intTypePromotion=1

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:200

0
93
lượt xem
14
download

Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh gồm những suy nghĩ về tư tưởng mỹ học của Người qua sáng tác thơ, quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh, quan điểm sáng tác văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Nhật ký trong tù, bình giảng một số tác phẩm văn thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, ... Tài liệu gồm 2 phần, sau đây là phần 1. Mời bạn đọc tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan điểm và phương pháp nghiên cứu văn thơ Hồ Chí Minh: Phần 1

  1. IKUN(ỈTAM THỒNÍ Ỉ T I N - T H ƯV I Ệ N Quan điểm và phương pháp nghiên cưu văn thơ HO CHÍ MINH DX.023599 NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
  2. NHA XUẤT BAN KHOA nọc XẢ HỘI & nộl NCÌHIION CƯU - GIÁNG DẠY VÁN HỌC TP.IICM CUNG CỔNG TY VĂN HÓA PHƯƠNG NAM Pllốl liợp THựC IllỆN
  3. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU yĂ N THƠ HỔ CHÍ MINH NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI
  4. LỜI GIỚI THIỆU Dược thành lập năm 1988, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP. Hồ Chí Minh là tổ chức tập hợp những hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy văn học ớ một thành phô là trung tâm Luôn năng dộng và đổi mới trong đời sông xã hội văn hỏa. Mười bảy năm qua, Hội dã góp phần nâng cao chát lượng giảng dạy văn và học văn củng như chất lượng nghiền cứu văn học nhầm phục vụ cho công tác đào tạo ở bậc trung học và dại học. Ngoài Niên giám Bỉnh luận ưăn học xuất bản hàng năm, Hội còn chủ trương và liên két xuất bản các Tủ sácìi Vân học trong nhà trường; Văn học Việt Nam - những tác phẩm tiêu hiểu, Tuyển tập văn học thế giới... Trong bước phát triền của mình, Hội. cần mở rộng hoạt động có tẩm vóc và quy mô lớn hơn, phục vụ bạn đọc dông đăo, trong đó có nìiững Ìiìià giáo, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên cùng tất cả những người yòu tìiích văn học. Tủ sách Văn hóa và văn học sẽ là nơi công bố những công trình nghiên cứu chuyền sâu ưề một số vấn đề lý luận văn hóa và nghệ thuật, một sô tác giả, tác phẩm và sự kiện nổi bật của lịch sử văn hóa,
  5. uăn học Việt Nam vò thế giới. Đế thực ìiiện tủ sách này, Hội dã và đang dược sự cộng tác chặt chẽ củn ìihièu giáo sư, học giả cỏ uy till từ các trung tâm dào tạo ưà khoa học lớn trên cả nước. Nhờ sự hợp tác của Công ty Văn hóa Phương Nam cũng như của Nhà xuất bản Khoa học xã hội, những ấn phẩm dầu tiên trong Tủ sách này dược ra mắt hạn đọc. Trong kế hoạch hợp tác của Hội Nghiên cứu ưà Giảng dạy văn học uà Công ty văn hóa Phương Nam, dây là công việc lâu dài sẽ được tiến hànìi trong nhiều năm. Vĩ vậy, chúng tôi trân trọng mời gọi sự đóng góp của các nhà nghiền cứu để' tủ sách xuất hản được những công trình có giá trị, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu ngày càng cao của công chúng. Chúng tôi mong rằng, với sự cộng tác của các nhà khoa học và sự ủng hộ của dông đảo hạn đọc, Tủ sách văn hóa và văn học sẽ góp phần tạo ra những hiệu ứng tích cực trong đời sống tinh thần của xã hội ta những năm dầu thế kỷ XXL HOÀNG NHƯ MAI G iáo sư, Nhà giáo n h ân dân Chủ tịch H ội N gh iên cứu và giản g dạy văn học TP.HỒ Chí Minh
  6. TÔI ĐÃ ĐẾN VỚI VĂN THƠ HỒ CHÍ MINH NHƯTHẾ NÀO? Thay lời m ở sách Tôi vôn là một giáo viên, dạy học từ 1951, Lúc đầu dạy cấp II, sau dạy đại học. Trong chương trình môn văn ở các trường học của ta từ phô thông đến đại học, văn thơ Hồ Chí Minh vẫn chiếm một vỊ trí quan trọng. Trong việc dạy vãn ở nhà trường, khó nhất là môn giảng văn. Giảng văn đòi hỏi ở người giáo viên đủ mọi năng lực, đủ' mọi kiên thức phải được huy động và vận dụng một cách tóng hợp để trước hết lĩnh hội được bài văn: phải hiểu lịch sử, hiểu thời đại khi bài văn ra đời, phải hiểu nhà văn, hiểu đặc trưng thể loại của tác phẩm, hiểu chữ nghĩa, hiểu thi pháp, cảm thụ được cái hay của hình tượng, của giọng điệu, nhịp điệu của bài văn, câu văn... Lại phải có kinh nghiệm sông phong phú và nắm được phương pháp khoa học đê phán tích tác phẩm... Cuối cùng, phải nắm được phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh, sinh viên...
