
Đào Thị Hoa và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 131-136. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
131
Nhận xét đặc điểm lâm sàng - cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ
được phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Đào Thị Hoa1*, Phạm Thị Yến1, Nguyễn Ngọc Tuyết1, Nguyễn Minh Huệ1,Nguyễn Thị Huyền Anh2
1Bệnh viện Phụ sản Trung ương
2Trường Đại học Y Hà Nội
doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
Tác giả liên hệ (Corresponding author): Đào Thị Hoa, email: drdaothihoapstw@gmail.com
Nhận bài (received): 20/10/2025 - Chấp nhận đăng (accepted): 3/11/2025
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ được phẫu thuật cấp cứu tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 44 bệnh nhân được chẩn đoán u nang buồng trứng vỡ và
phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong giai đoạn 01/2019 - 12/2023. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ
bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 27.0.
Kết quả: Nhóm tuổi 20 - 29 chiếm tỉ lệ cao nhất (54,5%), 63,6% bệnh nhân chưa sinh con. 100% trường hợp có đau bụng,
25% có buồn nôn/nôn, 20,5% có choáng, 4,5% sốt nhẹ. 68,2% có giảm hemoglobin > 2 g/dL; 95,4% có dịch ổ bụng nhiều.
Siêu âm phát hiện nang buồng trứng ở 81,8% bệnh nhân, chủ yếu là nang bờ méo (36,4%) và nang xuất huyết (20,4%).
Kết luận: U nang buồng trứng vỡ thường gặp ở phụ nữ trẻ, chưa sinh con, biểu hiện điển hình là đau bụng cấp kèm dấu
hiệu mất máu. Siêu âm và xét nghiệm βhCG đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật kịp thời, giúp
bảo tồn chức năng sinh sản và hạn chế biến chứng.
Từ khóa: u nang buồng trứng vỡ, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, phẫu thuật cấp cứu.
Clinical and laboratory characteristics of patients with ruptured ovarian cysts
undergoing emergency surgery at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology
Dao Thi Hoa1*, Pham Thi Yen1, Nguyen Ngoc Tuyet1, Nguyen Minh Hue1, Nguyen Thi Huyen Anh2
1 National Hospital of Obstetric and Gynecology
2 Hanoi Medical University
Abstract
Objective: To describe the clinical and paraclinical characteristics of patients with ruptured ovarian cysts undergoing
emergency surgery at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology.
Subjects and Methods: A retrospective descriptive study was conducted on 44 patients diagnosed with ruptured
ovarian cysts who underwent emergency surgery at the National Hospital of Obstetrics and Gynecology from January
2019 to December 2023. Data were collected from medical records and analyzed using SPSS version 27.0.
Results: The majority of patients were aged 20 - 29 years (54.5%), and 63.6% had no previous childbirth. Abdominal
pain was reported in 100% of cases; 25% experienced nausea or vomiting, 20.5% presented with shock, and 4.5% had
mild fever. A decrease in hemoglobin > 2 g/dL was observed in 68.2% of cases, and 95.4% had a large amount of intra-
abdominal fluid. Ovarian cysts were detected by ultrasound in 81.8% of patients, mainly irregular-bordered (36.4%) and
hemorrhagic cysts (20.4%).
Conclusion: Ruptured ovarian cysts commonly occur in young, nulliparous women. The typical presentation is acute
abdominal pain associated with blood loss. Ultrasound and βhCG testing are key tools for early diagnosis and surgical
decision-making, contributing to reproductive function preservation and prevention of complications.
Keywords: ruptured ovarian cyst, clinical characteristics, paraclinical findings, emergency surgery.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vỡ u nang buồng trứng là một cấp cứu sản phụ khoa
tương đối phổ biến, thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi
sinh sản. Bệnh lý này có thể diễn tiến nhanh với các
biểu hiện từ đau bụng cấp đến choáng mất máu do
chảy máu trong ổ bụng. Nếu không được phát hiện và
xử trí kịp thời, người bệnh có nguy cơ gặp biến chứng
nặng, ảnh hưởng đến tính mạng và chức năng sinh sản.
