Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn,
p 2, Sô 1b (2016) 16-25
16
Phong trào Làng mới ở Hàn Quốc và chương trình
xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam1
Nguyễn Tuấn Anh*, Phạm Quang Minh**, Lê Thị Mai Trang***
Tóm tắt: Bài viết y bàn về phong trào làng mới của Hàn Quốc chương trình xây
dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Trước hết, chúng tôi sẽ đề cập đến các giai đoạn, phương
pháp và kết quả thực hiện phong trào làng mới ở Hàn Quốc và chương trình xây dựng nông
thôn mới Việt Nam. Nội dung thứ hai của bài viết nhấn mạnh một số điểm đáng lưu ý
trong quá trình triển khai phong trào làng mới Hàn Quốc đlàm sở cho việc nêu lên
những hàm ý đối với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Phong trào làng mới; xây dựng nông thôn mới.
Ngày nhận 14/10/2016; ngày chỉnh sửa 18/10/2016; ngày chấp nhận đăng 23/10/2016
1. Dẫn nhập
1Năm 1970, tại Hàn Quốc, phong trào
làng mới được bắt đầu tiến hành nhằm phát
triển khu vực nông thôn hiện đại hóa
hội Hàn Quốc. Bốn mươi năm sau, tại Việt
Nam, chương trình y dựng nông thôn mới
đã được chính thức thực hiện. Đây hai
phong trào/chương trình phát triển kinh tế-
hội quan trọng hai quốc gia. Hai phong
trào, chương trình này đã đang tạo nên
những thay đổi to lớn đối với nông thôn nói
riêng cả hội nói chung Hàn Quốc
1 Bài viết trong khuôn khổ đề tài cấp Đại học Quốc gia Hà
Nội m 2016, mã số QG.16.18 “Nghiên cứu đánh giá
quá trình thực hiện xây dựng làng nghề gắn với xây dựng
nông thôn mới”. Các tác giả trân trọng cảm ơn Đại học
Quốc gia Nội Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu
tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) hỗ trợ thực hiện nghiên
cứu này.
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
ĐHQG Hà Nội; Email: anhxhh@gmail.com;
tuanna.vnu@vnu.edu.vn
** Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
ĐHQG Hà Nội. Email: phqminh62@gmail.com
*** Trường Đại học Công đoàn;
Email: tranglm@dhcd.edu.vn
Việt Nam. Nhằm góp thêm một góc nhìn đối
với quá trình phát triển của xã hội Hàn Quốc
hội Việt Nam, bài viết này sẽ so sánh
một số điểm nổi bật của phong trào làng mới
Hàn Quốc chương trình y dựng nông
thôn mới ở Việt Nam.
Trước hết, bài viết sẽ đề cập khái quát
năm giai đoạn phát triển của phong trào làng
mới Hàn Quốc hai giai đoạn phát triển
của chương trình y dựng nông thôn mới
Việt Nam. Qua việc bàn về đến tiến trình
thực hiện hai chương trình, phong trào y,
chúng tôi sẽ thảo luận những điểm đáng lưu
ý liên quan đến phương pháp thực hiện hai
chương trình, phong trào. Sau phần phương
pháp thực hiện chương trình, phong trào, bài
viết sẽ so sánh một số kết quả nổi bật của
phong trào làng mới Hàn Quốc chương
trình y dựng nông thôn mới Việt Nam.
Phần cuối cùng của bài viết sẽ nhìn lại một
số điểm đáng lưu ý của phong trào làng mới
ở Hàn Quốc đề nêu lên một số hàm ý đối với
tiến trình y dựng nông thôn mới Việt
Nam.