  7. N g u y ễ n Đ ă n g Mạnh Cho nên bình văn, giảng văn là một ihii’ thách khắc nghiệt và toàn diện đôi với các giáo viên văn học cũng như các nhà phê bình văn học. Từ ngày các tập thơ văn của Hồ Chí Minh được công bố, số lượng những bài bình văn giảng văn các tác phấm của Người thật là bề bộn. Giảng dạy thơ văn Hồ Chí Minh, tất nhiên tôi phải tham khảo những bài ấy. Có những bài thật hay, bình thật trúng. Nhưng cũng có không ít bài dở, rất dở. Mà bài dở nhiều khi lại của những giáo sư, những nhà phê bình có tiếng từng đi Tây, đi Tàu về, từng viết hàng đông sách. Tất cả đều muốn ca ngợi văn thơ Bác. Nhưng sao cứ như là cố tình biến văn thơ Người thành những văn bản chính trị nội dung đưn gián, khô khan, vé đẹp của văn chương bay đi đáu hết. Những bài viết như thế đã gây tác hại rất lớn đối với việc dạy và học văn trong nhà trường. Trước tình hình đó, tôi thấy cần phai có cách nào đấy đế giải quyết, trước hết là đối với bản thân mình. Tôi đặt vấn đề phải xây dựng được một lý thuyết nào đấy về quan điểm và phương pháp tiếp cận các tác phâm của Hồ Chủ tịch để hiểu cho đúng, phân tích cho dúng. Chúng ta đều biết các lý thuyết về văn học ở ta lâu nay phần lớn là ngoại nhập. Nghĩa là vôn không xuất phát từ thực tế văn học Việt Nam (nhiêu lý thuyết lại từ các ngành khoa học khác chuyến sang). Chúng không phải không có giá trị phổ biến. Nhưng phô biến đến mức nào, đến chừng nào? Nếu không khéo vận dụng phù hợp với đôi tượng là văn học Việt Nam, là thơ văn Hồ Chí Minh, thì dễ dẫn đến sai lầm. Ngoài ra cũng phải có quan niệm đúng đắn về vĩ nhân, về lảnh tụ. Tôi cho rằng tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá con người chính là con người. Bác Hồ là một cá nhân xuất chúng,
  8. Quan d iê m v à p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... nhưng đâu phải là ông thánh. Vì coi Bác là ông thánh nên nhiều người cứ nghĩ Bác phải nói và viết bằng một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của người thường và vì là ông thánh cách mạng nên Người chỉ có thể có những tình cảm lớn tức những tình cảm chính trị, tình cảm cách mạng. Cho nên “Gà gáy một lần” phải là Cách mạng tháng Mười, “Chòm sao đưa nguyệt” phải là quần chúng cách mạng... Vì xuất phát từ nhu cầu bình giảng tác phẩm cụ thể của Hồ Chí Minh nên tôi quyết định chọn khai thác một bài thơ tiêu biểu của Người rồi từ đấv, từng bước đề xuất những vấn đề lý thuyết về phương pháp cần giải quyết. Chẳng hạn; - Lý thuyết về phân tích tác phẩm văn chương. Từ kinh nghiệm bản thân, tôi tiếp cận lý thuyết ba bước Tổng - phân - hợp của Chế Lan Viên, kết hợp với kinh nghiệm của Xuân Diệu, Hoài Thanh và của Thánh Thán nữíĩ (Thánh Thán bình Tây Sương K ý ). - Lý thuyết về thể loại văn học. Văn thơ Hồ Chí Minh thuộc rấ t nhiều thế loại khác nhau. Không phân biệt được điều đó ở cấp độ lý thuyết thì không thể phân tích và đánh giá tác phẩm chính xác được. Chẳng hạn thơ của Người có hai loại, ai cũng thấy rõ. Nhưng phân biệt thế nào ở cấp độ lý thuyết? Người ta thường nói, tư duy nghệ Ihuật là tư duy hình ảnh. Nhưng cả hai loại thơ này đều dùng hình ảnh cả: Tiêng suõí trong như tiếng hát xa (Cảnh khuya) Hòn dá to Hòn đá nặng
