
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN
Ngày nay, ngân hàng xanh nổi lên như một phương pháp tiềm năng để thúc đẩy sự phát
triển kinh tế ổn định và bền vững. Hình thức này thể hiện sự tham gia của các ngân hàng
thương mại vào các vấn đề xã hội và môi trường, với mục tiêu bảo vệ và kiến tạo một
nền kinh tế xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu, loại bỏ ô nhiễm và nâng cao thu nhập.
Nói cách khác, ngân hàng xanh là nỗ lực hướng tới một môi trường xanh hơn thông qua
các nghiệp vụ tài chính thân thiện với môi trường (Rajesh và Dileep, 2014). Các hoạt
động xanh của ngân hàng bao gồm nhiều khía cạnh, từ các hoạt động nội bộ như tiết
kiệm giấy và năng lượng, ứng dụng công nghệ, đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính
xanh như tín dụng, tiền gửi và thanh toán. Trong đó, hoạt động tín dụng thường mang
lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Vì lẽ đó, Yan Tingfeng và cộng sự (2019) nhận định
rằng, trong ngắn hạn, ảnh hưởng của hoạt động tín dụng xanh (TDX) lên hiệu quả kinh
doanh có thể chưa rõ ràng, nhưng về dài hạn, hoạt động này được kỳ vọng sẽ mang lại
những ảnh hưởng tích cực. Lý do là trong ngắn hạn, chi phí đầu tư ban đầu cho TDX
thường cao, bao gồm chi phí nghiên cứu và đánh giá các dự án xanh, xây dựng đội ngũ
nhân sự chuyên trách và quản lý các khoản vay xanh. Tuy nhiên, về lâu dài, các dự án
xanh thường có tính ổn định cao hơn, ít bị ảnh hưởng bởi các biến động ngắn hạn. Hơn
nữa, trong dài hạn, các dự án xanh có tiềm năng tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi từ các
quỹ đầu tư và tổ chức quốc tế, cho phép ngân hàng tận dụng được nguồn vốn với lãi
suất thấp, từ đó gia tăng lợi nhuận. Do vậy, hoạt động cấp tín dụng xanh cho khách hàng
của các ngân hàng thương mại cần được phát triển theo một chiến lược dài hạn, nhằm
mang lại sự ổn định cho cả ngân hàng và xã hội.
Đối với Việt Nam, những quy định liên quan đến tài chính xanh đã bắt đầu được chú y
đến, trong đó có ““Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm
nhìn đến năm 2050” được Chính phù phê duyệt trong quyết định số 1933/QĐ – TTg
năm 2012 với ba mục tiêu chính yếu. Thứ nhất là tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh
tế theo hướng xanh hóa với các ngành nghệ hiện có, khuyến khích các nghành kinh tế
phát triển theo hướng sử dụng năng lượng và tài nguyên hiệu quả theo hướng gia tăng
giá trị. Thứ hai đó là là ứng dụng rộng rãi công nghệ tiên tế nhằm sử dụng triệt để và

hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, hạn chế được lượng khí thải gây ra hiện tượng hiệu
ứng nhà kính và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cuối cùng là nâng cao đời sống của
người dân, theo hướng thân thiện với môi trường thông qua tạo ra nhiều việc làm từ các
ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ theo lối xanh, đặc biệt là đầu tư vào vốn tự
nhiên và phát triển hạ tầng xanh. Ngoài ra, “ba mục tiêu này tập trung vào các chiến
lược đó là giảm khí thải nhà kính, thúc đẩy sử dụng các nguồn năng lượng sạch, năng
lượng tái tạo, sản xuất xanh, lối sống xanh và tiêu dùng bền vững. Đến năm 2014 thì
Chính phủ ban hành kế hoạch hành động quốc gia trong tăng trưởng xanh với quyết
định số 403/QĐ – TTg và đến năm 2016 thì Việt Nam chính thức là một trong 11 quốc
gia có những chính sách, hướng dẫn, bộ nguyên tắc và sự định hướng liên quan đến
hoạt động kinh doanh ngân hàng bền vững (Sustanable Banking Network – SBN). Khối
các ngân hàng SBN là cộng đồng các cơ quan quản lý lĩnh vực tài chính và hiệp hội các
NHTM tại các thị trường mới nổi có sự cam kết về tài chính bền vững gắn với các thông
lệ quốc tế. Vai trò là thành viên của của SBN thì NHNN có điều kiện để nghiên cứu và
trao đổi với các thành viên về những chính sách, sáng kiến liên quan nhằm tạo các động
lực cho tài chính bền vững tại các quốc gia thành viên. Qua đó cho thấy trong những
giai đoạn đầu của những năm 2000 – 2015 thì Việt Nam đã có ý thức rất lớn về hệ thống
tài chính xanh và hoạt động kinh doanh ngân hàng bền vững, nhằm mang lại lợi ích
chung cho xã hội cũng như sự tăng trưởng lâu dài cho ngành ngân hàng.”