N. T. Anh, P. Q. Minh, L. T. M. Trang / Tp chí Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Tâp 2, Sô
1b (2016) 16-25
17
2. Các giai đoạn phát triển của phong
trào làng mới Hàn Quốc q trình
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Phong trào làng mới/phong trào cộng
đồng mới/chiến dịch tái xây dựng lại nông
thôn (Saemaul Undong) Hàn Quốc được
chính thức tuyên bố bắt đầu thực hiện vào
ngày 22 tháng 4 năm 1970 (The National
Council of Saemaul Undong Movement 1997:
77). Đây phong trào trước hết để phát
triển hội nông thôn Hàn Quốc. Tuy
nhiên, việc thực hiện phong trào này được
mở rộng ra khu vực đô thị và rộng khắp toàn
quốc, góp phần quan trọng làm nên sự thịnh
vượng của đất nước Hàn Quốc (Chang Soo
Choe 2005: 1). Khi n đến phong trào làng
mới, các học giả nhấn mạnh rằng Tổng
thống Hàn Quốc thời đó là Park Chung-Hee
đã nêu tinh thần mục tiêu bản của
phong trào y như sau: “Phong trào làng
mới thể hiện nỗ lực cải thiện, hiện đại hóa
làng của chúng ta bởi chính chúng ta với
tinh thần tự lực độc lập. Chính phủ triển
khai cuộc vận động này với sự tin tưởng
chắc chắn rằng cuộc vận động sẽ làm cho
mỗi làng Hàn Quốc thành một nơi thịnh
vượng, sung túc để sinh sống” (The National
Council of Saemaul Undong Movement 1997:
4). Nhìn một cách tổng thể, phong trào làng
mới hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống
của mỗi nhân cả cộng đồng làng nhằm
đạt được sự giàu về vật chất lẫn tinh thần
(The National Council of Saemaul Undong
Movement 1997: 4). Sau tuyên bố chính thức
triển khai chiến dịch/phong trào làng mới
của Tổng thống Park Chung-Hee ngày 22
tháng 4 m 1970, phong trào đã nhiều
thay đổi trong quá trình phát triển. Nhìn một
cách tổng thể, phong trào làng mới đã trải
qua 5 giai đoạn, cụ thể như sau.
Giai đoạn thứ nhất được triển khai từ
năm 1970 đến m 1973. Đây thời gian
thiết lập nền tảng của phong trào. Những
hoạt động đáng lưu ý trong giai đoạn y
chính phủ hỗ trợ vật chất (cụ thể xi măng)
dân làng bỏ công sức ra để thực hiện các
dự án cần thiết đối với làng của mình nhằm
cải thiện điều kiện sống. mỗi làng, một
người đàn ông và một người phụ nữ được cử
ra để lãnh đạo dân làng y dựng triển
khai kế hoạch của c dự án. Hoạt động
quan trọng nữa trong giai đoạn ycác cơ
sở huấn luyện lãnh đạo phong trào được mở
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho
phong trào hệ thống hỗ trợ phong trào
làng mới được xây dựng từ trung ương đến
các làng (The National Council of Saemaul
Undong Movement 1997: 12-13).
Giai đoạn thứ hai được tiến hành trong
khoảng thời gian từ năm 1974 đến m
1976. Đây là thời kđẩy mạnh sự phát triển
của phong trào. Cụ th phong trào làng
mới được triển khai từ khu vực nông thôn đã
lan rộng ra đến các nhà máy, tổng công ty và
trở thành phong trào quy trên toàn
quốc. Đi liền với việc mở rộng phong trào,
nhiều nhân lực, tài chính lẫn t chức đã
được huy động để thúc đẩy sự phát triển của
phong trào (The National Council of Saemaul
Undong Movement 1997: 13-14).
Giai đoạn thứ ba giai đoạn cao điểm
trong quá trình thực hiện phong trào làng
mới. Giai đoạn y được tiến hành từ năm
1977 đến năm 1979. Đặc trưng quan trọng
của giai đoạn này là mở rộng phạm vi không
gian các dự án. Việc mở rộng phạm vi
không gian các dự án được tiến hành trên
sở liên kết các làng lại với nhau để có những
dự án ợt ra bên ngoài ranh giới một làng
bao phủ cả một vùng địa gồm nhiều
làng. Với những dự án như thế, dân của
các làng có thể sử dụng những cơ sở vật chất
tốt hơn, nhiều hơn do các dự án tạo ra.
Điểm đáng lưu ý nữa trong giai đoạn y
sự mở rộng nâng cao sự liên kết khu vực
nông thôn đô thị. Điều y giúp nâng cao
hiệu quả thực tiễn của phong trào (The
N. T. Anh, P. Q. Minh, L. T. M. Trang / Tp chí Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Tâp 2, Sô
1b (2016) 16-25
18
National Council of Saemaul Undong
Movement 1997: 14-15).