  9. N guyễn D ă n g M ạnh Chỉ một người Nhấc không đặng (Hòn đá) Vậy thì phải phân biệt sự khác nhau giữa hai loại hình ả n h này; một đằng là hình ả n h minh họa khái niệm thuộc loại thơ tuyên truyền chính trị trực tiếp (Hòn đá, Ca dân cày, Ca công nhân, Ca sợi chí, Nhóm lửa, Con cáo và tổ ong, ư.v.)] một đằng là hình ảnh cảm xúc thẩm mỹ thuộc loại thơ nghệ thu ật hay thơ cảm hứng trữ tình (Cảnh khuya, Tức cảnh Pác Bó, Nguyên tiêu, Báo tiệp, v.v.) và các bài thơ trong Nhật ký trong tù.... - Lý thuyết về phong cách nghệ thuật của nhà vàn. Tác phẩm của nhà văn lớn bao giờ cũng mang đậm cá tính, phong cách của tác giả. Qua .thực tế nghiên cứu, tôi thấy nắm được lý thuyết phong cách đã khó, nhưng vận dụng lý thuyết vào việc tìm hiểu phong cách cụ thề của một nhà văn còn khó hơn nhiều, ơ đây, nhận ra được những đặc điểm này khác của phong cách tuy không dễ nhưng cũng không khó lắm. Nhưng tìm ra tính thông nhất của phong cách như một chỉnh thể nghệ thuật thì cực khó. - Lý thuyết về năng lực cảm thụ tác phẩm văn học. Vì sao con người ta lại có phản ứng về tình cảm, cảm xúc trước một hình tượng đẹp, một áng văn hay? Mà phản ứng nhiều khi rất khác nhau về cùng một tác phẩm. Tôi gọi đây là khâu “phi phương pháp luận”trong nghiên cứu văn học. Tuy nhiên tôi không thần bí hóa hiện tượng này và nghĩ có thể và phải tìm ra “cơ chế” của nó ra sao. Đây là chuyện năng khiếu thẩm mỹ, đúng là không thê chỉ học thuộc mấy bài về phương pháp luận mà có được. 10
  10. Q uan diểrn và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... Nhưng hiểu được “cơ chế” cúa nó thì cung có thế có cách tự bồi dưỡng đưực, tất nhiên là rất lâu dài. - Giíing văn ớ nhà trường, không phải chỉ phân tích văn bản tác phẩm mà còn phải giải thích văn bản nữa. Tức là còn phải làm sáng tỏ hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Trong thực tế văn học, hai quá trình: quá trình cảm thụ, phân tích văn bản và quá trình giải thích văn bản bằng hoàn cảnh thời đại và tồn tại xã hội của nhà văn không bao giờ tách rời nhau mà thường diễn ra song song và soi sáng lẫn cho nhau. Và theo kinh nghiệm của tôi thì cần phải khảo sát cụ thế ba hoàn cảnh có tác động tới tác phẩm: hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh cấu tứ... Vậy là, từ yêu cầu tìm hiểu và phân tích một tác phẩm cụ thể của Hồ Chủ tịch mà hàng loạt vân đề lý thuyết cứ đẻ ra mãi, nỏ’ ra mãi, cuôì cùng, thấy cần phải xây dựng hẳn một hệ thống lý thuyết có ý nghĩa phương pháp luận về việc tìm hiểu và phân tích thơ văn của Người. Tòi vừa dạy học vừa xây dựng công trình nói trên. Nghiên cứu đến đâu, thử nghiệm luôn đến đấy tại lớp học. Đến khoáng 1975,1976 thì chuyên luận hoàn thành. Chuyên luận nhằm giải quyết trước hết về bình giảng thơ Hồ Chí Minh. Tôi đặt tên là Mấy vấn dề về quan điểm và phương p h á p tìm hiểu, p h à n tích thơ Hồ Chí Minh. Lúc đầu tác phẩm in đe dùng làm tài liệu ]ifij hành nội bộ trong trường Dại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Xuân Hòa (1978, 1980). Đến 1981 thì Nhà Xuất bản Giáo dục cho ra mặt l)ạn đọc. Từ bấy đến nay tác phẩm luôn luôn được các Nhà Xuất bản Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội, Nhà XuấL bánTre thành phố Hồ Chí Minh in đi in lại. n