Về mặt bệnh sinh, vỡ u nang buồng trứng có thể liên
quan đến các yếu tố như kích thước và bản chất nang, rối
PHỤ KHOA

132
Đào Thị Hoa và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 131-136. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
loạn nội tiết, tăng áp lực trong ổ bụng hoặc chấn thương
vùng hạ vị. Tổn thương có thể gặp ở cả các u nang cơ
năng (nang hoàng thể, nang noãn chín) và u nang thực
thể (u lạc nội mạc tử cung, u bì, u nang xuất huyết).
Trong thực hành lâm sàng, biểu hiện của bệnh
thường không đặc hiệu, dễ nhầm với các nguyên nhân
đau bụng cấp khác như thai ngoài tử cung vỡ, xoắn u
phần phụ hoặc viêm ruột thừa cấp. Chẩn đoán chính
xác dựa vào kết hợp lâm sàng, xét nghiệm βhCG, công
thức máu và siêu âm ổ bụng. Trong đó, siêu âm đóng
vai trò quyết định trong phát hiện dịch ổ bụng và đặc
điểm nang tổn thương.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng
và cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ
còn hạn chế, chủ yếu dừng ở quy mô đơn trung tâm, số
lượng mẫu nhỏ. Vì vậy, việc mô tả đặc điểm bệnh nhân
tại một bệnh viện tuyến trung ương lớn như Bệnh viện
Phụ sản Trung ương có ý nghĩa thực tiễn, giúp nhận
diện sớm bệnh, tối ưu hóa chỉ định phẫu thuật và giảm
nguy cơ biến chứng.
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và
cận lâm sàng của bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ được
phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh ánbệnh nhân
được chẩn đoán u nang buồng trứng vỡ và phẫu thuật
cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/2019
đến 12/2023.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân có chẩn đoán sau
mổ xác định là u nang buồng trứng vỡ; hồ sơ bệnh án
đầy đủ thông tin.
Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp nghi ngờ u buồng
trứng vỡ nhưng điều trị nội khoa.
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu.
2.3. Phân tích số liệu: Dữ liệu được xử lý bằng phần
mềm SPSS 27.0; sử dụng thống kê mô tả, kiểm định
Chi-square với p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
2.4. Đạo đức nghiên cứu: Đề cương được Hội đồng
Y đức Bệnh viện Phụ sản Trung ương phê duyệt (Số
1873/QĐ-PSTW ngày 12/08/2024). Đây là nghiên cứu
mô tả nên không có bất kì một can thiệp nào vào đối
tượng nghiên cứu. Các thông tin cá nhân của đối tượng
nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật.
3. KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên 44 bệnh nhân được chẩn đoán u nang buồng trứng vỡ và phẫu thuật cấp cứu tại
Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong giai đoạn 2019 - 2023.
Bảng 1. Đặc điểm chung của bệnh nhân (n = 44)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%)
Nhóm tuổi
< 20 3 6,8
20 - 29 24 54,5
≥ 30 17 38,7
Số con
0 con 28 63,6
1 - 2 con 16 36,4
Tiền sử phụ khoa
Có 11 25,0
Không 33 75,0
Bên bị tổn thương
Bên phải 25 56,8
Bân trái 19 43,2
Tổng 44 100
Đa số bệnh nhân trong độ tuổi 20 - 29 (54,5%), nhóm tuổi sinh sản. 63,6% chưa sinh con, phù hợp đặc điểm
bệnh học của u nang buồng trứng vỡthường gặp ở phụ nữ. Một phần tư có tiền sử phụ khoa, chủ yếu viêm nhiễm
hoặc nang buồng trứng trước đó. Bên buồng trứng phải gặp bị vỡ nhiều hơn (56,8%), tương tự các báo cáo trong
y văn [2], [3].

Đào Thị Hoa và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 131-136. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
133
Đặc điểm lâm sàng
Biểu đồ 1. Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân (n = 44)
Tất cả bệnh nhân đều có đau bụng vùng hạ vị (100%), là triệu chứng khởi phát phổ biến nhất. Trong đó, 45,5%
đau bên phải, 40,9% đau bên trái, 13,6% đau lan toàn bụng. Các triệu chứng kèm theo gồm nôn/buồn nôn (25%),
choáng (20,5%), sốt nhẹ (4,5%). Khi khám thực thể, ấn đau hạ vị ghi nhận ở 50% bệnh nhân, phản ứng thành bụng
dương tính 68,2%, đau cùng đồ 70,5%. Đây là ba dấu hiệu đặc trưng cho tình trạng chảy máu ổ bụng và kích thích
phúc mạc. Đau cùng đồ và phản ứng thành bụng là hai dấu hiệu thực thể nổi bật, gợi ý chảy máu ổ bụng.
Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 2. Kết quả xét nghiệm (n = 44)
Chỉ số Số lượng Tỉ lệ (%)
βhCG âm tính 42 95,5
Thiếu máu (Hb < 12 g/dL) 28 63,6
Giảm Hb > 2 g/dL 30 68,2
Hct < 35% 20 45,5
Bạch cầu tăng > 10 G/L 920,4
Dịch tự do ổ bụng 44 100
Lượng dịch nhiều 42 95,4
Phát hiện nang buồng trứng 36 81,8
Bên phải 25 56,8
Bên trái 19 43,2
Lượng dịch hút ra > 300 ml 32 72,7
Cắt một phần buồng trứng 28 63,6
Hầu hết bệnh nhân có βhCG âm tính (95,5%), giúp loại trừ thai ngoài tử cung. Gần 2/3 bệnh nhân thiếu máu, trong
đó 68,2% giảm Hb > 2 g/dL – phản ánh tình trạng mất máu ổ bụng đáng kể, là cơ sở để cân nhắc phẫu thuật cấp
cứu.100% có dịch ổ bụng, trong đó 95,4% nhiều dịch, 72,7% hút ra > 300 ml.
Kết quả siêu âm
Bảng 3. Đặc điểm siêu âm ổ bụng (n = 44)
Đặc điểm Số lượng Tỉ lệ (%)
Dịch tự do ổ bụng 44 100
Lượng dịch nhiều 42 95,4
Phát hiện u nang buồng trứng 36 81,8
Nang bờ méo 16 36,4

134
Đào Thị Hoa và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 131-136. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
4. BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong 44 bệnh nhân u nang buồng trứng vỡ được
phẫu thuật cấp cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương,
nhóm tuổi 20 - 29 chiếm tỉ lệ cao nhất (54,5%), tuổi
trung bình 25 ± 6,7. Phần lớn bệnh nhân là phụ nữ trẻ,
chưa sinh con (63,6%), phù hợp với đặc điểm bệnh lý
thường gặp ở lứa tuổi hoạt động nội tiết mạnh. Tỉ lệ
bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm phụ khoa hoặc đã
từng được chẩn đoán u nang buồng trứng chiếm 25%,
phản ánh mối liên quan giữa tổn thương buồng trứng
trước đó và nguy cơ vỡ nang.
Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của
Raziel và cộng sự [2] và Nguyễn Thị Phương Oanh [3],
cho thấy phần lớn các trường hợp vỡ nang buồng trứng
xảy ra ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là nhóm
chưa từng có con, cần được bảo tồn tối đachức năng
sinh sản.
Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân nhập viện đều có triệu chứng khởi
phát là đau bụng vùng hạ vị hoặc hố chậu, với mức độ
dao động từ âm ỉ đến đau dữ dội. Kết quả này tương
đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Oanh và
cộng sự (2015), trong đó 100% bệnh nhân vỡ nang De
Graaf đến viện với biểu hiện đau bụng [3].
Đau bụng là triệu chứng cơ năng thường gặp trong
nhiều bệnh lý thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu hoặc sản phụ
khoa. Vì vậy, việc khai thác kỹ tính chất đau bụng, vị
trí, thời điểm khởi phát và các triệu chứng kèm theo có
vai trò quan trọng giúp định hướng chẩn đoán, đặc biệt
trong các trường hợp đau bụng cấp cứu phụ khoa.
Các triệu chứng đi kèm có thể gặp gồm nôn, buồn
nôn hoặc sốt nhẹ. Trong nghiên cứu này, 25% bệnh
nhân có nôn hoặc buồn nôn, đây là dấu hiệu có thể liên
quan đến chảy máu trong ổ bụng, song không đặc hiệu
vì cũng gặp trong các bệnh cảnh khác như viêm ruột
thừa, u nang buồng trứng xoắn hoặc thai ngoài tử cung
vỡ.