Giai đoạn thứ của phong trào làng mới
diễn ra từ năm 1980 đến 1989. Điểm đáng
lưu ý trong giai đoạn y sự qua đời của
Tổng thống Park Chung-Hee. Điều này dẫn
đến thực trạng là đất nước Hàn Quốc rơi vào
giai đoạn bất ổn. Đối với phong trào làng
mới, nếu như những giai đoạn trước, phong
trào được dẫn dắt bởi chính phủ thì trong
giai đoạn y phong trào được chuyển sang
cho khu vực tư nhân. Ngày 13 tháng 12 năm
1980, đạo luật thúc đẩy tchức làng mới
hiệu lực đã hướng đến mục đích hỗ trợ thúc
đẩy các tổ chức làng mới tự nguyện được
hình thành bởi khu vực nhân. Một điểm
cần đề cập đến trong giai đoạn y phong
trào gặp phải tai tiếng liên quan đến việc
quản tài chính. Tuy vậy, phong trào đã nỗ
lực vượt qua những tác động tiêu cực này
tiếp tục thực hiện các dự án làm đường, dự
án đào tạo về nông nghiệp phối hợp, cải
thiện việc phân b hoạt động của liên
minh tín dụng Saemaul (The National
Council of Saemaul Undong Movement 1997:
16).
Giai đoạn thứ năm được tiến hành từ
năm 1990 đến năm 1998. Đây giai đoạn
phát triển tự chủ, ctrọng vào củng cố nền
tảng của sự tự quản và tự lực, đáp ứng nhu
cầu của tự do hóa địa phương hóa, nỗ lực
vượt qua khủng hoảng kinh tế. Giai đoạn
này cũng chú trọng khuyến khích công dân
chuyển tình yêu cộng đồng láng giềng thành
thực tế đi liền với việc phục vụ người khác,
đồng thời với việc thúc đẩy quan niệm về
việc chia sẻ vận mệnh chung phục hồi
đạo đức trong cộng đồng (The National
Council of Saemaul Undong Movement 1997:
17).
Ngoài năm giai đoạn phát triển trên, từ
năm 2013, trung tâm Korea Saemaul
Undong đã mở ra một thời k mới với khẩu
hiệu: “Làm việc cùng nhau hạnh phúc
quốc gia thông qua Saemaul Undong thứ
hai” (Saemaul Undong Center 2016: 12). Như
vậy, phong trào làng mới đã trải qua các giai
đoạn phát triển với những đặc điểm riêng
của phong trào trong mỗi giai đoạn trên
sở tinh thần, tưởng, mục tiêu, dự án, tổ
chức, hoạt động của phong trào. Nhìn
một cách tổng thể, phong trào làng mới
được đánh giá vai trò không thể bàn
cãi đối với quá trình phát triển của Hàn
Quốc.
Bốn mươi năm sau thời điểm phong trào
làng mới được tuyên bố thực hiện Hàn
Quốc, chương trình xây dựng nông thôn mới
Việt Nam đã được triển khai. Cho đến nay
đã nhiều văn bản khác nhau của Đảng
Nhà nước Việt Nam về y dựng nông thôn
mới. Văn bản quan trọng đầu tiên cần đề cập
đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa X “Về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn”. Nghị quyết đã khẳng định mục
tiêu: “Xây dựng nông thôn mới kết cấu
hạ tầng kinh tế-hội hiện đại; cấu kinh
tế các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý,
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ, đô th theo quy hoạch;
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá
dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị
nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường” (Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X 2008).
Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết y, ngày 16
tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phđã
ban hành “Quyết định về việc ban hành Bộ
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”. Bộ tiêu
chí 19 tiêu chí về nông thôn mới. 19 tiêu
chí này thuộc 5 lĩnh vực: Quy hoạch, hạ tầng
kinh tế hội, kinh tế tổ chức sản xuất,
văn hóa- hội-môi trường, hệ thống chính
trị (Thủ ớng Chính phủ 2009). Sau đó,
N. T. Anh, P. Q. Minh, L. T. M. Trang / Tp chí Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Tâp 2, Sô
1b (2016) 16-25
19
ngày 4 tháng 6 năm 2010, Thủ ng Chính
ph đã ban hành “Quyết định phê duyệt
Chương trình mục tiêu Quốc gia v y
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020”
(Th ớng Chính ph 2010) Ban chỉ đạo
Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới đã “Kế hoạch
triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-
2020” vào ngày 20 tháng 9 năm 2010 (Ban
chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu
quốc gia y dựng nông thôn mới 2010).