  11. N g u y ễn D ă n g M ạnh Sau tác phẩm này tôi còn viết nhiều công trình khác nữa về văn thơ Hồ Chí Minh. Nhưng tôi coi Mấy vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh là công trình gốc, công trình mẹ. Đấy, con đường tôi đi đến với văn thơ Hồ Chí Minh đai khái là như thế. Quan Hoa, H à N ội 20-3-2005 N guyễn D ăn g M ạnh 12
  12. MỘT Sự NGHIỆP VẰN HỌC LỚN, PHONG PHỎ, ĐA DẠNG N hân đọc Tuyển tậ p văn học H ồ C h í M inh ^ Đôl với Hồ Chí Minh, văn học trước hết phải là một vũ khí, một hoạt động cách mạng. Có nghĩa là mỗi bài văn, bài thơ viết ra phải hướng vào một đối tượng cụ thể nào đó, phải nhằm đạt tới một mục đích thiết thực nào đó. Người thường nhắc đi nhắc lại như một kinh nghiệm thiết thân của mình: trước khi cầm bút, phải trả lời hai câu hỏi Vi ai mà mình viết? Mục đích viết làm gì? Từ đó mới quyết định Viết cái gi? (nội dung) và Cách viết thế nào? (hình thức) Đó là quan điểm sáng tác nh ât quán của Hồ Chí Minh thể hiện ở mọi bài viết của 1. N hà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1995 2. “Cách viết”. Tuyển tập Hồ Chi Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995, tr.2, tr.346 - 352. 13
  13. N guyễn D ă n g M ạnh Người. Ngay trường hợp làm thơ chi đê “khuây khoa” trong tù (Nhật kỷ t "ong tù), Người cũng xác định rõ mục đích và đối tượng: Ngâm thơ ta vốn không ham, Nhưng ưl trong ngục biết làm chì dây: Ngày dài ngâm ngợi cho khuây, Vừa ngẫm vửa đợi đến ngày tự do. Quan điểm sáng tác ấy đã tạo nên tinh thần nhất quán của sự nghiệp vãn học của Người. Nhưng cũng quan điểm sáng tác ấy đã đem đến cho văn tho' Người tính chất phong phú, đa dạng ít thấy ở những cây bút khác. Bởi lẽ, trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, khi ở Tây âu, khi ở Trung Quốc, Thái Lan, khi trên đất nước mình, yêu cầu cách mạng từng nơi, từng lúc đã đặt ra cho Người biết bao nhiệm vụ cụ thế' phải giải quyết, đã khiến Người phải đôl phó với biết bao kẻ thù trong những tình huống khác nhau, phải liên kết với biết hao bè bạn, phải thuyết phục nhiều người thuộc sắc tộc khác nhau, tôn giáo, giai cấp, đảng phái khác nhau, giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, chính trị, đặc điểm tâm lý khác nhau... Mỗi bài viết, vì thế, tuy cùng chiến đấu cho một lý tưởng cách mạng duy nhất, nhưng phải tùy theo từng đối tượng, từng mục đích cụ thể mà lựa chọn nội dung viết và hình thức viết cho phù hợp. ớ thủ đô Paris, viết cho người Pháp và những đồng bào biết tiếng Pháp thì hành vãn phải rất hiện đại và “râ't Pháp” (Phạm Huy Thóngi như; Paris, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Varen ưà Phan Bội Châu, “Sở thích đặc biệt”, Động vật học, Nói về loài cầm thú v.v. Nhưng viết cho người du kích nông dán Việl Nam thì lời văn lại phải hết sức giản dị, phải theo lối truyện chương 14