Về triệu chứng toàn thân, có 6/44 bệnh nhân (13,6%)
có biểu hiện choáng trước mổ, trong khi 81,8% không có
rối loạn huyết động. Tỉ lệ này thấp hơn so với các nghiên
cứu của Phạm Thị Thanh Hiền (22,2%) và Nguyễn
Thị Minh Nguyệt (60,9%) [4], [5], cho thấy bệnh nhân
hiện nay thường được chẩn đoán và xử trí sớm hơn.
Tình trạng choáng thường liên quan đến mất máu cấp
tính (do lượng máu trong ổ bụng lớn hoặc chảy nhanh),
nhưng cũng có thể do đau dữ dội, ngưỡng chịu đau thấp
hoặc yếu tố tâm lý. Theo tiêu chuẩn của WHO, mất máu
> 500 ml được xem là mất máu nặng và có nguy cơ gây
sốc giảm thể tích.
Ngoài biểu hiện choáng, 2 bệnh nhân (4,6%) có sốt
nhẹ, và đều được xác định sau mổ là vỡ u lạc nội mạc
tử cung buồng trứng (chiếm 28,6% trong 7 trường hợp
u lạc nội mạc tử cung vỡ). Kết quả này thấp hơn nghiên
cứu của Grammatikakis và cộng sự, khi gần một nửa
bệnh nhân có sốt (47,6%) [6]. Cơ chế sốt trong nhóm
này có thể do tăng nồng độ cytokine và prostaglandin
trong dịch “chocolate” của nang lạc nội mạc tử cung,
gây phản ứng viêm phúc mạc [7]. Do đó, khi gặp bệnh
nhân u nang buồng trứng vỡ có sốt, cần nghĩ tới khả
năng vỡ u lạc nội mạc tử cung.
Các dấu hiệu tại thành bụng như phản ứng thành
bụng, gõ đục vùng thấp, bụng chướng phản ánh sự hiện
diện của dịch máu trong ổ bụng. Nghiên cứu của chúng
tôi ghi nhận 29/44 bệnh nhân (65,9%) có phản ứng
thành bụng. Triệu chứng đau chói, đầy túi cùng sau là
dấu hiệu điển hình của phúc mạc bị kích thích bởi máu
trong ổ bụng, có giá trị chẩn đoán cao nhưng không
đặc hiệu vì cũng gặp trong thai ngoài tử cung vỡ. Trong
nghiên cứu này, 95,4% bệnh nhân có tử cung sau đầy,
đau chói khi thăm khám âm đạo. Như vậy, 95,4% bệnh
nhân có hội chứng chảy máu trong ổ bụng, đây là tình
trạng nguy hiểm, nếu không được xử trí kịp thời có thể
dẫn đến sốc mất máu. Với những bệnh nhân có đau
bụng cấp kèm hội chứng chảy máu trong ổ bụng, cần
đánh giá nhanh dấu hiệu sinh tồn, mức độ mất máu và
xác định nguyên nhân, từ đó xử trí khẩn cấp nhằm giảm
nguy cơ tử vong.
Đặc điểm cận lâm sàng của u nang buồng trứng vỡ
Tất cả 44 bệnh nhân trong nghiên cứu đều được xét
nghiệm βhCG huyết thanh nhằm loại trừ thai ngoài tử
cung. nguyên nhân thường gặp khi bênh nhân có đau
bụng cấp kèm theo các dấu hiệu chảy máu trong ổ
bụng. Đây là xét nghiệm phổ biến, dễ thực hiện nhưng
có giá trị phân biệt cao, đặc biệt ở các bệnh nhân có rối
loạn kinh nguyệt hoặc chậm kinh [8],[9].
Xét nghiệm huyết học cho thấy đa số bệnh nhân có
thiếu máu nhẹ và vừa, lần lượt chiếm 47,7% và 29,5%.