Trong giai đoạn sau đó từ năm 2015 trở đi, thì hàng loạt các hoạt động thực hiện chiến
lược và kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam. Trong đó, có
quyết định số 1552/QĐNHNN, chỉ thị 03/CT – NHNN năm 2015 liên quan đến TDX,
quyết định số 1604/QĐ – NHNN năm 2018 và quyết định số 1408/QĐ – NHNN năm
2023 xoay quanh nội dung về thúc đẩy tăng trưởng TDX, quản lý rủi ro môi trường và
xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Trong đó, các quyết định này chủ yếu tập trung
vào việc các tổ chức tín dụng phải chủ động triển khai xây dựng các chương trình, chính
sách về TDX để nâng cao dư nợ TDX trong cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng
và triển khai các giải pháp phù hợp để hạn chế rủi ro tín dụng từ các khoản cho vay này,
rủi ro cho môi trường và xã hội. Hay nói cách khác, TDX đang trở thành khía cạnh quan
trọng trong hệ thống NHTM tại Việt Nam và trở thành xu hướng chung mà cả xã hội
đang hướng đến cũng như dành sự quan tâm.

Hiện nay, tại Việt Nam trong hệ thống NHTM thì các ngân hàng có vốn nước ngoài đặt
trụ sở tại Việt Nam rất nhiều, trong đó điển hình là Ngân hàng United Overseas (UOB)
có trụ sở chính của UOB đặt tại Singapore và hoạt động tại Việt Nam thông qua công
ty con là Ngân hàng United Overseas Việt Nam. Giai đoạn gần đây UOB tích cực tham
gia vào việc thúc đẩy và cung cấp tài chính xanh trên nhiều lĩnh vực và khu vực khác
nhau. Tổ chức này đã cung cấp một loạt các công cụ tài chính xanh, bao gồm các khoản
vay và trái phiếu, để hỗ trợ các doanh nghiệp trong các sáng kiến xanh của họ nhằm
giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, UOB đã phát triển nhiều khung tài chính bền
vững khác nhau để đơn giản hóa việc tiếp cận tài chính xanh cho các doanh nghiệp mà
không yêu cầu phải phát triển khung riêng. Các khung này bao gồm các lĩnh vực như
kinh tế tuần hoàn, công trình xanh, đô thị bền vững, nông nghiệp và thực phẩm bền
vững, thương mại bền vững và tài chính chuyển đổi.
Đặc biệt, địa bàn hoạt động mạnh nhất của chi nhánh ngân hàng UOB này là tại TP. Hồ
Chí Minh. UOB TP. Hồ Chí Minh đã tích cực hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh của Việt
Nam. Đến tháng 4 năm 2025, họ đã tài trợ cho 19 dự án xanh trải rộng trên các lĩnh vực
năng lượng tái tạo, sản xuất, nông nghiệp và thủy sản bền vững. Trong năm 2025, UOB
TP. Hồ Chí Minh đang tập trung vào việc cung cấp hỗ trợ tài chính xanh cho các doanh
nghiệp cỡ vừa trong nước, đặt mục tiêu ít nhất 30% các khoản vay mới cho phân khúc
này sẽ tài trợ cho các sáng kiến phát triển bền vững. Một ví dụ đáng chú ý là sự hợp tác
của họ với Tổng Công ty Nam Việt (NAVICO), một công ty nuôi trồng thủy sản lớn tại
Việt Nam. UOB đã cung cấp tài chính thương mại xanh cho NAVICO để thúc đẩy các
hoạt động nuôi trồng thủy sản bền vững phù hợp với các tiêu chuẩn toàn cầu. Điều này
xây dựng dựa trên các hợp tác trước đó, khi UOB tài trợ cho việc lắp đặt hệ thống điện
mặt trời trên mái nhà của NAVICO, giúp giảm chi phí vận hành và lượng khí thải.