  14. Q uan d ie m và p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... hồi truyền thông cho phù hợp với thị hiếu bình dân: Cách đánh du kích, Kinh nghiệm du kích Pháp ư.ư. về tho’ ca cũng vậy. Viết cho công nông - trước Cách mạng th á n g Tám hầu hết còn mù chữ - thì phải hết sức nôm na mộc mạc, mượn lối ca, vè quen thuộc với dân gian: Ca dâ n cày, Ca công nhân, Ca du kích, Ca sợi chỉ, Hòn đá ư.ư. Nhưng thơ tặng cụ Đinh Chương Dương, cụ Võ Liêm Sơn, cụ Bùi Bằng Đoàn thì lời lẽ lại phải trang nhã, cố kính, và tôt nhất là dùng thơ chữ Hán luật Đường. Nhìn chung, đối với Hồ Chí Minh, vấn đề Viết cho ai luôn được đặt lên hàng đầu. Người không ngại nhắc đi nhắc lại điều đó: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem”'. Từ khi trở về nước, Người chủ yếu viết cho đôi tượng công nông binh. Người đặc biệt chú ý khai thác kho tàng thành ngữ, tục ngữ dân gian là cách diễn đạt vừa ngắn gọn, đích đáng, vừa giàu hình ảnh của quần chúng công nông. Nhưng dù đã viết rất dễ hiểu, khi viết xong, Người vẫn cẩn thận “nhờ một sô' đồng chí công nông binh đọc lại. Chỗ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra thì phải chữa lại”'^. Đó là quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh. Nắm được quan điềm này, có nghĩa là có được chiếc chìa khóa thứ nhất đê’ mở vào lâu đài văn học của Người. 1. Tuyến tcĨỊi uăn học Hổ Chí M inh, Nxb Vãn học, Hà Nội, 1995, t ‘2, tr.349. 2. Tuyến tập vãn lìọc Hổ Chí Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995, t2, tr.350. 15
  15. N gu yễn D ă n g M ạnh Đôl với mỗi bài văn, bài thơ của Người, phải căn cứ vào thời điểm ra dời của nó, phân tích tình hình chính trị của đất nước ở thời điểm ấy để xác định Người viết cho ai, nhằm mục đích gì. Có như vậy mới hiểu được đúng và đánh giá đúng tác phẩm của Người từ nội dung đến hình thức. Đó là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản nhất của việc nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh. Tính đa dạng của sự nghiệp văn học Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật ở bình diện thể loại sáng tác và phong cách nghệ thuật. Đây là một cây bút lớn, tài năng nhiều mặt, có khả năng thể hiện trong nhiều phong cách khác nhau - có thể gọi là cây bút nhiều phong cách. Trước hết tài năng ấy bộc lộ ở văn chính luận. Vàn chính luận không thuyết phục người đọc bằng hình tượng nghệ thuật mà bằng lập luận lô gích. về thể văn này, Hồ Chí Minh đã sáng tạo nên những tác phẩm có thể coi là mẫu mực và bất hủ. Tuyên ngôn độc lập là một ví dụ. Người ta thường đánh giá tác phẩm này như một áng “thiên cổ hùng văn”, một “Bình Ngô đại cáo của thời đại mới”. Nhưng Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi ra đời trong thời đại gọi là “Văn sử bất p h â n ” nên chính luận chỉ là một yếu tô'. Khí t h ế “hùng vă n” của tác phẩm được truyền đến người đọc chủ yếu nhờ một hệ thông hình tượng từng từng lớp lớp và một giọng văn sôi nơi, dồn dập, đầy hứng khởi. Tuyên ngôn dộc lập thì khác. Sức mạn h của nó là ở lý lẽ sắc bén, ở cách lập luận chặt chẽ, ở những luận cứ đích đáng (hình ảnh nếu có chẳng qua cũng chỉ là để phụ giúp cho lý lẽ thêm sắc sảo và hấp dẫn mà thôi). Nếu tìm 16
