhựa trên sản phẩm có ký hiệu PE, PP, PVC, PET.

3

Nhóm kim loại: sắt, nhôm, thép, đồng, vỏ bao bì kim loại (lon bia, nước ngọt, lon đồ hộp).

4

Nhóm cao su: vỏ xe, dép, săm lốp…

5

Nhóm nilon: túi nhựa mỏng các loại…

6

Nhóm thủy tinh: vỏ chai bia, nước ngọt, chai đựng thực phẩm, kính…

79

3. Nhóm chất thải nguy hại: là các chất thải có chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.

TT

Tên chất thải

Phương pháp xử lý

Bóng đèn huỳnh quang đã qua sử dụng

1

Bình xịt côn trùng, vỏ bình gas mini

2

3

Chai, lọ bao bì đựng sơn, dầu nhớt đựng hóa chất, đã qua sử dụng.

Tái chế, đốt, hóa rắn và chôn lắp an toàn

Dầu nhớt thải

4

Pin thải các loại

5

Ắc quy thải

6

Thiết bị điện tử gia dụng thải bỏ

7

Nhiệt kế thải bỏ.

8

80

4. Danh mục chất thải rắn còn lại:

TT

Tên chất thải

Phương pháp xử lý

Bùn, đất

1

2

Các vật liệu làm bằng tre: rổ tre, sọt tre, thúng tre, ống tre, cây tre

Đầu thuốc lá

3

Giấy bạc

4

Dây da các loại, dây điện

5

Hạt hút ẩm

6

Thùng mouse, hộp xốp

7

Giấy ăn đã sử dụng

8

Lông động vật

9

10 Quần áo cũ, giày dép cũ và vải, sợi thải, khăn cũ

11

Sản phẩm từ cao su (găng tay, ủng, dây thung, bao cao su…)

12

Đốt, chôn lấp hợp vệ sinh

Sành, sứ, gốm các loại: chén, tô, dĩa, ly sứ, bình chưng bông…

Tả, băng vệ sinh

13

Tóc, cát

14

Trấu thải, tro than

15

16

Bao bì đựng các loại thực phẩm và hàng tiêu dùng (vỏ bánh, vỏ kẹo…)

17 Vỏ dừa, vỏ sầu riêng

18 Xương động vật, vỏ sò, ốc, nghêu, trứng, cua, ghẹ, vỏ

trái dừa

19 Nilon

20 Dao, lưỡi lam, kéo

21

Chất thải rắn còn lại có kích thước trên 0,5m và/hoặc khối lượng trên 10kg: tủ, bàn, ghế sofa, niệm cũ…

81