Cho đến nay, chương trình xây dựng nông
thôn mới Việt Nam đã đi được chặng đầu
tiên (2010-2015). Trong giai đoạn y,
Chương trình xây dựng nông thôn mới đã
triển khai 11 nội dung, bao gồm: Quy hoạch
xây dựng ng thôn mới, phát triển hạ tầng
kinh tế- hội, chuyển dịch cấu, phát
triển kinh tế, nâng cao thu nhập, giảm nghèo
an sinh hội, đổi mới phát triển các
hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả
nông thôn, phát triển giáo dục-đào tạo
nông thôn, phát triển y tế, chăm sóc sức
khỏe n ng thôn, y dựng đời sống
văn hóa, thông tin truyền thông nông
thôn, cấp nước sạch vsinh môi trường
nông thôn, nâng cao chất lượng tổ chức
Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị-xã hội
trên địa bàn, giữ vững an ninh, trật tự hội
nông thôn (Thủ ớng Chính phủ 2010).
Trong giai đoạn 2016-2020, những nội dung
trên sẽ tiếp tục được triển khai các địa
phương trong cả nước. Trên thực tế, quá
trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010-2015 đã làm thay đổi làng trên
nhiều phương diện. Phần viết tiếp theo đề
cập đến phương pháp thực hiện của phong
trào làng mới Hàn Quốc trong sự so sánh
với giải pháp chủ yếu để thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
3. Phương pháp thực hiện của phong trào
làng mới Hàn Quốc giải pháp chủ
yếu để thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới ở Việt Nam
Phương pháp thực hiện phong trào làng
mới Hàn Quốc một trong những yếu tố
quan trọng m nên thành công của phong
trào làng mới. nhiều điểm đáng lưu ý khi
bàn về phương pháp làng mới. Điểm đáng
lưu ý đầu tiên là việc kết hợp giữa hỗ trợ của
chính phủ tự lực của dân làng. Liên quan
đến vấn đề y, nhà nghiên cứu Do Hyun
Han (2012) đã nhấn mạnh rằng phong trào
này bắt đầu bởi một chương trình được tiến
hành khu vực nông thôn mùa đông năm
1970-1971, trong đó chính phủ hỗ trợ vật
chất cụ thể xi măng còn dân làng đóng
góp sức lao động đất đai để thực hiện các
dự án phát triển cộng đồng làng. Cách m
này đã mang lại những thành công ban đầu
được vận dụng để triển khai các dự án
phức hợp, đa dạng (Do Hyun Han 2012).
Liên quan đến phương pháp thực hiện phong
trào làng mới Hàn Quốc, các dự án trong
khuôn khổ phong trào được triển khai theo
quy trình ba bước: Lựa chọn những dự án
cần thiết, thực hiện c dự án, đánh giá
kết quả các dự án. Nhiều tiêu chí đã được
đưa ra khi lựa chọn c dự án để thực hiện
chẳng hạn ndự án phải cần thiết đối với
người dân cộng đồng địa phương, dự án
phải thúc đẩy tiềm năng của cộng đồng địa
phương, dự án phải tác động lâu dài, lan
tỏa thể thực hiện được t về mặt tiền
bạc, nhân lực thời gian (The National
Council of Saemaul Undong Movement 1997:
46).
Việt Nam, giải pháp chủ yếu để thực
hiện chương trình y dựng nông thôn mới
cũng những điểm giống với phương pháp
thực hiện phong trào làng mới Hàn Quốc.
Theo Quyết định phê duyệt Chương trình
mục tiêu Quốc gia v xây dựng nông thôn
N. T. Anh, P. Q. Minh, L. T. M. Trang / Tp chí Khoa hc Xã hi và Nhân văn, Tâp 2, Sô
1b (2016) 16-25
20
mới giai đoạn 2010-2020 thì các giải pháp
để thc hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới có những đim ni bật sau đây.