Chỉ một trường hợp thiếu máu nặng (Hb = 80 g/L) vào
viện trong tình trạng choáng, niêm mạc nhợt, sau theo
Nang xuất huyết 920,4
Nang trống âm/giảm âm 818,2
Nang lạc nội mạc tử cung 3 6,8
Tất cả bệnh nhân có dịch ổ bụng, chủ yếu lượng nhiều (95,4%), phản ánh mức độ chảy máu trong ổ bụng. Trên
siêu âm, 81,8% có hình ảnh nang buồng trứng, trong đó nang bờ méo và xuất huyết chiếm tỉ lệ cao, phù hợp với cơ
chế vỡ nang.với các dạng phổ biến là nang bờ méo (36,4%), nang xuất huyết (20,4%). Tỉ lệ vỡ bên phải cao hơn bên
trái (56,8% so với 43,2%).

Đào Thị Hoa và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 131-136. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1947
135
dõi 3 giờ Hb giảm còn 59 g/L, được chỉ định phẫu thuật
nội soi cầm máu.So sánh nồng độ Hb giữa nhóm phẫu
thuật ngay và nhóm theo dõi trì hoãn, ghi nhận trung
bình lần lượt là 107,5 ± 21,6 g/L và 115,7 ± 13,7 g/L (p =
0,009). Sau 3 - 6 giờ theo dõi, Hb giảm trung bình 14,4
± 7,9 g/L, tương tự kết quả của Kim và cs (2014) (giảm
16 ± 0,8 g/L) [10]. Sự giảm Hb phản ánh tình trạng chảy
máu tiến triển trong ổ bụng, do đó là chỉ dấu quan trọng
để quyết định can thiệp phẫu thuật.
Rối loạn đông máu có thể vừa là nguyên nhân, vừa
là hậu quả của mất máu nhiều [11]. Một số trường hợp
vỡ u nang buồng trứng được ghi nhận là biểu hiện đầu
tiên của các bệnh lý huyết học tiềm ẩn, như xuất huyết
giảm tiểu cầu vô căn, giảm yếu tố đông máu bẩm sinh
hoặc bệnh bạch cầu cấp [12], [13].
Siêu âm ổ bụng được chỉ định cho toàn bộ bệnh
nhân, giúp khẳng định chẩn đoán và định hướng xử
trí. Tất cả bệnh nhân đều có tử cung kích thước bình
thường, không có thai trong buồng tử cung, và có dịch
tự do trong ổ bụng.Trong đó, 42/44 bệnh nhân (95,4%)
có dịch nhiều (lan tới khoang gan-thận), chỉ 2 trường
hợp (4,6%) có dịch ít quanh khối u hoặc ở cùng đồ. Tỉ
lệ dịch ổ bụng nhiều của nghiên cứu này cao hơn so
với Lim năm 2022, trong đó chỉ 23,8% bệnh nhân phẫu
thuật có nhiều dịch và 76,2% có lượng dịch ít - vừa [1].
Sự khác biệt có thể do đối tượng nghiên cứu của chúng
tôi gồm các ca có chỉ định phẫu thuật, trong khi Lim
nghiên cứu cả nhóm điều trị bảo tồn. Lượng dịch nhiều
thường phản ánh mức độchảy máu tiến triển, là yếu tố
quan trọng trong quyết định phẫu thuật.
Hình ảnh dịch máu trên siêu âm thường tăng âm,
kèm máu cục, trong khi CT hoặc MRI có thể giúp phân
biệt và định lượng dịch chính xác hơn, nhưngkhông phải
phương tiện đầu tay trong cấp cứu phụ khoa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, u nang buồng trứng vỡ
gặp chủ yếu ở phụ nữ trẻ, chưa sinh con, biểu hiện lâm
sàng điển hình là đau bụng cấp, phản ứng thành bụng
và dịch ổ bụng trên siêu âm. Xét nghiệm βhCG và công
thức máu giúp phân biệt với thai ngoài tử cung và đánh
giá mất máu.
Tỉ lệ dịch ổ bụng nhiều (95,4%) và Hb giảm > 2 g/dL
(68,2%) là yếu tố quan trọng xác định chỉ định phẫu thuật.
So với các nghiên cứu trước, tỉ lệ choáng giảm đáng kể,
chứng tỏ người bệnh được tiếp cận y tế sớm và chẩn
đoán nhanh hơn, góp phần giảm biến chứng và bảo tồn
khả năng sinh sản.