  16. Q uan d i e m VCI p h ư ơ n g p h á p n g h iê n cứu... hiểu cụ thể tình hình chính trị của đất nước ta khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn đê xác định cụ thế đôi tượng Người hướng tới và nắm được cụ thể những luận điệu của bọn đế quô'c mà Người cần bác bỏ, ta sẽ thây cách lập luận của Người, cách đưa các luận cứ của Người t h ậ t là chặt chẽ, đanh thép. Không phải ngẫu nhiên mà bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam đã mở đầu bằng mấy lời văn trích từ bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn n h ân quyền và dân quyền của Pháp. Từ quyền con người được khẳng định trong bản Tuyêíi ngôn độc lập của Mỹ, Người khéo léo “suy rộng ra” để khẳng định quyền độc lập tự do của các dân tộc. Luận điểm ấy có thể xem như phát súng lệnh dõng dạc mở đầu cho phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa nửa sau t h ế kỷ XX v.v. Bài Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê nin cũng là một áng văn chính luận xuât sắc. Nhưng tác phẩm lai được viết theo một phong cách khác, ơ đây, độc giả là những người cộng sản trên toàn thê giới. Luận điểm cần thuyết phục là: “Chủ nghĩa Lê nin chẳng những là cái cẩm nang thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng”. Với đối tượng này, Người không dùng nhiều lý lẽ, không tranh luận, không hùng biện. Người thuyết phục bằng kinh nghiệm thực tê của bản thân mình được diễn tả bằng những dòng hồi kv sinh động, tươi tắn, và một giọng văn rất mực khiêm tôn. về mặt thể loại, có thể coi đây là một tác phẩm hồi ký - chính luân rât độc đáo. 17
  17. N g u y ễ n D ă n g M ạnh HỒ Chí Minh là tác giả của nhiều Truyện Ký. Về truyện, rất tiếc chưa tìm được văn bản Nhật kỷ chìm tàu là tác phẩm có ảnh hưởng lớn trong phong trào cách mạng Việt Nam. ớ thể văn này, bút pháp, phong cách của tác giả cũng rất đa dạng. Sự khác biệt về phương diện này thấy rô nhất là giữa những truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp và những truyện Người viết từ khi về nước. Những truyện viết bằng tiếng Pháp như đã nói, hành văn rất hiện đại và “rất Pháp”. Những truyện này nói chung đều nhằm tố cáo tội ác của bọn thực dân, tư bán, bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động các dân tộc thuộc địa, đồng thời đề cao những tấm gương yêu nước và cách mạng. Tuy vậy không truyện nào giống truyện nào, dù là những tác phẩm cùng nhằm vào một đích (chẳng hạn truyện Vi hành và truyện Lời than vãn của bà Trưng Trắc cùng lên án tên vua bù nhìn Khải Định). Vỉ hành tạo ra một tình huống nhầm lẫn rất thú vị, trong đó nhân vật chính (Khải Định) không có mặt mà lại được khắc họa rất rõ nét. Tác giả dùng hình thức viết thư để có thể dễ dàng chuyển cảnh, chuyển giọng một cách linh hoạt và tự nhiên. Lời than vãn của bà Trưng Trắc lại phát huy trí tưởng tượng để tạo ra một thế giới rùng rợn diễn tả cơn ác mộng của Khải Định bị tổ tiên xỉ nhục và ruồng bỏ. Varen uà Phan Bội Châu thì vận dụng tài quan sát và ký họa, tạo ra những đoạn văn tường thuật sắc sảo hệt như quay một cuốn phim tư liệu về hành trình của Varen, đồng thời khai thác triệt để thủ pháp đối lập để làm nổi bật hai nhân cách: Varen thì bắng nhắng, ba hoa và ti tiện, Phan Bội Châu thì uy nghi, lẫm liệt. Pari sử dụng ngòi bút phóng sự r ấ t linh hoạt, giọng văn thì đi từ mỉa mai chua chát đến căm giận xót xa. Con người biết mùi hun khói, có thể gọi là 18
