
Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông
tin, thư viện ở Việt Nam
Vũ Thế Phong K51 Thông tin – Thư viện
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1, Từ viết tắt tiếng Việt
STT
Từ viết tắt
Từ gốc
1
NDT
Người dùng tin
2
NKT
Người khiếm thị
3
SP&DV
Sản phẩm và dịch vụ
4
TTTV
Thông tin, thư viện
5
TVHN
Thư viện Hà Nội
6
TVKHTHTPHCM
Thư viện Khoa học Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh
2, Từ viết tắt tiếng Anh
1
NLB
The National Library for the Blind
(Thư viện Quốc gia dành cho người
mù Anh)
2
RNIB
The Royal National Institute of Blind
People (Viện Hoàng gia cho người
mù Anh)

Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông
tin, thư viện ở Việt Nam
Vũ Thế Phong K51 Thông tin – Thư viện
2
MỞ ĐẦU
1, TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
“Tự do, phồn vinh và phát triển của xã hội, cá nhân là những giá trị cơ
bản của con người” (Tuyên ngôn UNESCO). Những giá trị đó chỉ đạt được
khi mọi người có đủ thông tin, tri thức. Thông tin, tri thức là tiềm lực, quyền
lực của xã hội và con người, nhờ đó con người có thể làm chủ mọi hoàn cảnh
sống và vươn tới tương lai tươi sáng hơn.
Ngày nay nền kinh tế thế giới đang từng bước dịch chuyển sang nền
kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế này, thông tin, tri thức có ý nghĩa quyết
định đến sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia. Toàn cầu hóa với cuộc cách
mạng về công nghệ thông tin đã làm thay đổi hành vi con người. Việc tiếp cận
thông tin qua các công nghệ hiện đại đã làm cho các quốc gia gần nhau hơn.
Cùng với các lĩnh vực khác, ngành thông tin – thư viện đã và đang có những
đóng góp tích cực trong việc truyền bá thông tin và mở cửa nhiều kho tàng
kiến thức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người đọc.
Người khiếm thị (NKT) là một bộ phận trong lực lượng người dùng tin
(NDT) mà hệ thống thư viện, đặc biệt là hệ thống thư viện công cộng có trách
nhiệm phục vụ. Pháp lệnh Thư viện của nước ta ban hành ngày 28/10/2000,
điều 6 khoản 4 đã ghi: “Người mù phải có điều kiện sử dụng các tài liệu thư
viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo: “Thư viện công cộng phục vụ NKT ” tổ
chức ở Hà Nội, ngày 17/5/2006, giám đốc quỹ FORCE – một tổ chức từ thiện
của Hà Lan đã nói: “Việc cung cấp thông tin và dịch vụ thư viện cho người
khuyết tật ở đại đa số các thư viện công cộng là chưa đầy đủ. Điều này
thường được biện hộ bằng cách nêu lên số lượng ít ỏi những người khuyết tật
sử dụng các dịch vụ thư viện của mình. Nhưng người khuyết tật sẽ không sử

Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông
tin, thư viện ở Việt Nam
Vũ Thế Phong K51 Thông tin – Thư viện
3
dụng thư viện công cộng trừ khi việc tiếp cận về mặt vật chất và nội dung
được cung cấp một cách đầy đủ”. Mục tiêu cao cả mà loài người luôn luôn
phấn đấu là mỗi người sinh ra dù bình thường hay không may bị khuyết tật
đều bình đẳng ở mọi khía cạnh của xã hội, nhất là trong lĩnh vực học tập,
nghiên cứu và cống hiến sức lực của mình cho xã hội.
Ngày nay, các thư viện đều chú ý phục vụ đối tượng NKT, gỡ bỏ dần
những rào cản làm NKT không thể hoặc gặp nhiều khó khăn khi sử dụng các
sản phẩm và dịch vụ (SP&DV) của thư viện.
Trong khi nhiều thư viện đã từng bước cải thiện SP&DV cho NKT, vẫn
còn nhiều thiếu sót đáng kể cần phải khắc phục.
Nước Anh là một nước phát triển trên thế giới, đời sống nhân dân
tương đối cao. Các thư viện ở Anh được đầu tư xây dựng khá nhiều, do đó
NDT khiếm thị Anh có nhiều lợi thế trong việc tiếp cận SP&DV thư viện, đáp
ứng nhu cầu tin ngày càng cao của mình.
Quyền lợi của NKT và người khuyết tật hiện nay đã được làm rõ trong
luật pháp Anh, thông qua việc ban hành Đạo luật chống phân biệt đối xử
(DDA) năm 1995, đặc biệt là Mục Sản phẩm và Dịch vụ của Đạo luật này có
hiệu lực từ năm 1999 và Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu giáo dục đặc
biệt năm 2001. Dưới những điều khoản này, mọi nhà cung cấp dịch vụ phải
có trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất
lượng, không được hạ thấp chất lượng của dịch vụ dành cho người khuyết tật.
Cần tiến hành hợp lý để thay đổi các chính sách, ứng dụng, quy trình thực
hành, gỡ bỏ những rào cản làm người khuyết tật không thể hoặc gặp nhiều
khó khăn khi sử dụng các dịch vụ của thư viện.
Ở Việt Nam, NKT vẫn gặp khá nhiều khó khăn trong việc sử dụng thư
viện. Thông qua đề tài: “Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại
Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông tin, thư viện ở Việt Nam”,

Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông
tin, thư viện ở Việt Nam
Vũ Thế Phong K51 Thông tin – Thư viện
4
chúng ta có thể có được cái nhìn khái quát về tình hình phục vụ NKT tại Anh,
từ đó rút ra những gợi ý cho thư viện Việt Nam trong việc phục vụ NKT.
2, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu hiện trạng các SP&DV thông tin, thư viện (TTTV) phục vụ
NDT khiếm thị ở Anh; đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả
phục vụ NDT khiếm thị ở nước ta.
3, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1, Đối tượng nghiên cứu: SP&DV TTTV phục vụ NDT khiếm thị
3.2, Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Một số thư viện ở Anh như Viện Hoàng gia cho
người mù, Thư viện Quốc gia dành cho người mù, Hội báo nói Anh Quốc…
và một số thư viện ở Việt Nam như Thư viện Hà Nội và Thư viện Khoa học
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi thời gian: Vài năm gần đây.
4, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận: Bài viết dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện
chứng, các quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác sách báo, thông tin – thư viện.
Phương pháp cụ thể: Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu; khảo sát
thực tế; phỏng vấn.

Sản phẩm và dịch vụ phục vụ người khiếm thị tại Anh và một số gợi ý cho các cơ quan thông
tin, thư viện ở Việt Nam
Vũ Thế Phong K51 Thông tin – Thư viện
5
5, NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đóng góp về mặt lý luận: Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận
về SP&DV TTTV.
Đóng góp về mặt thực tiễn: Nghiên cứu nhu cầu tin của NKT; tìm
hiểu hiện trạng các SP&DV TTTV phục vụ NKT ở Anh – một trong những
nước chú trọng đến công tác phục vụ nhu cầu thông tin cho NKT; phân tích,
soi rọi vào công tác phục vụ thông tin cho NKT của các thư viện Việt Nam, từ
đó đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả phục vụ NKT.
6, BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài danh mục chữ viết tắt, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài
liệu tham khảo, phần chính của khóa luận gồm các chương sau:
Chƣơng 1. Những vấn đề chung về ngƣời khiếm thị tại Anh và nhu cầu
tin của họ
Chƣơng 2. Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thƣ viện phục vụ ngƣời khiếm
thị tại Anh
Chƣơng 3. Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thƣ viện phục vụ ngƣời khiếm
thị ở Việt Nam và một số kiến nghị, giải pháp