Những điều này cho thấy, trong hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam thì UOB
TP. Hồ Chí Minh đã ý thức được tầm vai trò quan trọng và những thuận lợi khi tiến
hành các khoản cấp TDX cho các đối tượng trong nền kinh tế. Hay nói cách khác, phát
triển TDX được xem là nhiệm vụ cấp thiết và mang lại nguồn lợi lâu dài cùng với sự
bền vũng cho xã hội.
Tính đến thời điểm hiện này thì có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và nước

ngoài như Zhang (2018), Yin (2020) và Zhou (2021), Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Lê
Thu Hoài (2021); Ben (2018); Phan Thị Hoàng Yến và cộng sự (2020) quan tâm đến
các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng sản phẩm xanh của ngân hàng, cụ thể là những
khoản TDX. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào hành vi của khách hàng sử dụng
các sản phẩm dịch vụ của khách hàng như nhận thức về môi trường, sự thuận tiện, cảm
xúc, ảnh hưởng xã hội,… Nhưng đa phần sự phát triển TDX đến từ sự đánh giá trực
tiếp của các nhân viên ngân hàng khi so sánh tiềm năng, chiến lược hay định hướng của
các ngân hàng thì chưa được tập trung. Hay nói cách khác, TDX và tín dụng truyền
thống về bản chất là những khoản cho vay, nhưng mục đích và nội hàm khác nhau. Do
đó, để phát triển được nó ngoài việc tiếp cận khách hàng thì chủ trương xây dựng
chương trình hành động và các chiến lược cần được đội ngũ nhân viên thống nhất, nắm
bắt và đánh giá khách quan so với xã hội hay nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng chính
được xem là các khoảng trống cần được luận văn này xem xét và đánh giá theo khía
cạnh khảo sát nhân viên ngân hàng.
Do đó, nhận thấy xu hướng TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh là thật sự cần thiết với nền
kinh tế và xã hội, cùng với các khoảng trống tại các công trình nên tác giả quyết định
lựa chọn đề tài “Phát triển tín dụng xanh tại ngân hàng United Overseas chi nhánh
Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp. Từ đó, đề xuất các hàm
ý quản trị cho chi nhánh để gia tăng dư nợ TDX trong tương lai.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của luận văn
Luận văn sẽ xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB
TP. Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề xuất các hàm ý quản trị cho UOB TP. Hồ Chí Minh để
phát triển TDX trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể của luận văn
Với mục tiêu tổng quát trên thì luận văn sẽ có ba mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
Thứ hai, đo lường mức độ và chiều ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển TDX tại
UOB TP. Hồ Chí Minh.

Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển TDX trong
tương lai.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Với ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể thì luận văn sẽ có tương ứng các câu hỏi nghiên cứu
như sau:
Thứ nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển TDX tại UOB TP. Hồ Chí Minh ?
Thứ hai, mức độ và chiều ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển TDX tại UOB TP.
Hồ Chí Minh như thế nào ?
Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho UOB TP. Hồ Chí Minh để phát triển
TDX trong tương lai ?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển TDX tại
UOB TP. Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm không gian và thời gian trong đó:
Về không gian: UOB TP. Hồ Chí Minh
Về thời gian: Luận văn sẽ tiến hành thu thập dữ liệu khảo sát tại UOB TP. Hồ Chí Minh
từ tháng 02/2025 – 03/2025.
Đối tượng khảo sát là đội ngũ quản lý và nhân viên liên quan đến hoạt động tín dụng,
đang làm việc chính thức tại UOB TP. Hồ Chí Minh.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Phương pháp nghiên cứu của luận văn tác giả chọn hỗn hợp cả phương pháp định tính
và phương pháp định lượng.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua thảo luận nhóm với các chuyên gia là
lãnh đạo của UOB TP. Hồ Chí Minh, phụ trách công việc liên quan đến cấp TDX.
Thông qua thảo luận thì tác giả luận văn sẽ thống nhất được mô hình nghiên cứu, điều
chỉnh các thang đo và thiết lập được bảng khảo sát chính thức để gửi đến đội ngũ quản
lý và nhân viên liên quan đến hoạt động tín dụng. Hay nói cách khác vì nghiên cứu định