  18. Quan đ iể m và phư ư nịỉ p h á p n g h iê n cứu... một truyện viễn tưởng chính trị, còn Dồng tâm nhất trí lại có dáng dấp một truyện ngụ ngôn v.v. Những truyện tác giả viết từ khi về nước thì khác hẳn: dùng lối truyện kể, không chú ý dựng cảnh, dựng người. Sức hâp dẫn của truyện là ở tình tiết thú vị, gói gọn trong những đoạn văn ngắn tương đối độc lập được xâu chuỗi vào nhau, tựa như lối kết cấu chương hồi. Mỗi đoạn thường mở đầu và kết thúc bằng hai câu lục bát lẩy Kiều hóm hỉnh. Những truyện này chủ yếu nhằm vào đối tượng công, nông, binh, nên cách viết như thế là thích hợp. Các thể ký chiếm vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh, có lẽ vì Người “có nhiều duyên nợ với báo chí”^ chăng? Vào những năm 20, khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết hàng loạt bài ký rất có giá trị: Tri thức uyên bác, hành văn biến hóa, dựng cảnh, dựng người gây ấn tượng đậm nét, nghệ thuật châm biếm sắc sảo, tính chiến đấu mãnh liệt (Động vật học, Nói về loài cầm thú, Viện hàn lăm thuộc địa, Hành trình kiểu Linsơ Ư.Ư.). Tác phẩm quy mô nhất là tập phóng sự điều tra Bản án chế độ thực dân Pháp (1925). Đây là cuốn sách đầy công phu và tâm huyết. Tác giả muôn cuô’n sách phải là một bản án đanh thép đầy luận cứ đích đáng khiến ké bị lên án không thế chôi cãi được. Muôn vậy phải có tư liệu phong phú và xác thực, tô't nhất là dùng tư liệu do chính người Pháp cung câ'p qua những thư từ và nhật ký của họ. Nguyễn Ái Quốc rất có ý thức về !. Tuyến tập Văn liọc Hồ Chi Minh, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995, tr.2. tr.279. 19
  19. N guyễn D ă n g M ạnh điều này: “Tôi không muốn tự mình viết lấv, vì như thế không có giá Irị thực sự. Tôi sẽ dùng những đoạn văn trong các sách họ viết về thực dân Pháp. Tôi sẽ cố gắng làm cho đậm nét những đoạn âV” đ(3 là lời tâm sự của Nguyễn với một người bạn trong thời gian chuẩn bị cho cuô'n sách từ 1920. Sau này, nói về công tác tuyên truyền địch vận, Người cũng nhắc lại kinh nghiệm “lấy gậy ông dập lưng ông” đó. Bản án chế độ thực dân Pháp gồm 12 chương tố cáo mọi mặt tội ác của chủ nghĩa thực dân -Pháp đối với người bản xứ. Tác phẩm kết thúc bằng chương Nô lệ thức tính, thế hiện quy luật tất yếu: tức nước vỡ bờ. Giá trị của tác phẩm không phải chỉ do tư liệu phong phú mà còn do cách diễn ý và hành văn đầy nghệ thuật với những mệnh đề có sức khái quát lớn, với những bức ký họa sinh động về một loại “nhà khai hóa”, kèm theo nhừng chi tiết đặc tả hành vi độc ác khủng khiếp của chúng. Tất cả được viết với một giọng châm biếm sâu cay và mãnh liệt như dùi đâm, như roi quất: “Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen “hèn h ạ ”, những tên Aunamít “hèn h ạ ”, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ây thế mà cuộc “chiến tranh vui tươi” vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiền” của các quan cai trị “nhận hậu” (...). Khi đại bác đã ngấy thịt đen thit vàng rồi, thì những lời tuyên bố “tình tứ” của các nhà cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có 1. Dẫn thoo Tổng tập văn học Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, 1980, tr.36, tr.427. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2