Tóm lại, các xét nghiệm βhCG, huyết học và đông
máu có giá trị định hướng chẩn đoán, phân biệt với các
bệnh cảnh cấp cứu khác và đánh giá mức độ mất máu.
Siêu âm vẫn là phương tiện chủ đạo trong phát hiện
dịch ổ bụng và đặc điểm u, giúp quyết định thời điểm
phẫu thuật. Việc kết hợp đánh giá lâm sàng và cận lâm
sàng toàn diện giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán, xử trí
và bảo tồn khả năng sinh sản cho bệnh nhân.
5. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, u nang buồng trứng
vỡ gặp chủ yếu ở phụ nữ trẻ, chưa sinh con, biểu hiện
lâm sàng điển hình là đau bụng cấp, phản ứng thành
bụng và dịch ổ bụng trên siêu âm. Xét nghiệm βhCG và
công thức máu giúp phân biệt với thai ngoài tử cung và
đánh giá mất máu.Tỉ lệ dịch ổ bụng nhiều (95,4%) và
Hb giảm >2 g/dL (68,2%) là yếu tố quan trọng xác định
chỉ định phẫu thuật. So với các nghiên cứu trước, tỉ lệ
choáng giảm đáng kể, chứng tỏ người bệnh được tiếp
cận y tế sớm và chẩn đoán nhanh hơn, góp phần giảm
biến chứng và bảo tồn khả năng sinh sản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lim WH, Woods N, Lamaro VP. Trends and outcomes
of ruptured ovarian cysts. Postgrad Med J. 2022
Jul;98(1161):e9.
2. Raziel A, Ron-El R, Pansky M, Arieli S, Bukovsky I, Caspi
E. Current management of ruptured corpus luteum. Eur J
Obstet Gynecol Reprod Biol. 1993 Jun;50(1):77–81.
3. Nguyễn Thị Phương Oanh. Nghiên cứu lâm sàng và
phẫu thuật vỡ nang De-Graaf tại Bệnh viện Phụ sản
Trung ương từ năm 2009 đến hết năm 2013 [Luận văn
Thạc sĩ Y học]. Đại học Y Hà Nội; 2015.
4. Phạm Thị Thanh Hiền. Tình hình điều trị thai ngoài tử
cung năm 1998 tại Bệnh viện Bà mẹ Trẻ sơ sinh. Tạp chí
Thông tin Dược. 1998;22–25.
5. Nguyễn Thị Minh Nguyệt. Tình hình điều trị thai ngoài
tử cung trong 5 năm (1985-1989) tại Bệnh viện Bà mẹ
Trẻ sơ sinh. Hội nghị Tổng kết Nghiên cứu khoa học và
Điều trị; 1991.
6. Grammatikakis I, Evangelinakis N, Salamalekis G,
Tziortzioti V, Samaras C, Chrelias C, et al. Prevalence of
severe pelvic inflammatory disease and endometriotic
ovarian cysts: a 7-year retrospective study. Clin Exp
Obstet Gynecol. 2009;36(4):235–6.
7. Hoyle AT, Puckett Y. Endometrioma. In: StatPearls
[Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing;
2024 [cited 2024 Dec 2].
8. Jiménez-Oliver KD, Ortiz MI, Barragán-Ramírez G.
Ectopic pregnancy: incidence associated with fertility
treatment. Clin Exp Obstet Gynecol. 2023 Nov;50(11):233.
9. Guile SL, Mathai JK. Ovarian torsion. In: StatPearls
[Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing;
2024 [cited 2024 Dec 1].
10 Kim JH, Lee SM, Lee JH, Jo YR, Moon MH, Shin J,
et al. Successful conservative management of ruptured
ovarian cysts with hemoperitoneum in healthy women.
PLoS One. 2014 Mar;9(3):e91171.
11. Medvediev MV, Malvasi A, Gustapane S, Tinelli A.
Hemorrhagic corpus luteum: clinical management
update. Turk J Obstet Gynecol. 2020 Dec;17(4):300–9.
12. Taguchi A, Koga K, Osuga Y, Fujimoto A, Miyasaka
A, Yano T, et al. Successful management of a ruptured