Th nht, thc hin cuc vận động hội
sâu rng v y dựng nông thôn mới. C th
là tổ chức phát động, tuyên truyền, ph biến,
vận động t trung ương đến sở, để mi
tng lớp nhân dân hiểu cả h thống chính
tr tham gia. Thêm nữa, các hình, điển
hình tiên tiến, sáng kiến kinh nghiệm hay
v xây dựng nông thôn mới được ph biến
nhân rộng, và phong trào thi đua y
dựng nông thôn mới trong toàn quốc được
phát động. Th hai, thc hiện đa dạng hóa
các ngun vốn huy động để trin khai thc
hiện chương trình y dựng nông thôn mới.
Các ngun vốn đến t ngân sách nhà nước,
doanh nghip, s đóng góp tự nguyn ca
nhân dân, các khoản vin tr không hoàn
li của các doanh nghiệp, t chức, nhân
trong ngoài nước, các nguồn vn hp
pháp khác. Th ba, Ban giám sát cộng đồng
gồm đại din ca Hội đồng nhân dân, Mặt
trn t quốc xã, các t chức hội đại
din ca cộng đồng dân ng lợi công
trình do dân bầu thc hiện giám sát các công
trình sở h tầng theo quy định hin
hành về giám sát đầu của cộng đồng. Th
, cán bộ chuyên trách để triển khai chương
trình mục tiêu quốc gia được đào tạo. Đội
ngũ cán bộ chuyên trách các cấp t Trung
ương đến địa phương được xây dựng để
triển khai hiệu qu chương trình. Th
năm, hợp tác quốc tế trong xây dựng nông
thôn mới qua vic vn động, hợp tác với
các t chc quc tế h tr vấn k thut
cho chương trình mục tiêu quốc gia y
dựng nông thôn mới. Tranh th h tr vn
vay vốn t các tổ chức tài chính quc tế
các đối tác phát triển quc tế để tăng
ngun lực cho xây dựng nông thôn mới. Th
sáu, Ban Ch đạo Trung ương đ ch đạo
thc hiện chương trình được thành lập. Văn
phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ
đạo Trung ương đặt ti B Nông nghiệp
Phát triển nông thôn. các tỉnh, thành
ph trc thuộc Trung ương, Sở Nông nghiệp
Phát triển nông thôn quan thưng
trực điều phối, giúp Ban Ch đạo tỉnh, thành
ph trc thuộc Trung ương thc hin
Chương trình trên địa bàn (Th ớng Chính
ph 2010).
Nhìn lại phương pháp thc hin phong
trào làng mới Hàn Quốc chương trình
xây dựng nông thôn mới Vit Nam, chúng
ta thy mt s điểm tương đồng sau đây.
Th nht, vic vận động quần chúng thực
hiện phong trào đưc coi trng. C n
Quc ln Vit Nam, vic vận động qun
chúng thay đổi nhn thức tham gia phong
trào đã đưc tiến hành sâu rộng. Th hai, c
hai chương trình, phong trào đều dựa trên
phương pháp nhà nước nhân dân ng
làm. Điều y được th hin c th trên
nhiều phương diện t đóng góp tiền bc cho
đến công lao động.
4. Một số kết quả chính của phong trào
làng mới Hàn Quốc chương trình
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Kết quả của phong trào làng mới Hàn
Quốc chương trình xây dựng nông thôn
mới Việt Nam được thể hiện trên nhiều
phương diện khác nhau. Một số kết quả nổi
bật có thể kể đến cụ thể như sau.
Trước hết về mặt kinh tế, phong trào
làng mới đã hiện đại hóa nông thôn Hàn
Quốc (The National Council of Saemaul
Undong Movement 1997: 48). Điểm đáng lưu
ý đây lần đầu tiên trong lịch sử Hàn
Quốc, thu nhập trung bình của hộ gia đình
sống khu vực ng thôn cao hơn thu nhập
trung bình của hộ gia đình sống khu vực
đô thị. Cụ thể năm 1974, ba năm sau khi
thực hiện phong trào làng mới, thu nhập
bình quân của hộ gia đình sống khu vực
nông thôn 674.000 Korean won, trong khi